Tải bản đầy đủ (.doc) (47 trang)

Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng huy động vốn tại ngân hàng NN và PTNT chi nhánh Thanh trì

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (298.45 KB, 47 trang )

Báo cáo thực tập giữa khóa 2011
LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển chung của nền kinh tế và hệ thống Ngân hàng, Ngân hàng
Nông nghiệp và phát triển nông thôn cũng đã không ngừng phát triển và ngày càng khẳng
định mình là một bộ phận không thể thiếu của nền kinh tế. Bằng lượng vốn huy động
được trong xã hội thông qua nghiệp vụ huy động vốn, Ngân hàng Nông nghiệp và phát
triển nông thôn đã cung cấp một lượng vốn lớn cho mọi hoạt động kinh tế, đáp ứng các
nhu cầu vốn một cách nhanh chóng, kịp thời cho quá trình tái sản xuất. Nhờ đó mà hoạt
động sản xuất kinh doanh của các thành phần trong nền kinh tế được diễn ra một cách
thuận lợi. Do vậy, trong thời gian tới, để phát huy hơn nữa vai trò của mình và đồng thời
đáp ứng cho sự phát triển chung của nền kinh tế cũng như cho chính bản thân hệ thống
Ngân hàng thì việc huy động vốn cho kinh doanh trong tương lai chắc chắn sẽ được đặt
lên hàng đầu đối với các tổ chức tài chính, các Ngân hàng thương mại nói chung và Ngân
hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn nói riêng.
Nhận thức được tầm quan trọng đó, với những kiến thức đã được học ở trường,
cùng với những kiến thức thu nhận được trong thời gian kiến tập, tìm hiểu tình hình thực
tế tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn – chi nhánh Thanh Trì, em đã
mạnh dạn chọn đề tài “Vấn đề huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển
nông thôn - chi nhánh Thanh Trì” làm báo cáo thực tập giữa khóa cho mình.
Ngoài lời mở đầu, kết luận, kết cấu của bài báo cáo gồm ba phần như sau:
Chương I: Tổng quan về ngân hàng thương mại và hoạt động huy động vốn của
ngân hàng thương mại.
Chương II: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển
nông thôn - chi nhánh Thanh Trì.
Chương III: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng huy động
vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn - chi nhánh Thanh Trì
Để hoàn thành bài báo cáo này em xin chân thành cảm ơn sự chỉ bảo nhiệt tình của
tập thể cán bộ phòng Kế toán ngân quỹ và các phòng ban có liên quan tại Ngân hàng
1
Báo cáo thực tập giữa khóa 2011
Nông nghiệp và phát triển nông thôn – chi nhánh Thanh Trì, đặc biệt em xin cảm ơn ThS


Nguyễn Ngọc Lan đã dành thời gian hướng dẫn em trong quá trình viết báo cáo. Do thời
gian nghiên cứu cũng như kiến thức thực tế không nhiều, bài viết của em còn những thiếu
sót nhất định. Em rất mong được sự góp ý và chỉ bảo của cô.
Em xin chân thành cảm ơn!
2
Báo cáo thực tập giữa khóa 2011
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG
VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
I. Tìm hiểu chung về Ngân hàng thương mại
1. Khái niệm về Ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là một loại Ngân hàng trung gian, ở mỗi nước có một cách
định nghĩa riêng về Ngân hàng thương mại.
Luật Ngân hàng của Đan Mạch năm 1930 định nghĩa: “Những nhà băng thiết yếu
gồm các nghiệp vụ ký thác, buôn bán vàng bạc, hành nghề thương mại và các giá trị địa
ốc, các phương tiện tín dụng và hối phiếu, thực hiện các nghiệp vụ chuyển ngân, đứng ra
bảo hiểm ”. Ở Pháp, năm 1941 các nhà kinh tế cho rằng: “Ngân hàng là những xí
nghiệp hay cơ sở nào hành nghề thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký
thác hay hình thức khác, các số tiền mà họ dùng cho chính họ và các nghiệp vụ chứng
khoán tín dụng hay dịch vụ tài chính”. Hay như ở Ấn Độ, luật Ngân hàng năm 1950 và
được bổ sung năm 1959 đã nêu: "Ngân hàng là cơ sở nhận các khoản tiền ký thác để cho
vay, tài trợ, đầu tư"
Ở Việt Nam, theo Điều 20 Luật tổ chức tín dụng (số 07/1997/QHX) được Quốc
hội thông qua tháng 12 năm 1997 có nêu: “Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức
tín dụng thực hiện toàn bộ hoạt động kinh doanh khác có liên quan”. Trong đó “Hoạt
động Ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng với nội dung
thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch
vụ thanh toán”.
Mỗi khái niệm có sự khác nhau nhưng đều khẳng định rằng Ngân hàng là một
doanh nghiệp đặc biệt hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ. Nhiệm vụ thường

xuyên và chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng và cam kết hoàn trả lại đúng số tiền đó
cộng thêm một khoản tiền lãi, sử dụng số tiền này cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh
toán cùng một số nghiệp vụ khác.
3
Báo cáo thực tập giữa khóa 2011
Hoạt động kinh doanh tiền tệ chịu nhiều ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế, xã hội,
chính trị, tâm lý…, đồng thời đến lượt mình, Ngân hàng có khả năng tác động trở lại
những yếu tố này. Không thể phủ nhận rằng, nền kinh tế của một nước chỉ phát triển ổn
định và bền vững khi có chính sách tài chính - tiền tệ đúng đắn và hệ thống Ngân hàng
hoạt động đủ mạnh, có khả năng thu hút tập trung các nguồn vốn và phân bổ hợp lý
nguồn vốn đó vào các ngành sản xuất kinh doanh.
2. Vai trò của Ngân hàng thương mại đối với nền kinh tế
Theo tổ chức và mục tiêu hoạt động của các loại hình ngân hàng, hiện nay hệ
thống Ngân hàng Việt Nam bao gồm hai cấp: Ngân hàng thương mại và Ngân hàng
Trung ương, Ngân hàng thương mại ra đời với tính chất là nhận tiền gửi, sử dụng vào
nhiệm vụ cho vay, chứng khoán và các dịch vụ khác của ngân hàng, ngày càng thể hiện
rõ vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế. Với chức năng của mình, Ngân hàng
thương mại giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế thể hiện qua các nội dung sau:
2.1 Ngân hàng thương mại là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế.
Thực tế cho thấy, để phát triển kinh tế các đơn vị kinh tế cần phải có một lượng
vốn lớn đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác. Với vai trò cầu
nối, Ngân hàng thương mại đứng ra huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi ở mọi tổ
chức, cá nhân, mọi thành phần kinh tế rồi cung cấp vốn cho mọi hoạt động kinh tế, đáp
ứng nhu cầu vốn một cách kịp thời cho quá trình sản xuất. Nhờ có hoạt động của hệ
thống Ngân hàng thương mại và đặc biệt là hoạt động tín dụng, các doanh nghiệp, cá
nhân có điều kiện mở rộng sản xuất, cải tiến máy móc, công nghệ để tăng năng suất lao
động, nâng cao hiệu quả kinh tế và chất lượng sản phẩm cho xã hội.
2.2 Ngân hàng thương mại hỗ trợ Nhà nước trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh
tế.
Các Ngân hàng thương mại thực hiện đúng chức năng của mình để hướng tới mục

