Tải bản đầy đủ (.doc) (36 trang)

nghiên cứu đặc điểm hội chứng chuyển hóa theo các tiêu chuẩn khác nhau ở người tiền đái tháo đường tại ninh bình

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (254.22 KB, 36 trang )

1
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Hội chứng chuyển hóa là một nhóm các yếu tố nguy cơ về chuyển hóa
bao gồm thừa cân hay béo phì, kháng insulin, ít hoạt động thể chất, các yếu tố
di truyền. Hội chứng chuyển hóa là một chứng bệnh nghiêm trọng, những
người bị chứng bệnh này có nguy cơ cao hơn bị mắc những bệnh liên quan
đến sự tích tụ các chất béo trong thành động mạch. Những bệnh có tiên quan
đến Hội chứng chuyển hóa thường gặp là: bệnh động mạch vành, đột quỵ,
bệnh động mạch ngoại biên, đái tháo đường týp 2.
Ngày nay, khi các bệnh lây nhiễm từng bước được khống chế và đẩy lùi
thì các bệnh không lây đang dần trở thành gánh nặng cho xã hội và sức khỏe
của con người.Trong đó chứng bệnh Hội chứng chuyển hóa ngày càng trở nên
phổ biến hơn, tại Mỹ có tới 20 đến 25 phần trăm những người Mỹ trưởng
thành được cho là bị hội chứng này. Hội chứng này liên quan tới béo phì ở
vùng bụng và tính kháng insulin, góp phần làm tăng huyết áp, tăng
cholesterol, giảm HDL cholesterol và tăng đường huyết.
Nhiều nhiên cứu trên thế giới đã chỉ ra mối liên quan giữa hội chứng
chuyển hóa và bệnh đái tháo đường. Những người tiền đái tháo đường có tỷ lệ
rất cao mắc hội chứng chuyển hóa. Những người mắc hội chứng chuyển hóa
có khả năng rất cao bị rối loạn dung nạp đường máu hoặc mắc bệnh đái tháo
đường. Theo Reaven GM, người bị tiền đái tháo đường sẽ tăng nguy cơ bệnh
lý tim mạch và thường biểu hiện nhiều yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch,
đây là nhóm các yếu tố nguy cơ đã được gọi tên là HCCH. Theo Pirjo Ilanne,
Johna G, Eriksson và cộng sự, tỷ lệ HCCH theo tiêu chuẩn của WHO ở đối
tượng suy giảm glucose máu lúc đói ở nam là 74% và ở nữ là 52,2%, tỷ lệ
HCCH ở đối tượng rối loạn dung nạp glucose (IGT) ở nam là 84,8% và ở nữ
là 65,4%. Theo Isomaa B, Almgren và cộng sự, ĐTĐ týp2 và rối loạn dung
nạp glucose liên quan chặt chẽ với hội chứng chuyển hóa.
2
Hiện nay có nhiều tổ chức, tùy theo mục tiêu nghiên cứu của mình, đã


đưa ra các tiêu chuẩn để chẩn đoán hội chứng này như: tiêu chuẩn của nhóm
chuyên gia Tổ chức Y tế thế giới (WHO), tiêu chuẩn của Liên đoàn đái tháo
đường quốc tế (IDF), tiêu chuẩn của Nhóm nghiên cứu về kháng Insulin Châu
Âu (EGIR), tiêu chuẩn của ATP III năm 2001, tiêu chuẩn ATP III cập nhật
năm 2005 thuộc chương trình giáo dục Cholesterol quốc gia của Hoa Kỳ
(NCEP), tiêu chuẩn của các nhà Nội tiết học Lâm sàng Mỹ (AACE).
Ở Việt Nam, theo nghiên cứu của Viện dinh dưỡng Việt Nam ở 620 đối
tượng tuổi từ 25-64 cho thấy tỷ lệ mắc HCCH là 13,1%, riêng tại Hà Nội và
Thành phố Hồ Chí Minh là 18%. Theo Tô Viết Thuấn, Trần Hữu Dàng thì tỉ
lệ HCCH ở người tăng huyết áp là 53%, tỉ lệ hội chứng chuyển hóa trên nữ
cao hơn nam (tương ứng là 73 % Và 37 %).
Tuy nhiên, các nghiên cứu về HCCH ở người tiền đái tháo đường chưa
nhiều, nhất là nghiên cứu đánh giá về giá trị tiên lượng của các tiêu chuẩn
khác nhau về HCCH. Trong số các tiêu chuẩn về HCCH trên thế giới, tiêu
chuẩn nào có thể áp dụng cho đặc trưng của cộng đồng người Việt Nam? Để
can thiệp dự phòng đái tháo đường thành công cần phải tính đến nhiều yếu tố
tác động trong đó phải tính đến yếu tố về HCCH.
Nhằm có câu trả lời thêm về các vấn đề trên chúng tôi tiến hành đề tài
“Nghiên cứu đặc điểm hội chứng chuyển hóa theo các tiêu chuẩn khác nhau ở
người tiền đái tháo đường tại Ninh Bình”
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Nghiên cứu tỷ lệ Hội chứng chuyển theo các tiêu chuẩn của IDF,
NCEP-ATP III, EGIR, AACE ở người tiền đái tháo đường tại tỉnh Ninh Bình
1.2.2. Đánh giá diễn biến của HCCH theo các tiêu chuẩn khác nhau ở
nhóm người tiền ĐTĐ sau hai năm.
3
2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Khái niệm về hội chứng chuyển hóa
Morgagni là người đầu tiên trên thế giớ mô tả các dấu hiệu của hội
chứng chuyển hóa, ông nhận xét rằng “Xơ vữa mạch và béo tạng thường hay

