Tải bản đầy đủ (.pdf) (59 trang)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC BIỆN PHÁP SỬA LỖI CHÍNH TẢ CHO HỌC SINH LỚP 2 TRƯỜNG TIỂU HỌC CHIỀNG PẤC THUẬN CHÂU SƠN LA

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (867.46 KB, 59 trang )


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC







LÒ THỊ DOAN

BIỆN PHÁP SỬA LỖI CHÍNH TẢ CHO HỌC SINH LỚP 2
TRƯỜNG TIỂU HỌC CHIỀNG PẤC -
THUẬN CHÂU - SƠN LA


KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC




Sơn La, năm 2014

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC



LÒ THỊ DOAN


BIỆN PHÁP SỬA LỖI CHÍNH TẢ CHO HỌC SINH LỚP 2
TRƯỜNG TIỂU HỌC CHIỀNG PẤC -
THUẬN CHÂU - SƠN LA

Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt


KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC


Ngƣời hƣớng dẫn: TS. Trần Thị Thanh Hồng



Sơn La, năm 2014
LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khoá luận này em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất
đến Tiến sĩ Trần Thị Thanh Hồng - ngƣời đã tận tình chỉ dẫn và giúp đỡ em
trong quá trình hoàn thành cuốn tƣ liệu này.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô trong Khoa: Tiểu
học - Mần non; thƣ viện, phòng Quản lí khoa học và Quan hệ quốc tế - Trƣờng
đại học Tây Bắc; Trƣờng Tiểu học Chiềng Pấc - Thuận Châu - Sơn La; đã tạo
điều kiện giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành khoá luận.
Đồng thời em gửi lời cảm ơn đến các bạn sinh viên lớp K51 Đại học sƣ
phạm Giáo dục Tiểu học A đã động viên, đóng góp ý kiến và chia sẻ kinh
nghiệm cho em.
Rất mong sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô và các bạn để đề tài thêm
hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!


Ngƣời thực hiện

LÒ THỊ DOAN



















DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

GV: giáo viên
HS: học sinh
NXB: nhà xuất bản
PPDH: phƣơng pháp dạy học
PP: phƣơng pháp

SGK: sách giáo khoa































MỤC LỤC

PHẤN MỞ ĐẦU 1
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 2
3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 3
4. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU 3
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 3
6. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC 3
7. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
8. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 4
9. CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI 4
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 5
1.1. KHÁI NIỆM CHÍNH TẢ 5
1.2. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC DẠY HỌC CHÍNH TẢ 5
1.2.1. Cơ sở tâm lí học 5
1.2.2. Cơ sở ngôn ngữ học 6
1.2.2.1. Đặc điểm ngữ âm tiếng Việt 6
1.2.2.2. Đặc điểm chữ viết tiếng Việt 7
1.2.2.3. Đặc điểm ngữ nghĩa tiếng Việt 8
1.2.3. Cơ sở giáo dục 8
1.3. ĐỊNH HƢỚNG ĐỔI MỚI PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC 9
1.4. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ CÁCH VIẾT CHỮ VÀ KĨ THUẬT
VIẾT CHỮ 11
TIỂU KẾT 13
CHƢƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN 14
2.1. CHƢƠNG TRÌNH CHÍNH TẢ LỚP 2 14
2.1.1. Nội dung 14
2.1.2. Định hƣớng dạy học bài chính tả lớp 2 16

2.2. KHẢO SÁT THỰC TRẠNG DẠY HỌC CHÍNH TẢ LỚP 2 TRƢỜNG
TIỂU HỌC CHIỀNG PẤC - THUẬN CHÂU - SƠN LA 17
2.2.1. Mục đích khảo sát 17
2.2.2. Đối tƣợng, địa bàn, thời gian khảo sát 17
2.2.3. Nội dung khảo sát 17
2.2.4. Phƣơng pháp khảo sát 17
2.2.5. Kết quả khảo sát 17
TIỂU KẾT 24
CHƢƠNG 3: BIỆN PHÁP SỬA LỖI CHÍNH TẢ CHO HỌC SINH LỚP 2
TRƢỜNG TIỂU HỌC CHIỀNG PẤC - THUẬN CHÂU - SƠN LA 25
3.1. VẬN DỤNG CÁC PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC 25
3.1.1. Phƣơng pháp phân tích ngôn ngữ 25
3.1.2. Phƣơng pháp giao tiếp 26
3.1.3. Phƣơng pháp luyện theo mẫu 27
3.1.4. Phƣơng pháp trò chơi học tập 28
3.2. HƢỚNG DẪN HS SỬ DỤNG QUY TẮC VIẾT HOA 29
3.3. GIÚP HS NẮM VỮNG CẤU TẠO ÂM TIẾT TIẾNG VIỆT 29
3.4. HƢỚNG DẪN HS GHI NHỚ MẸO LUẬT CHÍNH TẢ VÀ LÀM CÁC
BÀI TẬP CHÍNH TẢ 31
3.4.1. Hƣớng dẫn HS ghi nhớ mẹo luật chính tả 31
3.4.2. Hƣớng dẫn HS làm các bài tập chính tả 34
TIỂU KẾT 36
KẾT LUẬN 37
1. Kết luận 37
2. Kiến nghị 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO






1
PHẤN MỞ ĐẦU


1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Những thay đổi quan trọng trong kinh tế, xã hội, giáo dục đã dẫn tới
những yêu cầu mới trong dạy học tiếng Việt nói chung. Để tiếng Việt trở thành
công cụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, sự phát triển giáo dục, việc
dạy tiếng Việt phải nhằm vào cả hai chức năng của ngôn ngữ (nghe, nói, đọc,
viết) phải hƣớng vào sự giao tiếp và phƣơng pháp giao tiếp.
Ngôn ngữ là phƣơng tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài ngƣời (Lê -
nin). Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ đƣợc thực hiện giữa hai hình thức: giao
tiếp bằng lời nói, giao tiếp bằng chữ viết. Sản phẩm hoạt động giao tiếp của
ngôn ngữ là những lời đƣợc viết ra hoặc nói ra khi chúng ta giao tiếp với nhau.
Dù là ngôn ngữ nói hay viết thì chính tả là yếu tố quan trọng.
1.2. Trong thực tế, chính tả có vai trò quan trọng không chỉ đối với mỗi cá
nhân mà còn đối với cộng đồng xã hội. Việc viết đúng chính tả và thực hiện tốt
kĩ năng viết chữ không chỉ có ý nghĩa trong giao tiếp mà còn thể hiện năng lực
tƣ duy và trình độ văn hóa của mỗi ngƣời. Việc dạy học chính tả không chỉ liên
quan đến kĩ năng giao tiếp mà ở một khía cạnh nào đó còn là vấn đề văn hóa:
"luyện nét chữ - rèn nét ngƣời". Vì vậy, phân môn Chính tả dạy cho học sinh tri
thức và kĩ năng chính tả, phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ ở dạng viết trong
hoạt động giao tiếp.
Không biết chữ hoặc không viết đúng chuẩn, con ngƣời tự hạn chế hoạt
động giao tiếp, làm ảnh hƣởng đến năng lực tƣ duy. Vì thế, dạy chính tả cho học
sinh tiểu học còn giúp cho việc hình thành năng lực tƣ duy, trẻ em đến tuổi học
thƣờng bắt đầu quá trình học tập bằng việc học chữ. Nhờ biết chữ, học sinh mới
có thể tiếp thu các kiến thức khoa học tự nhiên và khoa học xã hội khác. Biết chữ
đƣợc biểu hiện ở góc độ đọc thông viết thạo một ngôn ngữ hay nói cách khác để

biết chữ, học sinh cần phải nắm đƣợc chính tả, nắm đƣợc kĩ năng viết chữ.
Kĩ năng này thể hiện qua việc nhận dạng chữ, tạo ra chữ và tiến tới dùng
chữ để diễn đạt ngôn ngữ. Qua đó, có thể thấy Chính tả là môn học có tính chất
công cụ, có vị trí vô cùng quan trọng trong học tập của học sinh. Chính tả cũng
là môn học đặt nền móng cho sự phát triển ngôn ngữ, văn hóa nói chung.
1.3. Viết sai chính tả của các em học sinh nhất là học sinh đầu bậc Tiểu
học đang là vấn đề bức xúc và day dứt của nhiều giáo viên và các cán bộ quản lí
cũng nhƣ toàn xã hội.