tiêu lợi nhuận cho chính Ngân hàng đồng thời đã góp phần thực hiện các mục tiêu của
chính sách tiền tệ quốc gia như ổn định giá cả, kiềm chế lạm phát, tạo việc làm và tăng
trưởng kinh tế. Ngân hàng thương mại ngày càng phát huy được vai trò công cụ đòn bẩy
4
Báo cáo thực tập giữa khóa 2011
của nó trong việc thực thi chính sách tiền tệ tín dụng, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nền
kinh tế theo những mục tiêu đã hoạch định.
2.3 Ngân hàng thương mại góp phần phân bổ, điều hòa vốn giữa các ngành,
các vùng trong nền kinh tế quốc dân, do đó tạo nên sự phát triển nhanh giữa các vùng
trong một nước.
Để tạo cân bằng về vốn giữa các ngành, vùng trong nền kinh tế, ngân hàng thương
mại sẽ đứng ra thực hiện chức năng của mình, thu hút vốn thừa ở các ngành, vùng có
nhiều nguồn vốn nhàn rỗi rồi chuyển sang các ngành, vùng đang có nhu cầu sử dụng vốn.
2.4 Ngân hàng thương mại góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp và là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường.
Tín dụng ngân hàng là nguồn vốn chủ yếu bổ sung vốn lưu động (ngắn hạn) cho
các tổ chức kinh tế mua nguyên vật liệu để tiến hành sản xuất kinh doanh và hoạt động
ngân hàng đã góp phần làm biến đổi các điều kiện sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của các
chủ thể kinh tế theo hướng tối ưu, nhất là đảm bảo các yếu tố “đầu vào” và “đầu ra” qua
một hệ thống đồng bộ về vốn.
2.5 Ngân hàng thương mại là cầu nối giữa các nước, thúc đẩy phát triển ngoại
thương, công nghiệp và các ngành có liên quan.
Một trong các điều kiện quan trọng góp phần thúc đẩy sự hội nhập nền kinh tế
quốc gia với nền kinh tế thế giới đó là nền tài chính quốc gia. Nền tài chính quốc gia là
cầu nối với nền tài chính quốc tế thông qua hoạt động của Ngân hàng thương mại trong
các lĩnh vực kinh doanh như nhận tiền gửi, cho vay, nghiệp vụ thanh toán, nghiệp vụ
ngoại hối và các nghiệp vụ khác. Đặc biệt là các hoạt động thanh toán quốc tế, buôn bán
ngoại hối, quan hệ tín dụng với các ngân hàng Nhà nước của Ngân hàng thương mại đã
trực tiếp hoặc gián tiếp tác động góp phần thúc đẩy hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu
và thông qua đó Ngân hàng thương mại đã thực hiện vai trò điều tiết tài chính trong nước

phù hợp với sự vận động của nền tài chính quốc tế.
2.6 Những vai trò cụ thể khác
5
Báo cáo thực tập giữa khóa 2011
Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu sau hơn hai mươi năm tiến hành đổi mới,
trong đó không thể không nhắc đến vai trò hết sức quan trọng của hệ thống Ngân hàng.
Những đổi mới của Ngân hàng được coi là khâu đột phá, có những đóng góp tích cực cho
nền kinh tế như:
Thứ nhất, đóng vai trò quan trọng trong việc đẩy lùi và kiềm chế lạm phát, từng
bước duy trì sự ổn định giá trị đồng tiền và tỷ giá, góp phần cải thiện kinh tế vĩ mô, môi
trường đầu tư và sản xuất kinh doanh.
Thứ hai, góp phần thúc đẩy hoạt động đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh và
hoạt động xuất nhấp khẩu. Đây là kết quả tác động nhiều mặt của đổi mới hoạt động ngân
hàng, nhất là những cố gắng của ngành ngân hàng trong việc huy động các nguồn vốn
trong nước cho đầu tư phát triển, trong việc đổi mới chính sách cho vay và cơ cấu tín
dụng theo hướng căn cứ chủ yếu vào tính khả thi và hiệu quả của từng dự án, từng lĩnh
vực ngành nghề để quyết định cho vay. Dịch vụ ngân hàng cũng phát triển cả về chất
lượng và chủng loại, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh.
Thứ ba, tín dụng ngân hàng đã đóng góp tích cực cho việc duy trì sự tăng trưởng
kinh tế với nhịp độ cao trong nhiều năm liên tục. Với dư nợ cho vay nền kinh tế chiếm
khoảng 35-37% GDP, mỗi năm hệ thống ngân hàng đóng góp trên 10% tổng mức tăng
trưởng của cả nước.
Thứ tư, đã hỗ trợ có hiệu quả trong việc tạo việc làm mới và thu hút lao động, góp
phần cải thiện thu nhập và giảm nghèo bền vững. Thông qua nguồn vốn tín dụng cho các
chương trình và dự án phát triển sản xuất kinh doanh, hàng năm hệ thống ngân hàng đã
góp phần tạo thêm được nhiều việc làm mới, nhất là tại các vùng nông thôn. Việc sử
dụng vốn ngân hàng cho mục đích này ngày càng có tính chuyên nghiệp, minh bạch và
hiệu quả, nhất là từ khi tín dụng chính sách được tách bạch với tín dụng thương mại và
giao cho Ngân hàng chính sách xã hội đảm nhiệm.
Thứ năm, góp phần tích cực vào việc bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo phát

triển bền vững. Đóng góp này được thể hiện qua công tác thẩm định dự án, quyết định
6
Báo cáo thực tập giữa khóa 2011
cho vay vốn ngân hàng cho các dự án và giám sát thực hiện một cách chặt chẽ sau khi
cho vay.
3. Một số nghiệp vụ cơ bản của Ngân hàng thương mại.
Ngân hàng thương mại hiện đại hoạt động với ba nghiệp vụ chính đó là nghiệp vụ
huy động vốn, nghiệp vụ tín dụng và nghiệp vụ cung ứng dịch vụ ngân hàng như: dịch vụ
tư vấn, thanh toán hộ, giữ hộ… Ba nghiệp vụ này có quan hệ mật thiết, tác động hỗ trợ
thúc đẩy nhau cùng phát triển, tạo nên uy tín và thế mạnh cạnh tranh cho NHTM. Các
nghiệp vụ này đan xen lẫn nhau trong quá trình hoạt động của ngân hàng, tạo nên một
chỉnh thể thống nhất trong quá trình hoạt động kinh doanh của NHTM.
3.1 Nghiệp vụ huy động vốn
Nghiệp vụ này phản ánh quá trình hình thành vốn cho hoạt động kinh doanh của
NHTM, cụ thể bao gồm các nghiệp vụ sau:
3.1.1 Nghiệp vụ tiền gửi
Đây là nghiệp vụ phản ánh hoạt động của Ngân hàng nhận các khoản tiền gửi từ
các doanh nghiệp nhằm mục đích thanh toán hoặc bảo quản tài sản. Ngoài ra, NHTM
cũng có thể huy động khoản tiền nhàn rỗi của các cá nhân hay các hộ gia đình được gửi
vào Ngân hàng với mục đích bảo quản hoặc hưởng lãi trên số tiền gửi.
3.1.2 Nghiệp vụ phát hành các giấy tờ có giá
Các NHTM phần lớn sử dụng nghiệp vụ này để thu hút các nguồn vốn có thời hạn
tương đối dài và ổn định, nhằm đảm bảo khả năng đầu tư, khả năng cung cấp đủ các
khoản tín dụng trung và dài hạn cho nền kinh tế. Hơn nữa nghiệp vụ này còn giúp các
NHTM giảm thiểu rủi ro và tăng cường tính ổn định vốn trong hoạt động kinh doanh.
3.1.3 Nghiệp vụ đi vay
Nghiệp vụ đi vay được các NHTM sử dụng thường xuyên nhằm mục đích tạo vốn
kinh doanh cho mình bằng việc vay các tổ chức tín dụng trên thị trường tiền tệ và vay
Ngân hàng nhà nước dưới các hình thức tái chiết khấu hay vay có đảm bảo… Trong đó
7