gặp ở những người con nhà dòng dõi”. Ông mô tả đó là những người có đặc
điểm công việc là “làm việc nghiên cứu sách vở, có cuộc sống tĩnh tại, thời
gian ngồi làm việc nhiều hơn là vận động, người thường có những bữa ăn
thừa năng lượng”- tức là không phải ở những người lao động chân tay, không
phải người có hoạt động thể lực nặng.
Năm 1923, Kylin mô tả những dấu hiệu liên quan đến nhóm các triệu
chứng này như là một tập hợp gồm tăng huyết áp, tăng glucose máu và bệnh
Goutte.
Năm 1943, Vague đã chia béo phì ra làm 2 loại, béo “Gynoid” và
“Androi”: béo “Gynoid” được đặc trưng bởi sự tập trung của mô mỡ ở quanh
đùi và mông, trong khi béo androi đặc trưng bởi sự tập trung của mô mỡ ở
bụng, béo androi liên quan nhiều đến kháng insulin. Ông cũng nhấn mạnh sự
phối hợp giữa béo phì nhất là dạng béo kiểu nam (béo bụng) với rối loạn
chuyển hóa, bệnh tim mạch và đái tháo đường.
Việc tìm ra mối liên quan giữa các acid béo tự do (FFA) và nồng độ
insulin là những tiền đề quan trọng để người ta đưa ra khái niệm Hội chứng
chuyển hóa. Đồng thời người ta cũng đưa ra hàng loạt các khái niệm khác
được hoàn thiện như quá trình tiếp nhận glucose được insulin hoạt hóa,các
tiêu chuẩn về rối loạn chuyển hóa lipid, những tiêu chuẩn về tăng huyết áp…
Tất cả đã giúp cho ra đời khái niệm về “Hội chứng X – Hội chứng chuyển
hóa”.
Năm 1988, trong bài phát biểu của mình tại buổi nhận giải thưởng
Banting, Reaven sử dụng thuật ngữ “Hội chứng X” bao gồm một nhóm các
4
yếu tố nguy cơ của bệnh mạch vành như nồng độ insulin lúc đói cao, dung
nạp glucose kém, tăng huyết áp, giảm HDL, tăng VLDL và tăng Triglycerid,
và xác minh chắc chắn về tầm quan trọng về mặt lâm sàng của hội chứng này,
mặc dù không bao gồm yếu tố béo phì.
Năm 1989, Kaplan sử dụng thuật ngữ “Nhóm bộ tứ chết người” và các
tác giả sau đó sử dụng thuật ngữ “Hội chứng kháng Insulin”. Ngay từ khi mới

được công bố, hội chứng này đã gây ra nhiều tranh cãi trong giới y học. Thậm
chí có nhiều người đã từng đặt câu hỏi “hội chứng chuyển hóa có phải là sự
huyễn hoặc”.
Trong thực tế, hội chứng bao gồm một nhóm các triệu chứng và dấu
hiệu thường gặp trong các bệnh “có tính chất chuyển hóa” – nhất là nhóm
bệnh Nội tiết-Tim mạch. Các tên gọi và tiêu chuẩn được nhiều tác giả công
nhận là: Hội chứng chuyển hóa (Metabolic syndrome); Hội chứng rối loạn
chuyển hóa (Dysmetabolism syndrome); Hội chứng kháng insulin (Insulin
Resistance syndrome); Hội chứng X (X syndrome)
Cũng năm 1998, một nhóm các chuyên gia của WHO xác định vị trí
của hội chứng này và gọi là “Hội chứng chuyển hóa” và khuyến cáo không
nên gọi là “Hội chúng kháng insulin”. Ngày nay, Hội chứng chuyển hóa là
thuật ngữ đã được chấp nhận rộng rãi. Bản chất của HCCH là những rối loạn
chuyển hóa liên quan với các yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch và các RLCH
điển hình là bệnh CH glucose
Các yếu tố sinh bệnh học của hội chứng chuyển hóa
Hiện nay việc xác định cơ chế bệnh sinh của HCCH vẫn còn nhiều vấn
đề phức tạp, tranh cãi do HCCH có nhiều các yếu tố đan xen, liên quan lẫn
nhau như: béo phì, rối loạn hoạt động ở mô mỡ, kháng insulin lại vừa có
những yếu tố độc lập như bệnh lý phân tử ở gen, bệnh lý mạch máu, bệnh có
nguồn gốc miễn dịch. Sự phối hợp của các yếu tố như tuổi, tình trạng dễ viêm
nhiễm, sự thay đổi nồng độ hormon đều ảnh hưởng đến sự phát triển của
5
HCCH.
2.1.1. Yếu tố béo phì và hội chứng chuyển hóa
Gần đây HCCH được các nhà nghiên cứu trên thế giới rất quan tâm,
một trong những lý do là đại dịch béo phì và hậu quả của nó đang là gánh
nặng trên toàn thế giới.
Nhiều tiêu chuẩn chẩn đoán HCCH đều coi tăng vòng eo như một yếu tố
chính để chẩn đoán. Theo NCEP - ATP III thì béo phì như một yếu tố chính làm

