Tải bản đầy đủ (.pdf) (124 trang)

nghiên cứu tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh bắc giang

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.79 MB, 124 trang )


Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

i

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM




NGUYỄN THỊ LOAN





NGHIÊN CỨU TỔ CHỨC LÃNH THỔ KINH TẾ
TỈNH BẮC GIANG

Chuyên ngành: ĐỊA LÝ HỌC
Mã số: 60.31.95


LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC ĐỊA LÝ




Người hướng dẫn khoa học: TS. VŨ NHƢ VÂN






THÁI NGUYÊN - 2011



Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào khác.
Tôi cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Loan

Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

ii
LỜI CẢM ƠN
Với tất cả tình cảm của mình, tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy
giáo, cô giáo trong khoa Địa Lý - Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã
dạy bảo tận tình trong quá trình tác giả học tập, nghiên cứu khoa học.
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với
thầy giáo hướng dẫn khoa học - TS. Vũ Như Vân, người đã tận tình chỉ bảo,

động viên để tác giả hoàn thành bản luận văn này.
Để thực hiện luận văn, tác giả còn nhận được sự giúp đỡ của các cơ
quan: Cục thống kê tỉnh Bắc Giang, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn
tỉnh Bắc Giang, Sở Kế hoạch - Đầu tư tỉnh Bắc Giang, Sở Tài nguyên và Môi
trường UBND tỉnh Bắc Giang, Ban quản lí các KCN tỉnh Bắc Giang Tác
giả xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó.
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới bạn bè và những người
thân đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tác giả hoàn thành bản luận văn này.
Thái Nguyên, tháng 08 năm 2011
Tác giả


Nguyễn Thị Loan

Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

iii
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt vi
Danh mục các bảng vii
Danh mục các hình viii
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu của đề tài 1
3. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài 3
3.1. Mục tiêu 3

3.2. Nhiệm vụ 3
4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài 4
5. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu của đề tài 4
5.1. Các quan điểm nghiên cứu 4
5.2. Các phương pháp nghiên cứu 5
6. Những đóng góp chính của đề tài 5
7. Cấu trúc của luận văn 6
Chƣơng 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ
CHỨC LÃNH THỔ KINH TẾ 7
1.1. Cơ sở lí luận về tổ chức lãnh thổ kinh tế 7
1.1.1. Khái niệm, bản chất của tổ chức lãnh thổ kinh tế 7
1.1.2. Nguyên tắc và nội dung chủ yếu của tổ chức lãnh thổ kinh tế 8
1.1.3. Các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ kinh tế 9
1.1.4. Khái quát về các lí thuyết tổ chức lãnh thổ kinh tế 12
1.1.4.1. Lí thuyết tăng trưởng nội sinh và ngoại sinh 12

Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

iv
1.1.4.2. Lí thuyết định vị công nghiệp của A.Weber 13
1.1.4.3. Lí thuyết phát triển các vành đai nông nghiệp trong phạm
vi ảnh hưởng của thành phố 14
1.1.4.4. Lí thuyết về các điểm trung tâm của W.Christaller 14
1.1.4.5. Lí thuyết cực phát triển 15
1.1.4.6. Lí thuyết về đia - kinh tế mới của Paul Krugman 16
1.2. Cơ sở thực tiễn về tổ chức lãnh thổ kinh tế…………………… 16
1.2.1. Các hình thức chủ yếu tổ chức lãnh thổ kinh tế và vận dụng
vào thực tiễn ở Việt Nam 16
1.2.1.1. Hành lang kinh tế 16
1.2.1.2. Khu kinh tế 18

1.2.1.3. Vùng kinh tế trọng điểm 20
1.2.2. Tổ chức lãnh thổ công nghiệp 20
1.2.3. Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp 22
1.2.4. Tổ chức lãnh thổ dịch vụ 23
1.2.5. Tổ chức lãnh thổ kinh tế cấp tỉnh/thành phố 23
Tiểu kết chương 1 26
Chƣơng 2. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG VÀ HIỆN TRẠNG TỔ
CHỨC LÃNH THỔ KINH TẾ BẮC GIANG 27
2.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Giang 27
2.1.1. Vị trí địa lí 27
2.1.2. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 29
2.1.3. Điều kiện kinh tế - xã hội 34
2.1.4. Đánh giá chung 41
2.2. Hiện trạng tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Giang 43
2.2.1. Khái quát chung sự phát triển kinh tế Bắc Giang 43
2.2.2. Tổ chức lãnh thổ kinh tế Bắc Giang 45
Tiểu kết chương 2 79

Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

v
Chƣơng 3. ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP TỔ CHỨC LÃNH
THỔ KINH TẾ TỈNH BẮC GIANG ĐẾN NĂM 2020 80
3.1. Quan điểm và mục tiêu định hướng phát triển 80
3.1.1. Quan điểm phát triển kinh tế 80
3.1.2. Mục tiêu phát triển kinh tế 80
3.2. Một số giải pháp chủ yếu 89
3.2.1. Thu hút vốn đầu tư và huy động vốn 89
3.2.2. Nâng cao trình độ người lao động và nguồn nhân lực 90
3.2.3. Thực hiện đổi mới cơ chế chính sách 91

3.2.4. Tập trung xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng hiện đại 91
3.2.5. Phát triển khoa học công nghệ, sử dụng hiệu quả tài nguyên
và tích cực bảo vệ môi trường 92
3.2.6. Đẩy mạnh liên kết, hợp tác với các tỉnh, thành phố trong cả nước 94
3.2.7. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng
CNH - HĐH, đa dạng hóa 96
3.2.8. Nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 97
3.3.9. Mô hình hành lang phát triển đột phá: Một trục + hai nhánh 98
Tiểu kết chương 3 102
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 103
Kết luận 103
Kiến nghị 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CN : Công nghiệp
NN : Nông nghiệp
DV : Dịch vụ
CNH - HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
KT : Kinh tế
TTCN : Tiểu thủ công nghiệp
KCN : Khu công nghiệp
CCN : Cụm công nghiệp
KTXH : Kinh tế - xã hội
TP : Thành phố

