Tải bản đầy đủ (.pdf) (127 trang)

Hướng dẫn học sinh đọc hiểu chùm thơ thu của Nguyễn Khuyến dưới góc độ thi pháp

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.07 MB, 127 trang )

Số hóa bởi trung tâm học liệu


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM



HOÀNG MAI QUYÊN




HƢỚNG DẪN HỌC SINH ĐỌC HIỂU CHÙM THƠ THU CỦA
NGUYỄN KHUYẾN DƢỚI GÓC ĐỘ THI PHÁP





LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC











Thái Nguyên – 2013
Số hóa bởi trung tâm học liệu


ĐẠI HỌC SƢ PHẠM THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM


HOÀNG MAI QUYÊN



HƢỚNG DẪN HỌC SINH ĐỌC HIỂU CHÙM THƠ THU CỦA
NGUYỄN KHUYẾN DƢỚI GÓC ĐỘ THI PHÁP



Chuyên ngành: Lí luận và phƣơng pháp dạy học Văn – Tiếng Việt
Mã số: 60140111


LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS. Nguyễn Thanh Hùng










Thái Nguyên – 2013
Số hóa bởi trung tâm học liệu


LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc của mình tới GS.TS. Nguyễn
Thanh Hùng – ngƣời thầy đã tận tâm hƣớng dẫn, giúp đỡ và chỉ bảo em trong suốt
quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong khoa Ngữ văn và khoa
Sau đại học đã tạo điều kiện, giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu, hoàn
thành công trình khoa học này.
Tác giả luận văn cũng bày tỏ lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện,
giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện luận văn.

Tác giả luận văn



Hoàng Mai Quyên
Số hóa bởi trung tâm học liệu
i

MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
MỤC LỤC i
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 8
Chƣơng 1. THI PHÁP HỌC VÀ DẠY – HỌC 8
1.1. Khái niệm về thi pháp học 8
1.2. Một vài đặc trƣng tiêu biểu của thi pháp văn học trung đại Việt Nam 10
1.2.1. Tính ƣớc lệ thẩm mĩ cổ điển 11
1.2.2. Thời gian nghệ thuật và không gian trong văn học trung đại Việt Nam 15
1.2.3. Thiên nhiên trong văn học trung đại Việt Nam 21
1.2.4. Quan niệm nghệ thuật về con ngƣời trong văn chƣơng trung đại 23
1.3. Nét đặc sắc về thi pháp trong thơ Nôm Đƣờng luật của Nguyễn Khuyến 26
1.3.1. Quan niệm mới về con ngƣời trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến 26
1.3.2. Một không gian quê mộc mạc thanh bình. 30
1.3.3. Cảm thức thời gian tâm trạng đa chiều 32
1.3.4. Nguyễn Khuyến sự kết hợp phức điệu trào phúng với trữ tình 33
1.4. Vận dụng thi pháp học để khám phá giá trị đích thực của tác phẩm văn
chƣơng. 36
Chƣơng 2. NHỮNG BIỆN PHÁP HƢỚNG DẪN HỌC SINH ĐỌC HIỂU CHÙM
THƠ THU DƢỚI GÓC ĐỘ THI PHÁP HỌC 39
2.1. Những tri thức cơ bản về đọc hiểu tác phẩm văn chƣơng 39
2.1.1. Quan niệm về đọc hiểu 39
2.1.2. Nội dung đọc hiểu 40
Số hóa bởi trung tâm học liệu
ii

2.1.3. Tri thức đọc hiểu 41
2.1.4. Kĩ năng đọc hiểu 42
2.2. Thực trạng và những khuynh hƣớng dạy đọc hiểu Chùm thơ thu trong trƣờng
THPT hiện nay 45
2.2.1. Thực trạng dạy đọc hiểu Chùm thơ thu trong trƣờng THPT hiện nay 45
2.2.2. Những khuynh hƣớng dạy đọc hiểu Chùm thơ thu trong trƣờng THPT hiện nay
46

2.3. Đọc hiểu Chùm thơ thu theo đặc trƣng thi pháp thể loại 47
2.3.1. Cảm hứng sáng tạo của Nguyễn Khuyến trong Chùm thơ thu 47
2.3.2. Mĩ lệ hóa cảnh vật và ngôn ngữ bình dị trong Chùm thơ thu 48
2.3.3. Không gian và thời gian nghệ thuật trong Chùm thơ thu 55
2.3.4. Biểu tƣợng cảm khái về đời và về bản thân tác giả trong Chùm thơ thu 60
2.3.5. Sự kết tình trong cấu trúc Chùm thơ thu 62
2.4. Đổi mới dạy đọc hiểu Câu cá mùa thu dƣới góc độ thi pháp 66
2.4.1. Lựa chọn tri thức cho bài Câu cá mùa thu 66
2.4.2. Vận dụng đọc hiểu Câu cá mùa thu để phân tích, bình giá tác phẩm. 70
2.4.3. Phát hiện giá trị nhân văn của nội dung nghệ thuật và ý vị nhân sinh trong Câu
cá mùa thu. 73
2.4.4. Xác định tiến trình đọc hiểu bài thơ Câu cá mùa thu 75
2.4.5. Học sinh phát triển và bổ sung tiến trình đọc hiểu bài thơ 76
2.4.6. Kiểm tra, đánh giá yêu cầu cần đạt 77
Chƣơng 3. Thực nghiệm dạy đọc hiểu Câu cá mùa thu dƣới góc nhìn thi pháp 80
3.1. Mục đích thực nghiệm 80
3.2. Địa bàn thực nghiệm 80
3.3. Đối tƣợng thực nghiệm 80
3.4. Phƣơng pháp tiến hành thực nghiệm 80
Số hóa bởi trung tâm học liệu
iii

3.5. Tiến trình thực nghiệm 81
3.5.1. Thiết kế giờ dạy đọc hiểu Câu cá mùa thu dƣới góc nhìn thi pháp 81
3.5.2. Dạy thực nghiệm 98
3.5.3. Dạy đối chứng 100
3.5.4. Đánh giá thực nghiệm 106
3.5.5. Kết luận về quá trình thực nghiệm 109
KẾT LUẬN 111
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐƢỢC CÔNG BỐ 113

TÀI LIỆU THAM KHẢO 114
PHỤ LỤC 117
















Số hóa bởi trung tâm học liệu
iv

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
Chữ viết tắt
Chữ viết đầy đủ
1.
GS
Giáo sƣ
2.
GV

Giáo viên
3.
HS
Học sinh
4.
NXB
Nhà xuất bản
5.
SGK
Sách giáo khoa
6.
SGV
Sách giáo viên
7
THPT
Trung học phổ thông
8.
TS
Tiến sĩ

