Tải bản đầy đủ (.pdf) (85 trang)

một số giải pháp nâng cao chất lượng quản lý công tác đấu thầu trên địa bàn tỉnh vĩnh phúc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (687.25 KB, 85 trang )




BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI


NGUYỄN NGỌC LONG



MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
QUẢN LÝ CÔNG TÁC ĐẤU THẦU TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH VĨNH PHÚC



CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ XÂY DỰNG
MÃ SỐ: 60 - 58 - 03 - 02


LUẬN VĂN THẠC SĨ



NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. LÊ VĂN HÙNG






Hà Nội - 2013



LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn, tác giả đã nhận được sự
hướng dẫn tận tình của PGS.TS LÊ VĂN HÙNG, và những ý kiến về chuyên môn quý
báu của các thầy cô giáo trong khoa Công trình, khoa Kinh tế và Quản lý – Trường Đại
học Thủy lợi cũng như sự giúp đỡ của Chi cục Thủy lợi tỉnh Vĩnh Phúc.
Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Trường Thủy lợi đã chỉ bảo
và hướng dẫn khoa học và cơ quan cung cấp số liệu trong quá trình học tập, nghiên
cứu và hoàn thành luận văn này.
Do trình độ, kinh nghiệm cũng như thời gian nghiên cứu còn hạn chế nên
Luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong nhận được những ý kiến
đóng góp của quý độc giả.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2013
Tác giả luận văn



Nguyễn Ngọc Long



LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn này là sản phẩm nghiên cứu của riêng cá
nhân tôi. Các số liệu và kết quả trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa được
ai công bố trước đây. Tất cả các trích dẫn đã được ghi rõ nguồn gốc.

Hà Nội, ngày tháng năm 2013
Tác giả luận văn



Nguyễn Ngọc Long


































MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu của đề tài 1
3. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu: 1
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài: 2
6. Kết quả dự kiến đạt được: 2
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ ĐẤU THẦU VÀ QUẢN LÝ ĐẤU THẦU XÂY
DỰNG 3
1.1 Một số khái niệm liên quan đến đấu thầu xây dựng 3
1.2. Chất lượng quản lý công tác đấu thầu trong xây dựng 5
1.2.1. Khái niệm về quản lý công tác đấu thầu 5
1.2.2. Chất lượng quản lý công tác đấu thầu 6
1.3. Các văn bản hiện hành về quản lý đấu thầu 7
1.4. Thực trạng công tác đấu thầu trong thời gian qua 9
1.4.1. Thực tiễn công tác đấu thầu ở một số quốc gia 9
1.4.1.1. Kinh nghiệm của một số nước, một số tổ chức quốc tế trong đấu thầu xây
dựng. 9
1.4.1.2. Kinh nghiệm đấu thầu xây dựng của một số tổ chức quốc tế 11

1.4.2. Thùc tiÔn c«ng t¸c ®Êu thÇu t¹i ViÖt Nam trong nh÷ng n¨m qua 12
1.4.3 Những tồn tại ảnh hưởng tới công tác đấu thầu xây dựng 16
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 25
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẤU THẦU XÂY DỰNG
CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH PHÚC 27
2.1 Giới thiệu chung về tỉnh Vĩnh Phúc 27
2.2. Tình hình đầu tư xây dựng công trình trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc. 30
2.3. Tình hình quản lý công tác đấu thầu xây dựng các công trình trên địa bàn
tỉnh Vĩnh Phúc. 32
2.3.1 Thực trạng đấu thầu Công trình: Nâng cấp hồ Mé Sau, xã Đồng Tĩnh, huyện
Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc. 33
2.3.2 Cải tạo trục tiêu Cầu Rong đoạn từ cống Măng Đa đến cống qua đê Phú Thụ,
xã Liên Hòa huyện Lập Thạch. 36
2.3.3. Thực trạng đấu thầu gói thầu 01 Công trình hồ chứa nước Bản Long 40



2.4 Những đánh giá chung về chất lượng công tác quản lý đấu thầu trên địa
bàn tỉnh Vĩnh Phúc. 43
2.4.1 Những kết quả đạt được 43
2.4.1.1 Về thực hiện chính sách: 43
2.4.1.2 Về phân cấp trong đấu thầu: 43
2.4.1.3 Về đội ngũ cán bộ tham gia hoạt động đấu thầu: 44
2.4.1.4 Về công tác thanh tra, kiểm tra về đấu thầu: 44
2.4.2. Những tồn tại cần khắc phục 45
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 46
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
QUẢN LÝ CÔNG TÁC ĐẤU THẦU XÂY DỰNG CÁC CÔNG TRÌNH THỦY
LỢI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH PHÚC 48
3.1 Mục đích và nguyên tắc đề xuất các giải pháp 48

3.1.1. Mục đích 48
3.1.2. Nguyên tắc đề xuất các giải pháp 48
3.2. Căn cứ đề xuất các giải pháp 49
3.3 Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng quản lý công tác đấu thầu
xây dựng các công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc 49
3.3.1 Những yêu cầu cần quán triệt trong nâng cao chất lượng đấu thầu xây dựng
các công trình thủy lợi trên địa bàn Vĩnh Phúc. 50
3.3.1.1. Quán triệt và thực thi nghiêm túc pháp luật của Nhà nước trong
đấu thầu xây dựng các công trình 50
3.3.1.2. Tăng cường hội nhập với quốc tế và khu vực, nâng cao năng lực
tổ chức đấu thầu quốc tế. 51
3.3.1.3. Lựa chọn các giải pháp có tính đột phá để nâng cao chất lượng
đấu thầu xây dựng 53
3.3.1.4 Chuyên nghiệp hóa hoạt động đấu thầu xây dựng của chủ đầu tư 54
3.3.2 Một số giải pháp nâng cao chất lượng đấu thầu xây dựng các công trình 56
3.3.2.1 UBND tỉnh, các Sở, ban ngành cần chủ động lựa chọn hình thức đấu thầu
rộng rãi trong các gói thầu mua sắm, dịch vụ tư vấn, xây dựng 56
3.3.2.2 Bên mời thầu cần thành lập hoặc thuê “ Tổ chuyên gia xét thầu chuyên
nghiệp” khi xét thầu 58
3.3.2.3 Tổ chức đào tạo, cập nhật thường xuyên những kiến thức về xây dựng cơ
bản và đấu thầu 59



3.3.2.4 Tăng cường thanh tra, kiểm tra hoạt động đấu thầu để ngăn ngừa, phát hiện
và xử lý nghiêm những hiện tượng tiêu cực 59
3.3.2.5 Đẩy mạnh công khai hóa các hiện tượng tiêu cực trong đấu thầu đã bị xử lý
trên các phương tiện thông tin đại chúng 62
3.3.2.6 Phát huy và thực hiện đầy đủ quyền khiếu nại, tố cáo của nhà thầu 63
3.3.2.7. Xử lý dứt điểm tình trạng “ thầu tặc” trong đấu thầu. 64

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 66
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC



DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
Sơ đồ 3.1: Thống kê ý kiến điều tra các biện pháp nâng cao chất lượng đấu thầu . . 57
Hình 2.1: Thi công mái đập hồ Bản Long 40