Báo cáo thực tập giữa khóa 2011
các khoản vay từ NHNN chủ yếu nhằm tạo sự cân đối trong điều hành vốn của bản thân
NHTM khi mà nó không tự cân đối được nguồn vốn.
3.1.4 Nghiệp vụ huy động vốn khác
Ngoài ba nghiệp vụ huy động vốn cơ bản kể trên, NHTM còn có thể tạo vốn kinh
doanh cho mình thông qua việc nhận làm đại lý ủy thác cho các tổ chức, cá nhân trong và
ngoài nước. Đây là khoản vốn huy động không thường xuyên của NHTM, thường để
nhận được khoản vốn này đòi hỏi các ngân hàng phải lập ra các dự án cho từng đối tượng
hoặc nhóm đối tượng phù hợp với đối tượng các khoản vay.
3.2 Nghiệp vụ tín dụng
Đây là nghiệp vụ phản ánh quá trính sử dụng vốn của NHTM vào các mục đích
khác nhau nhằm đảm bảo an toàn kinh doanh cũng như tìm kiếm lợi nhuận. Nghiệp vụ tài
sản có bao gồm các nghiệp vụ cụ thể sau:
3.2.1 Nghiệp vụ ngân quỹ
Nghiệp vụ này phản ánh các khoản vốn của NHTM được dùng vào mục đích
nhằm đảm bảo an toàn về khả năng thanh toán hiện thời cũng như khả năng thanh toán
nhanh của NHTM và thực hiện quy định về dự trữ bắt buộc do NHNN đề ra.
3.2.2 Nghiệp vụ cho vay
Đây có thể nói là nghiệp vụ quan trọng bậc nhất trong hoạt động quản lý tài sản có
của NHTM. Nghiệp vụ này đóng góp phần lớn lợi nhuận trong quá trình hoạt động kinh
doanh của Ngân hàng. Thông qua nghiệp vụ này Ngân hàng cung cấp các khoản tín dụng
ngắn, trung và dài hạn cho các thành phần trong nền kinh tế, thúc đẩy nền kinh tế phát
triển.
3.2.3 Nghiệp vụ đầu tư tài chính
Bên cạnh nghiệp vụ tín dụng, các NHTM còn dùng số vốn huy động được từ dân
cư, từ các tổ chức kinh tế - xã hội để đầu tư vào nền kinh tế dưới các hình thức như: hùn
vốn, góp vốn…và trực tiếp thu lợi nhuận từ các khoản đầu tư đó.
8
Báo cáo thực tập giữa khóa 2011
3.3 Nghiệp vụ cung ứng dịch vụ

Ngoài các nghiệp vụ cơ bản nêu trên, trong hoạt động kinh doanh, các NHTM còn
tiến hành các hoạt động kinh doanh khác trên thị trường như: kinh doanh ngoại tệ, vàng
bạc và đá quý, thực hiện dịch vụ tư vấn, dịch vụ ngân quỹ, nghiệp vụ ủy thác và đại lý…
và các dịch vụ khác liên quan đến hoạt động ngân hàng như: dịch vụ bảo quản giấy tờ có
giá, dịch vụ cho thuê két sắt, dịch vụ cầm đồ… Cùng với sự phát triển của nền kinh tế
hàng hóa và đặc biệt là trong nền kinh tế theo cơ chế thị trường, hoạt động ủy nhiệm thu,
ủy nhiệm chi, chuyển tiền qua ngân hàng ngày càng được mở rộng và phát triển. Các
ngân hàng đã không ngừng áp dụng những tiến bộ trong công nghệ, kết hợp với uy tín
kinh doanh của ngân hàng làm cho nghiệp vụ này ngày càng thay đổi về chất.
II. HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NHTM
1. Các hình thức huy động vốn của NHTM
1.1 Huy động vốn bằng tiền gửi không kỳ hạn
Tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền gửi khách hàng gửi vào ngân hàng mà khách
hàng không có thoả thuận trước về thời gian rút tiền. Ngân hàng phải trả một mức lãi suất
thấp hoặc không phải trả một lãi cho số tiền gửi này. Bởi vì, tiền gửi không kỳ hạn của
khách hàng rất biến động, khách hàng có thể rút ra bất kỳ lúc nào, do đó ngân hàng
không chủ động sử dụng số vốn này, ngân hàng phải dự trữ một số tiền để đảm bảo có thể
thanh toán ngay khi khách hàng có nhu cầu.
Đối với khách hàng, việc gửi tiền vào tài khoản này với mục đích chủ yếu là thanh
toán và chi trả cho các hoạt động kinh doanh, các hoạt động dịch vụ phát sinh một cách
thường xuyên. Nên việc dễ dàng chuyển nhượng, dễ dàng thanh toán được xem là yếu tố
rất quan trọng, còn việc hưởng lãi với khoản tiền gửi này chỉ là thứ yếu. Do đó, loại tiền
gửi này còn được gọi là tiền gửi theo yêu cầu, nó không đem lại lợi tức cao cho người
gửi. Ngược lại, đối với NHTM thì đây lại là một khoản vốn huy động với mức chi phí
thấp nhất trong tất cả các khoản vốn huy động được khác. Ngân hàng chỉ phải bỏ ra
những khoản chi phí thấp nhất trong tất cả các khoản vốn huy động được khác. Ngân
9
Báo cáo thực tập giữa khóa 2011
hàng chỉ phải bỏ ra những khoản chi phí nhỏ về quản lý tài khoản hoặc trả lãi (nếu có thì
cũng rất nhỏ) bù lại là được sử dụng một phần lớn làm vốn kinh doanh.