Số hóa bởi trung tâm học liệu
1

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Đổi mới phƣơng pháp dạy - học là vấn đề đang thu hút đƣợc sự quan tâm,
chú ý của ngành giáo dục nói riêng và toàn xã hội nói chung. Dạy học văn hƣớng tới
mục đích là HS lĩnh hội tri thức và giá trị văn chƣơng, yêu thích văn học và hình
thành một nhân cách sống tốt đẹp. Bao trùm lên quá trình tiếp nhận văn chƣơng là
hoạt động đọc hiểu. Tuy nhiên, nắm đƣợc lí thuyết đọc hiểu là một chuyện, áp dụng

nó một cách thành công lại là chuyện khác. Đọc hiểu là quá trình nắm vững ý nghĩa
của tác phẩm một cách chủ động, tích cực và sáng tạo. Muốn thế cần giúp HS tiếp
cận tác phẩm theo hƣớng thi pháp. Vì vậy, hƣớng tiếp cận này mang đặc trƣng nghệ
thuật và tính văn học của hình thức sáng tạo ngôn từ của tác phẩm.
1.2. Thi pháp học là bộ môn khoa học vừa cũ lại vừa mới, vừa xa mà lại gần. Cũ
vì nó xuất hiện ở Hi Lạp từ thời cổ đại với công trình Nghệ thuật thơ ca của Aristote.
Nhƣng nó mới và gần gũi vì thi pháp học đã trở thành hƣớng nghiên cứu chính của
văn học từ thế kỉ XX và vẫn đang tiếp tục ở thế kỉ XXI. Ở nƣớc ta, từ sau năm 1975,
thi pháp học đã có điều kiện phổ biến khắp cả nƣớc và nhanh chóng trở thành cơ sở
lí thuyết đƣợc nhiều ngƣời vận dụng. Tinh thần thi pháp học đang thấm dần trong
SGK, trong giờ dạy văn và ngày càng thu hút đƣợc sự quan tâm của giới học đƣờng.
1.3. Thơ trữ tình trung đại là một thể loại hay và sâu sắc, tuy nhiên trong quá
trình khai thác thể loại này ngƣời GV văn vẫn gặp nhiều lúng túng. Khó khăn là phải
làm sao truyền tải đƣợc tƣ tƣởng tải đạo, giáo lí của các nhà Nho xƣa trong một hình
thức chật hẹp và gò bó của câu chữ, hình ảnh khuôn sáo ƣớc lệ, niêm luật chặt chẽ
vốn rất xa lạ với HS ngày nay. Hƣớng dẫn HS đọc hiểu một tác phẩm thơ trữ tình
trung đại dƣới góc nhìn thi pháp có thể coi là một hƣớng đi khả thi để khắc phục khó
khăn trên.
1.4. Trong nền văn học trung đại Việt Nam, Nguyễn Khuyến có một vị trí đặc biệt
quan trọng. Với hơn tám trăm tác phẩm thơ, câu đối, tác phẩm dịch viết bằng chữ
Hán và Nôm, trong đó có nhiều tác phẩm có giá trị cả về nội dung lẫn hình thức đã
mang đến cho Nguyễn Khuyến một đời văn bền bỉ và vĩnh hằng. Sự xuất hiện của
ông đã tạo dựng một vị trí khó có thể thay thế trong làng thơ trung đại Việt Nam.
Số hóa bởi trung tâm học liệu
2

1.5. Nói đến Nguyễn Khuyến là ngƣời ta nghĩ đến Chùm thơ thu, đây là ba bài
thơ đã làm nức danh tên tuổi Nguyễn Khuyến. Trong đó Câu cá mùa thu nằm trong
Chùm thơ thu của Nguyễn Khuyến là bài thơ hay và gần gũi với bạn đọc bởi tác phẩm
đã đƣợc tuyển chọn để giảng dạy trong chƣơng trình SGK Ngữ văn lớp 11 từ nhiều

năm nay. Chùm thơ thu vừa là sáng tác tiêu biểu cho một thể loại lớn trong nền văn
học Trung đại Việt Nam đó là thể thơ Nôm Đƣờng luật, lại vừa đƣợc Nguyễn Khuyến
vận dụng có nhiều sáng tạo trong phong cách và tài hoa thơ nên việc hƣớng dẫn HS
đọc hiểu bài thơ này là vấn đề cần thiết trong nhà trƣờng phổ thông.
Từ những lí do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Hướng dẫn học sinh đọc
hiểu Chùm thơ thu của Nguyễn Khuyến dưới góc độ thi pháp”.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu đề tài: Hƣớng dẫn học sinh đọc hiểu Chùm thơ
thu của Nguyễn Khuyến dƣới góc độ thi pháp học
Từ giữa thế kỷ XX, công việc nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học theo tinh
thần thi pháp học là xu hƣớng chung trên phạm vi toàn thế giới. Ở Việt Nam, với chủ
trƣơng hội nhập, từ sau Đổi mới đến nay chúng ta đã có nhiều điều kiện tốt để thực
hiện công việc ý nghĩa này. Sau nhiều nỗ lực nghiên cứu, chúng ta đã nhiều công
trình có giá trị.
Khái niệm “Thi pháp học” đã xuất hiện ở Hy Lạp từ thời cổ đại với tác
phẩm “Poetica” (Nghệ thuật thơ ca) của Aristote. Tuy nhiên, “Thi pháp học nghiên
cứu cấu trúc tác phẩm và những hợp thể của các cấu trúc đó: các tác phẩm của một
nhà văn, các khuynh hướng văn học, các thời đại văn học) thì mới hình thành vào
đầu thế kỷ XX ở Nga rồi dịch chuyển sang Âu - Mỹ và phổ biến khắp thế giới”
[www.Tamtay.vn]
Trên lộ trình du nhập vào Việt Nam, thi pháp học đã chứng kiến sự lao động cật
lực của một đội ngũ các nhà nghiên cứu tâm huyết nhƣ: GS. Đỗ Đức Hiểu, nhƣng
trƣớc hết thi pháp học gắn với tên tuổi của GS.TS Trần Đình Sử, ngƣời đã có công
giới thiệu thi pháp học vào Việt Nam và vận dụng nó một cách sáng tạo.
Trong cuốn Mấy vấn đề thi pháp văn học Trung đại, Trần Đình Sử đã nghiên
cứu thi pháp văn học truyền thống một cách nền tảng và sâu sắc trong thế đối sánh
với thi pháp học hiện đại. Bên cạnh đó, ông còn trình bày thi pháp văn học trung đại
Số hóa bởi trung tâm học liệu
3