tăng tỷ lệ hội chứng chuyển hóa, ít nhất là khía cạnh dịch tễ. Béo phì còn là yếu
tố thuận lợi góp phần làm tăng huyết áp, tăng nồng độ cholesterol máu, hạ thấp
nồng độ HDL-cholesterol, làm tăng nồng độ glucose máu. Tất cả những yếu tố
này kết hợp lại làm tăng nguy cơ bệnh lý tim mạch. Trong các thể loại béo phì,
thể béo bụng có liên quan với hội chứng chuyển hóa chặt chẽ hơn cả. Các mô
mỡ dư thừa là nguồn phóng thích vào tuần hoàn các acide béo không este hóa
(NEFA: nonesterified fatty acid); các cytokin; PAI-1 (plasiminogen activator
inhibitor-1) và adiponectin. Các yếu tố này đã làm tăng sự đề kháng insulin,
tăng khả năng gây viêm của lớp tế bào nội mô mạch máu, tạo thuận lợi cho
mảng xơ vữa hình thành và phát triển.
Béo phì và hội chứng chuyển hóa được đặc trưng bởi sự tụ hợp của các
bất thường, các yếu tố này là những nguy cơ chính của bệnh Đái tháo đường
typ 2 và bệnh tim mạch. Khi có đề kháng insulin, glucosse máu tăng do giảm
sử dụng glucose qua vai trò trung gian của insulin, insulin máu sẽ tăng để
chống lại sự tăng glucose máu. Đây là yếu tố trung tâm trong chu trình sinh
bệnh học đối với cả hội chứng chuyển hóa và đái tháo đường týp 2. Rối loạn
lipid máu gây xơ vữa mạch máu, là một thành phần quan trọng của nhóm các
bất thường đặc trưng của hội chứng chuyển hóa, bao gồm béo bụng, đề kháng
insulin (có hoặc không giảm dung nạp glucose), tăng huyết áp và tình trạng
tiền huyết khối, tiền viêm. Người ta cũng đã xác định 3 thành tố chính của rối
loạn lipid máu xảy ra trong đề kháng insulin: tăng Lipoprotein giàu Triglycerid
6
lúc đói và sau ăn, giảm HDL-Cholesterol, tăng phân tử LDL nhỏ đậm đặc.
2.1.2. Kháng insulin trong hội chứng chuyển hóa
Kháng insulin máu xảy ra khi tế bào không đáp ứng hoặc bản thân tế
bào chống lại sự tăng insulin máu. Ở hội chứng chuyển hóa, tuy người ta còn
tranh cãi nhiều về tính thống nhất của hội chứng này, nhưng lại đều thừa nhận
vai trò của kháng insulin có liên quan chặt chẽ, thậm chí có vai trò trung tâm
trong mối liên quan với các rối loạn khác trong hội chứng.
Vị trí hoạt động chính của insulin là ở cơ, xương, mô mỡ, gan và có thể

là hệ thống thần kinh trung ương. Ở cơ xương, insulin tăng vận chuyển
glucose, tăng oxy hóa glucose và các acid béo thông qua hoạt động của
enzym lipoprotein lipase, nhưng lại ức chế phân hủy lipid. Ở mô mỡ, insulin
tăng vận động chuyển hóa glucose và các acid béo thông qua hoạt động của
enzym lipoprotein lipase, nhưng lại ức chế phân hủy lipid. Ở gan, insulin ức
chế phân hủy glycogen, kích thích tạo mỡ và bài tiết VLDL-cholesterol.
Kháng insulin cùng với chuỗi chuyển hóa của nó gồm tăng glucose
máu, rối loạn chuyển hóa lipid, tăng huyết áp là những nguy cơ tiềm tàng đặc
biệt đối với bệnh lý tim mạch, bệnh mạch máu ngoại vi gây tỉ lệ tử vong cao.
Các nhà nghiên cứu đều thừa nhận rằng kháng insulin không phải là
nguyên nhân gây ra béo phì; nhưng kháng insulin có vai trò quan trọng trong
bệnh sinh của bệnh béo phì. Kháng insulin, tăng insulin máu còn là nguyên
nhân của nhiều yếu tố nguy cơ khác trong hội chứng chuyển hóa. Tỷ lệ mô
mỡ trong cơ thể tăng song hành với kháng insulin, đa số những người béo phì
đều có tăng insulin máu sau ăn và giảm nhạy cảm với insulin ở mô đích. Ở
một số quốc gia Châu Á, kháng insulin có thể có ngay ở những người thừa
cân, chưa béo phì. Nhiều nghiên cứu cho thấy có sự giảm số lượng các thụ thể
gắn insulin ở tế bào nhất là tế bào mỡ ở nhóm người bị béo phì. Hiện tượng
kháng insulin ở mô cơ vân xảy ra rõ rệt khi nồng độ acid béo không este hóa
(NEFA) tăng cao trong máu; khi các NEFA tăng đến mức độ nhất định còn
7
gây ra tích tụ mỡ ở gan.
Kháng insulin thúc đẩy nhanh sự tăng tạo ra các LDL-cholesterol,
Triglycerid, làm tăng các sản phẩm tạo glucose ở gan; hình thành và thúc đẩy
quá trình kháng insulin ở gan. Kháng insulin còn làm tăng nồng độ insulin (và
proinsulin) trong máu; gây ra hậu quả là làm tăng lượng PAI-1. Mac Gill đã
chứng minh ở người béo phì, nồng độ PAI-1 cao gấp 3 lần người bình thường.
Chính việc tăng bất thường nồng độ PAI-1 sẽ làm quá trình tiêu fibrin bị rối
loạn, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổn thương mạch máu dễ dàng hơn. Cuối
cùng, cũng chính insulin bằng nhiều cơ chế khác nhau đã góp phần làm tăng