Tuy nhiên, vốn tiền gửi không kỳ hạn lại là khoản vốn có sự biến động nhiều nhất,
số dư của khoản vốn này tăng giảm phụ thuộc vào tình hình sản xuất kinh doanh của
người gửi tiền. Do vậy, NHTM chỉ có thể sử dụng hiệu quả nguồn vốn này khi và chỉ khi
đưa ra được các dự đoán về sự biến động số dư trên tài khoản tiền gửi này một cách
chính xác.
1.2 Huy động vốn bằng tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm
Khác với tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm là hai loại
tiền gửi có tính ổn định cao hơn, chi phí hoạt động và quản lý cao hơn, hơn nữa hai loại
tiền gửi này lại có độ nhạy cảm cao về lãi suất nên trong quá trình huy động cũng có
những điểm khác biệt.
1.2.1 Huy động vốn bằng tiền gửi có kỳ hạn
Đây là loại tiền gửi trong đó đã có sự thỏa thuận giữa người gửi tiền và Ngân hàng
về lãi suất và thời hạn rút tiền. Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi tương đối ổn định vì
ngân hàng xác định được thời gian rút tiền của khách hàng để thanh toán cho khách hàng
đúng thời hạn. Do đó ngân hàng có thể chủ động sử dụng số tiền gửi đó vào mục đích
kinh doanh trong thời gian ký kết. Đối với loại tiền gửi này, ngân hàng có rất nhiều loại
thời hạn từ 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng mục đích là tạo cho khách hàng có được nhiều kỳ
hạn gửi phù hợp với thời gian nhàn rỗi của khoản tiền mà họ có. Chính vì là loại tiền gửi
mà ngân hàng có quyền sử dụng nó trong thời gian nhất định nên loại tiền gửi này được
trả lãi suất cao hơn lãi suất tiền gửi không kỳ hạn.
1.2.2 Huy động vốn bằng tiền gửi tiết kiệm
Tiền gửi tiết kiệm là loại tiền gửi mà khách hàng gửi vào ngân hàng nhằm hưởng
lãi. Vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm thường chiếm một tỷ trọng tương đối lớn trong cơ
cấu tiền gửi vào Ngân hàng.
Đối với tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Là khoản tiền gửi có thể rút ra bất cứ lúc
nào song không được sử dụng các công cụ thanh toán để chi trả cho người khác. Số dư
10
Báo cáo thực tập giữa khóa 2011
tiền gửi này không lớn, nhưng ít biến động, vì vậy đối với loại tiền gửi này các Ngân
hàng thương mại thường trả lãi suất cao hơn với tiền gửi thanh toán.

Đối với tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Là khoản tiền gửi có sự thoả thuận về thời
gian gửi và rút tiền, có mức lãi suất cao hơn so với tiền gửi không kỳ hạn. Loại hình tiết
kiệm này khá quen thuộc ở Việt Nam, các Ngân hàng thương mại Việt Nam thường huy
động tiết kiệm với thời hạn phong phú từ một tháng đến một năm.
Đối với tiền gửi tiết kiệm dài hạn: Đây là loại tiền gửi phổ biến ở một số nước
công nghiệp. Loại tiết kiệm này có tính ổn định cao bởi vì thời gian gửi tiền từ một năm
trở lên, do đó ngân hàng chủ động sử dụng nguồn vốn này, nó tạo cho ngân hàng có tính
chủ động sử dụng vốn cho mục đích vốn dài hạn. Để thu hút vốn này, ngân hàng thường
phải trả lãi suất cao.
1.3 Huy động vốn qua đi vay
Đây là nguồn vốn mà Ngân hàng thương mại có được nhờ thông qua quan hệ vay
mượn giữa Ngân hàng thương mại với Ngân hàng Nhà nước hoặc các Ngân hàng thương
mại với nhau hay với các tổ chức tín dụng khác.
1.3.1 Vay từ Ngân hàng Nhà nước
Hiện nay, hầu hết các quốc gia đều cho phép NHTM và các tổ chức tài chính khác
trong nước mình được phép vay tiền từ NHNN trong những trường hợp cấp thiết như:
thiếu hụt dự trữ hoặc quá kẹt về vốn. Tuy nhiên để giữ ổn định giá trị đồng nội tệ cũng
như ngăn chặn sự lạm dụng của các NHTM trong việc vay vốn, NHNN thường không
cho các NHTM vay quá nhiều, khi đó NHNN thường nâng mức lãi suất chiết khấu, lãi
suất phạt lên cao hoặc đưa ra những điều kiện vay mà các NHTM không đáp ứng được.
Tuỳ theo mục đích sử dụng và hình thức vay vốn, các Ngân hàng thương mại có thể vay
Ngân hàng Nhà nước các loại vốn: Vốn vay ngắn hạn bổ sung vốn ngắn hạn còn thiếu
của Ngân hàng thương mại hoặc vốn vay để thanh toán giữa các ngân hàng nhằm bù đắp
những thiếu hụt tạm thời trong thanh toán, hoặc các Ngân hàng thương mại mang các
giấy tờ có giá đến Ngân hàng Nhà nước xin tái chiết khấu (tái cấp vốn).
11
Báo cáo thực tập giữa khóa 2011
1.3.2 Vay từ các ngân hàng và các tổ chức tài chính khác
Vốn đi vay là nguồn vốn mà ngân hàng chịu chi phí cao hơn vốn huy động vì vậy
chỉ trong trường hợp ngân hàng thiếu vốn khả dụng trong thời gian ngắn nào đó thì ngân

hàng mới tìm đến các Ngân hàng thương mại khác và các tổ chức tín dụng khác trên thị
trường để thoả mãn nhu cầu vốn khả dụng.
1.4 Huy động vốn qua phát hành công cụ nợ
Các NHTM có thể phát hành các loại công cụ nợ ra thị trường để huy động vốn
như: chứng chỉ tiền gửi ngân hàng có mệnh giá lớn, trái phiếu, kỳ phiếu… Trong đó, việc
huy động vốn bằng các công cụ nợ ngắn hạn (gồm có chứng chỉ tiền gửi, giấy thỏa thuận
mua lại…) có ý nghĩa quan trọng trong việc quản lý tài sản nợ bên cạnh việc huy động
vốn, bởi vì nó có thể được sử dụng mọi lúc khi cần thiết.
Mức lãi suất được trả cho các loại công cụ nợ ngắn hạn này thường được quy định
bằng cách thỏa thuận trực tiếp giữa ngân hàng và người gửi tiền hoặc được qui định ở
mức mà người gửi có thể chấp nhận được. Có thể nói, những người mua chứng chỉ tiền
gửi này rất nhạy cảm với những biến động của lãi suất trên thị trường. Do vậy, để có thể
làm chủ được nguồn vốn này đòi hỏi các NHTM phải đưa ra các mức lãi suất cao hơn so
với mức lãi suất của các loại chứng chỉ tiền gửi khác hoặc cũng có thể cao hơn cả mức lãi
suất của trái phiếu.
1.5 Các hình thức huy động vốn khác
Ngoài các hình thức huy động vốn trên, NHTM cũng có thể sử dụng những hình
thức huy động vốn khác để thu hút nguồn vốn nhàn rỗi dân cư, từ nền kinh tế thông qua
các hoạt động ủy thác về dịch vụ xã hội như: dịch vụ câu lạc bộ, hoặc đứng ra làm dịch
vụ đại lý phát hành chứng khoán cho các công ty, làm trung gian thanh toán, qua đó ngân
hàng có thể sử dụng một lượng vốn tạm thời nhàn rỗi đáng kể trong quá trình thu hộ hoặc
chi hộ khách hàng.
2. Vai trò của huy động vốn tại các Ngân hàng thương mại
2.1 Vai trò của huy động vốn đứng trên góc độ Ngân hàng thương mại
12
Báo cáo thực tập giữa khóa 2011
Góp phần mang lại nguồn vốn cho ngân hàng thực hiện các hoạt động kinh doanh
khác.
Thông qua nghiệp vụ huy động vốn ngân hàng có thể đo lường được uy tín cũng
như sự tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng.

