Tải bản đầy đủ (.pdf) (120 trang)

nghiên cứu bệnh sán dây ở chó tại một số huyện thành của tỉnh phú thọ và biện pháp phòng trị

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.51 MB, 120 trang )

Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên






ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM




NGUYỄN THỊ QUYÊN





NGHIÊN CỨU BỆNH SÁN DÂY Ở CHÓ
TẠI MỘT SỐ HUYỆN THÀ NH CỦA TỈNH PHÖ THỌ
VÀ BIỆN PHÁP PHÕNG TRỊ

Chuyên ngành: THÚ Y
Mã số: 60.62.50





LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP






Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN VĂN QUANG








THÁI NGUYÊN - 2011


Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và
chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào. Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện
luận văn đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ
rõ nguồn gốc.

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2011
Tác giả luận văn




Nguyễn Thị Quyên









Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

ii
LỜI CẢM ƠN

Trong suốt 2 năm học tập, với nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự
giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của nhiều cá nhân và tập thể, đến nay luận văn
của tôi đã được hoàn thành. Nhân dịp này, cho phép tôi được tỏ lòng biết ơn
và cảm ơn chân thành tới:
Ban Giám hiệu, Khoa Sau Đại học, Khoa Chăn nuôi - Thú y cùng toàn
thể cán bộ, giảng viên trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã giúp đỡ, chỉ
bảo tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường.
Lãnh đạo, cán bộ phòng Ký sinh trùng Viện Sinh Thái và Tài Nguyên
Sinh vật; cán bộ Thú y, đồng nghiệp đang làm việc trong lĩnh vực Chăn nuôi -
Thú y của tỉnh Phú Thọ đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện
đề tài.
Với lòng biết ơn chân thành, tôi gửi lời cảm ơn sâu sắc tới: TS.
Nguyễn Văn Quang, PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Lan đã tận tình chỉ bảo,
hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn

tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn các cán bộ, nhân dân tại các địa điểm tiến
hành thí nghiệm, các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã tạo điều kiện giúp
đỡ, động viên, khích lệ tôi trong quá trình nghiên cứu luận văn.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2011
Tác giả



Nguyễn Thị Quyên

Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

iii
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
2.1. Ý nghĩa khoa học 2
2.2. Ý nghĩa thực tiễn 2
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài 3
1.1.1. Đặc điểm sinh học của sán dây ký sinh ở chó 3
1.1.2. Đặc điểm của ấu trùng Cysticercus tenuicollis. 15
1.1.3. Đặc điểm dịch tễ học bệnh sán dây chó 16
1.1.4. Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh sán dây chó 18
1.1.5. Chẩn đoán bệnh sán dây ở chó 20
1.1.6. Phòng và trị bệnh sán dây cho chó. 22

1.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 27
1.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước 27
1.2.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 28
CHƢƠNG 2: ĐỐI TƢỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1. Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu 31
2.2. Nội dung nghiên cứu 32
2.2.1. Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh sán dây ở chó tại Phú Thọ 32
2.2.2. Nghiên cứu bệnh lý và lâm sàng bệnh sán dây ở chó 32
2.2.3. Thử nghiệm thuốc tẩy sán dây cho chó và đề xuất biện pháp
phòng bệnh 32
2.3. Bố trí thí nghiệm và phương pháp nghiên cứu 33

Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

iv
2.3.1. Bố trí điều tra và phương pháp xác định tình hình nhiễm sán dây
ở chó 33
2.3.2. Phương pháp bố trí theo dõi và xác định tỷ lệ nhiễm sán dây
theo giống chó 36
2.3.3. Phương pháp bố trí theo dõi và xác định tỷ lệ nhiễm sán dây ở
chó theo tuổi 37
2.3.4. Mổ khám, kiểm tra nội tạng trâu bò , lợ n và thu thập ấu trùng
Cysticercus tenuicollis của sán dây Taenia hydatigena 37
2.3.5. Phương pháp bố trí và theo dõi triệu chứng lâm sàng của chó
bị bệnh sán dây 38
2.3.6. Phương pháp bố trí xác định bệnh tích đại thể, vi thể ở cơ quan
tiêu hóa do sán dây gây ra 38
2.3.7. Phương pháp bố trí và xét nghiệm máu của chó bị bệnh sán
dây và chó khỏe 39

2.3.8. Bố trí thí nghiệm và phương pháp đánh giá hiệu lực tẩy sán
dây, độ an toàn của thuốc Niclosamid và Praziquentel cho
chó ở 3 huyện thành tỉnh Phú Thọ 40
2.4. Phương pháp xử lý số liệu 42
2.4.1. Đối với các tính trạng định tính như: tỷ lệ nhiễm, cường độ
nhiễm sán, hiệu lực của thuốc, độ an toàn của thuốc tẩy được
tính theo công thức 42
2.4.2. Đối với các tính trạng định lượng như: số lượng sán dây và số
lượng ấu sán cổ nhỏ, số lượng hồng cầu, bạch cầu … được
tính theo công thức 43
2.4.4. Phương pháp xác định mối tương quan giữa tỷ lệ nhiễm sán
dây Taenia hydatigen ở chó và tỷ lệ nhiễm ấu trùng
Cysticercus tenuicollis ở trâu, bò, lợn 44

Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

v
CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 45
3.1. Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh sán dây ở chó tại Phú Thọ 45
3.1.1. Tình hình nhiễm sán dây ở chó tại ba huyện, thành của tỉnh
Phú Thọ 45
3.1.2. Nghiên cứu mối tương quan giữa tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia
hydatigena ở chó và tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis
ở trâu, bò, lợn tại ba huyện, thành của tỉnh Phú Thọ 58
3.2. Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh sán dây ở chó 63
3.2.1. Tỷ lệ và những biểu hiện lâm sàng của chó bị bệnh sán dây 63
3.2.2. Bệnh tích đại thể và vi thể ở cơ quan tiêu hoá của chó bị bệnh sán dây 64
3.2.3. Sự thay đổi một số chỉ số huyết học của chó bị bệnh sán dây 67
3.3. Thử nghiệm thuốc tẩy sán dây cho chó và đề xuất biện pháp phòng
trị bệnh 74