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Vốn đầu tư xây dựng cơ bản tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2007 – 2011. 30
Bảng 2.2: Số liệu kiên cố hóa kênh thực hiện Nghị quyết 08/2007/NQ-HĐND tỉnh
Vĩnh Phúc giai đoạn 2007 - 2010 (Đơn vị : km ) 32
Bảng 2.3: Tổng hợp thông tin về 03 HSDT công trình Nâng cấp hồ Mé Sau. 33
Bảng 2.4: Đánh giá hồ sơ dự thầu về mặt kỹ thuật 34
Bảng 2.5: Đánh giá hồ sơ dự thầu thông qua giá bỏ thầu 36
Bảng 2.6: Đánh giá về mặt kỹ thuật các hồ sơ dự thầu: 38
Bảng 2.7: Kết quả đánh giá các nhà thầu 39
Bảng 2.8: Tổng hợp giá dự thầu, thư giảm giá và giá dự thầu sau giảm giá của các
nhà thầu. 41























DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ADB Ngân hàng Phát triển Châu Á
BXD-VKT Bộ xây dựng-Vụ kinh tế
Bộ KH-DT Bộ Kế hoạch-Đầu tư
CP Chính Phủ
Công ty TNHH Công ty Trách nhiệm hữu hạn
DNNN Doanh nghiệp Nhà nước
EPC Gói thầu Thiết kế, Mua sắm và xây dựng
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GPMB Giải phóng mặt bằng
HĐND Hội đồng nhân dân
HSMT Hồ sơ mời thầu
HSDT Hồ sơ dự thầu
IBRD Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế

ICB Đấu thầu cạnh tranh quốc tế
IDA Hiệp hội phát triển Quốc tế
NĐ-CP Nghị định Chính phủ
NN và PTNT Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
ODA Viện trợ phát triển chính thức
PGS.TS Phó Giáo sư, Tiến sỹ
QĐ Quyết định
QĐ-CT Quyết định Chủ tịch
QH11 Quốc hội khóa 11
QLDA Quản lý dự án
TT-BKH Thông tư-Bộ Kế hoạch
TT-BXD Thông tư-Bộ Xây dựng
TTg Thủ tướng
UBND Ủy ban Nhân dân
USD Đô la Mỹ
VAT Thuế Giá trị gia tăng
VNĐ Việt Nam đồng
WB Ngân hàng Thế giới

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, Việt Nam là một trong những quốc gia trên thế giới chịu ảnh
hưởng nặng nề về biến đổi khí hậu. Chính vì vậy để giảm nhẹ những ảnh hưởng của
biến đổi khí hậu, cần phải có những biện pháp phòng tránh, khắc phục. Sử dụng các
công trình thủy lợi để phòng tránh và khắc phục hậu quả của biến đổi khí hậu toàn
cầu cũng là một trong những biện pháp không chỉ Việt Nam mà các quốc gia trên
thế giới đang sử dụng. Công trình thủy lợi có vai trò to lớn trong ứng phó với biến
đổi khí hậu. Nhằm quản lý chất lượng xây dựng công trình thủy lợi cần phải có
những công tác kiểm soát chặt chẽ. Trong đó công tác lựa chọn nhà thầu đủ điều

kiện về năng lực tham gia xây dựng các công trình thủy lợi thông qua đấu thầu là
một công tác quan trọng nhằm quản lý chất lượng công trình, đưa công trình vào
phục vụ kịp thời, nâng cao hiệu quả của công trình thủy lợi.
2. Mục tiêu của đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu một các khoa học, chất lượng đấu thầu xây dựng công
trình thủy lợi ở Vĩnh Phúc luận văn sẽ đạt được những mục tiêu có ý nghĩa thiết
thực sau:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về chất lượng đấu thầu nói
chung, đặc biệt là chất lượng đấu thầu xây dựng các công trình thủy lợi và những
cấn đề có liên quan đến chất lượng đấu thầu xây dựng.
- Vận dụng những lý luận cơ bản đã đạt được hệ thông trên đây vào phân
tích, đánh giá thực trạng hoạt động đấu thầu xây dựng và chất lượng đấu thầu xây
dựng các công trình thủy lợi ở Vĩnh Phúc.
- Phân tích ý kiến của các nhà quản lý trong các cơ quan quản lý Nhà nước về
đấu thầu, các nhà quản lý đấu thầu của chủ đầu tư, các nhà thầu về đánh giá của họ
đối với chất lượng đấu thầu, đối với các quy định về đấu thầu xây dựng của Nhà nước
Việt Nam hiện hành để từ đó đề xuất hướng hoàn thiện các quy định đó nhằm nâng
cao chất lượng đấu thầu xây dựng công trình thủy lợi ở Vĩnh Phúc.
3. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu:
Cách tiếp cận:
- Tiếp cận lý thuyết, tìm hiểu các tài liệu đã được nghiên cứu;
- Tiếp cận thực tế ở Việt Nam;
Phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu tổng quan về công tác đấu thầu xây dựng;

2
- Tham khảo tài liệu, kinh nghiệm các quốc gia thực hiện tốt công tác
đấu thầu, lựa chọn nhà thầu.
- Điều tra thu thập, phân tích, đánh giá và đề xuất giải pháp kiểm soát,
quản lý chất lượng đấu thầu xây dựng.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu chất lượng đấu thầu
xây dựng công trình thủy lợi đứng trên góc độ chủ đầu tư đăt trong mối liên hệ với
thể chế quản lý Nhà nước, các nhà thầu. Chất lượng đấu thầu công trình thủy lợi là
một khách thể nghiên cứu khách quan, được xem xét trên những góc độ khác nhau,
và sẽ được hiểu theo những cách khác nhau dưới ảnh hưởng của các nhân tỏ khách
quan và chủ quan. Luận văn sẽ xem xét chất lượng đấu thầu trên góc độ chủ đầu tư,
người được trao trọng trách quản lý vốn đầu tư xây dựng công trình với mong muốn
thực hiện dự án đó một các hiệu quả nhất, chất lượng nhất, khác quan và công bằng
nhất đảm bảo tiến độ đề ra.
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu thực trạng hoạt động
đấu thầu xây dựng các công trình thủy lợi và chất lượng đấu thầu các công trình thủy
lợi đứng trên góc độ chủ đầu tư. Xây dựng công trình thủy lợi là một đối tượng bao
gồm nhiều lĩnh vực như xây dựng hồ chứa, đê, kè chắn sóng, trạm bơm tưới-tiêu
thoát nước, cải tạo hệ thống tiêu. Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động đấu thầu
xây dựng các công trình hồ chứa nước, cải tạo hệ thống tiêu trên địa bàn tỉnh Vĩnh
Phúc. Hơn thế nữa, luận văn cũng tập trung nghiên cứu hoạt động đấu thầu như là
một quá trình từ khi chuẩn bị, lập kế hoạch đấu thầu cho đến khi công bố kết quả đấu
thầu, thương thuyết với nhà thầu để ký kết hợp đồng thực hiện gói thầu. Các vấn đề
trước và sau quá trình này sẽ không phải là trọng tâm nghiên cứu của luận văn. Tuy
nhiên, để đẩm bảo tính khoa học của luận văn, luận văn cũng xem xét đến các yếu tố
trước và sau quá trình đấu thầu ở một mức độ phù hợp với quy mô luận văn.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
Đề tài nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng công trình thông qua công tác
đấu thầu
6. Kết quả dự kiến đạt được:
Đưa ra được một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác đấu thầu trong xây
dựng công trình thủy lợi tại Vĩnh Phúc nói riêng, các công trình xây dựng nói chung.