DA : Dự án
QL : Quốc lộ
UBND : Ủy ban nhân dân
KH&ĐT : Kế hoạch và đầu tư
NXB : Nhà xuất bản
EU : Liên minh Châu Âu
PCI : Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Các hành lang kinh tế quan trọng của Việt Nam 17
Bảng 1.2. Các Khu kinh tế của Việt Nam 19
Bảng 1.3. Các khu nông nghiệp công nghệ cao ở Việt Nam, năm 2007 22
Bảng 2.1. Dự kiến khai thác khoáng sản 33
Bảng 2.2. Gia tăng dân số và tỷ lệ gia tăng tự nhiên 2005 - 2010 34
Bảng 2. 3. Vốn đầu tư thực hiện theo giá thực tế phân theo khu vực kinh tế 40
Bảng 2.4. Giá trị sản xuất của ngành trồng trọt theo giá thực tế phân
theo nhóm cây trồng giai đoạn 2000 - 2010 47
Bảng 2.5. Đàn gia súc, gia cầm phân theo thành phố và các huyện năm 2010 48
Bảng 2.6. Tình hình hoạt động kinh tế hộ gia đình Bắc Giang 2003 - 2009 50
Bảng 2.7. Một số chỉ tiêu so sánh giữa hai tiểu vùng năm 2010 56
Bảng 2.8. Giá trị sản xuất và cơ cấu giá trị sản xuất các ngành công
nghiệp phân theo giá thực tế giai đoạn 2000 - 2010 58
Bảng 2.9. Giá trị sản xuất và cơ cấu giá trị sản xuất của các ngành công
nghiệp chính của Bắc Giang theo giá thực tế giai đoạn 2000 - 2010 60
Bảng 2.10. Giá trị và cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp theo giá cố
định 1994 phân theo huyện giai đoạn 2000 - 2010 61
Bảng 2.11. Giá trị và cơ cấu giá trị sản xuất của các ngành dịch vụ theo

giá thực tế giai đoạn 2000 - 2010 67
Bảng 2.12. Cơ cấu bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng của
Bắc Giang giai đoạn 2000 - 2010 68
Bảng 2.13. Danh thu và cơ cấu doanh thu vận tải, bốc xếp phân theo
thành phần kinh tế và theo ngành hoạt động 70
Bảng 2.14. Tổng hợp và so sánh một số chỉ tiêu tự nhiên, kinh tế, xã
hội của các tiểu vùng 75
Bảng 3.1. Tổng hợp dự kiến nhu cầu vốn đầu tư cho phát triển công
nghiệp thời kỳ 2011-2020 95
Bảng 3.2. Tổng hợp kết quả chỉ số PCI của Bắc Giang, 2007-2010 97

Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

viii
DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1. Bản đồ hành chính tỉnh Bắc Giang năm 2010 28
Hình 2.2. Tăng trưởng kinh tế Bắc Giang qua các năm 43
Hình 2.3. GDP/người của Bắc Giang giai đoạn 2000 - 2010 44
Hinh 2.4. Cơ cấu GDP phân theo các ngành kinh tế 2000 - 2010 45
Hình 2.5. Quy mô và tốc độ tăng trưởng ngành nông-lâm-ngư nghiệp
của Bắc Giang (theo giá cố định 1994) 2000 - 2010 46
Hình 2.6. Quy mô và tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp - xây
dựng của Bắc Giang (theo giá thực tế) giai đoạn 2000 - 2010 57
Hình 2.7. Bản đồ kinh tế chung tỉnh Bắc Giang năm 2010 65
Hình 3.1. Lược đồ lưu vực hệ thống sông Thái Bình 92
Hình 3.2. Kết quả 9 chỉ số thành phần PCI của Bắc Giang, 2009-2010 93
Hình 3.3. Mô hình hành lang phát triển đột phá: 1 trục + 2 nhánh của
tỉnh Bắc Giang đến năm 2020 100



Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Tổ chức lãnh thổ kinh tế là một trong những khái niệm cơ bản của Địa
lí học, là gạch nối giữa nhận thức lý luận và hành động thực tiễn của khoa học
này. Tổ chức lãnh thổ kinh tế là một trong những kế hoạch và hành động
nhằm phát huy tốt nhất các nguồn lực để phát triển kinh tế của mỗi quốc gia
hay mỗi vùng lãnh thổ. Đây là vấn đề không mới đối với thế giới, nhưng đối
với Việt Nam cũng còn nhiều vấn đề từ lí luận đến thực tiễn chưa được làm rõ
và còn phải tiếp tục nghiên cứu. Trong những năm gần đây, tổ chức lãnh thổ
kinh tế đã thu hút được sự quan tâm đặc biệt và được coi như một trong
những công cụ quan trọng để phát triển vùng. Hay nói cách khác, muốn phát
triển một cách có hiệu quả thì không thể không tiến hành tổ chức lãnh thổ
kinh tế một cách hợp lí. Bắc Giang là một trong những tỉnh có nhiều tiềm
năng để phát triển kinh tế, tuy nhiên hiện nay kinh tế phát triển chậm chưa
tương xứng với tiềm năng, còn nghèo so với cả nước. Do vậy, việc tổ chức
lãnh thổ kinh tế nhằm sử dụng một cách hợp lí các tiềm năng về tự nhiên,
kinh tế và xã hội để đem lại hiệu quả kinh tế cao và nâng cao đời sống nhân
dân, đảm bảo sự phát triển nhanh và bền vững là vấn đề hết sức quan trọng và
cấp thiết. Với những lí do đó, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu tổ chức
lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Giang”.
2. Lịch sử nghiên cứu của đề tài
Tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội (KT-XH) là vấn đề không mới trên thế
giới, nhiều nhà khoa học thuộc các ngành khoa học khác nhau đã dành nhiều
công sức nghiên cứu vấn đề này, trong đó tiên phong là các nhà khoa học Địa
lí. Từ việc nghiên cứu thực tiễn đã hình thành những lí thuyết khái quát có thể
được coi là những lí luận cổ điển về tổ chức lãnh thổ kinh tế quý báu để học


Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

2
tập và áp dụng, như W.Christaller với việc hình thành các trung tâm tạo vùng;
Francoi-Perroux với vấn đề phát triển các cực tăng trưởng; VonThunen với tổ
chức lãnh thổ nông nghiệp theo các vành đai xung quanh các đô thị…
[7/13/14 /16/17/21].
Ở Việt Nam, tổ chức lãnh thổ kinh tế là đối tượng nghiên cứu quan trọng
của khoa học Địa lí từ giữa thế kỉ XX. Đã có nhiều luận án, bài báo, giáo trình
về tổ chức lãnh thổ kinh tế được công bố. Viện chiến lược phát triển thuộc Bộ
KH&ĐT đã nghiên cứu và công bố các quy hoạch phát triển cho cả nước cũng
như cho từng vùng lãnh thổ. Tuy vậy, những công trình đó phạm vi nghiên cứu
có qui mô lớn, mặt khác các hình thức tổ chức sản xuất lãnh thổ cũng có nhiều
thay đổi do tác động của nền kinh tế thị trường. [18/28/29].
Đối với tỉnh Bắc Giang cũng có một tác giả viết về địa lí KT-XH của
tỉnh, trong đó có liên quan ít nhiều đến vấn đề tổ chức lãnh thổ của các ngành
kinh tế của tỉnh. Ví dụ: GS.TS Lê Thông đã giới thiệu tương đối cụ thể về tự
nhiên, kinh tế, xã hội của Bắc Giang trong cuốn “Địa lí các tỉnh và thành
phố Việt Nam” [16].
Năm 2000, trường Cao đẳng Sư phạm Ngô Gia Tự Bắc Giang đã
“Nghiên cứu và biên soạn giáo trình Địa lý Bắc Giang” dùng trong giảng dạy
và học tập. Mặc dù, đã khái quát được toàn bộ các đặc điểm dân cư và KT-
XH của tỉnh, tuy nhiên đề tài vẫn chưa làm rõ được những tiềm năng cho phát
triển KT-XH của tỉnh và hướng phát triển KT-XH trong những năm tới.
Năm 2002, Sở văn hóa thông tin Bắc Giang cùng với Trung tâm
UNESCO thông tin tư liệu lịch sử và văn hóa Việt Nam đã biên soạn cuốn
Địa chí Bắc Giang- Tập 1. Cuốn sách đã giới thiệu một cách khá cụ thể về địa
lý và kinh tế tỉnh Bắc Giang.
Trong “Báo cáo tổng hợp qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội

tỉnh Bắc Giang thời kì 2006-2020„của UBND tỉnh Bắc Giang hay các báo

Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

3
cáo, thống kê khác của Tỉnh úy, UBND Bắc Giang, Sở NN&PTNT, Sở
KH&ĐT Bắc Giang cũng nêu các vấn đề phát triển KT-XH của Bắc Giang,
và các vấn đề liên quan tổ chức lãnh thổ của các ngành kinh tế của tỉnh. [1/2/
5/8/9 /23/25]
Luận văn thạc sĩ: “Địa lí nông nghiệp tỉnh Bắc Giang„ của Lê Thị Thu
Thủy cũng đã đề cập đến vấn đề tổ chức lãnh thổ nông nghiệp của Bắc Giang.
Luận văn thạc sĩ “kinh tế Bắc Giang thời kì công nghiệp hóa-hiện đại hóa„
của Phan Đức Tráng đã giới thiệu về sự tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc
Giang với 2 vùng riêng biệt
Tuy nhiên đối với Bắc Giang, từ trước đến nay chưa có tài liệu, báo cáo,
công trình nào viết riêng, nghiên cứu sâu về cả vấn đề tổ chức lãnh thổ kinh tể
của tỉnh. Vì thế đề tài “Nghiên cứu tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Giang”
của tác giả đã kế thừa một phần từ các công trình nghiên cứu trên, đồng thời
bổ xung, tổng hợp nhiều số liệu, chiến lược, báo cáo, mục tiêu, để có một
cái nhìn tổng quát nhất về tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Giang.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
3.1. Mục tiêu
Mục tiêu của đề tài nghiên cứu tổng hợp những vấn đề cơ bản về lí luận
và thực tiễn của tổ chức lãnh thổ kinh tế và vận dụng chúng vào việc nghiên
cứu tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Giang. Đề xuất các giải pháp nhằm khai
thác và phát huy hiệu quả các nguồn lực, thúc đẩy kinh tế tỉnh Bắc Giang để
phát triển nhanh và bền vững thời kì 2010 - 2020.
3.2. Nhiệm vụ
- Tổng quan có chọn lọc những vấn đề lí luận và thực tiễn về tổ chức
lãnh thổ kinh tế và vận dụng vào việc nghiên cứu tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh

Bắc Giang.

Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

4
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh
Bắc Giang.
- Đánh giá thực trạng tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Giang.
- Đề xuất định hướng và kiến nghị những giải pháp chủ yếu tổ chức
lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Giang đến năm 2020.
4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Về nội dung: Tập trung nghiên cứu tổ chức lãnh thổ KT Bắc Giang theo
các ngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, và các tiểu vùng KT của tỉnh.
* Về lãnh thổ: Đề tài nghiên cứu trong phạm vi tỉnh Bắc Giang, gồm có
9 huyện và 1 thành phố (TP Bắc Giang), trong đó có 6 huyện trung du, miền
núi và 1 huyện vùng cao, với 230 xã, phường, thị trấn.
* Về thời gian: Đề tài sử dụng số liệu có trong Niên giám thống kê của
Cục thống kê tỉnh Bắc Giang và các số liệu thu thập khác từ các cơ quan quản
lí nhà nước trong thời gian từ năm 2000 đến 2010, định hướng đến 2020.
5. Quan điểm và phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài
5.1. Các quan điểm nghiên cứu
- Quan điểm lãnh thổ: Các sự vật, hiện tượng địa lí đều tồn tại và phát
triển trên một không gian lãnh thổ nhất định. Vấn đề là phải tìm ra sự phân
hoá của các sự vật, hiện tượng và quy luật phân bố của chúng trong không
gian. Nghiên cứu đề tài cần dựa trên quan điểm này để phân tích sự khác biệt
của các sự vật, hiện tượng và quá trình địa lí, đồng thời vạch ra những mục
tiêu, phương hướng sử dụng phù hợp với điều kiện của lãnh thổ.
- Quan điểm hệ thống: Quán triệt quan điểm này làm cho việc phân
tích, đánh giá một lãnh thổ được khách quan, khoa học và qua đó hiểu được
các mối quan hệ tác động qua lại giữa các yếu tố cấu thành nên hệ thống và

giữa các hệ thống với nhau.

Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

5
- Quan điểm lịch sử, viễn cảnh: Sự phát triển của một lãnh thổ kinh tế
là một quá trình xuyên suốt từ quá khứ đến hiện tại và tương lai. Qua đó có
thể thấy được sự biến đổi, những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến biến đổi đó và
xu hướng phát triển trong tương lai.
- Quan điểm phát triển bền vững: Quán triệt quan điểm bền vững đòi
hỏi phải đảm bảo cả về ba mặt: kinh tế (KT); xã hội và môi trường. Về mặt
KT, đó là tốc độ tăng trưởng, hiệu quả và sự ổn định của nền KT. Dưới góc
độ xã hội, phải chú trọng đến việc xóa đói giảm nghèo, xây dựng thể chế và
bảo tồn di sản văn hóa dân tộc.
5.2. Các phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập và xử lí tài liệu: Việc thu thập tài liệu phải từ
nhiều nguồn để có thể chọn lọc những tài liệu cần thiết đáp ứng được yêu cầu
của công tác nghiên cứu. Việc thu thập tài liệu chủ yếu từ các Ban, Ngành, cơ
quan chức năng trên địa bàn Bắc Giang và các nguồn tài liệu khác trên báo
chí, giáo trình…
- Phương pháp phân tích hệ thống: Thực trạng tổ chức lãnh thổ kinh tế
tỉnh Bắc Giang có thể thấy được qua phân tích các mối quan hệ không gian,
thời gian của các ngành cũng như các lĩnh vực KT, các mối quan hệ giữa tự
nhiên và KT-XH.
- Phương pháp bản đồ, biểu đồ: Đây là những phương pháp đặc trưng của
Địa lí, được sử dụng để làm rõ hiện trạng KT, sự phân bố, các mối liên hệ lãnh
thổ trong không gian, những mối liên hệ KT và những dự kiến phát triển KT.
- Phương pháp thực địa: Tiến hành khảo sát thực tế ở một số huyện,
một số cơ sở sản xuất. Tham khảo những ý kiến của các nhà khoa học, các
nhà quản lí có am hiểu về lĩnh vực tổ chức lãnh thổ kinh tế.

6. Những đóng góp chính của đề tài

Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

6
- Trên cơ sở tổng quan có chọn lọc những vấn đề liên quan nhằm làm
sáng tỏ thêm về cơ sở lí luận và thực tiễn của tổ chức lãnh thổ kinh tế và vận
dụng chúng vào việc nghiên cứu tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Giang.
- Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc
Giang. Xác định rõ các thế mạnh và những hạn chế hay những lợi thế so sánh
giữa tỉnh Bắc Giang với các địa phương khác.
- Phân tích hiện trạng tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Giang, từ đó
đánh giá những thế mạnh và những hạn chế cần khắc phục.
- Đề xuất những định hướng và giải pháp nhằm phát huy những thế
mạnh, đem lại hiệu quả cao trong tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Giang.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung của luận văn được
trình bày trong ba chương:
Chương 1. Những vấn đề lí luận và thực tiễn về tổ chức lãnh thổ kinh tế
Chương 2. Các nhân tố ảnh hưởng và hiện trạng tổ chức lãnh thổ kinh
tế Bắc Giang.
Chương 3. Định hướng và giải pháp tổ chức lãnh thổ kinh tế Bắc Giang
đến năm 2020











Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

7
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
TỔ CHỨC LÃNH THỔ KINH TẾ
1.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TỔ CHỨC LÃNH THỔ KINH TẾ
1.1.1. Khái niệm, bản chất của tổ chức lãnh thổ kinh tế
Thuật ngữ tổ chức lãnh thổ hay tổ chức không gian bắt nguồn từ cơ sở
lí thuyết kinh tế của Adam Smith và Ricardo, từ các công trình nghiên cứu
của G.Thunen, A.Weber, W.Christaller… sau đó được phát triển về lí luận và
được ứng dụng vào thực tiễn từ giữa thế kỉ XIX. Thực tế cho thấy, trong lĩnh
vực này, các nước trên thế giới sử dụng những thuật ngữ không giống nhau.
Ở phương Tây, các nhà khoa học của các quốc gia phát triển lại tiếp
cận vấn đề này với một cách gọi khác: “Tổ chức không gian kinh tế - xã hội”.
Khái niệm này ra đời từ cuối thế kỉ XIX, nó được xem như nghệ thuật kiến
thiết và sử dụng lãnh thổ một cách đúng đắn và có hiệu quả. Nhiệm vụ chủ
yếu của tổ chức không gian là xác định được sức chứa của lãnh thổ; tìm kiếm
mối quan hệ tỉ lệ hợp lí và liên hệ chặt chẽ trong phát triển KT-XH giữa các
ngành và giữa các lãnh thổ nhỏ hay tiểu vùng trong một vùng, cũng như đảm
bảo mối quan hệ giữa các vùng trong một quốc gia có tính tới mối quan hệ
giữa các quốc gia với nhau. Nhờ có sự sắp xếp có trật tự giữa các đối tượng
trong lãnh thổ mà tạo ra một giá trị lớn hơn, làm cho sự phát triển hài hòa và
bền vững hơn.
Ở Việt Nam, nhiều ý kiến cho rằng tổ chức lãnh thổ và tổ chức không
gian KT-XH được xem là như nhau và thuật ngữ tổ chức lãnh thổ được sử
dụng nhiều hơn cả.