2
Chính vì những lí do trên chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài "Biện pháp sửa
lỗi chính tả cho học sinh lớp 2 Trường Tiểu học Chiềng Pấc - Thuận Châu -
Sơn La" để nghiên cứu.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Trong đề tài này, chúng tôi sƣu tầm tổng hợp và xử lý các tài liệu sau đây:
Giáo trình "Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học 1" Lê Phƣơng
Nga - Lê A, Đặng Kim Hoa - Đỗ Xuân Thảo, nhóm tác giả đã tập trung nghiên
cứu vị trí, nhiệm vụ, các cơ sở khoa học và nguyên tắc dạy học tiếng Việt trong
đó có đề cập tới chƣơng trình, nội dung, cách thức tổ chức dạy học phân môn
Chính tả ở lớp 2.
Giáo trình " Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học" - tài liệu đào
tạo GV 2007 của Bộ giáo dục và Đào tạo, Dự án phát triển GV tiểu học đã
nghiên cứu tổ chức biên soạn các môđum đào tạo bồi dƣỡng GV nhằm nâng cao
năng lực chuyên môn - nghiệp vụ, cập nhật những đổi mới về nội dung, phƣơng
pháp dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục tiểu học theo chƣơng trình,
sách giáo khoa tiểu học mới. Điểm mới ở các tài liệu này là đƣa ra nhiều phƣơng
pháp dạy học mới nhƣ sử dụng băng hình, phƣơng pháp giao tiếp nhằm tích
cực hóa hoạt động học tập.
Giáo trình "Tiếng Việt thực hành" Bùi Minh Toán - Lê A - Đỗ Việt Hùng,
NXB giáo dục, tháng 4 - 2003, gồm hai phần chính đƣợc biên soạn đan xen vào

nhau trong hai chƣơng giản yếu về lí thuyết tiếng Việt, mục tiêu, nhiệm vụ của
tiếng Việt thực hành, xác định ngôn ngữ, nội dung cần diễn đạt trong mỗi loại văn
bản khác nhau. Hệ thống bài tập thực hành, để củng cố, phát triển thêm khả năng
học tập tiếng Việt, sử dụng chính tả trong cách hành văn.
Công trình "Vui học Tiếng Việt" Trần Mạnh Hƣởng, tập 1, NXB giáo dục,
2002. Tài liệu này đề cập đến những kiến thức tiếng Việt cơ bản giúp học sinh
luyện tập thành thạo các kĩ năng "nghe, nói, đọc, viết", các em sẽ suy nghĩ mạch lạc
diễn đạt trong sáng, có khả năng làm chủ đƣợc tiếng nói và chữ viết của dân tộc.
Chuyên luận "Đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học" Bộ Giáo dục và
Đào tạo (Dự án phát triển giáo viên tiểu học), NXB Hà Nội, năm 2002, tập trung
nghiên cứu những đổi mới trong nội dung và phƣơng pháp dạy phân môn Chính
tả theo chƣơng trình và sách giáo khoa mới. Nắm đƣợc bản chất mà phƣơng
pháp chính tả theo hƣớng tích cực hóa hoạt động của học sinh, vận dụng sáng
tạo, linh hoạt những hiểu biết đã có vào thiết kế kế hoạch bài học để dạy chính tả
theo hƣớng phát huy tính tích cực của từng học sinh.

3
Chuyên luận "Dạy chính tả ở tiểu học" (NXB Giáo dục - 2002) đã cung
cấp những thông tin cụ thể chi tiết về ngữ âm và chữ viết tiếng Việt liên quan tới
chính tả cũng nhƣ các quy tắc chính tả.
Các công trình nghiên cứu trên, các tác giả đã đề cập tới những vấn đề
khác nhau trong dạy học TV nói chung và dạy học chính tả nói riêng. Nhƣng
chƣa có công trình nào khảo sát, thống kê, phân loại, đánh giá thực trạng lỗi
chính tả cho học sinh lớp 2 Trƣờng Tiểu học Chiềng Pấc - Thuận Châu -
Sơn La. Vì thế đây vẫn là khoảng trống để chúng tôi tiếp tục nghiên cứu.
3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn về dạy học chính tả và sửa lỗi chính
tả cho HS, từ đó xây dựng các biện pháp sửa lỗi chính tả cho HS, nhằm nâng cao
hiệu quả dạy học chính tả cho học sinh lớp 2 Trƣờng Tiểu học Chiềng Pấc -
Thuận Châu - Sơn La.

4. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
Đề tài khảo sát, nghiên cứu việc dạy học chính tả và thực tế trình độ chính
tả của học sinh lớp 2 Trƣờng tiểu học Chiềng Pấc - Thuận Châu - Sơn La.
Nghiên cứu các nguồn tài liệu có liên quan.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Đề xuất cơ sở lí luận nghiên cứu đề tài.
Khảo sát, thống kê, phân loại, chỉ ra nguyên nhân mắc lỗi, thực trạng và
giải pháp sửa lỗi chính tả cho học sinh lớp 2.
Thiết kế giáo án thể hiện phƣơng pháp dạy học chính tả theo các phƣơng
án đề xuất.
6. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Việc sửa lỗi chính tả cho HS lớp 2 Trƣờng Tiểu học Chiềng Pấc - Thuận
Châu - Sơn La bên cạnh những ƣu điểm, vẫn còn những bất cập cần đƣợc quan
tâm giải quyết. Nếu các biện pháp đề xuất trong khoá luận chứng minh đƣợc
tính hợp lý thì sẽ giúp HS sửa lỗi chính tả có hiệu quả hơn.
7. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài nghiên cứu bằng phƣơng pháp:
Phƣơng pháp điều tra khảo sát, thực trạng
Thể nghiệm sƣ phạm thể nghiệm một số biện pháp sửa lỗi chính tả cho
học sinh. Qua đó khẳng định tính khả thi của các biện pháp.
Thống kê số liệu điều tra, thể nghiệm phân tích.


4
8. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Khẳng định cơ sở khoa học của việc dạy học chính tả cho HS lớp 2 là
đúng đắn, một số định hƣớng đổi mới phƣơng pháp dạy học, những quy định về
cách viết chữ và kĩ thuật viết chữ.
Khảo sát, thể nghiệm phát hiện thực trạng dạy và học, các lỗi thƣờng mắc
và nguyên nhân mắc lỗi chính tả của HS lớp 2 Trƣờng Tiểu học Chiềng Pấc -

Thuận Châu - Sơn La.
Tìm ra các phƣơng pháp, đề xuất một số biện pháp sửa lỗi chính tả cho
học sinh.
9. CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của khóa luận gồm có 3
chƣơng:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Cơ sở thực tiễn
Chương 3: Những biện pháp sửa lỗi chính tả cho học sinh lớp 2.






