Huy động vốn còn là tiền đề để ngân hàng phát triển các sản phẩm, dịch vụ khác.
2.2 Vai trò của huy động vốn đứng trên góc độ khách hàng
Cung cấp cho khách hàng một kênh tiết kiệm và đầu tư làm cho tiền của họ sinh
lợi, tạo cơ hội cho họ có thể gia tăng tiêu dùng trong tương lai.
Cung cấp cho khách hàng một nơi an toàn để cất trữ và tích lũy vốn tạm thời nhàn
rỗi.
Giúp khách hàng tăng thu nhập qua việc trả lãi của Ngân hàng.
Giúp cho khách hàng có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ khác của ngân hàng, đặc
biệt là dịch vụ thanh toán qua ngân hàng và dịch vụ tín dụng khi khách hàng cần vốn cho
sản xuất, kinh doanh hoặc cần tiền cho tiêu dùng.
2.3 Vai trò của huy động vốn đối với nền kinh tế
Điều tiết được lượng tiền tệ lưu thông trong nền kinh tế, giúp ổn định thị trường
tiền tệ, kiểm soát được lạm phát.
Huy động vốn giúp tăng vốn để phát triển kinh tế
Giúp phát triển thị trường tài chính, ví dụ như kỳ phiếu, trái phiếu trở thành hàng
hóa trên thị trường chứng khoán.
3. Các yếu tố tác động đến hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại
3.1 Các yếu tố khách quan
3.1.1 Yếu tố pháp lý
Các hoạt động kinh doanh của Ngân hàng cũng như bất kỳ ngành nghề kinh doanh
nào đều chịu sự kiểm soát chặt chẽ của pháp luật. Hoạt động huy động vốn cũng không
13
Báo cáo thực tập giữa khóa 2011
nằm ngoài phạm vi đó. Nó chịu sự tác động trực tiếp của các luật như luật các tổ chức tín
dụng, luật ngân hàng nhà nước, các văn bản pháp lý về ngân hàng, chính sách tài chính
tiền tệ, chính sách tỷ giá, đầu tư… trong đó quy định về việc phát hành trái phiếu, kỳ
phiếu của ngân hàng, tỷ lệ huy động so với vốn tự có, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu…nhằm
đảm bảo an toàn, bình đẳng cho mọi tổ chức hoạt động dịch vụ ngân hàng, góp phần nâng
cao chất lượng dịch vụ, giảm chi phí, tăng khả năng tự bảo vệ trước cạnh tranh quốc tế
trong quá trình hội nhập.

3.1.2 Yếu tố chính trị
Tình hình chính trị ổn định hay bất ổn, chính sách ngoại giao mở rộng hay thu hẹp
và các quan hệ hợp tác song phương, đa phương đều ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động
của ngân hàng thương mại trong đó có công tác huy động vốn. Chính trị ổn định, chính
sách ngoại giao mở rộng kích thích đầu tư nước ngoài, tăng cường hợp tác với các nước
có nền kinh tế phát triển, tạo cơ hội thiết lập quan hệ với các tổ chức tài chính lớn như
IMF, WB, ADB, ngân hàng đầu tư Bắc Âu… từ đó đem lại cho ngân hàng nhiều thời cơ
và thách thức mới.
3.1.3 Yếu tố kinh tế
Động thái của nền kinh tế chính là cơ sở đầu tiên để người gửi tiền ra quyết định
đầu tư vào ngân hàng, tích trữ vàng, ngoại hối hay đầu tư vào tài sản khác. Trong điều
kiện kinh tế bất ổn, lạm phát cao, người dân có xu hướng tích trữ vàng, mua các ngoại tế
hoặc đầu tư bất động sản nhằm mục đích an toàn tài sản. Ngược lại, nền kinh tế phát triển
ổn định với tỷ lệ lạm phát hợp lý thì người dân có cái nhìn khả quan hơn và có xu hướng
gửi tiền vào ngân hàng làm cho nguồn vốn trong ngân hàng được tăng lên.
3.1.4 Yếu tố văn hóa- xã hội
Các yếu tố thói quen, tập quán, tâm lý cũng ảnh hưởng phần nào đến hoạt động
huy động vốn. Chính vì vậy các ngân hàng cần quan tâm đến các hoạt động Marketing,
quảng cáo… giúp người dân hiểu đúng và sâu hơn về vai trò và chức năng của ngân
hàng.
14
Báo cáo thực tập giữa khóa 2011
3.2 Các yếu tố chủ quan
3.2.1 Uy tín của ngân hàng
Người dân thường chọn những ngân hàng có uy tín tốt để gửi tiền hay sử dụng các
dịch vụ với mong muốn an toàn và tiện lợi nhất, thậm chí họ có thể chấp nhận lãi suất
thấp hơn các ngân hàng khác. Các tổ chức tín dụng sẽ chấp nhận cho vay các ngân hàng
có danh tiếng, uy tín tốt, luôn kinh doanh có lãi và có khả năng trả được nợ đúng hạn, do
đó không làm gián đoạn đến việc sử dụng vốn của tổ chức mình.
3.2.2 Lãi suất huy động vốn