Từ những quan điểm nêu trên, có thể hiểu tổ chức lãnh thổ kinh tế là sự
sắp xếp và phối hợp các đối tượng trong mối quan hệ liên ngành, liên vùng

Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

8
nhằm sử dụng một cách hợp lí các tiềm năng tự nhiên, lao động, vị trí địa lí
kinh tế, chính trị và cơ sở vật chất kĩ thuật đã và sẽ được tạo dựng để đem lại
hiệu quả KT-XH cao và nâng cao mức sống dân cư, đảm bảo sự phát triển bền
vững của một lãnh thổ.
1.1.2. Nguyên tắc và nội dung chủ yếu của tổ chức lãnh thổ kinh tế
1.1.2.1. Những nguyên tắc chủ yếu của tổ chức lãnh thổ kinh tế
- Tổ chức lãnh thổ kinh tế phải tạo ra một trật tự hợp lí có tính tới khả
năng của tài nguyên và yêu cầu của thị trường, đảm bảo lợi ích của cộng đồng
và đạt hiệu quả KT-XH cao.
Khi tổ chức lãnh thổ kinh tế phải xem xét tới các nguyên tắc phân bố
sức sản xuất tạo ra một trật tự cho một hệ thống, đảm bảo phát huy tốt nhất
các điều kiện của lãnh thổ để lựa chọn phương án phân bố từng ngành và lĩnh
vực. Mặt khác tổ chức lãnh thổ kinh tế phải tính tới nhu cầu của thị trường để
giảm thiểu chi phí, tối đa hiệu quả.
- Tổ chức lãnh thổ kinh tế phải thỏa mãn yêu cầu về khả năng tài
nguyên và yêu cầu của thị trường nhằm đem lại lợi ích KT-XH và môi trường
cho con người. Thị trường có ý nghĩa quyết định đến sự lựa chọn địa điểm
phân bố cơ sở sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư và quyết định đến hiệu
quả và sự thành công của tổ chức lãnh thổ.
- Tổ chức lãnh thổ kinh tế phải đảm bảo sự phát triển hài hòa và tương
tác giữa các ngành, lĩnh vực và giữa các lãnh thổ.
Tương tác là sự kết hợp và trao đổi lẫn nhau giữa các ngành, lĩnh vực,
tiểu lãnh thổ này với ngành, lĩnh vực, tiểu lãnh thổ khác để tạo ra sức mạnh
tổng hợp cho lãnh thổ; bổ sung giữa nơi thừa cho nơi thiếu về một mặt nào đó

trong một lãnh thổ, làm cho nơi thừa không lãng phí, nơi thiếu thì có điều
kiện để bù đắp cái mình thiếu. Đảm bảo được sự tương tác chính là điều kiện
cần thiết để có được sự phát triển nhịp nhàng.

Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

9
- Tổ chức lãnh thổ kinh tế đảm bảo sự phù hợp với trình độ nguồn nhân
lực và trình độ khoa học công nghệ. Trình độ của những người hoạch định
chính sách, của những người quản lí lãnh thổ cũng như trình độ mọi mặt của
địa phương phải được tính đến trong tổ chức lãnh thổ kinh tế.
1.1.2.2. Nội dung của tổ chức lãnh thổ kinh tế
Ở nước ta, tiếp cận nội dung của tổ chức lãnh thổ kinh tế theo các bước
và với những nội dung chủ yếu sau đây:
Bước 1: Kiểm kê và đánh giá các yếu tố, điều kiện của lãnh thổ và các
đối tượng phải tổ chức trong phạm vi lãnh thổ được nghiên cứu.
Bước 2: Đánh giá hiện trạng lãnh thổ có so sánh với những lãnh thổ
tương tự, phát hiện những bất hợp lí, những xu thế có tính quy luật đối với tổ
chức lãnh thổ được nghiên cứu.
Bước 3: Giả định các phương án tổ chức không gian và lựa chọn
phương án hiệu quả nhất.
Bước 4: Tìm khả năng đáp ứng tài chính, xác định các giai đoạn phát
triển lãnh thổ và kiến nghị phương án quản lí lãnh thổ.
Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, tổ chức lãnh thổ kinh tế có
hai nội dung cơ bản (theo Viện Chiến lược phát triển - Bộ KH&ĐT): (1) Dự báo
về mặt phát triển (dự báo phát triển đối với các ngành, lĩnh vực trên phạm vi lãnh
thổ nghiên cứu); (2) Luận chứng các phương án tổ chức KT-XH theo lãnh thổ
cấp tỉnh/thành phố [28/29].
1.1.3. Các yếu tố chủ yếu ảnh hƣởng đến tổ chức lãnh thổ kinh tế
Tổ chức lãnh thổ kinh tế chịu sự tác động đồng thời và tổng hợp các

nhóm nhân tố bên trong và bên ngoài lãnh thổ dự kiến được tổ chức hay tổ
chức lại. Sự tác động của các yếu tố đến tổ chức lãnh thổ kinh tế không giống
nhau về không gian và thời gian. Có những yếu tố tác động mạnh đối với tổ
chức lãnh thổ kinh tế trong thời gian này, nhưng lại giảm sút vai trò trong giai
đoạn khác.

Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

10
1.1.3.1. Các yếu tố bên trong lãnh thổ
- Vị trí địa lí, tài nguyên thiên nhiên:
Đây là nhóm nhân tố có ảnh hưởng lớn đến tổ chức lãnh thổ kinh tế.
Bởi vì, sự phát triển KT trên một không gian đòi hỏi phải có mối quan hệ chặt
chẽ giữa sản xuất và điều kiện sản xuất, những điều kiện này được coi là đầu
vào của tổ chức lãnh thổ kinh tế.
Vị trí địa lí là nhân tố đặc biệt quan trọng, nhất là trong điều kiện kinh
tế thị trường và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế thì yếu tố vị trí địa lí càng
được đánh giá cao khi lựa chọn địa bàn để phát triển các lãnh thổ trọng điểm,
các cực tăng trưởng và phát triển của mỗi lãnh thổ.
Các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên thường được coi là
yếu tố tiền đề để tổ chức lãnh thổ kinh tế. Điều kiện tự nhiên, như khí hậu,
thời tiết… ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của lãnh thổ và trực tiếp ảnh
hưởng đến việc lựa chọn các hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế.
- Dân cư và nguồn nhân lực
Dân cư và mật độ dân cư có ảnh hưởng lớn đến tổ chức lãnh thổ kinh
tế. Những nơi có mật độ dân cư đông đúc sẽ có nguồn lao động dồi dào và
ngược lại, những nơi dân cư thưa thớt nguồn lao động sẽ bị hạn chế.
Dân cư với các phẩm chất, truyền thống sản xuất và tiêu dùng, truyền
thống văn hóa ảnh hưởng tới cơ cấu sản xuất và cơ cấu tiêu dùng của lãnh thổ.
Khả năng sản xuất hàng hóa và ý thức mong muốn làm giàu chính đáng của

dân cư sẽ là điều kiện thôi thúc sự hình thành và phát triển nền sản xuất quy
mô lớn và hiện đại.
Như vậy, chất lượng nguồn nhân lực quyết định phương hướng phát
triển cơ cấu KT nói chung và cơ cấu ngành nghề nói riêng, cũng như quyết
định đến hình thức và nội dung của tổ chức lãnh thổ kinh tế.

Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

11
- Khoa học - công nghệ
Tiến bộ khoa học - công nghệ có vai trò quan trọng giảm thiểu mức độ
phụ thuộc của phát triển lãnh thổ đối với tài nguyên không phải của lãnh thổ.
Do tiến bộ khoa học - công nghệ có thể tiết kiệm được các yếu tố đầu vào
nâng cao giá trị của các sản phẩm đầu ra. Tiến bộ khoa học - công nghệ không
chỉ làm tăng tổng sản lượng kinh tế, làm sâu sắc thêm phân công lao động xã
hội, đa dạng ngành nghề và nâng cao năng suất lao động, mà còn tạo ra những
tiền đề cho thay đổi cơ cấu KT.
- Kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật
Mạng lưới đường giao thông, hệ thống thông tin, mạng lưới cung cấp
điện, nước; các trung tâm KT, các vùng sản xuất; các cơ sở thương mại, ngân
hàng…ảnh hưởng rõ rệt đến việc hình thành cơ cấu KT lãnh thổ. Do vậy,
muốn chuyển đổi cơ cấu KT lãnh thổ hiệu quả và bền vững thì phải tạo ra
những tiến bộ về chất đối với cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật.
- Trình độ phát triển của nền kinh tế
Trình độ phát triển KT thể hiện qua nhiều yếu tố, như: quy mô nền KT;
cơ cấu KT; trình độ của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất; khả năng áp
dụng khoa học kĩ thuật trong sản xuất, trong quản lí và trong kinh
doanh…Đây là những yếu tố ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển của một
lãnh thổ, bởi vì trình độ phát triển của nền KT là nhân tố chứng tỏ khả năng
về phương tiện vật chất cho tổ chức lãnh thổ và cũng có điều kiện tạo ra nhu

cầu mới lớn hơn, cao hơn. Mặt khác, nó là cơ sở, tiền đề và là điều kiện để tái
tổ chức lãnh thổ kinh tế.
- Môi trường chính sách
Chính sách kinh tế và cơ chế quản lí của Nhà nước có thể tạo ra sự tiến
bộ hay không tiến bộ của một lãnh thổ. Hay nói cách khác, chính sách kinh tế
và cơ chế quản lí của Nhà nước có thể tạo ra sự thúc đẩy hoặc kìm hãm sự
phát triển của một lãnh thổ.

Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

12
1.1.3.2. Các yếu tố bên ngoài lãnh thổ
Trong cơ chế kinh tế thị trường và xu thế toàn cầu hóa mạnh mẽ như
hiện nay, thì các yếu tố bên ngoài tác động đến sự phát triển hay việc tổ
chức kinh tế ở một lãnh thổ là rất mạnh mẽ, trong đó phải kể đến các nhóm
yếu tố sau:
- Nhóm các yếu tố về chủ trương, đường lối phát triển của Nhà nước,
các chiến lược phát triển KT-XH quốc gia, các quy hoạch phát triển vùng,
ngành. Đây là nhóm yếu tố căn bản tác động đến việc hình thành và phát triển
cơ cấu lãnh thổ. Nó tạo ra sự thống nhất của nền kinh tế trong cái đơn lẻ của
mỗi vùng lãnh thổ.
- Nhóm các yếu tố về thị trường và các mối liên hệ kinh tế liên vùng:
Bất kì một lãnh thổ cụ thể nào không thể tách khỏi mối quan hệ với các
lãnh thổ khác, nhất là đối với các lãnh thổ lân cận trên nhiều phương diện.
Thông qua nhu cầu tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của các vùng khác, những
quan hệ về dùng chung mạng lưới giao thông, hệ thống thông tin liên lạc,
những quan hệ nguyên liệu - sản phẩm giữa các vùng lãnh thổ… mà tác động
đến tổ chức lãnh thổ kinh tế.
- Nhóm yếu tố về nguồn đầu tư và công nghệ từ bên ngoài:
Các dòng vốn đầu tư và công nghệ từ bên ngoài cũng ảnh hưởng ngày