3

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ ĐẤU THẦU VÀ QUẢN LÝ ĐẤU THẦU
XÂY DỰNG
1.1. Một số khái niệm liên quan đến đấu thầu xây dựng
Trên thực tế hiện nay tồn tại rất nhiều khái niệm, cách hiểu về đấu thầu. Xuất
phát từ Từ điển Tiếng Việt, “đấu thầu” được hiểu là việc tổ chức cuộc so đọ công
khai ai nhận làm, nhận bán với điều kiện tốt nhất thì được chấp nhận. Theo đó thì
“đấu thầu” là một cuộc đọ sức công khai giữa các tổ chức về kỹ thuật và tài chính.
Theo quan niệm của chủ thầu (Bên mời thầu), cũng như theo định nghĩa trong Quy
chế đấu thầu ban hành kèm theo Nghị định số 88/1999/NĐ- CP ngày 1/9/1999 của
Chính phủ thì “đấu thầu” là quá trình lựa chọn Nhà thầu đáp ứng được các yêu cầu
của Bên mời thầu trên cơ sở cạnh tranh giữa các Nhà thầu.
Xét theo quan niệm Nhà thầu thì “đấu thầu” là cuộc cạnh tranh gay gắt giữa
các Nhà thầu để nhận được dự án cung cấp các sản phẩm hàng hoá và dịch vụ từ
yêu cầu của Bên mời thầu.
Căn cứ theo Luật đấu thầu năm 2005 và sửa đổi bổ sung năm 2009 được Quốc
hội thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2009 tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XII thì “đấu
thầu” là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu để thực
hiện gói thầu thuộc các dự án sử dụng vốn nhà nước từ 30% trở lên cho mục tiêu đầu
tư phát triển, dự án sử dụng vốn nhà nước để mua sắm tài sản nhằm duy trì hoạt động
thường xuyên của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ
chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn
vị vũ trang nhân dân, dự án sử dụng vốn nhà nước để mua sắm tài sản nhằm phục vụ
việc cải tạo, sửa chữa lớn các thiết bị, dây chuyền sản xuất, công trình, nhà xưởng đã
đầu tư của doanh nghiệp nhà nước trên cơ sở bảo đảm tính cạnh tranh, công bằng,
minh bạch và hiệu quả kinh tế. Vậy đứng trên quan niệm Nhà thầu và chủ thầu, “đấu
thầu” là cuộc “thi tuyển” trong hoạt động xây dựng giữa các Nhà thầu thoả mãn các
yêu cầu của chủ thầu từ đó lựa chọn được Nhà thầu thích hợp nhất.
Một số thuật ngữ liên quan được quy định tại Quy chế đấu thầu ban hành kèm theo
Nghị định 88/1999/NĐ-CP ngày 1 tháng 9 năm 1999 của chính phủ, Luật đấu thầu năm


4
2005 và sửa đổi bổ sung năm 2009 được Quốc hội thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2009
tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XII:
“Dự án” là tập hợp các đề xuất để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc
nhằm đạt được mục tiêu hay yêu cầu nào đó trong một thời gian nhất định dựa trên
nguồn vốn xác định. Dự án bao gồm dự án đầu tư và không có tính chất đầu tư.
“Bên mời thầu” là chủ dự án, chủ đầu tư hoặc pháp nhân đại diện hợp pháp
của chủ dự án, chủ đầu tư được giao trách nhiệm thực hiện công việc đấu thầu.
“Người có thẩm quyền” là người được quyền quyết định dự án theo quy định của
pháp luật. Đối với các dự án có sự tham gia vốn nhà nước của doanh nghiệp nhà nước từ
30% trở lên, trừ các dự án sử dụng 100% vốn nhà nước, thì người có thẩm quyền là Hội
đồng quản trị hoặc đại diện có thẩm quyền của các bên tham gia góp vốn.
Chủ đầu tư là người sở hữu vốn hoặc được giao trách nhiệm thay mặt chủ sở
hữu, người vay vốn trực tiếp quản lý và thực hiện dự án
Bên mời thầu là chủ đầu tư hoặc tổ chức chuyên môn có đủ năng lực và kinh
nghiệm được chủ đầu tư sử dụng để tổ chức đấu thầu theo các quy định của pháp
luật về đấu thầu.
“Nhà thầu” là tổ chức, cá nhân trong nước hoặc nước ngoài có năng lực pháp
luật dân sự, đối với cá nhân còn phải có năng lực hành vi dân sự để ký kết và thực
hiện hợp đồng. Nhà thầu là nhà xây dựng trong đấu thầu xây lắp; là nhà cung cấp
hàng hoá trong đấu thầu mua sắm hàng hoá; là nhà tư vấn trong đấu thầu tuyển chọn
tư vấn; là nhà đầu tư trong đấu thầu lựa chọn đối tác đầu tư.
“Gói thầu” là toàn bộ dự án hoặc một phần công việc của dự án được phân
chia theo tính chất kỹ thuật hoặc trình tự thực hiện dự án, có quy mô hợp lý để bảo
đảm tính đồng bộ của dự án. Trong trường hợp mua sắm, gói thầu có thể là một loại
đồ dùng trong thiết bị hoặc phương tiện. Gói thầu được thực hiện theo một hoặc
nhiều hợp đồng (gói thầu được chia thành nhiều phần)
“Xây lắp” là những công việc thuộc quá trình xây dựng và lắp đặt thiết bị các
công trình, hạng mục công trình.


5
Tóm lại, “đấu thầu” thực chất là quá trình thoả mãn các yêu cầu về kỹ thuật, tài
chính của cả hai chủ thể cơ bản tham gia vào quá trình đấu thầu để thực hiện một dự án
sao cho có hiệu quả nhất với chi phí thấp, tạo ra các công trình có chất lượng cao.
1.2. Chất lượng quản lý công tác đấu thầu trong xây dựng
1.2.1. Khái niệm về quản lý công tác đấu thầu
Đấu thầu là một hoạt động quan trọng trong nền kinh tế, cho nên đứng về
phía Nhà nước, cần phải phân cấp cơ quan quản lý Nhà nước về hoạt động đấu thầu
nhằm tạo ra sự ổn định, sự nề nếp cho hoạt động đấu thầu.
Theo đó cơ quan quản lý nhà nước về đấu thầu bao gồm:
- Chính phủ thống nhất quản lý công tác đấu thầu trên phạm vi cả nước
thông qua Luật đấu thầu;
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thực hiện quản
lý công tác đấu thầu;
- Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ quản
lý nhà nước về đấu thầu trong phạm vi và trách nhiệm của mình, đồng thời cử một
Thứ trưởng hoặc các cấp phó tương ứng (ở cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính
phủ) trực tiếp chỉ đạo công tác đấu thầu;
- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Chủ tịch
Uỷ ban nhân dân quận, huyện, thị xã và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường, xã, thị
trấn quản lý nhà nước về đấu thầu đối với các gói thầu thuộc quyền quản lý của
mình, đồng thời cử một cấp phó trực tiếp chỉ đạo công tác đấu thầu.
Các cơ quan trên sẽ quản lý hoạt động đấu thầu trên một số nội dung:
♦ Soạn thảo, ban hành hoặc trình ban hành các văn bản quy phạm pháp
luật về đấu thầu.
♦ Tổ chức hướng dẫn thực hiện.
♦ Tổ chức thẩm định kế hoạch đấu thầu của dự án và thẩm định kết quả
đấu thầu.
♦ Phê duyệt kế hoạch đấu thầu của dự án và kết quả đấu thầu.
♦ Tổ chức kiểm tra công tác đấu thầu.