3.3.1. Xác định hiệu lực của thuốc tẩy sán dây cho chó trên diện hẹp 74
3.3.2. Độ an toàn của thuốc tẩy sán dây cho chó trên diện hẹp. 76
3.3.3. Xác định hiệu lực của thuốc tẩy sán dây cho chó trên diện rộng . 77
3.3.4. Sử dụng thuốc đặc hiệu tẩy sán dây cho chó ở Phú Thọ 79
3.3.5. Đề xuất biện pháp phòng chống bệnh sán dây cho chó 80
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 81
1. Kết luận 81
1.1. Về đặc điểm dịch tễ bệnh sán dây chó ở Phú Thọ 81
1.2. Về bệnh lý và lâm sàng bệnh sán dây chó 81
1.3. Về thử nghiệm thuốc tẩy sán dây cho chó và đề xuất biện pháp
phòng chống bệnh 82
2. Đề nghị 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

TT : Thể trọng
STT : Số thứ tự
cs : Cộng sự
Nxb : Nhà xuất bản
KCTG : Ký chủ trung gian
H. : Huyện
TP. : Thành phố

Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

vii

DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1. Thành phần loài và sự phân bố các loài sán dây ký sinh ở chó
tại ba huyện, thành của tỉnh Phú Thọ 45
Bảng 3.2. Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây ở chó 49
Bảng 3.3. Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây ở chó theo thành phần loài 51
Bảng 3.4. Tỷ lệ nhiễm sán dây ở chó 53
Bảng 3.5. Tỷ lệ nhiễm sán dây theo giống chó 55
Bảng 3.6. Tỷ lệ nhiễm sán dây theo tuổi chó 57
Bảng 3.7. Tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở
trâu, bò, lợn tại ba huyện, thành 59
Bảng 3.8. Tương quan giữa tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó (qua
mổ khám) và tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở trâu 60
Bảng 3.9. Tương quan giữa tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó
(qua mổ khám) và tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở bò 61
Bảng 3.10. Tương quan giữa tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó
(qua mổ khám) và tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn 62
Bảng 3.11. Tỷ lệ và các biểu hiện lâm sàng chủ yếu của chó bị bệnh sán dây 63
Bảng 3.12. Bệnh tích đại thể ở cơ quan tiêu hoá chó bị bệnh sán dây 65
Bảng 3.13. Sự thay đổi một số chỉ số huyết học của chó khỏe và chó bị
bệnh sán dây 67
Bảng 3.14. Công thứ c bạ ch cầ u củ a chó khỏ e và chó bị bệ nh sá n dây 71
Bảng 3.15. Hiệu lực của thuốc tẩy sán dây cho chó trên diện hẹp 74
Bảng 3.16. Độ an toàn của thuốc tẩy sán dây cho chó 76
Bảng 3.17. Hiệu lực của thuốc tẩy sán dây cho chó trên diện rộng 78
Bảng 3.18. Sử dụng thuốc Praziquantel tẩy sán dây cho chó ở Phú Thọ 79

Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

viii

DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 3.1. Spirometra erinacei-europaei (Rudolphi, 1819) Mueller, 1937 47
Hình 3.2. Spirometra mansonoides (Mueller, 1935) Mueller, 1937 48
Hình 3.3. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm sán dây chó qua mổ khám tại 3 huyện
thành tỉnh Phú Thọ 50
Hình 3.4. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm sán dây chó qua xét nghiệm phân 54
Hình 3.5. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm sán dây theo giống chó 56
Hình 3.6. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm sán dây theo tuổi chó 58
Hình 3.7. Biểu đồ sự thay đổi một số chỉ số huyết học của chó bị bệnh sán
dây (Đợt I) 69
Hình 3.8. Biểu đồ sự thay đổi một số chỉ số huyết học của chó bị bệnh sán
dây (Đợt II) 70
Hình 3.9. Biểu đồ sự thay đổi công thức bạch cầu của chó bị bệnh sán dây
so với chó khỏe (Đợt I) 73
Hình 3.10. Biểu đồ sự thay đổi công thức bạch cầu của chó bị bệnh sán
dây so với chó khỏe (Đợt II) 73

Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ lâu chó đã trở thành con vật gần gũi với đời sống con người. Khác hẳn
với các loài vật nuôi khác, chó có các giác quan rất phát triển, đặc biệt là khả
năng thị giác, thính giác cao hơn rất nhiều so với con người, do đó từ xưa con
người đã biết thuần hóa, huấn luyện, nuôi chó với nhiều mục đích khác nhau:
làm cảnh, giữ nhà, làm bạn, làm chó nghiệp vụ, săn thú….
Chó được nuôi ở tất cả các nước trên thế giới. Tại các nước phát triển,
chó được nuôi, chăm sóc, khám chữa bệnh rất cẩn thận và có cả những quy định

bảo vệ chó. Ở nước ta, những năm gần đây, khi kinh tế phát triển, đời sống nhân
dân ngày càng được cải thiện, người dân đã quan tâm nhiều hơn đến việc nuôi
chó để làm cảnh, làm bạn thân thiết của con người và phục vụ những mục đích
kinh tế khác nhau.
Chó được nuôi nhiều thì vấn đề dịch bệnh xảy ra trên chó cũng ngày càng
nhiều hơn. Bệnh dịch không những gây thiệt hại cho chó mà còn ảnh hưởng đến
sức khỏe con người. Ngoài những bệnh truyền nhiễm gây thiệt hại cho chó như
các bệnh dại, Carê, bệnh xoắn khuẩn, bệnh do Parvovirus…bệnh do ký sinh trùng
cũng gây nhiều thiệt hại cho chó, đặ c biệt là đặc điểm khí hậu nóng ẩm ở nướ c ta
tạo điều kiện thuận lợi cho các loại mầm bệnh ký sinh trùng tồn tại và phát triển.
Bệnh sán dây là một bệnh phổ biến ở chó. Theo kết quả tổng hợp của
Phạm Sỹ Lăng (2002) [15], cho tới nay đã có nhiều tài liệu điều tra và nghiên
cứu về bệnh sán dây trên chó ở miền Bắc Việt Nam: Casaux (1914), Caid và
Rongie (1918), Montais (1920), Yoyeux và Houdemer (1928), Đặng Văn Ngữ
và Đỗ Dương Thái (1974), Trịnh Văn Thịnh và Đỗ Dương Thái (1978), Phạm
Sỹ Lăng (1989), Ngô Huyền Thúy (1998), Hoàng Minh Đức (2008)…
Theo Nguyễn Thị Kỳ (1994) [10], Vương Đức Chất, Lê Thị Tài (2004)
[1], trên thế giới có khoảng 40 loài sán dây gây bệnh cho chó và các thú ăn thịt

Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

2
thuộc họ chó và mèo , một số loà i sán dây gây bệnh cho chó mèo cũng là tác
nhân gây bệnh cho người.
Sán dây ký sinh làm cho chó gầy yếu , suy nhược , thiếu máu , có hội
chứ ng viêm ruột, giảm khả năng sinh sản và sẽ chết do kiệt sức (Tô Du và Xuân
Giao, 2006 [4])
Điều đáng quan tâm là một số loài sán dây ký sinh trên chó cũng là tác
nhân gây bệnh cho người và động vật nuôi khác: ấu trùng sán dây Taenia
hydatigena ký sinh ở lợn, trâu, bò, dê, kể cả ở người , gây bệnh ấu sán cổ nhỏ ,

hiện vẫn chưa có thuốc điề u trị (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999 [13]); ấu
trùng sán dây giống Spirometra gây bệnh sán nhái ở người , tạo thành các u ở
mắt (Bùi Quý Huy, 2006 [8]).
Trong những năm gần đây, chó đượ c nuôi ở tỉnh Phú Thọ khá nhiề u . Tuy
nhiên, việc phòng trị bệnh ký sinh trùng, đặc biệt là bệnh do sán dây cho chó còn
ít được chú ý. Xuất phát từ nhu cầu của thực tế nuôi chó ở tỉnh Phú Thọ, chúng
tôi thực hiện đề tài: "Nghiên cứu bệnh sán dây ở chó tại một số huyện thà nh
của tỉnh Phú Thọ và biện pháp phòng trị ".
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
2.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học bổ sung và hoàn thiện
thêm các nghiên cứu về bệnh sán dây ở chó và biện pháp phòng trị trong điều
kiện chăn nuôi hiện nay ở nước ta.
2.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài là những minh chứng về tác hại của sán
dây ký sinh ở đường tiêu hóa chó, đồng thời là những khuyến cáo có ý nghĩa
cho những hộ gia đình nuôi chó ở Phú Thọ và các địa phương khác.
Kết quả nghiên cứu có thể ứng dụng để chẩn đoán và phòng trừ bệnh sán
dây cho chó, góp phần khống chế bệnh trong thực tiễn, bảo vệ sức khỏe con người
và vật nuôi.

Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

3
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1. Đặc điểm sinh học của sán dây ký sinh ở chó
1.1.1.1. Vị trí của sán dây chó trong hệ thống phân loại động vật học

Cho đến nay các hệ thống phân loại sán dây đã trải qua nhiều thay đổi, song
dường như vẫn chưa được thống nhất và ổn định (Nguyễn Thị Kỳ, 2003 [12]).
Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [36], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [10], Nguyễn
Thị Lê và cs (1996) [18], Nguyễn Thị Kỳ (2003) [12], hệ thống phân loại sán dây
của Việt Nam đã lựa chọn hệ thống phân loại của Schulz và Gvozdev (1970), để
sắp xếp các loài sán dây phát hiện được ở người, chim, thú nuôi và hoang dại ở
Việt Nam. Trong đó, sán dây ký sinh ở chó có vị trí như sau:
Ngành sán dẹp (Plathelminthes)
Lớp Cestoda Rudolphi, 1808
Phân lớp Eucestoda Southwell, 1930
Bộ Pseudophyllidea Carus, 1863
Họ Diphylloborthriidae Luhe, 1910
Giống Spirometra Mueller, 1937
Loài Spirometra erinacei-europaei
(Rudolphi, 1819) Mueller, 1937
Loài Spirometra mansonoides
(Mueller, 1935) Mueller, 1937
Bộ Cyclophyllidea Beneden in Braun, 1900
Phân bộ Hymenolepidata Skrjabin, 1940
Họ Dipylidiidae Mola, 1929

Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

4
Giống Dipylidium Leuckart, 1863
Loài Dipylidium caninum Leuckart, 1758
Phân bộ Tta Skrjabin et Schulz, 1937
Họ Taeniidae Ludwig, 1886
Giống Taenia Linnaeus, 1758
Loài Taenia hydatigena Pallas, 1766

Loài Taenia pisiformis Bloch, 1780
Giống Echinococcus Rudolphi, 1801
Loài Echinococcus granulosus Batsch, 1786
Giống Multiceps Goeze, 1782
Loài Multiceps multiceps Leske, 1780.
Phân bộ Mesocestoidata Skrjabin, 1940
Họ Mesocestoididae Perrier, 1897
Giống Mesocestoides, Wailand, 1863
Loài Mesocestoides lineatus Goeze, 1782
Nhiều tác giả như Phan Thế Việt và cs (1977) [36], Nguyễn Thị Kỳ (1994)
[10], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [18], khi đề cập về thành phần loài sán dây ký sinh
trên chó ở nước ta đều thống nhất rằng, các loài sán dây ký sinh ở chó đã tìm thấy ở
Việt Nam gồm: Diphyllobothrium mansoni, Diphyllobothrium reptans, Dipylidium
caninum, Taenia hydatigen, Taenia pisiformis, Multiceps multicep, Echinococcus
granulosus, Mesocestoides lineatus.
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [13]: tính đến thời điểm hiện tại,
người ta đã biết hơn 30 loài sán dây ký sinh ở loài ăn thịt gây bệnh cho chó, mèo.
Chúng đều thuộc bộ Cyclophyllidea và Pseudophyllidea.
Kết quả tổng hợp của Phạm Sỹ Lăng (2002) [15] cho biết, đến nay đã phát
hiện được 8 loài sán dây ký sinh trên chó ở miền Bắc Việt Nam.

Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

5
Việc mô tả hình thái các loài sán dây này còn có nhiều thiếu sót, một số
loài chưa có mô tả trên mẫu vật Việt Nam. Cande J. (1870) là người đầu tiên mô
tả loài sán dây Diphyllobothrium latum tìm thấy ở người (Nam Bộ). Sau này một
số nhà ký sinh trùng học Việt Nam (Đỗ Dương Thái, Đặng Văn Ngữ, 1970; Đỗ
Dương Thái, Trịnh Văn Thịnh, 1976) cho rằng, loài thuộc giống
Diphyllobothrium ký sinh ở người Việt Nam không phải là Diphyllobothrium

latum mà là loài Diphyllobothrium mansoni. Sự phán đoán này không dựa trên
mẫu nên không có sự mô tả loài. Theo Yamaguti (1959), loài Diphyllobothrium
mansoni là tên đồng vật của loài Spirometra erinacei-europaei thuộc giống
Spirometra (họ Diphyllobothriidae).
Joyeux và Houdemer (1928), Nguyễn Thị Kỳ (1977) đã thống kê ở mèo
nhà, cầy, chó Hà Nội có loài Diphyllobothrium reptans. Theo Yamaguti, loài
này thuộc giống Spirometra.
Theo tài liệu mới nhất về họ Diphyllobothiidae của các tác giả
Delaimure S. L., Skrjabin A. S., Serdukov A. M. (1985) Diphyllobothrium
mansoni không là tên đồng vật của một loài nào trong họ này. Khi nói về lịch sử
nghiên cứu loài Diphyllobothrium latum, các tác giả còn cho rằng, loài
Spirometra erinacei-europaei của vùng nam bán cầu là một định dạng sai lầm
và cho rằng chính loài này là Diphyllobothrium latum . Tuy nhiên, các tác giả có
ý định xem xét vị trí phân loại của giống Spirometra Mueller, 1937 và muốn coi
giống này là giống chuẩn để thành lập họ Spirometridae (dẫn theo Nguyễn Thị
Kỳ (2003), [12]).
Nguyễn Thị Kỳ (2003) [12] cho biết: ở Việt Nam, hiện loài
Diphyllobothrium mansoni, Diphyllobothrium reptans còn chưa rõ vị trí phân
loại và không có mẫu. Nguyễn Thị Kỳ (2003) [12] đã xem xét lại toàn bộ vị trí
phân loại và tình trạng mẫu, tình hình nghiên cứu về từng loài, đã tu chỉnh 1 loài
Spirometra erinacei- europaei (Rudolphi, 1819) Mueller, 1937.

Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

6
Hiện nay trên thế giới có khoảng 40 loài sán dây gây bệnh cho chó và các
thú ăn thịt thuộc họ chó mèo (Vương Đức Chất và cs, 2004 [1]).
1.1.1.2. Đặc điểm hình thái, cấu tạo của sán dây chó
* Đặc điểm chung
Phan Thế Việt và cs (1977) [36], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [10], Nguyễn Thị

Lê và cs (1996) [18], Nguyễn Thị Kỳ (2003) [12] cho biết:
Sán dây chó có những đặc điểm của lớp sán dây nói chung: hình dải băng
màu trắng hoặc trắng ngà. Cơ thể dài, dẹp theo hướng lưng bụng, chia thành ba
phần: đầu, cổ, thân (gồm những đốt sau cổ, có hình dạng và cấu tạo khác nhau).
Đầu sán dùng để bám vào thành ruột vật chủ, nên có những hình dạng,
kích thước và các cơ quan bám đặc trưng. Chiều rộng của đầu thường chỉ nhỏ
hơn 1 mm, nhưng cũng có sán có đầu dài vài mm. Cơ quan bám nằm trên đầu
bao gồm rãnh bám hoặc giác bám, mõm, vòi và có nhiều móc. Ở một số loài sán
dây trên móc bám có các móc bé xếp thành nhiều hàng. Giác bám là bộ phận đặc
trưng của sán dây bậc cao. Móc bám nằm ngay trên đầu hay ở phần cuối vòi, sắp
xếp thành một hay hai hàng. Số lượng móc ở các nhóm sán dây dao động từ vài
móc đến vài trăm móc. Ít khi vòi thiếu móc. Kích thước, cấu tạo và số lượng móc
cố định cho mỗi loài.
Cổ là những đốt sán nối tiếp sau đầu. Đốt cổ của sán dây là đốt sinh
trưởng, từ các đốt cổ sinh ra các đốt thân, cơ quan sinh sản ở các đốt cổ chưa
hình thành rõ.
Thân sán dây lại gồm ba loại đốt: những đốt chưa thành thục về sinh dục
(ở gần cổ), cơ quan sinh dục chưa phát triển đầy đủ, chỉ thấy cơ quan sinh dục
đực. Những đốt thành thục về sinh dục (ở giữa thân), cơ quan sinh dục trong
những đốt sán này đã phát triển đầy đủ, có đủ cả bộ phận sinh dục đực và cái, có
hệ bài tiết, cấu tạo mỗi đốt tương tự như mỗi cơ thể sán lá, nhưng khác sán lá là
không có hệ tiêu hoá. Những đốt già (ở cuối thân sán), bên trong đốt sán chứa

Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

7
đầy tử cung với vô số trứng sán dây. Ở những đốt già, bộ phận sinh dục đực bị
thoái hoá. Những đốt già thường xuyên được rời khỏi cơ thể sán và theo phân ra
ngoài (đặc điểm này thấy ở những loài sán dây thuộc bộ Cyclophyllidea).
Chiều dài của sán dây chó dao động từ 0,5 mm đến hàng chục mét. Cơ thể

sán dây phủ lớp tiểu bì, đến lớp hạ bì, rồi đến lớp cơ vòng, cơ dọc. Phần bên
trong chứa đầy nhu mô. Bên trong lớp cơ là các khí quan của sán. Sán dây chó
cũng giống các sán dây khác ở đặc điểm không có hệ tiêu hóa, sán lấy thức ăn
bằng phương thức thẩm thấu qua bề mặt cơ thể.
Hệ thần kinh ở sán dây kém phát triển, gồm có hạch thần kinh trung ương
nằm ở trên đầu, từ đó có các dây thần kinh chạy dọc cơ thể. Có hai dây phát triển
hơn nằm bên ngoài ống bài tiết và mỗi đốt nối với nhau bởi các cầu nối ngang.
Hệ tuần hoàn và hệ hô hấp tiêu giảm. Hô hấp theo kiểu yếm khí.
Hệ bài tiết của sán dây cấu tạo theo kiểu nguyên đơn thận, gồm 2 ống
chính từ đầu sán đi về cuối thân và thông với lỗ bài tiết. Ngoài ra, ở mỗi đốt sán
còn có những ống ngang nối liền với 2 ống chính.
Hầu hết các loài sán dây là lưỡng tính: Trong mỗi đốt thường có một hệ
sinh dục (gồm một cơ quan sinh dục đực và một cơ quan sinh dục cái) phát triển
ở các giai đoạn khác nhau, ít khi có hai hệ sinh dục hoặc hơn. Sự phát triển của
hệ sinh dục theo một thứ tự nhất định: Ở các đốt non cơ quan sinh dục chưa
phát triển, sau đó hình thành cơ quan sinh dục đực rồi đến cơ quan sinh dục cái.
Sau khi thụ tinh, cơ quan sinh dục đực teo dần còn lại cơ quan sinh dục cái. Ở
các đốt già, trứng chứa đầy trong tử cung.
Hệ sinh dục đực gồm tinh hoàn, ống dẫn tinh và các tuyến sinh dục. Số
lượng tinh hoàn trong mỗi đốt có từ một đến hàng trăm và là dấu hiệu để phân
loại mỗi loài. Từ tinh hoàn có nhiều ống dẫn tinh nhỏ đi ra và hợp lại với nhau
thành ống dẫn tinh, ống này đổ vào cơ quan giao phối là lông gai. Lông gai nằm
trong nang lông gai. Phần cuối ống dẫn tinh có thể phình ra gọi là túi tinh. Nếu

Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

8
túi tinh ở ngoài nang lông gai gọi là túi tinh ngoài, còn ở trong nang lông gai thì gọi
là túi tinh trong. Lông gai dùng để đưa vào lỗ sinh dục cái khi giao phối. Nang lông
gai và lông gai ở mỗi loài có hình dạng, kích thước và cấu tạo khác nhau.

Hệ sinh dục cái có cấu tạo phức tạp hơn, gồm có buồng trứng, ống dẫn
trứng, ootyp, tuyến noãn hoàng, túi nhận tinh, tuyến vò (thể Melis) và tử cung,
thường có hai buồng trứng nằm giữa hoặc phía sau đốt sinh dục, ít khi ở phía
trước. Trong buồng trứng hình thành các tế bào sinh dục cái (tế bào trứng). Từ
buồng trứng có ống gắn nối với âm đạo, mở ra ở huyệt sinh dục. Ống này phình
rộng ra gọi là túi nhận tinh. Trứng thụ tinh được đưa vào ootyp. Tuyến noãn
hoàng gồm nhiều bao noãn bé nằm trong nhu mô hoặc thành khối nằm hai bên
đốt hoặc phía sau buồng trứng. Từ tuyến noãn hoàng các chất dinh dưỡng đổ
vào ooptyp giúp cho việc hình thành trứng. Tuyến vỏ tiết ra các sản phẩm cần
thiết để hình thành trứng. Trong ootyp, trứng thụ tinh được hình thành, sau đó
trứng rơi vào tử cung. Cấu tạo tử cung của sán dây rất khác nhau. Ở sán dây bậc
thấp (Pseudophyllidea), tử cung là những ống cong, dẫn từ ooptyp đến lỗ ngoài
nằm ở mặt bụng của mỗi đốt. Ở những đốt sán dây này trứng được thải ra ngoài
tùy theo mức độ hình thành của trứng. Ở sán dây bậc cao (Cyclophyllidea), tử
cung kín, không có lỗ ngoài. Ở những sán dây này tử cung chứa đầy trứng trong
đốt già và mỗi đốt thực chất biến thành một cái túi chứa trứng. Trứng được rơi ra
ngoài bằng cách nứt thành cơ thể của đốt. Quá trình này thường thực hiện ở môi
trường ngoài, ở nơi mà các đốt sán dây già được thải ra cùng với phân vật chủ.
Trứng sán dây bộ Cyclophyllidea hình tròn hoặc hơi bầu dục, có 4 lớp vỏ,
trong có phôi 6 móc. Còn trứng sán dây bộ Pseudophyllidea giống trứng sán lá,
một đầu có nắp (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999) [13].
* Đặc điểm hình thái, kích thước của một số loài sán dây ký sinh ở chó:
- Giống Dipylidium Leuckart, 1863
Theo Nguyễn Thị Kỳ (1994) [10], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [18],
Nguyễn Thị Kỳ (2003) [12] cho biết:

Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

9
+ Loài Dipylidium caninum: Cơ thể dài 15 – 17 cm, gồm 80 – 250 đốt.

Đầu rộng 0,24 – 0,50 mm. Đầu có vòi hình chóp, có 4 – 10 hàng móc, mỗi hàng
có từ 16 – 20 móc, móc hàng trên cùng dài 0,013 – 0,016 mm, móc hàng cuối
cùng dài 0,003 – 0,008 mm. Lỗ sinh dục kép, mở ra ở hai bên đốt. Túi sinh dục
dài 0,1 – 0,3 mm, đáy hướng lên phía trên đốt. Buồng trứng phân thùy hình
quạt. Tuyến noãn hoàng hình khối. Đốt già chứa nang trứng, mỗi nang chứa 3 –
30 trứng, có kích thước 0,026 – 0,060 mm. Phôi 6 móc có kích thước 0,020 –
0,036 mm.
- Giống Taenia Linnaeus, 1758
Nguyễn Thị Kỳ (1994) [10], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [18], Nguyễn
Thị Kim Lan và cs (1999) [13], Nguyễn Thị Kỳ (2003) [12] cho biết:
+ Loài Taenia hydatigena: Dài 5000 mm gồm 550 – 700 đốt rất rộng.
Đầu hình quả lê hay hình thận, đường kính 1 mm, vòi có 26 – 44 móc, xếp
thành hai hàng, móc hàng trên dài 0,170 – 0,022 mm, có mỏm rất cong, móc
hàng dưới dài 0,110 – 0,160 mm, có lưỡi rất cong, các giác bám gần nhau
và có đường kính 0,110 mm, cổ dài 0,500 mm. Có 600 – 700 tinh hoàn ở
giữa các ống bài tiết. Xung quanh noãn hoàng, buồng trứng, ống dẫn tinh và
âm đạo không có tinh hoàn, ống dẫn tinh có dạng túi hẹp uốn khúc nhiều,
không có túi tinh. Nang lông gai hình trụ dài 0,450 mm, rộng 0,130 mm,
buồng trứng hai thùy ở nửa dưới của đốt, cạnh phía không lỗ lớn hơn phía
có lỗ, noãn hoàng là ống hẹp kéo dài theo chiều ngang, thể Melis tròn ở
giữa buồng trứng và noãn hoàng, phần đầu âm đạo phình rộng, sau hẹp dần,
tới thùy buồng trứng tạo thành túi nhận tinh. Ở các đốt già thân tử cung có 5
– 10 nhánh ngang, mỗi đầu tự do lại tạo thành các nhánh phụ, trứng bầu
dục, dài 0,038 – 0,031 mm, rộng 0,034 – 0,035 mm, vỏ dày 0,004 mm.
Dạng ấu trùng Cysticercus tenuicollis gặp nhiều ở gan và xoang bụng của
lợn, trâu, bò, nhiều loài thú khác, kể cả người. Ấu trùng này có dạng túi chứa

Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

10

đầy dịch trong. Thành bên trong túi có một đầu sán dây, có cổ. Đầu có móc và
giác bám, đường kính của giác bám 0,099 – 0,310 mm, có 28 – 40 móc, xếp hai
hàng, móc hàng trên dài 0,185 – 0,210 mm, móc hàng dưới dài 0,126 – 0,160
mm, vỏ trong của nang được bọc bằng vỏ ngoài, vỏ này bám vào thành mô cơ
của vật chủ, kích thước của nang phụ thuộc vào nơi ký sinh của ấu trùng.
+ Loài Taenia pisiformis: Sán dài 600 – 2000 mm và rộng 4,8 mm gồm
400 đốt, đường kính đầu 1,3 mm, vòi 0,515 – 0,640, có 34 – 48 móc xếp thành
hai hàng móc hàng trên dài 0,225 – 0,294 mm, có lưỡi rất cong. Móc hàng dưới
dài 0,132 – 0,177 mm, giác bám tròn hay bầu dục, đường kính 0,310 – 0,330
mm, cổ ở ngay sau đầu dài 1,7 mm. Lỗ sinh dục xen kẽ không đều, các núm
sinh dục hơi nhô ra. Có 400 – 500 tinh hoàn, tròn hay bầu dục, đường kính
0,096 – 0,132 mm, ở toàn bộ khoảng trống giữa đốt trừ vùng noãn hoàng và
buồng trứng. Ống dẫn tinh bắt đầu từ túi tinh tròn có đường kính 0,210 – 0,350
mm, nang lông gai hình trụ hay bầu dục ngang, dài 0,460 – 0,800, rộng 0,130 –
0,140 mm, buồng trứng hai thùy, ở nửa dưới của đốt, những thùy bên hình thận
và có kích thước như nhau, noãn hoàng hình ba góc, ở bờ dưới của đốt. Thể
Melis ở giữa noãn hoàng và buồng trứng, âm đạo đi từ lỗ sinh dục, tạo thành túi
nhận tinh ở sát thùy của buồng trứng. Ở những đốt già, mỗi phần của thân tử
cung có 8 - 14 nhánh bên, từ đó tạo thành các nhánh phụ, trứng tròn hay hơi bầu
dục, đường kính 0,032 - 0,037 mm.
- Giống Echinococcus Rudolphi, 1810
Phan Thế Việt và cs (1977) [36], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [18],
Nguyễn Thị Kỳ (2003) [12] cho biết:
+ Loài Echinococcus granulosus: Sán dài 2,7 - 3,4 mm, gồm 3 - 4 đốt. Đầu
không lớn, có đường kính 0,258 - 0,369 mm, đường kính giác bám 0,098 -
0,133 mm, vòi 0,100 – 0,140 mm. Có 36 - 40 móc vòi, thường thay đổi về kích
thước và số lượng móc, móc hàng trên dài 0,032 – 0,043 mm, móc hàng dưới

Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên


11
dài 0,020 – 0,036 mm, cán không thẳng và dài hơn lưỡi móc, đôi khi cán phình
rộng hoặc có mỏm lớn. Cơ quan sinh dục cái ở nửa dưới của đốt, buồng trứng
gồm hai khối đặc hình bầu dục, nối với nhau bằng ống ngang hẹp, noãn hoàng
dưới buồng trứng, thể Melis dưới buồng trứng và noãn hoàng, có 32 - 40 tinh
hoàn. Nang lông gai dài 0,025 – 0,026 mm, dài tới giữa đốt, lỗ sinh dục mở ra ở
hai bên đốt, tử cung dài bằng chiều dài đốt già, có các nhánh bên với số lượng
và hình dạng không giống nhau. Trứng tròn hay bầu dục, đường kính từ 0,028 -
0,036 mm.
Ấu trùng Echinococcus enilocularis ký sinh ở trâu, bò, dê. Nó có dạng túi,
trong chứa đầy dịch, nang có hai vỏ, vỏ ngoài màu trắng sữa đôi khi hơi vàng,
vỏ ngoài sinh ra vỏ trong, vỏ trong gọi là vỏ mầm, sinh ra từ phía trong xoang
nang, mỏng, không màu, là thành mô sinh ra nang, có thể sinh ra một nang cùng
lúc tạo thành đầu phôi và nang thứ hai (nang con).
- Giống Multiceps Goeze, 1782
Theo Nguyễn Thị Kỳ (1994) [10], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [18],
Nguyễn Thị Kỳ (2003) [12]:
+ Loài Multiceps multiceps: Sán dài 400 - 1000 mm, gồm 200 - 250 đốt,
rộng gần 5 mm. Đầu hình quả lê và có đường kính 0,800 mm. Vòi có đường kính
0,300 mm, có 22 - 32 móc, xếp thành hai hàng, móc hàng một dài 0,150 mm,
hàng hai dài 0,090 – 0,130 mm. Giác bám có đường kính 0,290 - 0,300 mm. Cổ
dài 2 - 3 mm. Ống dẫn tinh bắt đầu ở phía có lỗ, gần thân giữa của tử cung, uốn
khúc và đi vào nang lông gai. Nang có dạng quả lê dài 0,315 – 0,350 mm, rộng
0,110 – 0,145 mm. Buồng trứng có hình cánh bướm, ở gần bờ dưới đốt, hai thùy
gần như bằng nhau và có hình bầu dục, noãn hoàng hình ba góc, ở sát bờ dưới
đốt. Thể Melis nhỏ ở giữa buồng trứng và noãn hoàng. Âm đạo có dạng ống cong
xuống một thùy của buồng trứng và phình rộng thành túi chứa tinh, tử cung có
thân giữa và mỗi bên có 9 - 12 nhánh, trứng có đường kính 0,029 - 0,037 mm, có
vỏ dày 0,004 mm.


Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

12
Ấu trùng Coenurus cerebralis là một nang lớn, hình tròn hay bầu dục, vỏ mờ
đục, vỏ mềm ở trong có rất nhiều đầu sán dính vào, trong nang là chất dịch không
màu, số lượng dịch thay đổi phụ thuộc vào kích thước nang. Kích thước nang khác
nhau, phụ thuộc vào mức độ phát triển, vị trí não ký sinh và loại động vật.
- Giống Mesocestoides Vaillant, 1863
Nguyễn Thị Kỳ (1994) [10], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [18], Nguyễn
Thị Kỳ (2003) [12] cho biết:
+ Loài Mesocestoides lineatus: Sán trưởng thành dài đến 2m. Đầu không có
vòi, có móc bám và 4 giác bám. Tử cung có dạng túi dọc nằm ở giữa đốt. Kích
thước trứng 0,040 – 0,060 x 0,035 – 0,043 mm. Phôi 6 móc, đôi móc giữa dài
hơn móc bên.
1.1.1.3. Chu kỳ sinh học của sán dây chó
Theo Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [23], chu kỳ sinh học của
sán dây khá phức tạp, tiến triển ở nhiều ký chủ liên tiếp. Ở bộ Cyclophyllidae trứng
chứa thai trùng sáu móc đã hình thành. Vào dạ dày ký chủ, thai trùng sáu móc
thành ấu trùng (đã mất móc) có cấu tạo và tên gọi khác nhau: Cysticercus,
Coenurus, Echinococcus, Cysticercoid. Ở bộ Pseudophyllidae có hai thể ấu trùng
liên tiếp: Procercoid và Plerocercoid. Những dạng ấu trùng này sống lâu hay
chóng ở KCTG và phải được một ký chủ cuối cùng thích hợp nuốt vào mới phát
triển thành sán trưởng thành.
Để hoàn thành vòng đời, sán dây ký sinh ở chó cần vật chủ trung gian là
nhiều loài động vật khác nhau, có thể là động vật có xương sống, hoặc có thể là
động vật không xương sống Có loài cần 1 KCTG để hoàn thành vòng đời,
nhưng cũng có loài cần 2 KCTG mới hoàn thành vòng đời.
Các họ sán dây khác nhau có chu kỳ sinh học khác nhau. Các loài sán dây:
Spirometra erinacei-europae, Spirometra mansonoides, Dipylidium caninum,
Taenia hydatigena, Taenia pisiformis, Multiceps multiceps ký sinh ở ruột của


Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

13
chó. Chó là vật chủ cuối cùng của sán, giúp sán hoàn thành vòng đời và ký sinh
ở giai đoạn thành thục. Cụ thể vòng đời của các loài sán dây thường gặp ký sinh
ở chó diễn ra như sau:
+Loài Spirometra erinacei-europae
Vòng đời phát triển của Spirometra erinacei-europae có sự tham gia của
vật chủ trung gian thứ nhất là các các loài giáp xác, KCTG bổ sung là cá. Trứng
được thải ra ngoài theo phân chó không có phôi, ở trong nước, trứng nở ra ấu
trùng có những lông nhỏ xung quanh thân gọi là Coracidium, được vật chủ trung
gian thứ nhất là các loài giáp xác thuộc giống Mesocyclops, Eucyclops nuốt.
Trong cơ thể bọ nước, Coracidium phát triển thành dạng ấu trùng đặc biệt –
Procercoid. Trong trường hợp cá nuốt phải bọ nước bị nhiễm Procercoid thì ấu
trùng Procercoid sẽ phát triển thành dạng ấu trùng mới - Plerocercoid. Chó ăn cá
có ấu trùng Plerocercoid sẽ nhiễm sán, sau 15 – 18 ngày sẽ xuất hiện trứng trong
phân chó thải ra.
+ Loài Spirometra mansonoides
Vòng đời phát triển cần có sự tham gia của vật chủ trung gian thứ nhất là
các loài giáp xác nước ngọt (Copepods), vật chủ trung gian thứ hai là những loài
chim, rắn, bò sát, lưỡng cư, động vật gặm nhấm. Trứng theo phân chó ra ngoài,
trải qua lần lượt các giai đoạn ở vật chủ trung gian thứ nhất và thứ hai, trở thành
ấu trùng gây bệnh Plerocercoid. Chó ăn phải vật chủ trung gian chứa ấu trùng
sẽ bị nhiễm sán. Sau 10 – 30 ngày ấu trùng phát triển thành sán trưởng thành.
+ Loài Dipylidium caninum
Vòng đời của loài này có sự tham gia của vật chủ trung gian là các loài bọ
chét giống Ctenocephalides. Đốt sán già thải ra ngoài có mang theo nang trứng.
Đốt sán vỡ ra, trứng ở ngoài tự nhiên được các vật chủ trung gian nuốt vào, phát
triển thành ấu trùng. Chó ăn phải bọ chét có ấu trùng sẽ bị nhiễm sán dây. Sau 3

– 4 tuần ấu trùng phát triển thành sán dây trưởng thành.

Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

14
+ Loài Taenia hydatigena
KCTG là lợn, trâu, bò, dê, cừu. Vòng đời bắt đầu từ khi đốt sán già
rụng theo phân ra ngoài, vỡ ra, giải phóng trứng sán. KCTG nuốt phải trứng
sán, vào đến ruột, ấu trùng 6 móc nở ra và phát triển thành ấu trùng gây
bệnh Cysticercoid sau 3 tháng. Chó ăn phải nội tạng của vật chủ trung gian
có ấu trùng sẽ bị nhiễm sán. Sau 2 tháng ấu trùng phát triển thành sán dây
trưởng thành.
+ Loài Taenia pisiformis
Vòng đời phát triển cần có sự tham gia của vật chủ trung gian là động vật
gặm nhấm, chủ yếu là thỏ và thỏ rừng. Các giai đoạn phát triển của ấu trùng
thực hiện trong các vật chủ trung gian để trở thành ấu trùng cảm nhiễm sau 15 –
30 ngày. Chó ăn phải nội tạng của thỏ có ấu trùng sẽ nhiễm sán.
+ Loài Multiceps multiceps
Vòng đời của loài này cần có sự tham gia của vật chủ trung gian là dê, cừu.
Đốt sán già ra ngoài theo phân chó. Đốt vỡ ra giải phóng trứng sán; dê, cừu - vật
chủ trung gian ăn trứng sán vào cơ thể, trứng nở và phát triển thành ấu trùng cảm
nhiễm ở óc dê, cừu sau 6 – 8 tháng. Chó ăn phải óc vật chủ trung gian có ấu trùng
sẽ nhiễm sán.
Phan Thế Việt (1977) [35] đã mô tả: “Tất cả bề mặt của sán dây là một
cái “mồm” khổng lồ. Thức ăn ngấm qua “da” của sán dây. Các loài sán dây
thường tắm trong nguồn thức ăn giàu có của cơ thể vật chủ. Cái mồm đã không
cần, thì hệ tiêu hoá của chúng cũng không có. Ăn và tiêu hoá đều qua bề mặt cơ
thể của sán dây”. Hiện tượng rụng đốt của sán dây làm cho người ta có thể nghĩ
rằng: Cơ thể sán dây sẽ dần dần ngắn lại. Song, không phải như vậy, bởi các đốt
mới được sinh ra thay thế các đốt già đã rụng làm cho sán dây trở nên “trẻ lại”.