Lãi suất được coi là nhân tố chủ yếu và quan trong nhất ảnh hưởng đến hoạt động
huy vốn của hầu hết hệ thống ngân hàng. Nhiều nhà nghiên cứu kinh tế hoàn toàn có cơ
sở khi cho rằng: Lãi suất là giá của việc huy động vốn mà các Ngân hàng khi huy động
vốn phải trả cho các cá nhân, doanh nghiệp mà Ngân hàng có quan hệ tín dụng.
Ngân hàng nào có chính sách lãi suất tốt sẽ thu hút được lượng vốn lớn không chỉ
trong tầng lớp dân cư mà trong tất cả các thành phần của nền kinh tế.
Ngân hàng có chính sách lãi suất hợp lý, có tính cạnh tranh cũng như có sự đa
dạng trong các hình thức huy động sẽ tạo được niềm tin của khách hàng trong hoạt động
tín dụng với Ngân hàng.
3.2.3 Các hình thức huy động vốn
Khách hàng gửi tiền vào ngân hàng với nhiều mục đích khác nhau, có người vì
mục đích đảm bảo an toàn, có người gửi chủ yếu lấy lãi để chi tiêu, có người gửi tiền vào
ngân hàng để đồng vốn ngày càng được sinh sôi nảy nở Vì thế họ có những hình thức
gửi tiền cũng như lấy lãi khác nhau, có thể là 1, 2, 3, 4, 6, 9 tháng hoặc lâu hơn. Do vậy
để có thể huy động được nhiều vốn trong dân cư, các ngân hàng thương mại phải đa dạng
hóa các hình thức huy động.
Tuy nhiên, việc đa dạng hóa các hình thức huy động vốn sẽ làm cho công tác quản
lý cũng như chi phí huy động vốn của ngân hàng tăng lên, đòi hỏi NHTM phải tìm cho
mình được những mô hình quản lý và sử dụng vốn hợp lý, đảm bảo tính thanh khoản, tiết
15
Báo cáo thực tập giữa khóa 2011
kiệm chi phí huy động nhưng vẫn phải đảm bảo nguyên tắc là: nguồn vốn có tính ổn định
càng cao thì lãi suất huy động cũng phải cao.
3.3 Các dịch vụ cung ứng
Sản phẩm dịch vụ ngân hàng có chất lượng tốt, phong phú, thuận tiện cho khách
hàng sẽ tăng khả năng huy động vốn của ngân hàng đó.
3.4 Các nhân tố khác
• Sự cạnh tranh của các Ngân hàng hoạt động trên thị trường
Sự tác động của nền kinh tế thị trường đã ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động của hệ
thống Ngân hàng. Các ngân hàng luôn luôn phải đa dạng các hình thức huy động vốn để

thu hút khách hàng. Ngoài ra các ngân hàng cần không ngừng tăng chất lượng hoạt động
tín dụng, tăng số lượng phòng giao dịch và gia tăng các hình thức huy động với các tỷ lệ
lãi suất cạnh tranh.
• Các nhân tố thuộc nội bộ Ngân hàng
Những yếu tố như chiến lược kinh doanh của ngân hàng, quy mô vốn tự có, cơ sở
vật chất kỹ thuật, trang thiết bị của ngân hàng ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động huy
động vốn và uy tín của ngân hàng.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG NÔNG
NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN – CHI NHÁNH THANH TRÌ
I. Giới thiệu về Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn – chi nhánh Thanh
Trì
1. Lịch sử hình thành và phát triển của chi nhánh
16
Báo cáo thực tập giữa khóa 2011
NHNo&PTNT Thanh Trì được thành lập vào tháng 9/1988. Sau một thời gian dài
là chi nhánh cấp 2 trực thuộc NHNo&PTNT Hà Nội, tháng 6/1998 NHNo&PTNT Thanh
Trì đã trở thành chi nhánh cấp 1, trực thuộc trực tiếp NHNo&PTNT Việt Nam, theo
Quyết định số 198/1998/QĐ-NHNN5 ngày 2/6/1998 của Thống đốc Ngân hàng Nhà
nước.
Từ một cơ sở ban đầu thiếu thốn nhiều mặt, đến hết năm 2009 NHNo&PTNT chi
nhánh Thanh Trì đã có 9 cơ sở, gồm: Hội sở (Chi nhánh cấp 1), 8 phòng giao dịch với
tổng số 231 cán bộ nhân viên (không kể các nhân viên hợp đồng ngắn hạn).
Khách hàng chủ yếu của ngân hàng là hộ sản xuất gia đình làm nông nghiệp, ngoài
ra còn có các doanh nghiệp, hộ kinh doanh, viên chức, cán bộ hưu trí Với đối tượng
khách hàng đa dạng như vậy nên khối lượng công việc tín dụng là rất lớn, vì vậy
NHNo&PTNT Thanh Trì đã căn cứ vào đặc điểm này đển xây dựng hệ thống mô hình tổ
chức, mạng lưới hoạt động phù hợp.
NHNo&PTNT Thanh Trì cũng xác định ngoài việc cho vay vốn để người dân
trong địa bàn phát triển kinh tế hộ gia đình thì việc cho vay các Doanh nghiệp nhỏ và vừa

cũng ngày càng được quan tâm mở rộng. Đây là một hướng đầu tư mới góp phần mở
rộng thị phần trong các sản phẩm ngân hàng.
2. Cơ cấu tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông
thôn – chi nhánh Thanh Trì
2.1 Bộ máy tổ chức của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi
nhánh Thanh Trì
Sơ đồ 1: Bộ máy tổ chức của chi nhánh NHNo&PTNT Thanh Trì
17
Báo cáo thực tập giữa khóa 2011
2.2 Chức năng của các bộ phận
Ban giám đốc
- Giám đốc: Phụ trách chung và trực tiếp chỉ đạo các phòng ban và các phòng giao
dịch trực thuộc.
- Phó giám đốc: được sự uỷ quyền hàng năm của giám đốc phụ trách các phòng ban
và các phòng giao dịch trực thuộc về một số công tác.
Các phòng chức năng
- Phòng kế hoạch kinh doanh:
Nhiệm vụ chủ yếu của phòng là:
18
GIÁM ĐỐC
PHÓ GIÁM
ĐỐC
PHÓ GIÁM
ĐỐC
PHÓ GIÁM
ĐỐC
PHÒNG
HÀNH
CHÍNH
NHÂN

SỰ
P. KIỂM
TRA
KIỂM
TOÁN
NỘI BỘ
P. KẾ
HOẠCH
KINH
DOANH
P. KẾ
TOÁN
NGÂN
QUỸ
CÁC PHÒNG GIAO DỊCH TRỰC THUỘC
P. KINH
DOANH
NGOẠI
HỐI
PHÒNG
KIỂM
SOÁT
Báo cáo thực tập giữa khóa 2011
+ Thống kê báo cáo nguồn vốn kế hoạch
+ Tìm kiếm, tiếp cận khách hàng để mở rộng cho vay, đảm nhiệm các nghiệp vụ tín
dụng phát sinh, thực hiện các chủ trương, cơ chế về công tác tín dụng.
+ Liên kết để mở rộng thị phần tín dụng đồng thời triển khai các hợp đồng này cho
toàn hệ thống thực hiện.
+ Trực tiếp đi thẩm định các dự án có quy mô vừa và lớn, thu thập thông tin.
+ Thực hiện các nghiệp vụ khác như: Bảo lãnh…