6
♦ Tổng kết, đánh giá, báo các tình hình đấu thầu và thực hiện Quy chế
Đấu thầu.
♦ Giải quyết các vướng mắc, khiếu nại về đấu thầu.
♦ Quản lý hệ thống thông tin về đấu thầu.
♦ Quản lý hệ thống dữ liệu thông tin về Nhà thầu.
♦ Thực hiện kiểm tra, thanh tra về đấu thầu và việc thực hiện hợp đồng
(đã ký giữa chủ đầu tư và Nhà thầu).
Trên đây chỉ là một số nội dung mà các cơ quan Nhà nước quản lý về đấu
thầu. ngoài các quy định trên thì các nội dung khác theo sự thoả thuận của các bên
trong đấu thầu. Điều này đảm bảo sự tự do trong đấu thầu cho các bên.
1.2.2. Chất lượng quản lý công tác đấu thầu
Muốn cho chất lượng công trình đạt được tiêu chí, mục đích sử dụng, ta cần
phải lựa chọn nhà thầu đủ năng lực thông qua công tác đấu thầu. Để làm được việc
đó thì chất lượng công tác đấu thầu cần phải được nâng cao, được quản lý chặt chẽ
từ những giai đoạn lập hồ sơ mời thầu, thành lập các tổ chuyên gia đấu thầu và giai
đoạn tổ chức đấu thầu.
- Thông qua đấu thầu, chủ đầu tư sẽ lựa chọn được các nhà thầu có khả năng
đáp ứng được tốt nhất các yêu cầu kinh tế, kỹ thuật, chất lượng, tiến độ đặt ra của công
trình. Trên cơ sở đó giúp cho chủ đầu tư vừa sử dụng hiệu quả, tiết kiệm vốn đầu tư,
đồng thời vẫn đảm bảo được chất lượng cũng như tiến độ công trình.
- Thông qua đấu thầu, chủ đầu tư cũng sẽ nắm bắt được quyền chủ động,
quản lý có hiệu quả và giảm thiểu được các rủi ro phát sinh trong quá trình thực
hiện dự án đầu tư do toàn bộ quá trình tổ chức đấu thầu và thực hiện kết quả đấu
thầu được tuân thủ chặt chẽ theo quy định của pháp luật và sau khi chủ đầu tư đã có
sự chuẩn bị kỹ lưỡng, đầy đủ về mọi mặt.
- Để đánh giá đúng các hồ sơ dự thầu đòi hỏi đội ngũ cán bộ thực hiện
công tác đấu thầu của chủ đầu tư phải tự nâng cao trình độ của mình về các mặt nên
việc áp dụng phương thức đấu thầu còn giúp cho chủ đầu tư nâng cao trình độ và

năng lực của cán bộ công nhân viên.

7
Quản lý chất lượng công tác đấu thầu cần phải thiết lập ngay từ giai đoạn lập
hồ sơ mời thầu. Cần xác định rõ mục tiêu chính khi lựa chọn nhà thầu, đặt ra trọng
tâm của hồ sơ dự thầu, nhằm đề ra được các tiêu chí đánh giá chất lượng sản phẩm,
tiêu chí lựa chọn của đơn vị sử dụng công trình sau khi hoàn thành.
Các tổ chuyên gia tham gia công tác đấu thầu cần phải có chuyên môn, nắm
chắc được công việc mình được giao và phải không bị chi phối bởi các bên trong
đấu thầu. Để làm được việc này cần phải tổ chức công tác tập huấn, đào tạo nâng
cao năng lực của các chuyên gia về trình độ, kiến thức, kỹ năng làm việc và phải
biết cách xử lý mọi tình huống xảy ra trong đấu thầu.
1.3. Các văn bản hiện hành về quản lý đấu thầu
Bất cứ hoạt động nào xuất hiện trong nền kinh tế đều có một quá trình phát
triển và đấu thầu cũng vậy. Đấu thầu đã manh nha xuất hiện ở nước ta từ rất lâu
nhưng trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, khi mà mọi công trình xây dựng đều
được thực hiện theo chỉ tiêu pháp lệnh, Nhà nước chỉ định cho các đơn vị thực hiện
xây lắp tuỳ theo kế hoạch mà Nhà nước đề ra hoặc căn cứ vào mối quan hệ giữa các
đơn vị đó với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mà không qua đấu thầu. Với cơ chế
này, không tồn tại khái niệm cạnh tranh trong tất cả các ngành, lĩnh vực của nền
kinh tế nói chung và trong hoạt động đầu tư xây dựng nói riêng, từ đó tạo ra nhiều
tiêu cực, sai lầm gây thất thoát lớn cho xã hội.
Tuy nhiên, khi nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, khái niệm cạnh
tranh trở nên thông dụng. Trong hoạt động đầu tư xây dựng, các doanh nghiệp thuộc
các thành phần kinh tế khác nhau đều bình đẳng trước pháp luật, đều có cơ hội tham
gia xây dựng các công trình ngang nhau nên giữa các doanh nghiệp luôn tồn tại sự
cạnh tranh. Nền kinh tế càng phát triển thì mức độ cạnh tranh càng gay gắt. Đứng
trước thực tế đó, hoạt động đấu thầu đã xuất hiện và tạo ra môi trường cạnh tranh
lành mạnh, các doanh nghiệp xây dựng có cơ hội được thể hiện mình một cách tốt
nhất. Ở các nước phát triển, đấu thầu đã được áp dụng từ lâu và mang lại hiệu quả

to lớn, còn ở Việt Nam hình thức này còn rất mới. Để tạo ra môi trường pháp lý
nhằm tăng cường hiệu quả của hình thức đấu thầu, cùng với việc tổ chức thực hiện,