huyết áp.
Nhiều tác giả cho rằng kháng insulin là yếu tố chính, yếu tố cốt lõi của
hội chứng chuyển hóa. Kháng insulin vừa là một yếu tố độc lập, vừa là yếu tố
liên kết các yếu tố khác để tạo ra hội chứng này; vì người bệnh có kháng
insulin lâu ngày sẽ gây ra hậu quả làm rối loạn dung nạp glucose, lúc này tăng
glucose máu lại là yếu tố nguy cơ gây ra bệnh lý mạch vành.
2.1.3. Các yếu tố liên quan trong hội chứng chuyển hóa
Tuổi
Tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa tăng theo tuổi, tỷ lệ này tăng nhanh ở lứa
tuổi trung niên. Nghiên cứu National Health anh Nutrition Examaination Survey
III (NHANES III,1988 đến 1994) khi đánh giá 8814 người trưởng thành ở Mỹ
cho thấy: tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa theo tiêu chuẩn ATP III - 2001 ở
lứa tuổi 20 đến 29 là 6,7% đã tăng vọt lên 43,5% ở lứa tuổi 60 đến 69, và
42% ở lứa tuổi trên 70), tỷ lệ chung là 22%.
Giới
Béo trung tâm thường gặp ở nam nhiều hơn nữ, hội chứng chuyển hóa
cũng gặp ở nam nhiều hơn. Nhiều tác giả cho rằng béo trung tâm là một yếu
tố quan trọng cấu thành hội chứng chuyển hóa. Wilson PW, D'Agostino RB,
Parise H, Sullivan L,Meigs JB, 2005 khi nghiên cứu hội chứng chuyển hóa
8
theo tiêu chuẩn ATP III ở 3323 người có tuổi từ 22 đến 81 không mắc bệnh
tim mạch và đái tháo đường tại thời điểm nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ mắc hội
chứng chuyển hóa là 26.8% đối với nam và 16,6% đối với nữ ở [62].
Dân tộc
Yếu tố chủng tộc cũng là một yếu tố nguy cơ độc lập của HCCH, vì thế
trong mọi khuyến cáo người ta đều khuyên người thầy thuốc thực hành phải
dựa vào các chỉ số nhân trắc và sinh học của dân tộc mình khi chẩn đoán và
đánh giá các bệnh về chuyển hóa.
Thừa cân, béo phì
Thừa cân, béo phì thường gặp ở người mắc hội chứng chuyển hóa. Tuy

nhiên, cần nhắc lại rằng chỉ số BMI, vòng eo, WHR, không chỉ phụ thuộc vào
đặc tính từng dân tộc mà còn phụ thuộc vào điều kiện, vào giai đoạn phát
triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc.
Chế độ ăn và mức độ hoạt động thể lực
Người ta đã chứng minh được chế độ ăn và mức độ hoạt động thể lực
có ảnh hưởng đến mức kháng insulin – yếu tố trung tâm, cơ bản trong hội
chứng chuyển hóa. Trong nhiều nghiên cứu người ta can thiệp vào chế độ ăn,
chế độ luyện tập đã làm giảm tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa.
Các yếu tố về gen
Ngày nay, người ta đã biết hội chứng chuyển hóa là hậu quả tương tác
giữa bệnh lý gen và yếu tố môi trường. Stride và Hattersley năm 2002 đã nói lên
tính phức tạp, đa dạng của các tổn thương gen trong hội chứng chuyển hóa.
2.2. Vai trò của HCCH trong các bệnh lý
Hội chứng chuyển hóa được xem là yếu tố nguy cơ của rất nhiều bệnh,
đặc biệt trong các bệnh nội tiết và rối loạn chuyển hóa.
9
2.2.1. Hội chứng chuyển hóa với bệnh đái tháo đường týp 2
Kháng insulin thường là yếu tố chỉ điểm dẫn tới đái tháo đường týp 2
trong tương lai. Nghiên cứu tiền cứu Paris ( Paris Prospective Study) với 5042
nam giới da trắng ở lứa tuổi trung niên cho thấy, những người có tình trạng
tăng insulin máu lúc đói, thường phát triển thành bệnh đái tháo đường týp 2
sau một thời gian, trung bình là 3 đến 4 năm. Nghiên cứu ở quần thể người
Micronesia (Nauru) cho thấy, ở những người có kháng insulin, nồng độ C-
peptid tăng song hành với nồng độ glucose huyết tương sau 2 giờ sau nghiệm
pháp tăng glucose máu bằng đường uống.
Dựa vào những kết quả nghiên cứu nhiều tác giả thừa nhận rằng tình
trạng kháng insulin có thể luôn kết hợp với bệnh đái tháo đường týp 2.
Nghiên cứu 714 người Mỹ gốc Mehico kéo dài trong 7 năm cũng đã chứng
minh mối liên quan chặt chẽ giữa tình trạng kháng insulin và đái tháo đường
týp 2.