- Phòng kế toán ngân quỹ:
Đảm nhiệm cả hai công việc: Kế toán nội bộ và kế toán giao dịch.
Kế toán nội bộ
+ Thực hiện công tác kế toán và quản lý chi tiêu nội bộ như chi trả lương cho cán bộ
nhân viên…
+ Báo cáo tổng hợp thu chi hàng tháng, hàng quý và cả năm với Ban giám đốc.
Kế toán giao dịch
+ Xử lý các giao dịch như: nhận tiền gửi của các doanh nghiệp, cá nhân, các tổ chức
kinh tế, xã hội…
+ Thực hiện các nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt như ủy nhiệm thu, ủy
nhiệm chi, séc chuyển khoản, séc bảo chi…
+ Tổ chức ghi chép một cách đầy đủ, chính xác, kịp thời từng nghiệp vụ kinh tế phát
sinh về các nghiệp vụ huy động vốn và sử dụng vốn.
+ Tổ chức thanh toán bù trừ và thanh toán liên ngân hàng.
+ Lập bảng cân đối ngày, tuần, tháng, quý, năm và gửi báo cáo lên ngân hàng cấp
trên.
- Phòng hành chính nhân sự:
+ Xây dựng và triển khai thực hiện các nội quy, quy chế của Ngân hàng.
19
Báo cáo thực tập giữa khóa 2011
+ Thực hiện các vấn đề nhân sự như chi trả lương, BHXH, nghỉ phép…
+ Tham mưu cho Ban điều hành trong việc xây dựng và thực hiện kế hoạch tuyển
dụng đào tạo, bồi dưỡng và quản lý nguồn nhân lực toàn hệ thống.
+ Tổ chức thực hiện các công tác hành chính quản trị phục vụ cho hoạt động nghiệp
vụ của ngân hàng.
+ Trực tiếp thực hiện công tác quản lý hành chính văn phòng theo đúng quy định.
+ Thực hiện công tác hậu cần và chịu trách nhiệm đảm bảo an ninh cho hoạt động
của chi nhánh, đảm bảo điều kiện làm việc an toàn lao động cho cán bộ nhân viên.
- Phòng kiểm tra kiểm toán nội bộ:
+ Thực hiện công tác kiểm tra, giám sát các hoạt động của chi nhánh theo năm, quý

tháng.
+ Tham gia nghiên cứu, soạn thảo hoặc chỉnh sửa, bổ sung các quy trình, quy chế
nghiệp vụ của ngân hàng.
+ Kiểm tra nghiệp vụ của ngân hàng trong toàn hệ thống trên cơ sở các văn bản chế
độ của Ngân hàng Nhà nước và các quy trình, quy chế của ngân hàng.
+ Chịu trách nhiệm về việc bảo đảm tính pháp lý, trung thực, khách quan.
- Phòng kinh doanh ngoại hối:
+ Thanh toán xuất nhập khẩu bằng các phương thức: thư tín dụng chứng từ (L/C),
các hình thức thanh toán nhờ thu, chuyển tiền bằng điện.
+ Mua bán thu đổi các loại ngoại tệ: USD, EUR…
+ Thanh toán phi thương mại: chuyển tiền đến, chuyển tiền đi
+ Cầm cố, chiết khấu bộ chứng từ xuất khẩu.
+ Tài trợ ủy thác.
- Phòng kiểm soát:
20
Báo cáo thực tập giữa khóa 2011
+ Chức năng của phòng là tham mưu cho Giám đốc trong việc lập kế hoạch kiểm
soát việc chấp hành các chế độ, chính sách, các thể lệ, quy chế trong hoạt động tín
dụng, tiền tệ toàn chi nhánh.
+ Kiểm tra kết quả thực hiện các kế hoạch của các phòng chức năng trong toàn chi
nhánh để báo cáo cho giám đốc. Tiếp dân, tiếp nhận đơn từ khiếu nại tố cáo…, trình
giám đốc duyệt, theo dõi việc sửa chữa sai sót.
+ Làm nhiệm vụ thường trực ban chống tham nhũng, tham ô, lãng phí và thực hành
tiết kiệm tại đơn vị mình.
Các phòng giao dịch
Hiện nay chi nhánh đã có 8 phòng giao dịch trực thuộc:
+ Phòng giao dịch Lĩnh Nam, Phường Lĩnh Nam, Hoàng Mai
+ Phòng giao dịch Linh Đàm, Khu Bắc Linh Đàm, Hoàng Mai
+ Phòng giao dịch Đông Mỹ, xã Đông Mỹ, Thanh Trì
+ Phòng giao dịch Cầu Bươu, Thanh Trì

+ Phòng giao dịch Vạn Xuân, Khu Đền Lừ, Phường Hoàng Văn Thụ, Hoàng Mai
+ Phòng giao dịch Khương Đình, 18 Khương Hạ, Thanh Xuân
+ Phòng giao dịch Ngũ Hiệp, Ngũ Hiệp, Thanh Trì
+ Phòng giao dịch Tân Triều, Triều Khúc, Tân Triều
3. Kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh năm 2010
Với phương châm vì sự thịnh vượng, bền vững của khách hàng và ngân hàng, mục
tiêu của NHNo&PTNT Việt Nam là tiếp tục giữ vững vị trí ngân hàng thương mại hàng
đầu Việt Nam, tiên tiến trong khu vực và có uy tín cao trên trường quốc tế. Là chi nhánh
cấp 1, đứng trong hàng ngũ các ngân hàng Việt Nam, NHNo&PTNT chi nhánh Thanh
Xuân đã nỗ lực và cố gắng hết mình thực hiện mục tiêu chung và phấn đấu một cách độc
lập để ngày một nâng cao hiệu quả hoạt động của mình.
21
Báo cáo thực tập giữa khóa 2011
Chi nhánh Thanh Trì có địa bàn kinh doanh chủ yếu thuộc phía nam thủ đô Hà
Nội, là khu vực thuộc quy hoạch giãn dân của thủ đô nên có tốc độ đô thị hóa nhanh. Các
khu cụm công nghiệp đang hình thành và phát triển, cơ cấu kinh tế dịch chuyển từ nông
nghiệp sang công nghiệp – dịch vụ. Tình hình kinh tế xã hội trên địa bàn trong năm qua
đã có bước tăng trưởng ổn định. Kinh tế tăng trưởng từ 12-15%, an ninh chính trị - xã hội
tiếp tục được giữ vững. Kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh được thể hiện tóm
tắt trên bảng số liệu sau:
Bảng 1: Kết quả hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT chi nhánh Thanh
Trì giai đoạn 2007-2010
Đơn vị: tỷ đồng
Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2009 Năm 2008 Năm 2007
Tổng tài sản 2.004,357 1.915,949 1.609,930 1.659,566
Vốn huy động 1.591,817 1.532,748 1.287,296 1.391,473
Tổng dư nợ 891,623 813,165 681,089 731,539
LNTT 61,318 54,370 45,917 48,172
(Nguồn: Báo cáo thường niên của NHNo&PTNT chi nhánh Thanh Trì hàng năm)
Về vốn huy động: nguồn vốn huy động của chi nhánh luôn ổn định và chiếm tỷ