8
các văn bản có tính quy chế được xây dựng, bổ sung và sửa đổi ngày càng hoàn
thiện hơn.
- Đầu những năm 1990, trong các văn bản quản lý đầu tư xây dựng đã
xuất hiện “ Quy chế đấu thầu trong xây dựng” nhưng chưa rõ ràng.
- Tháng 3/1994- Bộ Xây dựng ban hành “ Quy chế đấu thầu xây lắp”
(Quyết định số 06/BXD-VKT thay cho Quyết định số 24/BXD-VKT trước đây).
Đây là văn bản được coi là Quy chế đấu thầu đầu tiên, theo đó quy định tất cả công
trình xây dựng thuộc sở hữu Nhà nước đều phải thực hiện đấu thầu.
- Đến ngày 16/4/1994, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 183
TTg. Theo Quy chế này, các dự án dùng vốn Nhà nước (bao gồm Ngân sách cấp,
vốn vay, vốn viện trợ, vốn Nhà nước ở các doanh nghiệp) đều phải qua đấu thầu,
kết quả đấu thầu có vốn đầu tư trên 10 triệu USD phải thông qua Hội đồng xét thầu
quốc gia thẩm định để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét và phê duyệt.
- Năm 1996, Chính phủ ban hành Quy chế đấu thầu kèm theo Nghị định
số 43/NĐ-CP ngày 16/7/1996. Văn bản này mang tính pháp lý cao hơn và phạm vi
điều chỉnh rộng hơn, theo đó, “gói thầu” lần đầu tiên đã trở thành đối tượng quản lý
của công tác đấu thầu. Nghị định 43/NĐ-CP của Chính phủ đã được thay thế bằng
Nghị định số 88/NĐ-CP ngày 1/9/1999 và Nghị định này đã được bổ sung, sửa đổi
bởi Nghị định số 14/NĐ-CP ngày 5/5/2000. Từ năm 1999 đến năm 2003, công tác
đấu thầu được điều chỉnh chủ yếu bằng Nghị định số 88/NĐ-CP và Nghị định số
14/NĐ-CP, so với cơ chế cũ thì nhiều vấn đề đã sáng tỏ hơn, phương pháp đánh giá
để đấu thầu đã khoa học hơn, chuẩn mực hơn
- Nền kinh tế ngày càng phát triển, yêu cầu đặt ra với đấu thầu ngày càng
cao. Để đáp ứng các yêu cầu đó, năm 2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định số
66/NĐ-CP ngày 12/6/2003 sửa đổi bổ sung Quy chế đấu thầu kèm theo Nghị định
số 88/NĐ-CP và Nghị định số 14/NĐ-CP. Với 45% số điều bổ sung Nghị định

88/CP và 13% số điều sửa đổi bổ sung Nghị định 14/NĐ-CP đã tăng cường tính
cạnh tranh, công bằng, minh bạch trong đấu thầu, bảo đảm hiệu quả kinh tế của dự
án, tăng cường một bước công tác thanh tra quản lý hoạt động đấu thầu và thực hiện
hợp đồng, nâng cao công tác quản lý thông tin về đấu thầu và Nhà thầu.

9
- Với những quy chế, quy định về Đấu thầu trong xây dựng được nói ở
trên, vẫn chưa bao quát được hết được khối lượng công việc, tình huống xảy ra
trong hoạt động đấu thầu và trách nhiệm, biện pháp xử lý các tình huống xảy ra
trong đấu thầu. Ngày 29 tháng 11 năm 2005 tại kỳ họp Quốc hội khóa XI năm 2005
đã thống nhất ban hành Luật đấu thầu, là bước tiến quan trọng trong công tác quản
lý nhà nước về đấu thầu, tạo cho hoạt động đấu thầu ngày càng phù hợp với xu thế
hội nhập toàn cầu. Cùng với việc ban hành Luật đấu thầu, nhà nước cũng đã ban
hành Nghị định 111/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 9 năm 2006, Nghị định
58/2008/NĐ-CP ngày 05 tháng 05 năm 2008, Nghị định 85/2009/NĐ-CP ngày 15
tháng 10 năm 2009 về việc Hướng dẫn thi hành Luật đấu thầu và lựa chọn nhà thầu
xây dựng theo Luật Xây dựng
- Để phù hợp tình hình thực tế ngày 19 tháng 6 năm 2009 tại kỳ họp thứ 5
Quốc hội khóa XII đã thông qua sửa đổi bổ sung Luật đấu thầu năm 2005.
1.4. Thực trạng công tác đấu thầu trong thời gian qua
1.4.1. Thực tiễn công tác đấu thầu ở một số quốc gia
1.4.1.1. Kinh nghiệm của một số nước, một số tổ chức quốc tế trong
đấu thầu xây dựng.
Xuất phát từ các đặc thù, từ trình độ và kinh nghiệm tổ chức đấu thầu của
các nước, các tổ chức quốc tế khác nhau và quy định về đấu thầu và kinh nghiệm
tổ chức đấu thầu của các nước và các tổ chức quốc tế cũng có những nét đặc thù
riêng biệt bên cạnh những điểm chung giống nhau. Đó là sự thể hiện tính phong
phú đa dạng của hoạt động đấu thầu.
Nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước, một số tổ chức quốc tế trong
việc quy định và tổ chức đấu thầu xây dựng các công trình, tác giả luận văn xin

tổng hợp làm những bài học cho hoạt động đấu thầu xây dựng công trình ở Việt
Nam nhằm góp phần nâng cao chất lượng của hoạt động này trong tương lai.
Kinh nghiệm đấu thầu xây dựng của một số nước.
Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm đấu thầu của một số nước, trong đó
điển hình là Anh, Đức, Malaysia tác giả tập hợp một số bài học kinh nghiệm làm

10
cơ sở nghiên cứu ứng dụng của luận văn. Những bài học đó là:
Cơ chế quản lý, giám sát, đánh giá và phổ biến kinh nghiệm nhằm phát hiện
và xử phạt nghiêm minh các hành vi tiêu cực trong các hoạt động đáu thầu. Đây là
một trong những kinh nghiệm nhiều nước rất chú trọng áp dụng nhằm giảm thiểu
và ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực trong đấu thầu như thông thầu, lạm dụng
quyền lực của các quan chức chính phủ trong việc đấu thầu mua sắm hang hóa, xây
lắp, dịch vụ tư vấn cho các quốc gia.
Trong bài viết về kinh nghiệm của ngài Yingming Yang, trưởng Ban các tổ
chức Tài chính quốc tế II, Vụ Đối Ngoại, Bộ Tài Chính Trung Quốc báo cáo tại Hội
thảo Quốc tế về Quản lý và thực hiện dự án tại TP.Hồ Chí Minh ngày 18-19/05/2006,
Ông cho rằng: “Giám sát và đánh giá là một công cụ quản lý hữu ích nhằm nâng cao
hiệu quả. Nếu không có giám sát và đánh giá hiệu quả, chúng ta không thể biết được
sự khác biệt giữa thành công và thất bại. Nếu không hiểu được điều gì tạo nên thành
công, chúng ta không thể phổ biến các bài học kinh nghiệm tốt.Vì vậy, sẽ rất hữu ích
nếu như chúng ta thiết lập một cơ chế giám sát, đánh giá và cơ chế phổ biến tốt. Dĩ
nhiên hãy nên nhớ rằng những cơ chế này cũng khá tốn kém và đòi hỏi phải có năng
lực, chúng ta cần tập trung và cơ chế khả thi và thực tế chứ không phải những cơ chế
quá tham vọng và hoàn hảo”.
Theo bà Hidan Misran, cán bộ văn phòng Kinh tế Kế hoạch, Văn phòng
Chính phủ Malaysia khi trình bày những kinh nghiệm của Văn phòng Chính phủ
Malaysia tại Hội thảo Quốc tế về Quản lý và Thực hiện dự án ODA: “Giám sát và
đánh giá đòi hỏi một quá trình thu thập và phân tích thông tin một cách có hệ
thống, theo dõi những thay đổi so với mốc cơ sở để đạt được những kết quả mong