5
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1. KHÁI NIỆM CHÍNH TẢ
Chính tả là phép viết đúng, là lối viết hợp với chuẩn, là hệ thống quy tắc
về cách viết thống nhất cho các từ của một ngôn ngữ, cách viết hoa tên riêng,
cách phiên âm tên riêng tiếng nƣớc ngoài… Chính tả là những quy ƣớc của xã hội
trong ngôn ngữ nhằm làm cho ngƣời viết và ngƣời đọc hiểu thống nhất nội dung
của văn bản. Sự quy ƣớc có tính chất xã hội trong chính tả không cho phép vận
dụng các quy tắc chính tả một cách linh hoạt có tính chất sáng tạo cá nhân. [Rèn kĩ
năng Tiếng Việt, Đào Ngọc - Nguyễn Quang Ninh, NXB Giáo dục, Hà Nội]
1.2. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC DẠY HỌC CHÍNH TẢ
1.2.1. Cơ sở tâm lí học
Chữ viết nói chung và chữ viết chính tả nói riêng không chỉ là vận động
cơ bắp, mà còn là những thao tác trí óc của ngƣời viết. Kĩ năng chính tả bao
gồm các cử động phối hợp thuần thục của ngón tay, cổ tay, cánh tay để sử dụng
bút làm sao thể hiện đúng các chữ, đảm bảo sự khu biệt và tốc độ viết chữ
nhanh. Yêu cầu trên đây thƣờng đƣợc giải quyết ở phân môn Tập viết nhƣng cần
đƣợc tiếp tục duy trì, củng cố bền vững để đạt mức độ tự động hóa cao. Có nhƣ
vậy mới tránh đƣợc những lỗi sơ đẳng khi viết chính tả là viết sai gây nhầm lẫn
giữa các chữ cái. Việc hình thành kĩ năng chính tả khẳng định vai trò của ý thức.
Nhƣ vậy, lí luận tâm lí học hiện đại đề cao vai trò của ý thức, phát huy
tính tích cực tự động hóa trong việc hình thành kĩ năng chính tả: "việc động viên
tính tự giác tích cực của học sinh khi tiếp thu tài liệu mới đặc biệt quan trọng.
Tính tích cực đó đƣợc biểu hiện ở sự tập trung chú ý, tƣ tƣởng cao độ của học
sinh trong giờ học. Sự chú ý không phải là một chức năng độc lập của tâm lí con
ngƣời nhƣ sự tái hiện tƣ duy, tình cảm. Sự chú ý luôn luôn đi kèm với một hoạt
động nhất định của con ngƣời, đánh dấu mức độ tự giác, tích cực với công việc
mà anh ta tiến hành" (D.N.Boogoiavlenxki, Các nguyên tắc tâm lí của việc dạy
chính tả).

Chính là chú ý đến việc dạy chính tả bằng con đƣờng có quy tắc và không
có quy tắc (hay là con đƣờng có ý thức và không có ý thức).
Loại chính tả có ý thức là loại chính tả nhằm phát hiện ra các quy tắc
chính tả, mẹo luật chính tả, nghĩa của tiếng/từ Trên cơ sở đó hình thành các kĩ
năng chính tả. Về cơ bản con đƣờng có ý thức sẽ có kết quả một cách nhanh
chóng và vững chắc rút ngắn đƣợc quá trình luyện tập để viết đúng chính tả.

6
Đồng thời rèn luyện các thao tác tƣ duy nhƣ phân tích, so sánh, đối chiếu, khái
quát, trừu tƣợng hóa để rút ra các quy tắc chính tả.
Loại chính tả không có ý thức là loại chính tả không cần biết đến các quy
tắc chính tả, không biết đến mối quan hệ giữa ngữ âm và chữ, giữa nghĩa và chữ
mà chỉ cần viết đúng từng trƣờng hợp chính tả cụ thể HS viết đúng là do thói
quen và viết nhiều nên nhớ từng trƣờng hợp chính tả đó đã đƣợc viết nhƣ thế
nào. Có tác dụng củng cố trí nhớ (thích hợp với học sinh giai đoạn đầu bậc tiểu
học cuối lớp 1, đầu lớp 2).
Dạy chính tả tiếng Việt bên cạnh việc coi trọng chính tả có ý thức, cần
phải chú ý đúng mức đến chính tả không có ý thức. Việc hình thành kĩ xảo chính
tả theo con đƣờng này không cần đến sự hỗ trợ của tƣ duy chỉ ở chừng mực nhất
định HS có thể ghi nhớ máy móc. Viết chính tả nhƣ vậy cũng đòi hỏi ngƣời viết
phản ứng nhanh, để lựa chọn hình thức viết phù hợp.
Vì vậy, học sinh phải phát huy đến cao độ khả năng ghi nhớ của mình để
học thuộc. Yêu cầu này không khó nắm đối với học sinh tiểu học, ngay cả học
sinh lớp 2 khi độ tuổi các em đang ghi nhớ nhanh.
Xuất phát từ cơ sở tâm lí học, trong dạy học chính tả GV cần sử dụng các
phƣơng pháp thích hợp có tác dụng khêu gợi và kích thích sự chú ý, tích cực hóa
hoạt động tƣ duy của học sinh, làm cho học sinh nhận thức đƣợc đầy đủ ý nghĩa
thực tiễn của chính tả trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ viết. Ngƣời GV
phải đặc biệt quan tâm đến đặc điểm tâm lí của HS lứa tuổi này để nâng cao chất
lƣợng , hiệu quả dạy học nói chung và chính tả nói riêng.

1.2.2. Cơ sở ngôn ngữ học
1.2.2.1. Đặc điểm ngữ âm tiếng Việt
Tiếng Việt là ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập - âm tiết tính. Trong hệ
thống các đơn vị ngữ âm tiếng Việt, âm tiết có vị trí đặc biệt quan trọng. Âm
tiết biểu hiện tập trung nhất, đầy đủ nhất những đặc điểm của tiếng Việt về
mặt ngữ âm.
Cấu trúc âm tiết tiếng Việt chặt chẽ thƣờng bao gồm các thành phần âm vị
có vị trí cố định kết hợp theo một trật tự không thay đổi. Trên chữ viết mỗi âm
tiết tiếng Việt đƣợc ghi thành một khối, tách rời với âm tiết đứng trƣớc và đứng
sau bằng khoảng cách gián đoạn, cho dù âm tiết đó có thể chỉ là một thành phần
của cấu trúc hình vị hay từ. Cấu trúc chữ - âm tiết có sự tƣơng ứng với từng
phần trong cấu trúc âm tiết. Nếu cấu trúc âm tiết gồm 5 thành phần: âm đầu, âm

7
đệm, âm chính, âm cuối và thanh điệu thì cấu trúc chữ - âm tiết cũng gồm 5
thành phần: chữ phụ âm, chữ bán âm, chữ nguyên âm, chữ phụ âm và dấu thanh.
Về cấu tạo âm tiết tiếng Việt rất chặt chẽ và ổn định ở dạng đầy đủ âm tiết
tiếng Việt có cấu tạo nhƣ sau:
Bảng 1: Cấu tạo âm tiết tiếng Việt


Trong đó, âm chính và thanh điệu là hai bộ phận không thể thiếu đƣợc
trong cấu tạo của bất kì âm tiết nào. Nhƣ vậy, Chính tả tiếng Việt về cơ bản là
chính tả âm tiết, viết đúng Chính tả tiếng Việt chủ yếu là viết đúng các tổ hợp
chữ cái ghi âm tiết. Muốn giúp HS sửa lỗi chính tả GV phải nắm đƣợc đặc điểm
ngữ âm và cấu tạo âm tiết TV để hƣớng dẫn HS.
1.2.2.2. Đặc điểm chữ viết tiếng Việt
Chữ viết tiếng Việt là một chữ viết đƣợc ghi âm tƣơng đối hợp lí, nguyên
tắc này đòi hỏi phải đọc đúng, kĩ năng nghe đúng và chuyển các biểu tƣợng âm
thanh nghe đƣợc vào viết cho đúng.