ở một số phƣơng diện nhƣ: “Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ trữ tình

Trung đại” (40.195), “thời gian nghệ thuật trong thơ” (40.226), “không gian nghệ
thuật trong thơ” (40.253)…Từ đó, tác giả cuốn sách nhận định: “Việc nghiên cứu thi
pháp văn học trung đại cho đến nay vẫn chủ yếu tập trung vào việc miêu tả các đặc
điểm thi pháp thể loại thơ (vận, luật, ngôn ngữ). Về tính nội dung và tính quy luật
hình thức chỉ mới đƣợc xem xét bƣớc đầu ở một số phƣơng diện lẻ tẻ…[40.13]. Từ
nhận định này, chúng tôi nhận thấy cần phải khai thác thi pháp văn học trung đại ở
nhiều phƣơng diện khác nhau nhƣ thi pháp tác giả, thi pháp ngôn từ, không gian nghệ
thuật và thời gian nghệ thuật…qua đó ứng dụng thi pháp học một cách hiệu quả trong
dạy học tác phẩm văn chƣơng.
Trong những năm gần đây, đọc hiểu là một thuật ngữ khoa học đƣợc giới
nghiên cứu văn học và GV dạy văn đặc biệt quan tâm. Từ khi Bộ giáo dục tiến hành
cải cách chƣơng trình và SGK Ngữ văn thì giờ học văn đã trở thành giờ đọc hiểu văn
bản Ngữ văn. Ở Việt Nam, mặc dù lí thuyết đọc hiểu và việc áp dụng lí thuyết này
vào dạy học muộn hơn nhiều nƣớc trên thế giới, nhƣng đã có một số thành tựu đáng
kể của các nhà khoa học nhƣ GS.TS Nguyễn Thanh Hùng, GS. Trần Đình Sử, TS.
Nguyễn Trọng Hoàn…đó là một số nhà nghiên cứu tiêu biểu đã dành nhiều tâm huyết
cho việc nghiên cứu đọc hiểu ở nƣớc ta.
GS.TS Nguyễn Thanh Hùng với một số bài báo và tiểu luận nhƣ: Rèn luyện
năng lực đọc hiểu, Dạy đọc hiểu là tạo nền tảng văn hoá cho người đọc… đã khẳng
định vai trò của đọc hiểu trong dạy học Ngữ văn nói riêng và trong trƣờng phổ thông
nói chung. Bên cạnh đó, năm 201, GS. TS Nguyễn Thanh Hùng đã xuất bản cuốn
sách “Kĩ năng đọc hiểu văn”, cuốn sách đã nêu lên những cơ sở lí luận và thực tiễn
quan trọng của đọc hiểu, đặc biệt là cách thức dạy đọc hiểu tác phẩm văn chƣơng
theo loại thể ở trƣờng trung học. Đó là những đóng góp có ý nghĩa quan trọng trong
việc cụ thể hoá vấn đề dạy học văn.
Nguyễn Khuyến là một nhà thơ lớn của dân tộc. Ông đã góp vào kho tàng văn
học Việt Nam một khối lƣợng thơ văn khá đồ sộ bao gồm thơ viết bằng chữ Hán, thơ
viết bằng chữ Nôm, câu đối và hát nói…Trong đó, phần thơ viết bằng chữ Nôm là
tiêu biểu hơn cả. Nguyễn Khuyến đƣợc mệnh danh là nhà thơ của quê hƣơng làng
Số hóa bởi trung tâm học liệu

4

cảnh Việt Nam. Trong số những tuyệt bút viết về cảnh sắc thôn quê thì ba bài: Câu cá
mùa thu (Thu điếu), Ngâm vịnh mùa thu (Thu hứng), Uống rượu mùa thu (Thu ẩm) đã
tạo nên một Chùm thơ thu nức danh nhất trong sự nghiệp thơ ca Nguyễn Khuyến.
Trong chùm thơ đó, Câu cá mùa thu đã đƣợc giới thiệu và đƣa vào giảng dạy ở
chƣơng trình SGK Ngữ văn lớp 11 tập 1 và thu hút đƣợc đông đảo sự quan tâm của
các nhà nghiên cứu.
TS. Chu Văn Sơn trong một chuyên đề nghiên cứu có viết: “Cõi riêng của
Nguyễn Khuyến, ta thấy không có ở người khác. Ông nhào nặn, tái tạo từ những
nguyên liệu, vật liệu quen thuộc của cảnh quê, nhưng lại khắc phục những cái thô
mộc, quê kệch để làm cho tình cảm trở nên thanh nhã, cao sang hơn.” [33.25]. Nhận
xét trên đã cụ thể hoá nét đặc sắc về Chùm thơ thu của Nguyễn Khuyến từ chất liệu
miêu tả trong thơ, qua đó khẳng định một chất thơ không lẫn với ai, đó là phong cách
quê kiểng mà lại rất thanh cao.
Lã Nhâm Thìn trong bài Câu cá mùa thu [ 46.22] đã nhận xét “Câu cá mùa thu
thể hiện tài năng bậc thầy về thơ Nôm của Nguyễn Khuyến, ông sành sỏi trong việc
sử dụng ngôn ngữ, phát huy được một cách kì lạ khả năng diễn đạt hết sức tinh tế,
chính xác của những từ ngữ rất đỗi nôm na, bình dị…” Dƣới cái nhìn của một nhà
nghiên cứu văn học trung đại, tác giả bài viết đã thông qua Câu cá mùa thu để cho
bạn đọc thấy tài năng ngôn ngữ thơ Nôm của Nguyễn Khuyến.
Tác giả Trần Mạnh Hảo trong một bài nghiên cứu đã viết: “Tựa gối ôm cần lâu
chẳng được, như thể ông là tù binh của cần câu, của chính hồn mình đang ở đâu đâu
trong trời đất mang mang thiên cổ luỵ” [ 26.24]. Đó là nhận xét khái quát về nỗi
niềm đầy ẩn ức của Nguyễn Khuyến gửi gắm qua Câu cá mùa thu.
Tất cả những công trình trên đều là những tƣ liệu quý báu để tác giả luận văn
tham khảo. Tuy nhiên, những nghiên cứu trên đây vẫn còn tản mạn, chƣa có một
công trình nào đi vào nghiên cứu giảng dạy bài Chùm thơ thu dƣới góc độ thi pháp.
Đề tài luận văn của chúng tôi sẽ nhìn Câu cá mùa thu dƣới cái nhìn liên văn bản, với
hi vọng sẽ giúp cho việc dạy học bài thơ Câu cá mùa thu đạt hiệu quả, đồng thời là tƣ