đợi. Cần nhận thức rõ về những lý do thay đổi. Sau đó giới thiệu cách thức để sửa
chữa khuyết tật. Công tác giám sát các dự án phát triển đòi hỏi thường xuyên thu
thập và phân tích dữ liệu về tài chính. Quá trình có thể khác nhau tùy thuộc vào cấp
quản lý:
- Yêu cầu giám đốc dự án kiểm soát tình hình triển khai dự án hàng ngày;
Yêu cầu cơ quan trung ương tham gia theo dõi và đánh giá cấp quốc gia”


11
1.4.1.2. Kinh nghiệm đấu thầu xây dựng của một số tổ chức quốc tế
Nghiên cứu những kinh nghiệm về đấu thầu của các tổ chức quốc tế có quan
hệ mật thiết với Việt Nam như Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng phát triển
Châu Á (ADB) tác giả rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:
- Bài học kinh nghiệm đầu tiên là việc cả hai tổ chức này đều có hai văn bản
quy định riêng rẽ về đấu thầu cho hai lĩnh vực đấu thầu rất khác nhau là đấu thầu
xây lắp, mua sắm hàng hóa và lĩnh vực tuyển chọn thầu tư vấn. Trong khi Ngân
hàng Thế giới có hai văn bản quy định về đấu thầu là: thứ nhất, hướng dẫn mua
sắm bằng vốn vay của IBRD (Ngân hàng Tái thiết và Phát triển quốc tế) và tín
dụng IDA( Hiệp hội Phát triển quốc tế) đối với hàng hóa xây lắp; và thứ hai, hướng
dẫn của WB về tuyển dụng chuyên gia tư vấn thì ADB cũng có hai hướng dẫn
riêng rẽ cho hai lĩnh vực xây lắp, mua sắm hàng hóa và tư vấn: Thứ nhất, hướng
dẫn của ADB về tuyển dụng chuyên gia tư vấn; thứ hai hướng dẫn của ADB về
mua sắm.
Sở dĩ tác giả đề cập bài học kinh nghiệm này làm cơ sở cho việc nghiên cứu
của mình là vì, các văn bản pháp lý của Việt Nam về đấu thầu thường gộp chung
vào một tài liệu đã gây rất nhiều lầm lẫn cho người tổ chức thực hiện. Chẳng hạn,
nhiều người đã có nhiều năm kinh nghiệm tổ chức đấu thầu tại Việt Nam nhưng
khi được hỏi vẫn bị nhầm lẫn khi nói đấu thầu xây lắp hay đấu thầu tuyển chọn tư
vấn sử dụng phương thức “một túi hồ sơ” hay “hai túi hồ sơ”. Cũng có người nhầm
lẫn khi cho rằng tại lễ mở thầu gói thầu xây lắp không được công khai giá dự thầu

và thư giảm giá của nhà thầu
- Bài học kinh nghiệm thứ hai được tác giả rút ra là việc thống nhất thông
tin về đấu thầu. Thông báo mời thầu có thể bị lợi dụng nếu bên mời thầu có dụng ý
giành sự ưu tiên cho nhà thầu nào đó. Một ví dụ điển hình là trường hợp đấu thầu
một gói thầu có sử dụng vốn vay của một tổ chức quốc tế ở một nước Châu Á bị tổ
chức quốc tế đó phát hiện và hủy kết quả đấu thầu là việc thông báo mời thầu trên
một tờ báo của một tư nhân. Bên mời thầu đồng thời với việc đăng thông báo trên
đã đăng ký đặt mua toàn bộ số báo đó. Do vậy thông tin đấu thầu không thể đến
với các nhà thầu tiềm năng.

12
Theo quy định, Ngân hàng Thế giới yêu cầu việc đấu thầu cạnh tranh quốc
tế (ICB) phải thông báo mời thầu công khai trên tờ báo “Development Business”
của Liên Hợp Quốc. Ngân hàng WB quy định: “Việc thông báo đúng lúc về các cơ
hội đấu thầu cực kỳ quan trọng trong đấu thầu cạnh tranh. Đối với các dự án mua
sắm theo thể thức ICB, bên vay phải chuẩn bị và nộp cho Ngân hàng một dự thảo
Thông báo chung về mua sắm. Ngân hàng sẽ thu xếp việc đăng thông báo đó trên
báo “Development Business” của Liên Hợp Quốc.
Theo quy định của Ngân hàng ADB, quảng cáo và thông báo mời thầu phải
đảm bảo cơ hội cạnh tranh cho các nhà thầu thuộc tất cả các nước thành viên của
ADB và do đó phải được thu xếp để đăng tải công khai trên tạp chí “Cơ hội kinh
doanh ADB” của Ngân hàng cũng như một tờ báo lưu hành rộng rãi trong nước của
bên vay.
Ngoài ra, Ngân hàng Thế giới còn quy định rõ “Mọi người dự thầu đều phải
được cung cấp những thông tin như nhau và phải cùng được đảm bảo cơ hội bình
đẳng trong việc nhận thông tin bổ sung kịp thời. Bên vay phải tạo điều kiện thuận
lợi cho những người có thể dự thầu đến thăm địa điểm dự án”
1.4.2. Thùc tiÔn c«ng t¸c ®Êu thÇu t¹i ViÖt Nam trong nh÷ng n¨m qua
Đất nước ta chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường nhiều
thành phần có sự quản lý của nhà nước. Đây là một bước ngoặt trong quá trình phát

triển. Nhiều dự án có rất nhiều phương án thực hiện. Trên thị trường có rất nhiều
đơn vị đủ năng lực để thực hiện một cách tốt nhất dự án đó. Vấn đề là chủ đầu tư
chọn ai là người có thể thỏa mãn tối đa các yêu cầu của mình. Với nhu cầu đó của
thị trường mà Quy chế đấu thầu năm 1996 và sau này là Luật đấu thầu năm 2005 ra
đời để hướng dẫn các bộ ngành, địa phương và cơ sở thực hiện công tác đấu thầu.
Công tác đấu thầu tuy mới triển khai trong thời gian ngắn, nhưng đạt được những
thành tựu đáng khích lệ. Việc vận dụng các nguyên tắc và trình tự theo quy chế đấu
thầu ban hành đã và đang được các bộ, ngành, địa phương và cơ sở hết sức quan
tâm và quán triệt thực hiện. Nhờ vậy mà số gói thầu được thực hiện đấu thầu trong
những năm qua có tăng.