Ở cấp độ âm tiết, nói chung có sự đối ứng một - một giữa âm và chữ "phát
âm thế nào thì viết thế ấy". Nhƣ vậy, về cơ bản chính tả tiếng Việt là chính tả
ngữ âm, giữa cách đọc và cách viết thống nhất với nhau. Trong trƣờng hợp này
học sinh không cần nhớ chỉ cần phát thành tiếng và nhẩm từ cần viết.
Trong thực tế, sự biểu hiện giữa cách đọc (phát âm) và viết (viết chính tả)
lại khá đa dạng, phong phú. Cụ thể, chính tả tiếng Việt không dựa hoàn toàn vào
cách phát âm thực tế của một phƣơng ngữ nhất định nào. Ở mỗi địa phƣơng,
ngƣời dân có thói quen phát âm riêng đều có những sai lệch so với chính âm. Vì
thế để phát huy một cách có ý thức, việc dạy chính tả phải theo sát nguyên tắc
ngữ âm học.
Do đó, việc viết đúng chính tả phải dựa trên đọc đúng, đọc đúng là cơ sở
của viết đúng. Giữa đọc và viết, giữa tập đọc và viết chính tả có mối quan hệ

Thanh điệu

Phụ âm
đầu



Vần


Âm đệm

Âm chính

Âm cuối

8

mật thiết với nhau nhƣng lại có quy trình trái ngƣợc nhau. Nếu tập đọc là sự
chuyển hoá văn bản viết thành âm thanh thì chính tả lại là sự chuyển hoá văn
bản dƣới dạng âm thanh thành văn bản viết. Nghĩa là tôn trọng việc phát âm, lấy
phát âm để điều chỉnh chữ viết. Để dạy chính tả và sửa lỗi chính tả có hiệu quả
thì GV phải nắm đƣợc đặc điểm chữ viết TV giữa cách đọc và cách viết thống
nhất với nhau để HS có đƣợc cách viết đúng và xác lập đƣợc mối quan hệ liên
chính tả.
1.2.2.3. Đặc điểm ngữ nghĩa tiếng Việt
Chính tả tiếng Việt là chính tả ngữ âm nhƣng trong thực tế muốn viết
đúng chính tả, việc nắm nghĩa của từ rất quan trọng. Hiểu nghĩa của từ là một
trong những cơ sở giúp ngƣời học viết đúng chính tả. Vì vậy, đặt đúng một hình
thức ngữ âm nào đó trong từ (mỗi từ gán một nghĩa xác định) sẽ giúp học sinh
dễ dàng viết đúng chính tả. Xét ở góc độ này, chính tả tiếng Việt còn là chính tả
ngữ nghĩa, đây là một phƣơng diện quan trọng của chính tả tiếng Việt mà GV
không thể bỏ qua.
Chẳng hạn từ có hình thức ngữ âm là "Za" khi HS chƣa thể phân biệt
đƣợc nên viết với r, d hay gi thì việc căn cứ vào nghĩa của từ khi kết hợp với
một từ khác, học sinh có thể xác định đƣợc và viết đúng từ cần viết: là "Ra" (
trong ra ngoài, ra cửa ) nghĩa chỉ hoạt động; là"Da" (trong da đầu, da mặt )
nghĩa chỉ lớp bì bọc ngoài cơ thể động vật (màu da, da cam) hay mặt ngoài của
một số vật nhỏ, quả, cây; là "Gia" trong ( gia hạn, gia đình, quốc gia ). Do đó
khi còn phân vân không biết nên dùng hình thức chính tả nào cho đúng chúng ta
có thể xét đến bình diện ngữ nghĩa.
Vì vậy, chính tả tiếng Việt còn là chính tả ngữ nghĩa. Đây là một đặc
trƣng quan trọng về phƣơng diện ngôn ngữ của chính tả tiếng Việt mà khi dạy
chính tả ngƣời GV phải lƣu ý.
1.2.3. Cơ sở giáo dục
Phƣơng pháp dạy học tiếng Việt là một bộ phận của khoa học giáo dục
nên nó phụ thuộc vào những quy luật chung của khoa học này. Phƣơng pháp dạy
học tiếng Việt hoàn toàn sử dụng các khái niệm thuật ngữ của giáo dục học

Nó hiện thực hóa mục tiêu, hình thành thế giới quan khoa học, phát triển tƣ duy
sáng tạo cho học sinh, giáo dục tƣ tƣởng đạo đức, phát triển óc thẩm mĩ giáo dục
lao động.
Trong phƣơng pháp dạy học tiếng Việt nói chung và phƣơng pháp dạy học
Chính tả nói riêng có thể tìm thấy các nguyên tắc cơ bản của lí luận dạy học:

9
nguyên tắc phát triển lời nói, nguyên tắc phát triển tƣ duy, nguyên tắc tính đến đặc
điểm của học sinh, nguyên tắc phối hợp phƣơng pháp tích cực với phƣơng pháp
tiêu cực. Chẳng hạn nhƣ nguyên tắc phát triển tƣ duy rèn luyện cho học sinh các
thao tác tƣ duy trong quá trình dạy tiếng đó là: phân tích, tổng hợp, so sánh
Ví dụ: Khi dạy học sinh phân biệt các hình thức ghi âm đầu g và gh. Có
thể hƣớng dẫn học sinh so sánh để tìm ra sự tƣơng đồng về cách phát âm, sự
khác biệt về chữ viết và khái quát hóa từ các hiện tƣợng cụ thể thành các quy tắc
chính tả, làm cho học sinh thông hiểu nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ, hiểu nội
dung điều cần nói, viết và tạo đều kiện để các em thể hiện nội dung đó bằng
phƣơng tiện ngôn ngữ.
Hệ thống bài tập chính tả phong phú về số lƣợng, đa dạng về hình thức
thể hiện. Chính tả là phƣơng tiện rất tốt để khuyến khích học sinh, tạo hứng thú
cho các em tham gia vào hoạt động giao tiếp. Chính những đặc điểm trên đây đã
góp phần bồi dƣỡng năng lực tƣ duy cho học sinh, đáp ứng yêu cầu của nguyên
tắc phát triển lời nói trong dạy học chính tả.
GV phải nắm đƣợc nguyên tắc trong dạy học nói chung để cụ thể hoá
trong dạy học chính tả nhất là trong việc sửa lỗi chính tả cho HS.
1.3. ĐỊNH HƢỚNG ĐỔI MỚI PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC
Để học chính tả có hiệu quả thì học sinh phải đổi mới cách học, muốn đổi
mới cách học phải đổi mới cách dạy. Nhƣng đổi mới PPDH không phải là sự
thay thế các PPDH cũ bằng một loạt các PPDH mới mà là đổi mới cách tiến
hành các phƣơng pháp, đổi mới các phƣơng tiện và hình thức triển khai phƣơng
pháp trên cơ sở khai thác triệt để ƣu điểm của phƣơng pháp cũ. Phải làm thế nào