liệu tham khảo cho GV THPT.
Số hóa bởi trung tâm học liệu
5

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Giúp HS tiếp cận Chùm thơ thu qua hệ thống thi pháp tác phẩm, thi pháp tác giả
nhằm nâng cao hiệu quả của giờ dạy. Đƣa lí thuyết đọc – hiểu vào giảng dạy nhằm
góp phần bồi dƣỡng năng lực tiếp nhận văn học của HS.
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ phục vụ cho quá trình dạy học tác phẩm Câu
cá mùa thu và coi đó là tài liệu tham khảo.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện đƣợc mục đích trên, đề tài cần giải quyết những nhiệm vụ cụ thể
nhƣ sau:
- Tìm hiểu những cơ sở lí luận và thực tiễn về đổi mới nội dung và phƣơng
pháp dạy học Ngữ văn.
- Tìm hiểu về thi pháp thơ Nôm Đƣờng luật để soi chiếu vào tác phẩm.
- Vận dụng lí thuyết đọc hiểu tác phẩm văn chƣơng trong giờ dạy Chùm thơ
thu bằng cách đƣa ra nhiều hoạt động đọc phù hợp với sự phát hiện giá trị
của tác phẩm.
- Đề xuất những hành động đọc phù hợp với ba kĩ năng đọc hiểu tác phẩm
Chùm thơ thu của Nguyễn Khuyến dƣới góc độ thi pháp.
- Thiết kế giáo án và thực nghiệm sƣ phạm
4. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là: quá trình dạy đọc hiểu Chùm thơ thu trong
nhà trƣờng THPT dƣới góc độ thi pháp.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn vận dụng lí thuyết đọc hiểu và lí luận về thi pháp vào dạy học tác
phẩm Chùm thơ thu

1. Giả thuyết khoa học
Nếu GV có những cách thức hƣớng dẫn HS đọc hiểu bài thơ Chùm thơ thu của
Nguyễn Khuyến dƣới góc độ thi pháp thì sẽ nâng cao kết quả tiếp nhận giá trị nghệ
thuật và nội dung của giờ đọc hiểu Câu cá mùa thu
Số hóa bởi trung tâm học liệu
6

5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một số phƣơng pháp, biện pháp khoa học sau:
- Phƣơng pháp thống kê, phân loại.
- Phƣơng pháp tổng hợp, vận dụng lí thuyết
- Phƣơng pháp so sánh, đối chiếu tƣ liệu.
- Phƣơng pháp thực nghiệm sƣ phạm: quan sát, phiếu trắc nghiệm, dạy học
thực nghiệm đối chứng.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba
chƣơng:
Chƣơng 1: Thi pháp học và dạy- học văn
1.1. Khái niệm về thi pháp học
1.2. Đặc trƣng thi pháp văn học trung đại Việt Nam.
1.3. Nét nổi bật về thi pháp trong thơ Nôm Đƣờng luật của Nguyễn Khuyến
1.4. Vận dụng thi pháp học để khám phá giá trị đích thực của tác phẩm văn
chƣơng
Chƣơng 2: Những biện pháp hƣớng dẫn học sinh đọc hiểu Câu cá mùa thu
dƣới góc nhìn thi pháp
2.1. Những tri thức cơ bản về đọc hiểu tác phẩm văn chƣơng
2.1.1. Quan niệm về đọc hiểu
2.1.2. Nội dung đọc hiểu
2.1.3. Tri thức đọc hiểu
2.1.4. Kĩ năng đọc hiểu

2.2. Thực trạng và những khuynh hƣớng dạy đọc hiểu Câu cá mùa thu trong
trƣờng THPT hiện nay
2.3. Đọc hiểu Chùm thơ thu theo đặc trƣng thi pháp thể loại
2.3.1. Cảm hứng sáng tạo của Nguyễn Khuyến trong Chùm thơ thu
2.3.2. Mĩ lệ hoá cảnh vật và ngôn ngữ bình dị trong Chùm thơ thu
2.3.3. Không gian và thời gian nghệ thuật trong Chùm thơ thu
2.3.4. Biểu tƣợng cảm khái về đời và về bản thân tác giả trong Chùm thơ thu
Số hóa bởi trung tâm học liệu
7

2.3.5. Sự kết tình trong cấu trúc Chùm thơ thu
2.4. Đổi mới dạy đọc hiểu Câu cá mùa thu dƣới góc độ thi pháp
2.4.1. Lựa chọn tri thức cho bài Câu cá mùa thu
2.4.2. Vận dụng kĩ năng đọc hiểu Câu cá mùa thu để phân tích, bình giá tác phẩm
2.4.3. Phát hiện giá trị nhân văn của nội dung nghệ thuật và ý vị nhân sinh Câu cá
mùa thu
2.4.4. Xác định tiến trình đọc hiểu bài thơ Câu cá mùa thu
2.4.5. Học sinh bổ sung và phát triển tiến trình đọc hiểu bài thơ
2.4.6. Kiểm tra, đánh giá yêu cầu cần đạt
Chƣơng 3: Thực nghiệm dạy học Câu cá mùa thu dƣới góc nhìn thi pháp
3.1. Mục đích thực nghiệm
3.2. Địa bàn thực nghiệm
3.3. Phƣơng pháp tiến hành thực nghiệm
3.4. Tiến trình thực nghiệm
3.4.1. Thiết kế giờ dạy đọc hiểu Câu cá mùa thu dƣới góc nhìn thi pháp
3.4.2. Dạy thực nghiệm
3.4.3. Dạy đối chứng
3.4.4. Đánh giá thực nghiệm
3.4.5. Kết luận về quá trình thực nghiệm
Số hóa bởi trung tâm học liệu