2.2.2. Hội chứng chuyển hóa với bệnh tim mạch
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh mối liên quan chặt chẽ giữa tình trạng
kháng insulin – Hội chứng chuyển hóa – Bệnh lý tim mạch. Botnia nghiên
cứu 4.483 người, lứa tuổi 35-70 (sống ở Phần Lan và Thụy Sỹ), được xác
định là có hội chứng chuyển hóa – theo tiêu chuẩn của WHO, các tiêu chí để
chẩn đoán có bệnh tim mạch là có cơn đau thắt ngực, có nhồi máu cơ tim (cũ
hoặc mới), đột quỵ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ người mắc bệnh đái
tháo đường týp 2 thường gắn liền với tỷ lệ cao mắc những bệnh tim mạch.
Nghiên cứu Kuopio Ischmic Heart Disease Risk Factor Study tiến hành
ở 1209 nam giới Phần Lan không mắc bệnh đái tháo đường hoặc bệnh tim
mạch tại thời điểm nghiên cứu với thời gian theo dõi trung bình là 11,6 năm.
Kết quả cho thấy; tỷ lệ tử vong do bệnh mạch vành hoặc bệnh mạch máu khác
ở người có HCCH tăng cao gấp 3-4 lần so với quần thể.
Trong hội chứng chuyển hóa, đặc biệt là ở người đái tháo đường týp 2
10
kèm bệnh lý tim mạch, tình trạng tăng insulin máu và kháng insulin luôn có
vai trò trung tâm trong sinh bệnh học của bệnh lý tim mạch. Nghiên cứu tiến
cứu Pari ở 6903 nam giới lứa tuổi từ 43-53 cho thấy tình trạng tăng insulin
máu lúc đói có tiên lượng rất chặt chẽ tới nguyên nhân tử vong do bệnh mạch
vành. Cũng trong nghiên cứu này, người ta còn thấy tăng insulin máu lúc đói
còn là một yếu tố nguy cơ độc lập với các nguyên nhân tử vong khác.
2.2.3. Hội chứng chuyển hóa và bệnh lý động mạch vành
Đây là biến chứng đã được rất nhiều các nhà Tim mạch và Nội tiết học
quan tâm. Birhan Yilmaz M và cộng sự, khi nghiên cứu 306 bệnh nhân nhồi
máu cơ tim cấp không có ST chênh lên đã đưa ra nhận xét HCCH chiếm tỷ lệ
rất cao (49%), và mức độ lan tỏa tổn thương giữa nhóm có HCCH là lớn hơn
không có HCCH. Tần suất bị bệnh mạch vành ở bệnh nhân có HCCH cao gấp
2 lần bệnh nhân đái tháo đường đơn thuần. Đặc điểm tổn thương động mạch
vành ở bệnh nhân có HCCH là phức tạp, lan tỏa, và tổn thương nhiều nhánh
hơn so với bệnh nhân không có HCCH, tỷ lệ tử vong trong NMCTở bệnh

nhân có HCCH cũng cao hơn so với bệnh nhân không có HCCH.
2.2.4. Hội chứng chuyển hóa và bệnh mạch não
Tai biến mạch não là biến chứng thường gặp ở bệnh nhân có HCCH.
Có thể gặp do nhồi máu não hoặc chảy máu não. Tỷ lệ nhồi máu não gặp
nhiều hơn so với xuất huyết não (nhồi máu não chiếm 80%).
2.3. Các tiêu chuẩn chẩn đoán Hội chứng chuyển hóa
Hiện nay có nhiều tổ chức, xuất phát từ mục đích nghiên cứu của mình
để đưa ra những tiêu chuẩn riêng biệt, phục vụ cho mục tiêu phòng chống
bệnh tật mà nhóm đó theo đuổi. Song thực tế, ngoài phần đặc điểm riêng của
mình, họ đều có những tiêu chí chẩn đoán chung. Các tiêu chuẩn này có nhiều
điểm giống nhau, nhưng đồng thời chúng cũng thể hiện những điểm khác
nhau về vai trò của các yếu tố trong HCCH, tính thuận lợi trong thực hành
lâm sàng.
11
2.3.1. Tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới 1999
Để chẩn đoán xác định có hội chứng chuyển hóa, buộc phải có tiêu chí A
(một trong 4 điểm của A) thêm vào từ 2 điểm trở lên của tiêu chí B.
 Tiêu chí bắt buộc là kháng insulin (tiêu chí A): được xem là kháng
insulin khi có một trong các biểu hiện sau:
o Đái tháo đường týp 2
o Rối loạn dung nạp glucose máu
o Suy giảm dung nạp glucose lúc đói
o Glucose máu bình thường nhưng có kháng Insulin (đánh giá
bằng kỹ thuật kẹp Insulin).
 Các tiêu chí khác (tiêu chí B)
o Tăng huyết áp tâm thu ≥ 140mmHg và/hoặc tâm trương ≥90mmHg
o Rối loạn chuyển hóa lipid:
 Triglycerid (≥1,7mmol/l;150mg/dl) và/hoặc
 HDL-Cholesterol (<0.9mmol/l;35mg/dl đối với nam;
<1mmol/l;39mg/dl đối với nữ)