trọng cao trong tổng tài sản. Năm 2010 vốn huy động tăng 59,069 tỷ đồng so với năm
2009, tương đương 3,85%; tăng 304,521 tỷ đồng so với năm 2008, tương đương 23,66%,
chiếm 79,42% tổng tài sản. Tổng tài sản của ngân hàng cũng không ngừng tăng lên.
Về hoạt động tín dụng: tổng dư nợ tín dụng biến động tương tự các chỉ tiêu khác.
Năm 2010 tổng dư nợ đạt 891,623 tỷ đồng, chiếm 56,01% tổng vốn huy động, tăng
78,458 tỷ đồng so với năm 2009, tương đương 9,65%; tăng 210,534 tỷ đồng so với năm
2008, tương đương 30,91%.
Về lợi nhuận: ngân hàng đã gặt hái được kết quả kinh doanh khả quan trong điều
kiện khó khăn chung của nền kinh tế. Lợi nhuận trước thuế năm 2010 đạt 61,318 tỷ đồng,
tăng 6,948 tỷ đồng so với năm 2009, tương đương 12,78%; tăng 15,401 tỷ đồng so với
năm 2008, tương đương 33,54%.
22
Báo cáo thực tập giữa khóa 2011
II. Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi
nhánh Thanh Trì
1. Tổng quan về nguồn vốn của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn
chi nhánh Thanh Trì thời gian qua
Vốn huy động từ bên ngoài vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Thanh Trì, cũng như các ngân
hàng khác. Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn chủ yếu huy động vốn qua
tiền gửi, trong trường hợp đặc biệt ngân hàng huy động vốn bằng cách đi vay của các tổ
chức tín dụng khác để đáp ứng nhu cầu thanh khoản.
Trong những năm qua hoạt động huy động vốn của Ngân hàng Nông nghiệp và
phát triển nông thôn chi nhánh Thanh Trì đã đạt được những thành tích xuất sắc. Nguồn
vốn của Ngân hàng luôn dồi dào, năm nào cũng hoàn thành vượt mức kế hoạch đặt ra. Để
đạt được mục tiêu kinh doanh, tối đa hóa giá trị tài sản chủ sở hữu, lợi nhuận, với các chỉ
tiêu được xác định trên cơ sở nguồn thu nhập và chi phí, NHNo&PTNT chi nhánh Thanh
Trì đã khai thác tối đa nguồn vốn huy động từ bên ngoài và nâng cao hiệu suất sử dụng
vốn nhằm tăng cường quy mô tài sản sinh lời. Điều này được biểu hiện rõ qua sự biến
động nguồn vốn của NHNo&PTNT chi nhánh Thanh Trì trong thời gian qua:

BẢNG 2: NGUỒN VỐN TẠI NHNo&PTNT CHI NHÁNH THANH TRÌ
Đơn vị: Số dư: triệu đồng, Tỷ trọng: %
Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2009 Năm 2008 Năm 2007
Số dư
Tỷ
trọng
Số dư
Tỷ
trọng
Số dư
Tỷ
trọng
Số dư
Tỷ
trọng
1. Vốn huy động 1.591.817 79,42 1.532.748 80,00 1.287.296 79,96 1.391.473 83,85
+ Từ dân cư 1.310.163 65.37 1.235.829 64,50 1.065.121 66,17 1.162.209 70,03
+ Từ tổ chức kinh
tế xã hội
247.603 12.35 265.452 13,85 192.871 11,98 198.471 11,96
+ Từ các TCTD 34.051 1.70 31.467 1,65 29.304 1,81 30.793 1,86
23
Báo cáo thực tập giữa khóa 2011
2. Vốn của ngân
hàng
283.476 14,14 265.831 13,87 231.527 14,38 207.139 12,48
3. Nguồn khác 129.064 6,44 117.370 6,13 91.107 5,66 60.954 3,67
Nguồn vốn
2.004.357 100 1.915.949 100 1.609.930 100 1.659.566 100
(Nguồn: Báo cáo tổng kết chuyên đề nguồn vốn các năm 2007-2010)

Trong tổng nguồn vốn thì vốn huy động có quy mô lớn và chiếm tỷ trọng cao.
Năm 2008 cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu ảnh hưởng đến thu nhập của người dân
và nhiều doanh nghiệp bị đình trệ sản xuất, đặc biệt là các doanh nghiệp xuất khẩu khiến
doanh thu và lợi nhuận của nhiều doanh nghiệp giảm và nhiều người mất việc làm. Đây
là nguyên nhân khiến vốn huy động năm 2008 giảm so với năm 2007, từ 1.391,473 tỷ
năm 2007 xuống 1.287,296 tỷ năm 2008, giảm 7,49%. Đến năm 2009 khi nền kinh tế có
dấu hiệu phục hồi và việc Việt Nam vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng GDP ấn tượng đã
góp phần làm tăng đáng kể vốn huy động của chi nhánh, lên 1.532,748 tỷ, tăng 19,07%
so với năm 2008 và năm 2010 là 1.591,817 tỷ, tăng 3,85% so với năm 2009.
Chiếm tỷ trọng cao trong nguồn vốn huy động là tiền gửi từ dân cư, tiếp theo là từ
các tổ chức kinh tế xã hội. Vốn huy động từ các tổ chức tín dụng của chi nhánh chỉ chiếm
tỷ trọng nhỏ là do chi nhánh đảm bảo tốt tính thanh khoản, thu hút được lượng vốn lớn từ
dân cư và các tổ chức kinh tế xã hội. Vốn huy động từ các tổ chức tín dụng chủ yếu là
tiền gửi của các tổ chức tín dụng đó tại chi nhánh. Về cơ cấu thì vốn huy động từ dân cư,
các tổ chức kinh tế xã hội và tổ chức tín dụng biến động gần như tương tự với tổng vốn
huy động. Cụ thể tiền gửi của dân cư năm 2008 giảm 8,35% so với năm 2007, năm 2009
tăng 16,03% so với năm 2008 và năm 2010 tăng 6,01% so với năm 2009. Vốn huy động
từ các tổ chức kinh tế xã hội năm 2008 giảm 2,82% so với năm 2007, năm 2009 tăng
37,63% so với năm 2008, tuy nhiên năm 2010 lại giảm 6,72% so với năm 2009.
Dưới đây là thực trạng huy động vốn của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển
nông thôn chi nhánh Thanh Trì theo loại hình tiền gửi, theo kỳ hạn và theo nguồn huy
động.
2. Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng
24
Báo cáo thực tập giữa khóa 2011
2.1 Theo loại hình tiền gửi
Là ngân hàng hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn nên nguồn
vốn huy động chủ yếu là vốn nội tệ. Vốn nội tệ luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng vốn
huy động của Ngân hàng, là nguồn vốn chủ đạo đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn đầu tư
trong nước, cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh

và mở rộng sang cho vay cả các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Cơ cấu huy động vốn
theo đồng tiền được xác định cụ thể dưới bảng sau:
Bảng 3: Vốn VND và vốn ngoại tệ giai đoạn 2007-2010
Đơn vị: Số dư: triệu đồng, tỷ trọng: %
Chỉ tiêu
Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
Số dư
Tỷ
trọng
Số dư
Tỷ
trọng
Số dư
Tỷ
trọng
Số dư
Tỷ
trọng
Vốn VND 1.301.237 94,88 1.203.601 93,50 1.436.807 93,74 1.481.283 93,06
Vốn ngoại tệ 90.236 5,12 83.695 6,50 95.941 6,26 110.534 6,94
Tổng vốn huy
động
1.391.473 100,00 1.287.296 100,00 1.532.748 100,00 1.591.817 100,00
(Nguồn: Báo cáo tổng kết chuyên đề nguồn vốn các năm 2007-2010)
Trong giai đoạn này vốn VND và vốn ngoại tệ tăng trưởng không đều. Về qui mô,
cả hai nguồn này đều biến động giảm trong năm 2008 và tăng liên tục trở lại vào hai năm
2009 và 2010. Nguyên nhân đã được giải thích ở trên, đó là do cuộc khủng hoảng tài
25

×