8

NỘI DUNG
Chƣơng 1. THI PHÁP HỌC VÀ DẠY – HỌC
1.1. Khái niệm về thi pháp học
Thi pháp học là một danh từ quen mà lạ. Đó là tên gọi một bộ môn cổ xƣa nhất
nhƣng cũng đồng thời là bộ môn đƣợc nghiên cứu sâu rộng trong xã hội hiện đại, thi
pháp học đang mang đến cho ngành văn những luồng sinh khí mới. Đặc biệt việc dạy
Văn theo tinh thần thi pháp học ở nhiều nƣớc đang ngày càng trở nên phổ biến.
Vào những năm 70 của thế kỉ XX đời sống phê bình, lí luận văn học nƣớc ta
gần nhƣ suy kiệt khả năng sáng tác và khủng hoảng về đƣờng hƣớng sáng tác văn
học. Chính trong thời điểm ấy, sự xuất hiện của thi pháp học hiện đại đã đáp ứng một
cách hiệu quả nhu cầu đổi mới văn học từ hai phía sáng tạo và tiếp nhận. Nếu trong
một thời gian dài chúng ta quá quan tâm đến nội dung mà coi nhẹ hình thức, tách rời
hình thức với nội dung thì thi pháp học lại đặc biệt coi trọng hình thức.Tất nhiên, đó
không phải là hình thức thuần tuý mà là hình thức mang tính quan niệm, không phải
là hình thức bị cắt vụn mà là hình thức mang tính chỉnh thể, thống nhất, hệ thống của
cái nhìn độc đáo về cuộc sống. Từ phƣơng diện này, thi pháp học đã coi văn học nhƣ
một chỉnh thể sống, một sáng tạo nghệ thuật có giá trị văn hoá sâu sắc, luôn mở và
động.
Muốn xác định và tìm hiểu những yếu tố nội hàm của thi pháp học thì trƣớc hết
ta phải xác định thi pháp học là gì? Có rất nhiều định nghĩa về thi pháp học: Theo
viện sĩ M.Khrápchencô “trong thuật ngữ “poetica” nên phân biệt thành hai nghĩa.
Một là các nguyên tắc thi pháp vốn tồn tại trong văn học và hai là thi pháp học, khoa
học nghiên cứu thi pháp”. [40.4] Tác giả cũng cho rằng ở châu Âu việc dùng một
thuật ngữ để chỉ vừa đối tƣợng nghiên cứu, vừa chỉ khoa học nghiên cứu đối tƣợng
đó đã trở thành thông lệ. Ở đây, M.Khrápchencô mới chỉ dừng lại ở việc đƣa ra quan
niệm và cái nhìn về bộ môn thi pháp học mà thôi.
Viện sĩ Avêrinxép thì nói: “Thi pháp là hệ thống nguyên tắc sáng tạo của một
tác giả, một trường phái, hay cả một thời đại văn học, tức là những gì mà bất cứ nhà

văn nào cũng sáng tạo cho mình, bất kể là có ý thức tự giác hay không. Một thi pháp
Số hóa bởi trung tâm học liệu
9

như thế đã tồn tại rất lâu đời trong văn học, hàng nghìn năm trước khi có Aristote”.
[40, tr.4]
Rõ ràng đã có rất nhiều học giả luận bàn về thi pháp nhƣng khi đứng trƣớc câu
hỏi thi pháp học là gì thì câu trả lời lại rất khác nhau. Tựu chung lại, có thể tán thành
định nghĩa của nhà lí luận văn học Nga V.Girmunski: “Thi pháp học là khoa học
nghiên cứu thi ca (văn học) với tư cách là một nghệ thuật”. [40,tr.5]. Đây là định
nghĩa cô đúc nhất mà các định nghĩa khác chỉ là sự triển khai khác nhau của nó.
Có thể hiểu, thi pháp học là cách thức phân tích tác phẩm bám vào văn bản là
chính, không chú trọng đến những vấn đề nằm ngoài văn bản nhƣ: tiểu sử nhà văn,
hoàn cảnh sáng tác, nguyên mẫu nhân vật, giá trị hiện thực, tác dụng xã hội… Thi
pháp học chỉ chú ý đến những yếu tố hình thức tác phẩm nhƣ: hình tƣợng nhân vật -
không gian - thời gian, kết cấu - cốt truyện - điểm nhìn, ngôn ngữ, thể loại… Nội
dung trong tác phẩm phải đƣợc suy ra từ hình thức, đó là “hình thức mang tính nội
dung”. Phương pháp chủ yếu của “Thi pháp học” là phương pháp hình thức.[
NEWVIETART.COM].
Ở đây, chúng tôi thống nhất theo khái niệm sau: “Thi pháp học là khoa học
nghiên cứu về thi pháp, tức là hệ thống các phương tiện, phương thức, thủ pháp biểu
hiện đời sống bằng hình tượng nghệ thuật trong sáng tác văn học. Mục đích của thi
pháp học là chia tách và hệ thống hoá các yếu tố của văn bản nghệ thuật tham gia
vào sự tạo thành của thế giới nghệ thuật, ấn tượng thẩm mĩ và chiều sâu phản ánh
của sáng tác nghệ thuật” [8, tr.30]
Xét về mặt chỉnh thể văn học mang tính thi pháp, có thể nói tới thi pháp tác
phẩm cụ thể, thi pháp tác giả (sáng tác của một nhà văn), thi pháp một trào lƣu, thi
pháp văn học một thời đại, một thời kì lịch sử…
Xét về các phƣơng tiện, phƣơng thức nghệ thuật đã đƣợc chia tách, có thể nói
tới thi pháp của thể loại, thi pháp của phƣơng pháp, thi pháp của phong cách, thi pháp

kết cấu, thi pháp không gian, thời gian, thi pháp ngôn ngữ…
Từ các định nghĩa trên ta thấy thi pháp học chủ yếu là một lĩnh vực nghiên cứu
về đặc trƣng, tổ chức, các phƣơng thức, phƣơng tiện, nguyên tắc làm nên giá trị thẩm
mĩ của văn học trong tính chỉnh thể của văn bản. Thi pháp học chỉ chú ý đến những
Số hóa bởi trung tâm học liệu
10

yếu tố thuộc hình thức tác phẩm nhƣ: hình tƣợng nhân vật, không gian – thời gian,
kết cấu – cốt truyện – điểm nhìn, ngôn ngữ, thể loại… Nội dung trong một tác phẩm
phải đƣợc suy ra từ hình thức, đó là “hình thức mang tính quan niệm” (Trần Đình
Sử). Phƣơng pháp chủ yếu của thi pháp học là phƣơng pháp hình thức, chúng ta hiểu
phƣơng pháp hình thức là “phương pháp phân tích các khía cạnh hình thức của tác
phẩm văn học nghệ thuật để rút ra ý nghĩa thẩm mĩ của nó” (Nguyễn Văn Dân). Dạy
Văn theo hƣớng thi pháp học nghĩa là nghiêng về phân tích hình thức nghệ thuật của
tác phẩm.
Sự phân tích của các khái niệm cuối cùng cũng dẫn đến hai khuynh hƣớng
nghiên cứu quy luật nội tại của một tác phẩm đó là: hình tƣợng thế giới gồm có
không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật và hình tƣợng tác giả. Tác động của hai
yếu tố trên tạo nên điểm nhìn nghệ thuật có tác dụng quy định tất cả mọi điều cơ bản
của cấu trúc tác phẩm.
Vì Chùm thơ thu của Nguyễn Khuyến thuộc thể loại trữ tình nên chúng tôi chỉ
tập trung đi sâu vào nghiên cứu thi pháp học ở khía cạnh hình tƣợng thế giới và hình
tƣợng tác giả chứ không đi vào phân tích điểm nhìn nghệ thuật.
1.2. Một vài đặc trƣng tiêu biểu của thi pháp văn học trung đại Việt Nam
Văn học trung đại là một giai đoạn lớn trong lịch sử văn học nhân loại và dân
tộc, đồng thời đó cũng là một phạm trù lớn của văn học, bên cạnh văn học cổ đại và
hiện đại. Chính vì vậy đi tìm hiểu thi pháp văn học trung đại cũng là để tìm hiểu thêm
về một thời kì có ý nghĩa to lớn trong lịch sử văn học dân tộc.
Văn học trung đại đƣợc đặt dấu mốc từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX. Đây là thời
kì văn học có tầm quan trọng đặc biệt góp phần làm nên diện mạo văn chƣơng, tƣ