Sau đốt đầu là đốt cổ, người ta gọi đốt cổ là đốt sinh trưởng, từ đó sẽ mọc ra các
đốt khác. Các đốt mới sinh ra đẩy các đốt cũ lùi dần ra phía sau.
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [14] cho biết: Những đốt sán dây hầu
như là những cơ thể độc lập với nhiều cơ quan riêng biệt và hoàn toàn độc lập.

Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

15
Nhờ có sự hóa đốt mà khả năng sinh đẻ của sán dây tăng lên gấp bội. Trong
cùng một lúc, ở những đốt thành thục của sán dây có thể sinh ra hàng chục triệu
trứng. Ngoài ra, sự hóa đốt còn có lợi cho sán dây về những mặt khác. Đó là, do
có đốt sán già lần lượt đứt và thải ra môi trường bên ngoài mà sự reo rắc trứng ở
đó được thuận lợi hơn, bản thân sán dây thải bỏ đi những đốt già cỗi, đời nó hầu
như từng thời được trẻ lại, có sức lực và năng lượng mới để phát triển những
loạt đốt thành thục mới.
1.1.2. Đặc điểm của ấu trùng Cysticercus tenuicollis.
Theo Nguyễn Thị Lê (1996) [18], ấu trùng Cysticercus tenuicollis là
những dạng hình túi có cổ mỏng, kích thước 8 – 80 x 8 – 100 mm, chứa dịch
bên trong. Thành bên trong túi có một đầu sán dây có cổ.
Theo Johannes Kaufmann (1996) [45], ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký
sinh ở bề mặt gan, mỡ màng chài ở khoang bụng của cừu và gia súc. Gia súc
nhiễm ấu sán thường không có biểu hiện triệu chứng bệnh, trừ khi nhiễm một số
lượng lớn ấu trùng ở nhu mô gan, tình trạng thiếu máu và chết có thể xảy ra.
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [13] cho biết, ấu trùng Cysticercus
tenuicollis là một bọc có kích thước to nhỏ khác nhau, có thể bằng hạt đậu, quả
cam hoặc quả bưởi, trong bọc có nhiều nước. Có một đầu sán bám vào màng
trong của bọc, đầu sán có 4 giác bám, có 29 – 44 móc.
Ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh trên bề mặt gan, lách, màng treo
ruột, màng mỡ chài… của gia súc ( Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2008 [14]).
Trong quá trình hoàn thành giai đoạn ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở

KCTG, các ấu trùng 6 móc chui qua niêm mạc ruột, theo máu đến bề mặt gan,
màng treo ruột, phổi, gây ra những tổn thương lớn ở các cơ quan này (Woinshet Sa
mmuel – Girma G. Zewde, 2010 [55]).
Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [9] cho biết: ở những vùng nuôi nhiều
chó tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở trâu, bò, dê, lợn càng nhiều. Tỷ
lệ nhiễm ấu trùng tăng dần theo tuổi, điều này được các tác giả lý giải do thời gian
tiếp xúc với căn bệnh tăng.

Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

16
Tình hình nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis của lợn và các động vật
khác phụ thuộc vào số chó nhiễm sán trưởng thành. Lợn nuôi gần với chó dễ
nhiễm ấu trùng hơn, còn trâu bò thả trên bãi chăn nhiễm ít hơn.
1.1.3. Đặc điểm dịch tễ học bệnh sán dây chó
Đặc điểm dịch tễ bệnh do sán dây gây ra đã được nhiều tác giả đề cập đến.
Tuy nhiên, các nghiên cứu còn ít và chưa hệ thống nên chưa phản ánh đầy đủ
những vấn đề liên quan đến sự phát sinh và phát triển của bệnh.
Theo Trịnh Văn Thịnh (1977) [30]: chó săn thường nhiễm sán dây do ăn
thịt thỏ chứa ấu trùng. Chó của những người chăn cừu, chăn bò, chó ở lò sát sinh
mắc sán do ăn phủ tạng của bò, cừu, lợn. Chó nuôi trong nhà mắc sán do ăn bọ
chó trên mình nó chứa ấu trùng. Ấu trùng sán ở thỏ, bò, cừu, lợn, bọ chó… là ấu
trùng của những loài sán khác nhau, nên chó là một trong những loài vật bị nhiều
loài sán dây ký sinh nhất.
- Skarabin và Peterv (1963) [37] cho biết, nếu như đường xâm nhập của
các giun sán địa lý thường là qua nước hoặc thức ăn bị nhiễm bẩn, thì nhiều loại
giun sán sinh vật xâm nhập vào cơ thể ký chủ cuối cùng khi ký chủ đó ăn phải
các mô và các cơ quan của KCTG chứa ấu trùng giun sán ở giai đoạn cảm nhiễm.
Với cách xâm nhập này, chó sói cảm nhiễm sán dây Taenia hydatigena do ăn
phải cừu có ấu trùng sán.

Theo Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [24], chó nhiễm sán
dây loài Dipylidium canium do ăn phải các KCTG sống trên mình chó như
bọ, rận. Chó nhiễm sán dây loài Taenia hydatigena do ăn phủ tạng loài nhai
lại hay lợn chứa ấu trùng Cysticercus tenuicollis.
Nguyễn Thị Kỳ (1994) [10] cho biết, các loài Dipylidium caninum, Taenia
hydatigena, Taenia pisiformis, Multiceps multiceps được phân bố rộng ở cả 3
vùng: đồng bằng, trung du, miền núi với những kiểu khí hậu khác nhau.

×