để HS thực sự tích cực, chủ động tự giác, luôn tìm tòi, suy nghĩ và sáng tạo
trong quá trình lĩnh hội cả cách thức để lĩnh hội tri thức ấy. Để có đƣợc điều đó
chúng ta có thể tham khảo một số định hƣớng đổi mới PPDH trong cuốn "Đổi
mới phƣơng pháp dạy học ở tiểu học" của Nhà xuất bản Hà Nội 2002 - Bộ Giáo
dục và đào tạo ( Dự án phát triển GV tiểu học) nhƣ sau:
Đổi mới phƣơng pháp dạy học theo hƣớng phát huy cao độ tính tích cực,
chủ động sáng tạo của học sinh. Quá trình dạy học GV là chủ thể điều khiển
hƣớng dẫn HS học, HS là chủ thể hoạt động học tích cực, chủ động và sáng tạo.
GV phải luôn đổi mới PPDH Chính tả và giúp HS cải tiến phƣơng pháp học. Ví
dụ: bài tập điền vào chỗ trống r, d hay gi GV sử dụng PP thảo luận nhóm giao
cho mỗi nhóm một bảng phụ đã ghi sẵn nội dung bài tập 3 ( SGK Tiếng Việt 2,
tập một, trang 65) sau đó yêu cầu các nhóm trình bày bài làm của nhóm mình.

10
Đổi mới phƣơng pháp dạy học theo hƣớng kết hợp một cách nhuần
nhuyễn và sáng tạo các phƣơng pháp dạy học khác nhau. Mỗi phƣơng pháp dạy
học đều có giá trị riêng của nó. Tính hiệu quả và không hiệu quả của phƣơng
pháp phụ thuộc vào ngƣời sử dụng biết phát triển và thích nghi nó đến mức độ
nào đó. Do đó trong dạy học chính tả GV phải biết cách kết hợp các PPDH sao
cho phù hợp đạt đƣợc hiệu quả trong dạy học, chống sự nhàm chán, HS hứng
thú học tập để ƣu điểm của phƣơng pháp này bù cho nhƣợc điểm của phƣơng
pháp kia và ngƣợc lại. Ví dụ: Một tiết Chính tả có thể vận dụng các phƣơng
pháp: Phƣơng pháp trực quan đƣợc dùng khi dạy HS viết đúng các từ khó;
phƣơng pháp hỏi - đáp đƣợc dùng khi kiểm tra bài cũ, tìm hiểu nội dung bài
chính tả, tìm tiếng khó, luyện tập chính tả; phƣơng pháp luyện tập đƣợc dùng
khi dạy HS luyện viết các từ khó ở bảng con, HS làm bài tập chính tả. Có thể sử
dụng kết hợp với các phƣơng pháp khác nhƣ: PP so sánh đối chiếu, giải thích,
hoạt động nhóm
Đổi mới phƣơng pháp dạy học theo hƣớng phát triển khả năng tự học của
học sinh. Khả năng tự học là năng lực rất quan trọng cho sự thành đạt của mỗi

cá nhân. Muốn vậy ngƣời giáo viên cần hƣớng dẫn học sinh phƣơng pháp tự học
sao cho hiệu quả. Ví dụ: nhƣ hƣớng dẫn học sinh tự lực suy nghĩ giải quyết vấn
đề, cách ghi nhớ Nhƣ vậy khả năng tự học đƣợc rèn luyện ngay cả khi trên
lớp và khi ở nhà. GV phải tạo ra những thắc mắc khéo léo, hấp dẫn để HS tự ý
thức tiếp nhận và tìm tòi cách giải đáp.
Đổi mới phƣơng pháp dạy học theo hƣớng kết hợp hoạt động cá nhân với
hoạt động nhóm và phát huy khả năng của cá nhân. Dạy tập thể cho mỗi cá nhân
tạo ra sự ganh đua, nhiều cách suy nghĩ, phƣơng án hành động, có thể hỗ trợ
đóng góp ý kiến riêng vào ý kiến chung. Học sinh sẽ có khả năng hoạt động tập
thể để phát triển từng cá nhân. Chuyển từ thói quen chỉ nghe, ghi nhớ sang hình
thức hoạt động cùng nhau tìm kiếm, hình thành kiến thức bằng trí tuệ chung. GV
phải biết khai thác lợi thế của tập thể để phát triển từng cá nhân và cần chú ý đến
dạy cá nhân.
Đổi mới phƣơng pháp dạy học theo hƣớng tăng cƣờng kĩ năng thực
hành. Mục đích cuối cùng của quá trình dạy học là tạo ra năng lực thực tiễn cho
ngƣời học. Đổi mới theo hƣớng này có nghĩa là học sinh đƣợc thao tác hoạt
động thực tế, học qua tình huống thực tiễn cuộc sống, giải thích đƣợc thực tiễn
bằng lí thuyết đã học, đƣợc thực hành, trao đổi, phối hợp, hợp tác trong nhóm,
rèn luyện kĩ năng diễn đạt trong nói và viết Đặc biệt phân môn Chính tả mang

11
tính chất thực hành các bài tập chính tả thƣờng gắn với việc luyện tập qua đó kết
hợp ôn tập các quy tắc chính tả, GV phải cho HS thƣờng xuyên thực hành.
Đổi mới phƣơng pháp dạy học theo hƣớng đổi mới cả phƣơng pháp kiểm
tra đánh giá kết quả học tập. Trong dạy học, việc đánh giá HS không chỉ nhằm
mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động của trò mà còn đồng thời
tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy. GV
cần tạo điều kiện thuận lợi để HS tham gia đánh giá lẫn nhau, sau mỗi bài viết
chính tả hay bài tập GV cho HS đổi chéo vở dùng bút chì gạch chân lỗi sai và
sửa lỗi cho nhau. Giúp HS biết cách đánh giá và tự đánh giá.

Đổi mới về nội dung và phƣơng pháp dạy học chính tả theo sách giáo khoa.
Nội dung phân môn Chính tả trong bộ SGK mới (cũng nhƣ cũ) gắn bó chặt chẽ
với môn Tập đọc và chủ điểm từng tuần học. Các văn bản tập - chép và nghe -
viết thƣờng đƣợc tóm tắt từ các bài tập đọc trong tuần. Văn bản nhớ - viết là một
đoạn hoặc đoạn văn học sinh đã thuộc lòng. Bên cạch đó, SGK mới cũng sử
dụng một số văn bản mới có nội dung phù hợp với chủ điểm đang học để viết
chính tả. Ngay cả bài tập điền chữ, điền vần hay tìm tiếng có âm vần cho trƣớc
nhiều khi cũng gắn với chủ điểm. Sách giáo khoa mới kế thừa một số kiểu bài
tập SGK cũ nhƣng đƣa thêm rất nhiều bài tập mới đa dạng, phong phú. Bên cạnh
kiểu bài tập bắt buộc, SGK mới còn nhiều bài tập lựa chọn, đƣa ra nhiều phƣơng
án lựa chọn khác nhau để giáo viên và học sinh lựa chọn. Theo đặc điểm phát
âm của địa phƣơng của bản thân học sinh và những loại lỗi chính tả mà học sinh
địa phƣơng thƣờng mắc phải.
Những đổi mới về nội dung dạy học chính tả đòi hỏi GV phải đổi mới
PPDH để phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS. Muốn giúp HS sửa
lỗi chính tả GV phải nắm đƣợc những định hƣớng đổi mới PPDH để vận dụng
những định hƣớng đó trong dạy học và sửa lỗi chính tả cho HS.
1.4. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ CÁCH VIẾT CHỮ VÀ KĨ THUẬT
VIẾT CHỮ
Trong khi viết chính tả HS cần viết đúng, đẹp và khoa học. Để có đƣợc
điều đó, chúng ta có thể tham khảo một số quy tắc viết, kĩ thuật viết chữ tiếng
Việt trong cuốn "Rèn kĩ năng sử dụng Tiếng Việt" của NXB Giáo dục 1996 -
Bộ Giáo dục và Đào tạo vụ giáo viên, tác giả Đào Ngọc - Nguyễn Quang
Ninh nhƣ sau:
Khi ngồi viết, học sinh phải ngồi ngay ngắn, lƣng thẳng, không tì ngực
vào cạnh bàn, đầu hơi cúi, hai mắt cách mặt vở từ 25 đến 30cm, cánh tay phải