tƣởng, mĩ học của dân tộc. Bởi vậy, nghiên cứu, giáo dục, thƣởng thức văn học trung
đại là đi vào chiều sâu và bề rộng tƣ tƣởng thẩm mĩ đang chuyển động trong suối
nguồn văn học ấy để có thể khám phá, phát hiện một cách khoa học, đúng đắn bản
chất, tình cảm thẩm mĩ của bộ phận văn học này.
Bên cạnh đó, văn học trung đại còn chiếm một phần không nhỏ trong chƣơng
trình trung học phổ thông và chuyên nghiệp, và việc dạy văn học trung đại sao cho
Số hóa bởi trung tâm học liệu
11

thực sự hiệu quả đang là một trong những mục tiêu phấn đấu của ngƣời giáo viên
Văn. Việc áp dụng dạy học tác phẩm văn chƣơng theo hƣớng thi pháp sẽ giúp ngƣời
giáo viên đạt đƣợc mục tiêu cần đạt.
1.2.1. Tính ƣớc lệ thẩm mĩ cổ điển
Trong xã hội Việt Nam nói chung, ƣớc lệ đƣợc coi là một quy ƣớc có tính cộng
đồng. Ƣớc lệ là cảm nhận riêng của cộng đồng khi cảm nhận thực tại, làm cho sự vật,
hiện tƣợng hiện lên đúng với chiều kích quy ƣớc và đúng với cách hiểu mà xã hội ấy
quy định.
Văn học bao giờ cũng có tính ƣớc lệ bởi vì văn học bắt nguồn từ cuộc sống,
đƣợc thanh lọc qua cái nhìn của nhân vật, qua lăng kính thẩm mĩ của thời đại. Có
điều ƣớc lệ trong văn học là ƣớc lệ thẩm mĩ, có tính quy ƣớc của các nhà văn trong
một thời đại, một dòng văn học nhất định.
Đặc trƣng ƣớc lệ trong văn học trung đại đƣợc hình thành từ bối cảnh lịch sử xã
hội phong kiến và cảm quan thẩm mĩ của lớp Nho sĩ Hán học. Xã hội phong kiến là
một xã hội lắm lễ nghi, công thức. Xã hội đó bị lễ nghĩa trói buộc nên văn chƣơng tất
phải ƣớc lệ. Các văn sĩ thời xƣa coi lời nói của thánh hiền là chuẩn mực nên văn
chƣơng cũng phải đạt đến sự mẫu mực (trong bút pháp, cách dùng từ, sử dụng các
điển tích, điển cố…). Văn chƣơng trung đại sáng tác thƣờng để tỏ lòng, nói chí, chức
năng chính là để tải đạo sáng tác văn học là hình thức trƣớc thƣ lập ngôn, nên văn
chƣơng ƣớc lệ mới đẹp, mới sang trọng, góp phần vào thể hiện đƣợc chức năng giáo
lí và hình thành mẫu ngƣời lí tƣởng trong xã hội phong kiến. Ƣớc lệ thẩm mĩ trong

văn học trung đại bao gồm ba tính chất cơ bản: tính uyên bác và cách điệu hoá cao
độ, tính sùng cổ và tính phi ngã.
1.2.1.1. Tính uyên bác và cách điệu hoá cao độ
Nếu văn học dân gian đƣợc coi là văn chƣơng bình dân thì văn học trung đại lại
đƣợc gọi là văn chƣơng bác học bởi ngƣời sáng tác phải bác học và ngƣời tiếp nhận
cũng phải bác học, đó là những trí thức Hán học tài hoa, những bậc tao nhân mặc
khách. Sáng tác trong môi trƣờng ấy ắt văn chƣơng phải có tính thẩm mĩ, uyên bác
Số hóa bởi trung tâm học liệu
12

cao. Cả ngƣời sáng tác và ngƣời tiếp nhận văn chƣơng đều phải thông thuộc kinh sử,
điển tích, điển cố, phải có vốn thi liệu phong phú đƣợc học tập từ những áng văn bất
hủ của ngƣời xƣa. Văn chƣơng càng uyên bác thì càng có sức hấp dẫn cao.
Lạ gì bỉ sắc tư phong,
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.
Hay:
Trước sau nào thấy bóng người,
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông.
(Truyện Kiều, Nguyễn Du)
Văn chƣơng của bậc tao nhân mặc khách thƣờng có tính lí tƣởng hoá nên thế
giới nghệ thuật của các trang văn thời kì này luôn đƣợc các nhà văn cách điệu hoá cao
độ. Hình tƣợng nghệ thuật càng đƣợc cách điệu hoá cao thì càng đẹp. Con ngƣời
trong văn chƣơng phải đẹp một cách lí tƣởng nhƣ tóc mây, mày liễu, mặt hoa, tay
tiên, vóc hạc….đó là sắc đẹp phi thƣờng:
Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang,
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.
(Truyện Kiều, Nguyễn Du)
Cái tài cũng phải phi thƣờng:

Câu cẩm tú đàn anh họ Lý,
Nét đan thanh bậc chị chàng Vương.
Cờ tiên rượu thánh ai đang,
Số hóa bởi trung tâm học liệu
13