13
Trước đây ở các công trình xây dựng cơ bản giá quyết toán thường vượt dự
toán, vượt tổng mức đầu tư được duyệt ban đầu. Nhưng qua đấu thầu, nhờ tính toán kỹ
lưỡng trong bước lập hồ sơ và có giá xét thầu khống chế, có sự cạnh tranh của các bên
dự thầu nên giá trúng thầu chỉ bằng hoặc thấp hơn giá xét thầu. Qua một thời gian thực
hiện công tác đấu thầu lựa chọn nhà thầu ở nước ta, bình quân mỗi công trình tiết kiệm
được cho ngân sách nhà nước khoảng 13% vốn ước tính ban đầu. Chỉ riêng năm 1997
con số này đã tới 1.244 tỷ đồng, năm 1998 tiết kiệm được 1.254 tỷ đồng. Đây là chỉ
tiêu thể hiện rõ nhất của việc xem xét công tác đấu thầu.
Nói chung trong thời gian nói qua, sau khi có Quy chế đấu thầu tiền thân của
Luật đấu thầu thì hoạt động đấu thầu diễn ra tương đối thuận lợi đảm bảo tính công
bằng, khoa học và đạt được những yêu cầu về thể thức thủ tục, thời gian. Trên thực
tế, hoạt động đấu thầu đã chứng tỏ sự cần thiết trong nền kinh tế thị trường, mang lại
lợi ích kinh tế thiết thực cho các chủ đầu tư cũng như các nhà thầu thắng cuộc. Đồng
thời cũng tiết kiệm được nguồn vốn cho xã hội. Điển hình là công trình xây dựng
đường cao tốc Láng-Hoà Lạc, với sự tham gia của các nhà thầu trong nước, thực tế đã
cho thấy tỷ lệ giảm chi phí đáng kể. Ví dụ: như gói thầu số 10 (km27-km30) cho kết
quả cuối cùng với giá trúng thầu là 6,94 tỷ đồng trong khi giá ước tính ban đầu là
17,1 tỷ đồng. Chính vì vậy có thể nói rằng từ khi có Quy chế đấu thầu, Luật đấu thầu

ra đời thì công tác đấu thầu triển khai khá tích cực và nghiêm túc, đặc biệt là những
dự án xây dựng, công tác đấu thầu được điển hình về mặt thực hiện. Tuy nhiên trong
quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, ngoài các yếu tố tiến bộ còn ẩn dấu những tiêu cực,
phổ biến nhất là trường hợp bên A và bên B móc ngoặc với nhau. Công tác chuẩn bị
đấu thầu thường mất nhiều thời gian. Công việc này nhiều đơn vị chuẩn bị chưa tốt,
nhiều ban quản lý dự án chưa đủ trình độ đảm bảo cho đấu thầu diễn ra khách quan,
cách đánh giá hồ sơ dự thầu không dự tính được các trường hợp xảy ra, không đánh
giá hết được năng lực của nhà thầu khiến cho tiến độ thi công chậm, chất lượng công
trình không đảm bảo gây bức xúc trong nhân dân, thiệt hại về kinh tế của đất nước.
Hiện nay, trong ngành xây dựng tồn tại ba hình thức lựa chọn nhà thầu. Tuỳ
theo điều kiện cụ thể đối với mỗi dự án mà chủ đầu tư có thể chọn một trong ba
hình thứ đó. Các hình thức đó là:

14
- Đấu thầu rộng rãi : là hình thức đấu thầu không hạn chế số lượng nhà thầu
tham gia. Chủ đầu tư thông báo rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng và
ghi rõ các điều kiện đối với các đơn vị dự thầu để các đơn vị xem xét đủ điều kiện
thì đến tham gia dự thầu. Đối với những gói thầu lớn, phức tạp về công nghệ, kỹ
thuật, bên mời thầu phải tiến hành sơ tuyển lựa chọn nhà thầu có năng lực.
Hình thức này có ưu điểm khuyến khích cạnh tranh cao của nhiều nhà thầu.
Tính đa dạng trong các cuộc mời thầu đã làm tăng sự hấp dẫn đối với các đối tượng
cạnh tranh đấu thầu. Các nhà thầu luôn đưa ra các giải pháp đạt tiêu chuẩn chất lượng
cao với chi phí thấp nhất. Tuy nhiên số lượng nhà thầu tham gia không hạn chế nên
có thể có nhà thầu chưa thực hiện đủ năng lực vẫn tham gia dự thầu. Mặt khác do số
lượng nhà thầu đông sẽ mất nhiều thời gian và chi phí cho việc tổ chức.
- Đấu thầu hạn chế : là hình thức đấu thầu mà bên mời thầu chỉ mời một số
nhà thầu có đủ năng lực đáp ứng các yêu cầu của dự án, nhưng ít nhất phải có 3 nhà
thầu tham gia.
Hình thức này có ưu điểm là các nhà thầu tham gia đấu thầu là những nhà
thầu thực sự có đủ năng lực về mọi mặt, đáp ứng đủ yêu cầu của chủ đầu tư. Công

tác tổ chức đấu thầu mất ít thời gian và chi phí hơn so với tổ chức đấu thầu rộng rãi.
Tuy nhiên hạn chế số lượng nhà thầu cũng hạn chế một phần sự đa dạng trong cạnh
tranh giữa các nhà thầu.
- Chỉ định thầu: Đây là hình thức đặc biệt, bên mời thầu chỉ thương thảo
hợp đồng với một nhà thầu do người có quyền quyết định đầu tư chỉ định, nếu
không đạt yêu cầu mới thương thảo hợp đồng với nhà thầu khác.
Theo điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng, các dự án đầu tư sử dụng vốn nhà
nước áp dụng hình thức chỉ định thầu là:
- Dự án có tính chất nghiên cứu thử nghiệm.
- Dự án có tính cấp bách do thiên tai, dịch họa.
- Dự án có tính chất bí mật quốc gia, an ninh quốc phòng.
- Một số dự án đặc biệt được thủ tướng chính phủ phê duyệt.

15
Hình thức này có ưu điểm là chọn được ngay nhà thầu có đủ năng lực thực hiện
công việc của dự án. Nhưng nó làm triệt tiêu tính cạnh tranh giữa các nhà thầu và hơn
nữa nhà thầu được chọn chưa chắc là đưa ra được phương án tốt nhất cho dự án.
Trong đề tài nghiên cứu này, tác giả đi sâu vào nghiên cứu hình thức đấu
thầu rộng rãi, trên phương diện là chủ đầu tư tổ chức đấu thầu nhằm lựa chọn nhà
thầu có đủ năng lực tham gia thực hiện dự án.
Một vấn đề khác mà công tác đấu thầu cần quan tâm, đó là vấn đề đấu thầu của
các dự án liên doanh. Đây là lĩnh vực mà kinh nghiệm của chúng ta còn hạn hẹp. Trong
thời gian vừa qua, việc tổ chức xây dựng kế hoạch đấu thầu cũng như tổ chức đấu thầu
của một dự án liên doanh chưa thật đáp ứng theo quy định và những yêu cầu của công
tác đấu thầu. Việc chuẩn bị đấu thầu và công tác tổ chức đấu thầu một dự án liên doanh
hết sức sơ sài và lúng túng. Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do bên liên
doanh chưa thích ứng kịp với quy chế đấu thầu của ta còn mới mẻ với họ. Mặt khác kết
quả đấu thầu cũng chưa thật sự như mong muốn, trong phần lớn các trường hợp, các
nhà thầu trúng thầu thường là các nhà thầu thuộc các nước mà bên liên doanh xuất xứ.
Trừ các gói thầu san nền và các gói thầu xây dựng nhỏ. Trong các trường hợp đấu thầu