càng rõ rệt, đặc biệt đối với các quốc gia, các vùng lãnh thổ kém phát triển, nó
đã góp phần làm thay đổi hình thức, nội dung của tổ chức lãnh thổ kinh tế. Sự
thu hút nguồn vốn và công nghệ phụ thuốc rất nhiều vào cơ chế chính sách
của Nhà nước trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài và thương mại quốc tế.
1.1.4. Khái quát về các lí thuyết tổ chức lãnh thổ kinh tế
1.1.4.1. Lí thuyết tăng trưởng nội sinh và ngoại sinh
- Lí thuyết tăng trưởng nội sinh: Trên cơ sở các kết quả quan sát thực
nghiệm, G.B.Fisher (1939) và C.Clark (1940) đưa ra thuyết tăng trưởng nội
sinh. Thuyết này nhấn mạnh đến năng lực sản xuất bên trong của vùng, khả

Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

13
năng “cung” của các yếu tố đầu vào, như tài nguyên thiên nhiên, vốn, lao
động và công nghệ để xác định năng lực sản xuất của lãnh thổ. Bên cạnh đó,
thuyết tăng trưởng nội sinh cho rằng đầu tư là cấu phần cơ bản trong tổng
“cầu” và là động lực cơ bản của tăng trưởng vùng, vì đầu tư sẽ làm phát sinh
lợi nhuận mới, tăng năng lực sản xuất và thúc đẩy tăng trưởng vùng.
- Lí thuyết tăng trưởng ngoại sinh hay lí thuyết dựa vào xuất khẩu để
phát triển vùng. Theo thuyết này, tăng trưởng vùng chịu ảnh hưởng rất lớn
của mức cầu bên ngoài, muốn nâng cao tiềm lực kinh tế của vùng thì cần phải
thu hút được các luồng tiền từ bên ngoài vào. Để làm được điều đó thì hiệu
quả nhất là gia tăng xuất khẩu.
1.1.4.2. Lí thuyết định vị công nghiệp của A.Weber
Lí thuyết này đưa ra mô hình không gian phân bố công nghiệp (CN)
trên cơ sở nguyên tắc cực tiểu hóa chi phí và cực đại hóa lợi nhuận. Lí thuyết
này ra đời đã giải thích CN tập trung vào một địa điểm nhất định là do ba lí
do, đó là: hướng theo vận tải (nghĩa là các xí nghiệp CN phân bố hướng đến
các khu vực với chi phí vận tải thấp nhất); hướng theo lao động (nghĩa là các
xí nghiệp CN phân bố hướng đến các khu vực có giá nhân công rẻ) và tích tụ

(nghĩa là các xí nghiệp CN phân bố hướng đến các khu vực đã tập trung nhiều
xí nghiệp CN).
Cùng với lí thuyết định vị công nghiệp của mình, A.Weber cũng đã
phân tích các ưu điểm và hạn chế của việc tập trung các doanh nghiệp tại một
địa điểm mà trong ngôn ngữ kinh tế học hiện đại chúng được gọi là các “lợi
ích ngoại ứng” và “chi phí ngoại ứng” của vùng lãnh thổ trong phạm vi
quyết định đầu tư. Các lợi ích ngoại ứng xuất hiện khi các doanh nghiệp có
thể chia sẻ gánh nặng chi phí vì sử dụng chung hệ thống kết cấu hạ tầng và có
thể hỗ trợ lẫn nhau trong hoạt động thực hiện chuyên môn hóa, hợp tác hóa
sản xuất, làm tăng năng xuất lao động, hạ giá thành sản phẩm, sử dụng tiết

Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

14
kiệm các nguồn nguyên liệu và năng lượng. Bên cạnh đó, chi phí ngoại ứng
cũng có thể xuất hiện khi có sự quá tải của lãnh thổ và sự cạnh tranh, chèn ép
lẫn nhau dẫn đến hạn chế sự phát triển của các doanh nghiệp.
Như vậy, có thể nhận thấy trong điều kiện của nước ta hiện nay, nhất là
đối với một tỉnh như Bắc Giang thì lí thuyết này có giá trị thực tiễn cao và có
thể vận dụng vào việc phân bố và phát triển CN.
1.1.4.3. Lí thuyết phát triển các vành đai nông nghiệp trong phạm vi ảnh
hưởng của thành phố
V.Thunen cho rằng, thành phố (TP) trung tâm có sức hấp dẫn đối với
hoạt động nông nghiệp (NN) ở xung quanh và địa tô chênh lệch là một nhân
tố then chốt dẫn đến sự phân chia lãnh thổ của quốc gia thành các vùng sử
dụng đất nông nghiệp khác nhau xung quanh TP hạt nhân. Ông đã phân tích
sự khác nhau về chi phí vận tải, tầm quan trọng của khoảng cách không gian
và trọng lượng sản phẩm của các hoạt động NN trong việc phân bố thành các
vành đai NN xung quanh TP.
1.1.4.4. Lí thuyết về các điểm trung tâm của W.Christaller