o Béo bụng ( nam: tỉ lệ vòng eo/vòng hông > 0,9; nữ: tỉ lệ vòng
eo/vòng hông > 0,85) và hoặc BMI > 27 với người Châu Á.
o Microalbumin niệu dương tính: (tỷ lệ bài xuất albumin niệu ≥
20µg/phút hoặc tỉ lệ albumin/creatinin niệu ≥ 30 mg/g).
Theo tiêu chuẩn này sự kháng insulin là cần thiết. Tuy nhiên cũng
tương tự như ATP III, đái tháo đường týp 2 không bị loại trừ khỏi chẩn đoán.
Trong thực hành lâm sàng sự xác định kháng insulin cũng như microalbumin
niệu là khó khăn, khó áp dụng.
12
2.3.2. Tiêu chuẩn của Đái tháo đường quốc tế (IDF)
Tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng chuyển hóa theo IDF-2005 khi thỏa
mãn các điều kiện sau:
 Tiêu chí bắt buộc là phải có béo trung tâm (được xác định bằng tăng số
đo vòng eo) số đo này khác nhau theo các chủng tộc.
 Kết hợp với bất kỳ 2 trong 4 tiêu chí sau:
o Tăng triglycerid máu:
 TG ≥ 1,7mmol/l (150mg/dl) hoặc
 Đã điều trị các rối loạn lipid máu bằng thuốc.
o Giảm HDL-cholesterol máu:
 Nam: <1,03mmol/l(150mg/dl) hoặc
 Nữ: <1,29mmol/l(50mg/dl) đối với nữ
 Hoặc đã điều trị các rối loạn lipid máu bằng thuốc.
o Tăng huyết áp:
 Huyết áp tâm thu ≥ 130 hoặc
 Huyết áp tâm trương ≥ 85mmHg
 Hoặc đang điều trị tăng huyết áp.
o Tăng glucose máu lúc đói:
 Glucose máu lúc đói ≥ 5,6mmol/l (100mg/dl) hoặc
 Đã được chẩn đoán ĐTĐ typ2 trước đó.
Nếu BMI >30kg/m2, béo trung tâm có thể được xác định, có thể không

cần đo vòng eo.
Tiêu chuẩn chẩn đoán HCCH của đái tháo đường quốc tế đã được đưa
ra vào năm 2005. Béo trung tâm là một tiêu chí bắt buộc trong tiêu chuẩn này,
biểu hiện qua số đo vòng eo. Số đo này khác nhau theo các dân tộc và khi
đánh giá phải dựa vào tiêu chuẩn sinh lý của chính quần thể của quốc gia đó.
Tiêu chuẩn của IDF một lần nữa xem béo trung tâm có tương quan rất rõ với
kháng insulin, do đó không cần phải xét nghiệm tốn kém để đánh giá kháng
13
insulin.
2.3.3. Tiêu chuẩn của nhóm nghiên cứu về kháng Insulin Châu Âu
(EGIR)
Tiêu chuẩn của EGIR [25] là:
 Tiêu chí bắt buộc có kháng Insulin và/hoặc tăng insulin máu lúc đói
(nồng độ insulin máu ở khoảng tứ phân vị thứ nhất của những người
không bị ĐTĐ) (tiêu chí A)
 Các tiêu chí khác (tiêu chí B)
o Tăng glucose máu: Glucose máu lúc đói ≥ 6,1 mmol/l (nhưng
không bao gồm đái tháo đường).
o Tăng huyết áp khi:
 Huyết áp tâm thu ≥ 140mmHg và/hoặc
 Huyết áp tâm trương ≥90mmHg
 Hoặc đã điều trị thuốc hạ áp.
o Rối loạn chuyển hóa lipid khi:
• Triglycerid > 2,0mmol/l(178mg/dl) và/hoặc
• HDL-cholesterol <1,0mmol/l(39mg/dl)
• Hoặc đã điều trị rối loạn chuyển hóa lipid.
o Béo bụng khi: vòng eo ≥ 94cm (đối với nam) và ≥ 80cm (đối
với nữ).
Để chẩn đoán xác định phải có tăng insulin máu (tiêu chí A) với ít nhất
hai điểm của tiêu chí B.