quốc tế, tuy các bên liên doanh có tổ chức đấu thầu rộng rãi nhưng có thể một phần do
những yêu cầu đặc biệt đối với gói thầu nên kết quả trúng thầu thường là các nhà thầu
có liên quan của các bên liên doanh nước ngoài. Giá trị trúng thầu do các bên liên
doanh trong một số trường hợp cao hơn ghi trong giấy phép đầu tư. Một số do tình hình
thực tế biến động một số bên liên doanh đã tiến hành điều chỉnh vốn đầu tư trong giấy
phép đầu tư để phù hợp với kết quả đấu thầu. Vấn đề cần làm rõ báo cáo nghiên cứu
khả thi và các quy định trong giấy phép đầu tư là hết sức quan trọng để đẩy nhanh các
hoạt động đấu thầu.
Bên cạnh đó phương pháp đánh giá hồ sơ dự thầu chưa thật phù hợp với các
tài liệu hướng dẫn cũng như thông lệ về đấu thầu. Một số dự án liên doanh chuẩn bị
và thực hiện công tác đấu thầu hợp lý, thì vẫn còn một số trường hợp việc chuẩn bị
đánh giá và áp dụng phương pháp đánh giá chưa thật phù hợp với thông lệ đấu thầu.
Đó là các trường hợp sau khi bỏ thầu các bên liên doanh thường phải tiến hành đàm
phán hoặc là cắt giảm các hạng mục cho phù hợp với tổng mức đầu tư đã được phê

16
duyệt, hoặc đàm phán giá một số khoản mục. Việc đàm phán để giảm giá tuy có đạt
được mức giá đáng kể so với giá bỏ thầu ban đầu, nhưng nếu tiếp tục thực hiện theo
hướng này sẽ không có hiệu quả mà có thể dẫn đến những việc tiêu cực trong quá
trình đàm phán với các nhà thầu. Do vậy trong thời gian tới các Bộ ngành, đơn vị
chủ quản cần quan tâm hơn nữa đến công tác đấu thầu. Để kết quả đấu thầu của các
dự án liên doanh đạt kết quả tốt.
1.4.3 Những tồn tại ảnh hưởng tới công tác đấu thầu xây dựng
a, Vấn đề của đơn vị tổ chức đấu thầu
Hiện nay, ở một số bộ ngành, địa phương việc thực hiện công tác đấu thầu
còn tùy tiện mang tính hình thức.
Công tác chuẩn bị đấu thầu chưa tốt còn gặp nhiều vướng mắc
- Công tác chuẩn bị HSMT và tiêu chuẩn đánh giá là bước quan trọng trong quá
trình đấu thầu, song trong nhiều trường hợp do chuẩn bị không tốt hoặc việc phê duyệt
còn đơn giản nên đã có nhiều vướng mắc như: HSMT được chuẩn bị một cách chung

chung, mập mờ gây khó hiểu cho nhà thầu cũng như cho việc đánh giá; khối lượng đưa
ra sai lệch so với thiết kế; cũng như có trường hợp tiêu chuẩn đánh giá không đủ rõ,
không phù hợp với HSMT. Chất lượng của HSMT và tiêu chuẩn đánh giá là những
nguyên nhân cơ bản đã làm cho quy trình đánh giá HSDT kéo dài, thiếu cơ sở tin cậy
để ra quyết định phê duyệt kết quả đấu thầu đồng thời gây ra những thắc mắc khiếu nại.
Một số gói thầu cỡ vài chục triệu USD mở thầu từ cuối năm 1999, đầu năm 2000
nhưng tới nay vẫn chưa được quyết định kết quả đấu thầu. Trong một số trường hợp, sự
tham gia của các cấp có trách nhiệm và thẩm quyền chưa đáp ứng yêu cầu của quy chế
đấu thầu đã lảm ảnh hưởng tới kết quả đấu thầu. Tuy nhiên chưa có những phát hiện về
những tiêu cực cụ thể ở các ngành và địa phương, nhưng đang tồn tại nhiều dạng vi
phạm quy chế đấu thầu trong quá trình tổ chức đấu thầu và xét thầu. theo phản ảnh của
một số dịa phương, việc áp dụng hình thức đấu thầu hạn chế ở một số dự án có sự sắp
đặt từ trước, quy định điều kiện dự thầu có lợi cho nhà thầu nào đó, có hiện tượng
“quân xanh, quân đỏ”…

17
- Cán bộ chuyên gia thiếu kinh nghiệm , năng lực chưa đáp ứng nên một số
gói thầu cho đến nay vẫn chưa có quyết định trúng thầu. Một số cơ quan quản lý
thiếu kiểm tra phê duyệt kế hoạch cũng như kết quả đấu thầu.
Đối với tất cả các khiếm khuyết trên thì chất lượng của HSMT và tiêu chuẩn
đánh giá là nguyên nhân làm cho quá trình đấu thầu kéo dài thiếu tin cậy, gây nhiều
thắc mắc.
Khâu chấm thầu trong một số dự án còn chậm, đánh giá không thống nhất.
Nhiều dự án thuộc bộ ngành, địa phương vẫn thực hiện theo hình thức đấu thầu hạn
chế và chỉ định thầu, hoặc thực hiện hai túi hồ sơ, từ đó làm hạn chế hiệu quả công
tác đấu thầu. Mặt khác, do Luật đấu thầu còn có một số tồn tại, do vậy khi triển khai
thực hiện còn khá nhiều nơi vận dụng còn tùy tiện như quy định thời hạn đóng thầu
không hợp lý (quá ngắn) đánh giá thầu theo phương pháp đánh giá chấm điểm, đánh
giá thầu không theo phương pháp tiêu chuẩn đánh giá đã được cấp có thẩm quyền
chấp thuận.

Việc sử dụng tư vấn trong đấu thầu còn nhiều bất cập
Trong các dự án có vốn tài trợ nước ngoài, phía Việt Nam hầu như phải sử
dụng dịch vụ tư vấn của nhà tài trợ như ADB, WB… việc trả lương cho các chuyên
gia này thường rất cao, chiếm một phần không nhỏ trong tổng số vốn tài trợ. Các
dịch vụ tư vấn này không phải tất cả là của ngân hàng, của nhà tài trợ mà phần lớn
họ được nhà tài trợ giới thiệu, lựa chọn giúp.
Nhiều dự án khi có vấn đề chủ đầu tư tìm lại các tổ chức cung ứng dịch vụ tư
vấn thì các tổ chức tư vấn nói trên đã không còn nữa. Nhưng sử dụng tư vấn của
chính mình thì phía Việt Nam lại gặp không ít khó khăn. Một mặt do trình độ, kinh
nghiệm của các nhà tư vấn Việt Nam còn hạn chế, mặt khác lại bị ràng buộc bởi các
Hiệp định cho vay và sử dụng vốn. Khi đàm phán ký kết hợp đồng với chuyên gia
nước ngoài phải hết sức thận trọng và quy định phải chặt chẽ, rõ ràng để có cơ sở
ràng buộc trách nhiệm sau này.
Vấn đề về vốn và đơn giá trong đấu thầu
Một thực trạng vẫn còn tồn tại là các gói thầu sử dụng vốn ngân sách nhà
nước. Hầu hết mọi công trình sử dụng vốn ngân sách đều lâm vào tình trạng kế

×