Lưu Linh, Đế Thích là làng tri âm.
(Cung oán ngâm khúc, Nguyễn Gia Thiều)
Tạo vật thiên nhiên đi vào văn chƣơng cũng phải thật quý phái đẹp nhƣ: tùng,
cúc, trúc, mai…
Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi,
Dặm liễu sương xa khách bước dồn.
(Chiều hôm nhớ nhà, Bà Huyện thanh quan)
Thời trung đại, do cảm quan nhận thức bị chi phối sâu sắc bởi các học thuyết
Trung Hoa nên các tác giả quan niệm con ngƣời không hoàn mĩ bằng tạo hoá, không
tài hoa bằng hoá công. Vì thế, những gì cần lý tƣởng hoá đều phải đƣợc so sánh với
thiên nhiên, thiên nhiên trở thành chuẩn mực cho cái đẹp của con ngƣời.
1.2.1.2. Tính sùng cổ
Do quan niệm về thời gian phi tuyến tính nên trong văn chƣơng trung đại các
văn sĩ luôn có xu hƣớng tìm về quá khứ, lấy quá khứ làm chuẩn mực cho cái đẹp, lẽ
phải, đạo đức. Với họ thời thịnh vƣợng nhất của các đời vua là thời vua Nghiêu,
Thuấn:
Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng,
Dân giàu đủ khắp đòi phen.
( Cảnh ngày hè, Nguyễn Trãi)
Ngƣời anh hùng, nghĩa sĩ lí tƣởng phải là Kỉ Tín, Do Vu, Dự Nhƣợng nhƣ
trong “Hịch tướng sĩ”, những kinh nghiệm của cha ông đƣợc coi là chân lí có sức toả
sáng muôn đời. Văn học vì vậy mà đầy rẫy những điển tích, điển cố. Các nhà văn sau
thƣờng tập cổ, vay mƣợn thi liệu, thi tứ, hình ảnh nghệ thuật của các tác giả đời
trƣớc:

Ghét đời Kiệt, Trụ mê dâm,
Số hóa bởi trung tâm học liệu
14

Để dân đến nỗi sa hầm sẩy hang.
Ghét đời U, Lệ đa đoan,
Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần.
(Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu)
1.2.1.3. Tính phi ngã
Trong xã hội phong kiến nói chung, văn học trung đại nói riêng, ý thức cá nhân
chƣa có điều kiện phát triển. Con ngƣời đƣợc đánh giá trên cơ sở của tầng lớp, giai
cấp, dòng họ, địa vị xã hội. Con ngƣời trong xã hội chỉ đƣợc phân ra làm hai bậc là
quân tử và tiểu nhân. Nguồn gốc của tính phi ngã này là vì văn học trung đại đƣợc
sản sinh trên cái nền của những quy tắc hết sức nghiêm ngặt trong xã hội chuyên chế
phong kiến. Chính xã hội ấy đã triệt tiêu cái sáng tạo cá nhân của con ngƣời và định
hƣớng họ theo những chuẩn mực nhất định. Tính phi ngã ấy đƣợc thể hiện ở một vài
khía cạnh sau:
Thứ nhất: trong việc sử dụng hình ảnh: Tranh vẽ hay thơ vịnh đều đƣợc sáng tạo
theo một công thức nhất định: tứ quý, tứ linh…tạo vật thì phải là xuân, lan, thu cúc:
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao…
(Nhàn, Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Con ngƣời thì phải là: ngƣ, tiều, canh, mục:
Gác mái ngư ông về viễn phố
Gõ sừng mục tử lại cô thôn
(Chiều hôm nhớ nhà, Bà huyện Thanh Quan )
Thứ hai: tính phi ngã trong xây dựng nhân vật văn chƣơng. Nhân vật trong các
tác phẩm thƣờng phải là các bậc tài tử, giai nhân nếu không cũng phải là các đấng
Số hóa bởi trung tâm học liệu
15


quân tử, bậc trƣợng phu, những tiểu thƣ khuê các (Kim Trọng, Thuý Kiều, Phạm
Thái, Trƣơng Quỳnh Nhƣ, Quỳnh Nga, Lục Vân Tiên…)
Còn về thể thơ, các tác phẩm phải tuân thủ nghiêm ngặt về niêm luật, vần, số
câu, số chữ. Tóm lại, các tác giả trung đại phải ẩn cái tôi của mình trong một cái ta
chung rộng lớp của xã hội:
Bui có một lòng chung liễn hiếu,
Đêm ngày cuồn cuộn nước triều dâng.
(Nguyễn Trãi)
Tuy nhiên, nói nhƣ vậy không có nghĩa là văn học trung đại không có dấu ấn
bản ngã của ngƣời nghệ sĩ. Càng về giai đoạn cuối thời kì trung đại, khi xã hội phong
kiến suy thoái, mục ruỗng thì cũng là lúc ý thức cái tôi bắt đầu len lói, ƣơm mầm, nảy
nở. Một vài tác giả đã không ngần ngại bày tỏ bản ngã đầy cá tính của mình nhƣ
Nguyễn Du, Hồ Xuân Hƣơng, Nguyễn Khuyến, Tú Xƣơng…chỉ có điều do vẫn nằm
trong ý thức hệ phong kiến nên các cây bút này mới chỉ dám cởi trói cho mình ở một
vài khía cạnh nhƣ tƣ tƣởng, ngôn ngữ…Đổi mới chƣa đƣợc coi là phong trào nhƣ sau
này.
1.2.2. Thời gian nghệ thuật và không gian trong văn học trung đại Việt Nam
Nhƣ chúng ta đều biết, văn học trung đại là một thành tựu rất quan trọng của
văn học Việt Nam. Để làm nên thành công và những nét đặc trƣng của văn học trung
đại yếu tố không thể thiếu là thời gian nghệ thuật và không gian nghệ thuật. Không
gian và thời gian không đơn thuần mang ý nghĩa khách quan mà nó là không gian,
thời gian đƣợc quan niệm, đƣợc gán cho một ý nghĩa nhất định.
Trong thi pháp học hiện đại, thời gian nghệ thuật và không gian nghệ thuật có
vai trò rất quan trọng trong việc sáng tác và phê bình tác phẩm. Hai yếu tố này đã góp
phần tạo nên thế giới hình tƣợng sinh động và phong phú. Nó không chỉ thể hiện thế
giới vào tác phẩm mà còn biểu đạt những cảm thức, những quan niệm của ngƣời viết.
Số hóa bởi trung tâm học liệu
16