Theo sau sự công bố định nghĩa của WHO về HCCH vào năm 1999,
EGIR đưa ra một phiên bản sửa đổi chỉ áp dụng cho những người không bị
đái tháo đường, tiêu chuẩn của EGIR dễ áp dụng hơn trong nghiên cứu dịch tễ
vì không đòi hỏi kỹ thuật kẹp glucose để đánh giá mức độ nhậy cảm của
insulin. EGIR đã đề nghị sử dụng nồng độ insulin lúc đói để đánh giá kháng
14
insulin và áp dụng suy giảm dung nạp glucose máu lúc đói (IFG) như là một
tiêu chuẩn thay thế cho rối loạn dung nạp glucose máu (IGT). Tiêu chuẩn của
EGIR cũng có sự thay đổi nhỏ về các chỉ số của tăng huyết áp, rối loạn
chuyển hóa lipid cũng như giá trị của vòng eo và đã sử dụng chu vi vòng eo
để đánh giá béo bụng. Hơn nữa, nếu một người đã được điều trị tăng huyết áp
hoặc rối loạn mỡ máu họ được coi như có các bất thường tương ứng.
2.3.4. Tiêu chuẩn của ATP III thuộc chương trình giáo dục về Cholesterol
quốc gia của Hoa Kỳ (NEPT– 2005)
Hội chứng chuyển hóa được xác định khi có bất kỳ 3 trong 5 tiêu chí sau.
 Tăng vòng bụng* :
 Nam: ≥ 102 cm
 Nữ: ≥ 88cm
 Tăng triglycerid khi:
TG ≥ 1,7mmol/l (150mg/dl) hoặc
Điều trị tăng triglycerid
 Giảm HDL-cholesterol khi :
Nam : <1,03mmol/l (40mg/dl)
Nữ : <1,29mmol/l (50mg/dl)
Hoặc điều trị giảm HDL-cholesterol
 Huyết áp cao khi:
Huyết áp tâm thu ≥ 130 mmHg hoặc
Huyết áp tâm trương ≥ 85mmHg
Hoặc điều trị tăng huyết áp.
 Tăng glucose máu lúc đói khi:

FBG ≥ 5,6 mmol/l (100mg/dl)
Hoặc điều trị tăng glucose máu.
* Đối với người Châu Á, tiêu chuẩn tăng vòng bụng là: ≥ 90cm đối với
nam và ≥ 80 cm đối với nữ.
15
HCCH theo tiêu chuẩn ATP III vào năm 2001, tập trung chủ yếu vào
yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch và không bắt buộc phải có kháng insulin
hoặc bất thường glucose máu, mặc dù bất thường về glucose máu là một trong
các tiêu chí để chẩn đoán hội chứng chuyển hóa.Tiêu chuẩn hội chứng chuyển
hóa của ATP III đã được cập nhật vào năm 2005. Những điểm cập nhật là:
 Hạ thấp ngưỡng của glucose máu lúc đói xuống 5,6mmol/l
(100 mg/dl), theo cập nhật của ADA về định nghĩa suy giảm
glucose máu lúc đói (IFG) (giá trị ngưỡng glucose máu lúc đói
theo tiêu chuẩn năm 2001 là 6,1 mmol/l).
 Bao gồm cả đái tháo đường trong tiêu chí tăng glucose máu.
 Điều trị rối loạn lipid và tăng huyết áp cũng được coi là một
trong các tiêu chí về tăng huyết áp và rối loạn lipid máu.
2.2.5. Tiêu chuẩn của các nhà Nội tiết học Lâm sàng Mỹ (AACE)
Hội chứng chuyển hoá được xác định khi có ít nhất một yếu tố chính và
hai yếu tố phụ.
 Yếu tố chính:
o Thừa cân / béo phì: BMI ≥ 25kg/m2, hoặc vòng eo > 94 cm đối
với nam, > 80 cm đối với nữ hoặc
o Nguy cơ cao của tình trạng kháng insulin: Khi có ít nhất một
trong các biểu hiện sau; được chẩn đoán bệnh mạch vành, tăng huyết
áp, hội chứng buồng trứng đa nang, tiền sử gia đình có người mắc
ĐTĐ type 2, THA, mắc bệnh tim mạch, tiền sử đái tháo đường thai
kỳ hoặc rối loạn dung nạp glucose, không phải người da trắng, lối
sống tĩnh tại, BMI > 25 kg/m2 hoặc vòng eo >94 cm (nam) và > 80
cm (với nữ), tuổi > 40