12
cùng ở trên mặt bàn. Với cách để tay nhƣ vậy, khi viết bàn tay và cánh tay phải
có thể dịch chuyển thuận lợi từ trái sang phải dễ dàng. Khi viết, học sinh cầm

bút và điều khiển bút viết bằng ba ngón (ngón trỏ, ngón cái, ngón giữa) của bàn
tay phải. Đầu ngón trỏ đặt ở phía trên của đầu thân bút, đầu ngón tay cái giữ bên
trái, phía bên phải của đầu bút tựa vào cạnh đốt đầu ngón tay giữa. Ba điểm tựa
này giữ bút và điều khiển ngòi bút dịch chuyển linh hoạt. Ngoài ra, động tác cần
có sự phối hợp cử động của cổ tay, khuỷu tay và cả cánh tay. Vở viết cần đặt
nghiêng so với mép dƣới của bàn tay một góc khoảng 30 độ. Sở dĩ phải đặt nhƣ
vậy vì chiều thuận của vận động tay khi viết chữ tiếng Việt là vận động từ trái
sang phải. Ngồi viết đúng tƣ thế, cầm bút đúng kĩ thuật sẽ tạo nên sự thoải mái
khi viết, chữ viết đẹp hơn và tránh đƣợc cong vẹo cột sống hay cận thị.
Ngƣời ta thƣờng lấy khoảng cách giữa hai dòng kẻ liền nhau làm đơn vị
cự li để viết chữ. Căn cứ vào đơn vị cự li dòng kẻ, ngƣời ta xác định đƣợc kích
thƣớc các chữ.
Độ cao chữ tiếng Việt (bao gồm chữ viết thƣờng, chữ viết hoa và chữ số).
- Mẫu các chữ cái viết thƣờng:
+ Nhóm có độ cao 1 đơn vị (2 li): a, â, e, ê, i, o, ô, u, ƣ, m, n, v, x.
+ Nhóm có độ cao 1,25 đơn vị (2 li rƣỡi): r, s.
+ Riêng chữ t có độ cao 1,5 đơn vị (3 li).
+ Nhóm có độ cao 2 đơn vị (4 li): d, đ, p, q.
+ Nhóm có độ cao 2,5 đơn vị(5 li): b, g, h, k, l, y.
- Mẫu chữ viết hoa:
+ Chiều cao của các chữ viết hoa là 2,5 đơn vị (5 li) riêng hai chữ y và g
đƣợc viết với chiều cao là 4 đơn vị (8 li).
- Mẫu chữ số:
+ Chiều cao của chữ số là 2 đơn vị(4 li).
Khi viết chính tả HS lớp 2 thƣờng viết thiếu li, thừa li để sửa lỗi chính tả
này GV phải nắm đƣợc các kích thƣớc chữ để sửa lỗi chính tả.
Trong mỗi chữ, dấu thanh luôn đặt ở chữ ghi âm chính của vần. Trong
tiếng Việt có 6 thanh trong đó một thanh không dấu là thanh ngang. Các thanh
đều đƣợc đặt trên âm chính, riêng thanh nặng đặt dƣới âm chính. Trong các chữ
ghi tiếng có bán âm đầu (âm đệm) thì dấu thanh cũng đƣợc đặt ở âm chính (dù

sau âm chính không có âm cuối vần).Ví dụ: Quý, Huế, Trong các tiếng có
nguyên âm đôi thì dấu thanh đƣợc ghi nhƣ sau: Nếu sau nguyên âm đôi có âm
cuối thì dấu thanh đƣợc ghi ở chữ thứ hai ghi nguyên âm đôi; nếu nguyên âm

13
đôi không có âm cuối vần thì dấu thanh đƣợc ghi vào chữ cái thứ nhất ghi
nguyên âm đôi. Để sửa lỗi chính tả về vị trí dấu thanh GV phải nắm đƣợc vị trí
dấu thanh để sửa lỗi chính tả.
Nhƣ vậy, để rèn luyện chữ và viết đúng chính tả cho học sinh, GV cần
chú ý đến quy định chung về cách viết chữ và kĩ thuật viết chữ, kích thƣớc, vị trí
dấu thanh để từ đó hiểu đƣợc vì sao cần luyện chữ viết cho học sinh.

TIỂU KẾT


Bằng phƣơng pháp đọc, nghiên cứu tìm hiểu cơ sở khoa học của việc dạy
học chính tả: Cơ sở tâm lí học, cơ sở ngôn ngữ học, cơ sở giáo dục và định
hƣớng đổi mới PPDH giúp GV đổi mới cách dạy đạt hiệu quả cao. Quy định
chung về cách viết chữ và kĩ thuật viết chữ nhằm giới thiệu một số quy tắc và kĩ
thuật viết chữ. Đây là những cơ sở lí luận quan trọng mà ngƣời GV cần phải
nắm bắt để hƣớng dẫn HS học tốt hơn môn Chính tả.
Môn Chính tả ở lớp 2 có nhiệm vụ quan trọng là rèn kĩ năng viết đúng
chính tả cho HS. Giúp học sinh nắm vững các quy tắc chính tả và hình thành kĩ
năng chính tả. Nói cách khác, phân môn Chính tả có nhiệm vụ giúp học sinh
hình thành năng lực và thói quen viết đúng chính tả: viết đúng chữ ghi âm
đầu, âm chính, âm cuối, viết dấu thanh đúng vị trí, tiến tới viết đẹp, viết
nhanh. Muốn thực hiện nhiệm vụ này GV cần tìm hiểu những lỗi chính tả mà
HS thƣờng mắc, từ đó tìm ra những biện pháp sửa lỗi chính tả một cách phù hợp
đạt hiệu quả. Nắm đƣợc nội dung này ngƣời dạy cũng nhƣ ngƣời học sẽ có cơ sở
hiểu biết về chính tả chữ Việt.













14
CHƢƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN

2.1. CHƢƠNG TRÌNH CHÍNH TẢ LỚP 2
Bảng 2: Chƣơng trình nội dung phân môn Chính tả lớp 2
STT
Hình thức chính tả
Số bài
Số tiết
Kĩ năng chính tả
cần luyện
1
Tập - chép
22
22
Rèn kĩ năng sửa lỗi chính tả
và trình bày bài chính tả đúng
quy định, chép lại chính xác

đoạn cần chép.
2
Nghe - viết
40
40
Tập viết hoa tên ngƣời, địa
danh Việt Nam, tập viết một
số tiếng có vần khó.
Rèn luyện kĩ năng sửa lỗi
chính tả và trình bày bài chính
tả đúng quy định chính tả
phƣơng ngữ.