Thời gian và không gian là hình thức tồn tại của thế giới, của cuộc sống con
ngƣời. Không gì có thể tồn tại ngoài không gian và thời gian. Do vậy, mọi cảm nhận
về tồn tại của con ngƣời đều gắn liền với cảm nhận không gian và thời gian. Con
ngƣời cảm nhận thời gian từ sự thay đổi của chính mình và của thế giới xung quanh.
1.2.2.1. Thời gian nghệ thuật trong thơ trung đại Việt Nam
Điểm nổi bật trong cảm thức thời gian ở thơ ca trung đại đó là vị trí chủ đạo của
thời gian thiên nhiên vũ trụ bất biến tĩnh tại. Bởi vì, khi lấy thiên nhiên làm bản vị,
đạo gia chỉ thấy thiên nhiên vũ trụ là vĩnh hằng, vô hạn, vô thuỷ, vô chung, còn con
ngƣời, muôn vật đều ngắn ngủi, hữu hạn vô nghĩa. Tiêu biểu cho kiểu thời gian này là
thơ Thiền:
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết,
Đêm qua xuân trước một nhành mai.
(Cáo tật thị chúng, Mãn Giác Thiền Sƣ)
Ở đây có thời gian luân hồi của hoa rụng rồi nở, có thời gian của đời ngƣời
một đi không trở lại.
Mặt khác, thời gian lịch sử trong thơ tƣơng quan với thời gian vũ trụ. Khi nói
tới lịch sử là nói tới sự thay thế triều đại, theo quan niệm thời trung đại, mọi hƣng
vong thành bại đều thuộc mệnh trời, cho nên thời gian lịch sử gắn liền với thời gian
vũ trụ một cách huyền bí. Vũ trụ tuần hoàn cũng kéo theo sự tuần hoàn của lịch sử.
Phạm trù thời gian chỉ đƣợc xác nhận trong các khoảng cách lớn: kim - cổ, xƣa - nay.
Các khoảng cách nghìn năm, vạn năm, gợi ra sự bất biến các khoảng thời gian ngắn
chƣa đƣợc chú ý. Một biểu hiện dễ nhận thấy nhất trong thời gian lịch sử là các tác
giả thƣờng thêm vào những điển tích, điển cố:
Bá Di người rặng thanh là thú
Nhan Tử ta xem ngặt ấy lề
(Thuật hứng, bài 5, Nguyễn Trãi)
Số hóa bởi trung tâm học liệu
17

Một yếu tố nữa là trong văn học trung đại, thời gian con ngƣời đã đƣợc ý thức

trƣớc thực tế tuổi tác, thọ yểu và sự bất lực của con ngƣời. Thơ ca phần lớn nói cái
hữu hạn của đời ngƣời sự nhỏ bé của kiếp ngƣời. Dƣờng nhƣ bao trùm lên trang thơ
của các thi sĩ là nỗi chán ngán, cảm thức về thời gian tàn tạ, phôi pha:
Nghĩ người trước lòng đau đòi loạn,
Kiếp phù sinh ngao ngán những ngày
(Đài Đồng Tước, Nguyễn Du)
Theo Trần Đình Sử: “Thời gian nghệ thuật là thời gian mà ta có thể thể
nghiệm được trong tác phẩm nghệ thuật với tính liên tục và độ dài của nó, với nhịp
độ nhanh hay chậm, với các chiều thời gian hiện tại, quá khứ hay tương lai Thời
gian nghệ thuật là một biểu tượng, một tượng trưng, thể hiện quan niệm của nhà văn
về cuộc đời và con người”.
1.2.2.2. Không gian nghệ thuật trong thơ trung đại Việt Nam
Cũng giống nhƣ thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn
học là phƣơng thức tồn tại và triển khai của thế giới nghệ thuật. Không gian nghệ
thuật trong văn bản văn học không đơn giản là xác định nơi chốn hay tái hiện những
khung cảnh hiện thực mà nó đƣợc xác định nhƣ một tín hiệu nghệ thuật đặc biệt, là
nơi ngƣời nghệ sĩ kí thác những tâm sự của mình về thế giới khách quan.
Nhìn lại một chặng đƣờng phát triển của văn học trung đại ta nhận thấy: do đời
sống của con ngƣời lệ thuộc hoàn toàn vào nông nghiệp nên giữa con ngƣời và thiên
nhiên có một sự gắn bó mật thiết. Bên cạnh đó, chủ trƣơng sống hoà vào với thiên
nhiên trong tƣ tƣởng Lão Trang đã gieo vào tâm thức của các bậc Nho sĩ trung đại
một ý thức rất coi trọng thiên nhiên, do vậy thiên nhiên vừa huyền bí vừa gần gũi với
cuộc sống của con ngƣời. Hầu nhƣ các tác phẩm lớn trong văn học trung đại đều có
không gian bao la khoáng đạt. Về đặc điểm chung thì nhƣ vậy nhƣng ở mỗi một giai
đoạn lại có những chuyển biến khác nhau trong cách thể hiện về không gian.
Số hóa bởi trung tâm học liệu
18

Ở giai đoạn đầu các tác giả trung đại tập trung thể hiện một không gian nhàn
tản, thoát tục. Đặc trƣng này đƣợc thể hiện trong thơ Thiền, thơ Nguyễn Trãi, thơ ca

Hồng Đức, Nguyễn Bỉnh Khiêm…
Chọn được đất lành ở thảnh thơi
Lòng quê vui sướng chọn ngày thôi
Có khi lên thẳng đầu non thẳm
Cười lớn âm vang lạnh cả trời
(Ngôn hoài, Không Lộ Thiền Sƣ)
Ở trong bài thơ Thiền của Không Lộ Thiền Sƣ ta bắt gặp những ƣớc mơ lên cao
mang ý vị siêu thoát, đây cũng là đặc trƣng riêng của thơ Thiền.
Ở giai đoạn thƣợng kỳ trung đại, không gian nghệ thuật trong các bài thơ bộc lộ
chí hƣớng là một không gian vũ trụ khoáng đạt, rộng lớn và hoành tráng, mà trong
đó, con ngƣời dù nhỏ bé song vẫn cố gắng vƣơn lên ngang tầm và có khát vọng làm
chủ trời đất, vũ trụ, chinh phục thiên nhiên. Phạm Ngũ Lão trong bài thơ Thuật hoài
đã phóng lớn ngọn giáo của mình cho tƣơng xứng với chiều kích của đất nƣớc:
Hoành sóc giang san cáp kỷ thu,
Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu
Không gian thiên nhiên là một nơi ẩn mình lý tƣởng của nhiều bậc trí thức thời
trung đại. Chốn quan trƣờng lao xao, nhiều tranh chấp, không thích hợp cho những
bậc quân tử nên họ thƣờng tìm về thiên nhiên, sống cuộc sống dân dã, vui thú điền
viên để giữ tinh thần luôn đƣợc thanh tịnh. Không gian thiên nhiên lúc này không còn
mang cái vẻ bao la, huyền bí nữa mà nó đã trở thành ngƣời bạn thân thiết, tri âm tri
kỷ của thi sĩ:
Suốt ngày nhàn nhã khép phòng văn,
Khách tục không ai bén mảng dần.

×