Lí thuyết này được hai nhà bác học là W.Christaller và A.Losch đưa ra
năm 1933 dựa trên những ý tưởng và mô hình của V.Thunen và A.Weber
cũng như những luận điểm cơ bản của Niutơn về lực hấp dẫn.
Theo quan điểm của W.Christaller, TP là một trung tâm cho tất cả các
điểm dân cư khác của vùng, bảo đảm cho chúng về các hàng hóa của trung
tâm; thành phố là cực hút, là hạt nhân của sự phát triển, là đối tượng để đầu tư
có trọng điểm trên cơ sở nghiên cứu mức độ thu hút và mức độ ảnh hưởng
của vị trí trung tâm. A.Losch đưa thêm vào nội dung lí thuyết của
W.Christaller, ông cho rằng có một vị trí trung tâm chung, đó là TP quan
trọng nhất, là đầu mối của toàn hệ thống các điểm dân cư.
Lí thuyết các “điểm trung tâm” là cơ sở cho việc bố trí các điểm đô thị
mới tại các vùng lãnh thổ còn trống vắng đô thị. Theo nghiên cứu của các nhà

Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

15
kinh tế thì càng xa vị trí trung tâm ảnh hưởng càng giảm dần và sẽ chấm dứt tại
điểm mà sự ảnh hưởng bắt đầu mạnh hơn của một trung tâm gần nhất khác.
1.1.4.5. Lí thuyết cực phát triển
Lý thuyết chú trọng vào những điểm làm phát sinh sự tăng trưởng KT
của lãnh thổ. Quan điểm này do Francoi Perroux - nhà kinh tế học người Pháp
đề xướng vào đầu những năm 50 thế kỉ XX. Theo ông, trong một vùng không
thể phát triển KT đồng đều ở tất cả các điểm trên lãnh thổ của nó theo cùng
một thời gian mà luôn có xu hướng phát triển mạnh nhất ở một hoặc vài điểm,
trong khi các điểm khác lại phát triển chậm chạp hoặc trì trệ, kém phát triển.
Các điểm phát triển nhanh này, tất nhiên nó là những trung tâm có lợi thế so
với toàn vùng.
Những năm sau đó, lý thuyết này được Albert Hirshman, Myrdal,
Friedman và Harry Richarson tiếp tục nghiên cứu và phát triển, trên cơ sở
nhấn mạnh vai trò to lớn của CN và dịch vụ (DV) đối với sự tăng trưởng và

phát triển của vùng; chính sự tập trung CN và DV ở các đô thị (các cực) giữ
vai trò hạt nhân phát triển.
Theo Harry Richarson và Benjamin Higgins, một cực phát triển trước
hết cần được hiểu đó là tập hợp các ngành CN có khả năng tạo ra động lực
tăng trưởng cho nền KT, có quan hệ tương tác chặt chẽ với nhau thông qua
các mối quan hệ đầu vào - đầu ra xung quanh một ngành CN dẫn đầu hay CN
mũi nhọn. Nhờ có những ưu thế về công nghệ hiện đại, tốc độ đổi mới sản
phẩm (cả về chất lượng, mẫu mã… theo nhu cầu thị trường) và có phạm vi thị
trường tiêu thụ rộng lớn, nên ngành CN này ngày càng phát triển nhanh, kéo
theo các ngành liên quan đến nó tăng trưởng nhanh hơn các bộ phận khác của
nền KT, tạo ra tác động lan tỏa ảnh hưởng theo cấp số nhân đến các bộ phận
khác của nền KT. [12].

Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

16
1.1.4.6. Lí thuyết về đia - kinh tế mới của Paul Krugman
Lí thuyết điạ-kinh tế mới Nội dung mới trong thuyết Thương mại mới-
địa kinh tế mới của Paul Krugman, Giải thưởng Noben Kinh tế năm 2008.
Theo đó, “thương mại nội ngành” hoàn toàn có thể là hậu quả của (sự đa
dạng) chủng loại sản phẩm và đặc tính sản xuất. Tại sao? Lí do chính là một
số CN có đặc tính mà kinh tế học gọi là “tính tiết kiệm do quy mô”
(economies of scale): số lượng sản xuất càng cao thì giá chi phí bình quân
càng thấp. Đối với loại hàng hóa có tính này thì thế giới chỉ cần vài cơ xưởng
sản xuất là đủ. Những cơ xưởng này tất nhiên phải tọa lạc ở nơi nào đó, và
quốc gia nào “may mắn” có chúng thì sẽ xuất khẩu những loại hàng ấy, còn
các quốc gia khác thì phải nhập khẩu từ họ. Rất nhiều loại hàng có tính “tiết
kiệm do quy mô”; quốc gia nào cũng có một số hàng như vậy; mọi chi tiết
khác (có thể là do tình cờ của lịch sử) đều không là quan trọng. Quan trọng là
cái bức tranh toàn cảnh của thương mại thế giới: Bức tranh ấy được định đoạt

bởi những yếu tố như tài nguyên và khí hậu (như trong thuyết thương mại
“cũ”), nhưng thêm vào đó là rất nhiều những chuyên biệt hóa căn cứ trên tính
tiết kiệm do quy mô.
1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN TỔ CHỨC LÃNH THỔ KINH TẾ
1.2.1. Các hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế chủ yếu vận dụng vào thực tiễn ở
Việt Nam
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lí luận về tổ chức lãnh thổ kinh tế
cũng như thực tiễn ở Việt Nam trong những năm qua, có thể thấy các hình
thức tổ chức lãnh thổ kinh tế phổ biến ở nước ta hiện nay là:
1.2.1.1 Hành lang kinh tế
Hành lang kinh tế được hình thành dựa trên một tuyến trục giao thông
huyết mạch và sự tập trung các cơ sở CN và DV dọc hai bên tuyến trục đó.
Do có sự phát triển tập trung các cơ sở KT, lợi dụng triệt để việc vận chuyển

×