2.1.1. Nội dung
Bảng 3: Đặc điểm nội dung yêu cầu cần đạt
Dạng bài Tập - chép
Dạng bài Nghe - viết
Tập chép là dạng bài chính tả yêu
cầu học sinh chép lại chính xác tất cả
các từ, câu hay đoạn trong sách giáo
khoa hoặc trên bảng lớp.
Trong kiểu bài Tập chép, học sinh
dựa vào văn bản mẫu để đọc (đọc
thầm) và chép lại đúng hình thức chữ
viết của văn bản mẫu (chỉ có một khác
biệt nhỏ là có thể chuyển hình thức chữ
in sang hình thức chữ viết tay).
Kiểu bài này có tác dụng giúp học
sinh nhớ mặt chữ của các từ, câu, đoạn.
Qua việc lặp đi lặp lại hình thức

chính tả này, hình thức của các kí hiệu
Đây là kiểu bài thể hiện đặc trƣng
riêng của phân môn Chính tả.
Hình thức chính tả nghe đọc thể
hiện rõ nhất đặc trƣng của chính tả
tiếng Việt: là chính tả ngữ âm, giữa âm
và chữ (đọc và viết) có mối quan hệ
mật thiết - đọc thế nào viết thế ấy.
Dạng bài chính tả Nghe - viết yêu
cầu học sinh nghe từng từ, cụm từ, câu
do giáo viên đọc và viết lại một cách
chính xác, đúng chính tả những điều
nghe đƣợc theo đúng tốc độ quy định.
Muốn viết đƣợc các bài chính tả
Nghe - viết, học sinh phải có năng lực

15
văn tự (mặt chữ) sẽ dần dần định hình
trong nhận thức của học sinh, đi vào
tiềm thức của các em.

chuyển ngôn ngữ âm thanh thành
ngôn ngữ viết, phải nhớ mặt chữ và các
quy tắc chính tả tiếng Việt.
Bên cạnh đó, vì chính tả tiếng Việt
là chính tả ngữ nghĩa, muốn viết đúng
chính tả, học sinh còn phải hiểu nội
dung của tiếng, từ, câu hay của bài viết.
Để các kĩ năng chính tả đƣợc hình
thành một cách nhanh chóng ở học

sinh, văn bản đƣợc chọn làm bài viết
chính tả phải chứa nhiều hiện tƣợng
chính tả cần dạy (cần chú ý tới yêu cầu
dạy chính tả theo phƣơng ngữ). Bên
cạnh đó, văn bản ấy phải có nội dung
phù hợp với học sinh ở từng độ tuổi, có
tính thẩm mĩ cao, có độ dài đúng với
quy định của chƣơng trình…
Bài viết chính tả có thể là trích
đoạn của bài tập đọc đã học trƣớc đó
hoặc là bài tập đọc đã đƣợc biên soạn
lại cho phù hợp với yêu cầu của bài
chính tả. Cũng có thể chọn bài viết
ngoài sách giáo khoa để gây hứng thú
cho học sinh khi tìm hiểu và thực hành
viết bài.

Nội dung chính tả lớp 2 mỗi tuần có 2 bài chính tả, mỗi bài học trong 1
tiết. Tổng hợp lại trong 2 học kì, HS đƣợc học 62 tiết chính tả. Chính tả đoạn -
bài: HS nhìn - viết (tập chép) hoặc nghe - viết một đoạn hay một bài có độ dài
trên dƣới 50 chữ (tiếng). Phần lớn các bài chính tả này đƣợc trích từ bài tập đọc
vừa học trƣớc đó hoặc là nội dung tóm tắt của bài tập đọc. Chính tả âm, vần: vần
là luyện viết các tiếng có âm vần dễ viết sai chính tả do không nắm vững quy tắc
của chữ quốc ngữ (c/k, g/gh, ng/ngh, ia/ya, iê/yê ) hoặc do ảnh hƣởng của cách
phát âm địa phƣơng (l/n, tr/ch, s/x, r/d/gi).

16
2.1.2. Định hƣớng dạy học bài chính tả lớp 2
a. Hƣớng dẫn HS chuẩn bị viết chính tả
Cho HS đọc bài chính tả sẽ viết (theo SGK) và nắm nội dung chính của

bài viết.
Hƣớng dẫn HS nhận xét những hiện tƣợng chính tả trong bài (theo hƣớng
dẫn trong SGK và hƣớng dẫn của GV).
Luyện viết những tiếng khó hoặc dễ lẫn.
b. Đọc bài chính tả cho HS viết.
Đọc toàn bài một lƣợt cho HS trƣớc khi viết: khi đọc GV cần phát âm rõ
ràng, tốc độ vừa phải, tạo điều kiện cho HS chú ý đến những hiện tƣợng chính tả
cần viết đúng.
Đọc cho HS nghe - viết từng câu ngắn hay từng cụm từ: mỗi câu hoặc
cụm từ đƣợc đọc 3 lần, đọc lƣợt đầu chậm rãi cho HS nghe, đọc nhắc lại 2 lần
cho HS kịp viết theo tốc độ viết quy định ở lớp 2.
Đọc toàn bài lần cuối cho HS soát lại.
c. Chấm và chữa bài chính tả
Mỗi giờ chính tả, GV chọn chấm một số bài của HS (những HS đến lƣợt
chấm bài, hay mắc lỗi).
Sau khi HS viết xong, GV giúp HS tự kiểm tra và chữa lỗi trong bài theo
những cách sau: HS đối chiếu bài chính tả của mình với đoạn văn trong SGK
hay với bài GV viết trên bảng, GV đọc từng câu, có chỉ dẫn cách viết những chữ
dễ sai chính tả.
d. Hƣớng dẫn HS làm bài tập chính tả âm, vần
Giúp HS nắm vững yêu cầu bài tập (bằng câu hỏi, lời giải thích).
Giúp HS chữa một phần của bài tập làm mẫu (một HS chữa mẫu trên bảng
lớp hoặc cả lớp làm bài vào bảng con).
Cho HS làm bài vào bảng con hoặc vào vở. GV uốn nắn.
Chữa toàn bộ bài tập.
Theo chƣơng trình đổi mới SGK nội dung chính tả gắn bó chặt chẽ với
phân môn Tập đọc và chủ điểm của từng phần học, có thêm nhiều bài học mới
đa dạng, phong phú nhiều mẩu chuyện vui đƣợc làm vật liệu cho bài tập chính
tả. Bên cạnh bài tập chính tả bắt buộc, còn có kiểu bài tập lựa chọn đƣa ra nhiều
phƣơng án lựa chọn khác nhau để GV và HS lựa chọn theo đặc điểm phát âm địa

phƣơng. Chƣơng trình đổi mới phù hợp với đặc điểm của HS, khả năng tiếp

17
nhận, tƣ duy của HS ở lứa tuổi này và GV lựa chọn đƣợc bài tập và biện pháp
sửa lỗi chính tả cho từng vùng.
2.2. KHẢO SÁT THỰC TRẠNG DẠY HỌC CHÍNH TẢ LỚP 2 TRƢỜNG
TIỂU HỌC CHIỀNG PẤC - THUẬN CHÂU - SƠN LA
2.2.1. Mục đích khảo sát
Khảo sát tìm hiểu thực trạng mắc lỗi chính tả của HS lớp 2 Trƣờng Tiểu
học Chiềng Pấc - Thuận Châu - Sơn La và thực trạng nội dung, phƣơng pháp
dạy học của GV hiện nay.
Các lỗi và nguyên nhân mắc lỗi chính tả của HS.
2.2.2. Đối tƣợng, địa bàn, thời gian khảo sát
a. Đối tƣợng
Tiến hành thể nghiệm trên 3 lớp 2 Trƣờng Tiểu học Chiềng Pấc - Thuận
Châu - Sơn La.
b. Địa bàn, thời gian khảo sát
Phát phiếu thể nghiệm sƣ phạm ngày 15/02/2014, tại lớp 2A1, 2A2 và 2A3.
2.2.3. Nội dung khảo sát
Các phƣơng pháp sửa lỗi chính tả cho HS của GV.
Sửa lỗi chính tả HS thƣờng hay mắc.
2.2.4. Phƣơng pháp khảo sát
Trong quá trình khảo sát chúng tôi tiến hành gặp gỡ GV chủ nhiệm lớp,
trình bày ý tƣởng khảo sát chọn lớp khảo sát và sử dụng các phƣơng pháp dự
giờ, khảo sát qua phiếu điều tra, quan sát giờ dạy, cơ sở vật chất và thiết bị dạy
học, phƣơng pháp trò chuyện, phỏng vấn
2.2.5. Kết quả khảo sát
Qua quá trình khảo sát thực trạng dạy học chính tả lớp 2 Trƣờng Tiểu học
Chiềng Pấc - Thuận Châu - Sơn La chúng tôi thu đƣợc kết quả sau:
2.2.5.1. Các phương pháp sửa lỗi chính tả cho HS

Qua khảo sát các phƣơng pháp dạy học của GV vẫn còn nhiều PPDH mà
GV ít sử dụng và không sử dụng cụ thể đƣợc thể hiện ở bảng sau.







18
Bảng 4: Các phƣơng pháp sửa lỗi cho HS thƣờng đƣợc sử dụng
STT
Số lƣợng
GV
Tên phƣơng pháp
Sử dụng
nhiều
Sử dụng
ít
Không sử
dụng
1
4
PP trực quan
4
(100%)
0
(0%)
0
(0%)

2
4
PP luyện theo mẫu
2
(50%)
1
(25%)
1
(25%)
3
4
PP phân tích ngôn ngữ
3
(75%)
1
(25%)
0
(0%)
4
4
PP trò chơi
1
(25%)
1
(25%)
2
(50%)
5
4
PP đàm thoại

2
(50%)
1
(25%)
1
(25%)

Nhìn vào bảng số liệu trên có thể thấy nhiều GV đã sử dụng các PPDH
nhƣ PP trực quan, PP phân tích ngôn ngữ, PP trò chơi, PP đàm thoại. Đặc biệt là
PP trò chơi đã đƣợc các GV sử dụng nhiều trong dạy học chính tả. Tuy nhiên
vẫn còn GV không sử dụng hay ít sử dụng một số PPDH nhƣ là PP trực quan,
PP phân tích ngôn ngữ do tốn nhiều thơi gian GV phải chuẩn bị nhiều Đòi hỏi
GV trong quá trình dạy học nói chung và dạy học chính tả nói riêng cần sử dụng
các PPDH không nên chỉ tập trung vào một PP cần sử dụng kết hợp các PPDH.
Qua các tiết dự giờ tham khảo, hầu hết các tiết dạy chƣa đƣợc giáo viên
đầu tƣ cao, môn Chính tả chƣa đƣợc coi trọng mà chủ yếu là dựa vào sách giáo
khoa và sách giáo viên là chính.
Một số giáo viên chƣa chú ý đến đặc điểm phƣơng ngữ vùng miền đang ở,
không xác định rõ các lỗi chính tả cơ bản của học sinh nên việc rèn chính tả
không đi vào trọng điểm, giáo viên ít củng cố và khắc sâu cho học sinh các quy
tắc, mẹo luật chính tả qua bài viết hoặc qua bài tập.
Hơn nữa việc phát âm của giáo viên chƣa đƣợc chuẩn, có giáo viên vẫn
còn ngọng do phƣơng ngữ nơi giáo viên sống ảnh hƣởng đến việc dạy và hƣớng
dẫn học sinh học. Vì yêu cầu đối với giáo viên là phải viết đúng, đẹp đặc biệt là
giáo viên Tiểu học.
Bên cạnh đó, còn tồn tại một thực trạng phổ biến: nhiều giáo viên chƣa
nghiên cứu kĩ về chính tả cho bản thân mình và cho học sinh trong giờ dạy các
môn học khác: Lịch sử - Địa lý, Tự nhiên - xã hội , Hầu hết giáo viên chỉ phát
âm đúng trong giờ Tập đọc, Chính tả.


19
Ví dụ: nhiều giáo viên phát âm "đong đanh" mà thực chất là "long lanh"
=>GV phát âm sai dẫn đến học sinh cũng sai theo do học sinh Tiểu học còn
nhận thức cảm tính là chủ yếu mang tính trực quan cao đặc biệt là học sinh rất
tin tƣởng vào giáo viên của mình. Vì vậy mà giáo viên dạy nhƣ thế nào học sinh
học nhƣ thế.
Chính vì thế nếu ta không hiểu nghĩa từ thì khó mà viết đúng. Ngoài ra,
do phƣơng tiện dạy học và cơ sở vật chất tại nhà trƣờng còn nhiều hạn chế chƣa
thể đáp ứng nhu cầu dạy và học. Bàn ghế thô sơ, đồ dùng phục vụ dạy và học
còn thiếu thốn chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu dạy và học. Đời sống của giáo viên
đang trực tiếp giảng dạy ở vùng sâu, vùng xa còn gặp rất nhiều khó khăn về:
Kinh tế, hoàn cảnh gia đình, đƣờng xá đi lại Đã gây ảnh hƣởng trực tiếp đến
công tác giảng dạy của ngƣời giáo viên. Thực tế đã cho thấy, kinh tế của ngƣời
giáo viên chƣa ổn định sẽ kéo theo nhiều vấn đề nhƣ: đến trƣờng muộn, chƣa thể
vận dụng tối ƣu các phƣơng pháp, hình thức và đồ dùng dạy học phong phú (
máy chiếu, bảng phụ, các tƣ liệu, tài liệu tham khao ).
2.2.5.2. Các lỗi chính tả HS thường hay mắc
Thực trạng điều tra cho thấy, hầu hết học sinh ở khối 2 Trƣờng Tiểu học
Chiềng Pấc - Thuận Châu - Sơn La các em điều mắc lỗi viết sai chính tả, đặc
biệt là khi phân biệt các phụ âm đầu( tr/ch, r/d/gi, c/k/q, s/x, l/đ, b/v, g/gh ).
Bảng 5: Các lỗi chính tả thƣờng mắc của học sinh
Lớp
Tổng số học
sinh
Các lỗi chính tả thƣờng mắc
Phụ âm đầu
Phần vần
Thanh điệu
2A1
30

20em
66.7%
4em
13.3%
6em
20%
2A2
30
18em
60%
2em
6.7%
10em
33.3%
2A3
30
16em
53.3%
3em
10.3%
11em
38%
Từ bảng số liệu tƣơng đối trên ta thấy học sinh thƣờng viết sai phụ âm
đầu là lớn nhất, cụ thể là phân biệt các phụ âm đầu dễ lẫn nhƣ: tr/ ch, r/d/i, l/đ,
l/n, b/v, Chẳng hạn: len lỏi->đen đỏi; đói bụng-> đói vụng; Ngoài các lỗi về
phụ âm đầu HS còn mắc các lỗi về phần vần và các lỗi về dấu thanh, đặc biệt là
thanh ngã ( ~ ) và thanh sắc (/) nhƣ: Thoải mái->thoải mãi, con muỗi->con
muối Đây là những lỗi chính tả cơ bản đặc trƣng nhất mà các em học sinh
mắc phải trong khi viết cũng nhƣ khi phát âm.

×