 Yếu tố phụ:
o Triglycerides: ≥ 150 mg/dl (1,7mmol/l)
o HDL cholesterol thấp:
16
 Nam: < 1,03mmol/l (40mg/dl)
 Nữ : < 1,29mmol/l (50mg/dl)
o Tăng huyết áp: > 130/85mmHg
o Glucose máu:
Glucose máu lúc đói: 6,1-6,9mmol/l ( 10mg/dl đến 126mg/dl)
Glucose 2 giờ sau nghiệm pháp tăng đường huyết: 7,8-11
mmol/l (140-200mg/dl)
Vào năm 2003, các nhà nội tiết học lâm sàng Mỹ (AACE) [43], đã đưa ra
vấn đề “Hội chứng kháng insulin”. Theo họ, một số yếu tố được xem như là
những dấu hiệu bất thường của hội chứng bao gồm tăng TG, giảm HDL-
cholesterol, tăng huyết áp và tăng đường lúc đói và sau ăn. Ngoài ra, những yếu
tố tăng huyết áp và béo phì cũng được họ chỉ ra. Luận điểm của AACE nhấn
mạnh vai trò của đánh giá lâm sàng trong chẩn đoán hội chứng chuyển hóa.
2.4. Tiền đái tháo đường
Trước đây người ta hay dùng các thuật ngữ như “ Đái tháo đường tiềm
tàng”, “Đái tháo đường sinh hoá”, “Đái tháo đường tiền lâm sàng” để chỉ các
trường hợp rối loạn dung nạp glucose mà chưa có biểu hiện lâm sàng. Những
trường hợp này chỉ được phát hiện khi tiến hành nghiệm pháp tăng gánh
glucose bằng đường uống hoặc đường tĩnh mạch.
Ngày nay người ta đưa ra khái niệm “tiền đái tháo đường” để chỉ các
hình thái rối loạn chuyển hoá carbonhydrat của cơ thể. Trong đó dựa vào cách
tiến hành xét nghiệm thì tiền đái tháo đường có hai hình thái, đó là:
Rối loạn dung nạp glucose (IGT), nếu mức glucose huyết tương ở
thời điểm 2 giờ sau nghiệm pháp tăng glucose máu đường uống từ 7,8mmol/l
(140mg/dl) đến 11,0mmol/l (198mg/dl).
Suy giảm dung nạp glucose máu lúc đói (IFG), nếu lượng glucose

huyết tương lúc đói (sau ăn 8 giờ) từ 6,1 mmol/l (100mg/dl) đến 6,9mmol/l
17
(125mg/dl) và lượng glucose huyết tương ở thời điểm 2 giờ của nghiệm pháp
tăng đường máu từ 6,1 mmol/l (100mg/dl) đến dưới 7,8mmol/l (<140mg/dl).
2.5. Tình hình nghiên cứu về hội chứng chuyển hóa
Trên thế giới đã có khá nhiều nghiên cứu xác định tỷ lệ HCCH ở các
quần thể dân cư khác nhau. Theo tiêu chuẩn của NCEP thì HCCH được ước
tính là 24% người trưởng thành ở Mỹ, trong đó tỷ lệ này ở người độ tuổi trên
50 tuổi chiếm tới 44%. Với định nghĩa của WHO, HCCH có mặt 7 - 36% đàn
ông Châu Âu và 5-22% phụ nữ tuổi 40-55.
Nghiên cứu tại Hồng Kông đã xác định tỷ lệ HCCH ở các đối tượng
trong độ tuổi lao động theo 3 tiêu chuẩn chẩn đoán của WHO, NCEP và
EGIR. Kết quả cho thấy, tỷ lệ mắc HCCH dao động từ 6,1 đến 13,4% tùy theo
tiêu chuẩn chẩn đoán. Tỷ lệ mắc tăng dần theo tuổi và có sự khác biệt giữa
nam và nữ. Ở các nhóm tuổi dưới 50, HCCH gặp ở nam nhiều hơn nữ nhưng
từ lứa tuổi 50 trở đi thì nữ lại gặp nhiều hơn nam. Một nghiên cứu khác ở
Hồng Kông cho biết tỷ lệ mắc tăng từ 3,1% ở lứa tuổi 25-29 đến 41% ở tuổi
trên 70. Còn tỷ lệ mắc chung trong nghiên cứu này sau khi đã điều chỉnh định
nghĩa béo phì đối với người Châu Á là 21,2%.
Nghiên cứu trên dân cư thành thị ở Ấn Độ sử dụng tiêu chuẩn của
NCEP thì tỷ lệ HCCH là 41,1%, trong đó yếu tố HDL-C thấp chiếm tỷ lệ cao
nhất (65,5%), sau đó là yếu tố huyết áp (55,4%), thấp nhất là yếu tố rối loạn
glucose máu khi đói (26,7%).
Một nghiên cứu cắt ngang ở Venezuela đã đánh giá trên 3108 đối tượng
tuổi từ 20 trở lên cho biết tỷ lệ mắc HCCH theo NCEP ATP III là 31,2%
trong đó tỷ lệ nam cao hơn nữ. Tỷ lệ mắc tăng lên theo tuổi cùng với mức độ
béo phì. Tỷ lệ này thấp hơn ở đàn ông da đỏ (17%) so với đàn ông da đen
(27,2%), da trắng (33,3%) nhưng không có sự khác biệt nào ở nữ. Nhìn
chung, các yếu tố HDL-C(65,3%), béo bụng (42,9%) và yếu tố huyết áp
18

(38,1%) là thường gặp nhất trong HCCH. Cách sống không lành mạnh cũng
làm tăng nguy cơ của hội chứng này.
Nhiều nghiên cứu ở Anh, Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Hy Lạp… cũng đều
cho biết tỷ lệ mắc ở nam nhiều hơn nữ. Tuy nhiên, nghiên cứu ở Iran cho kết
quả ngược lại về tỷ lệ mắc theo giới. ở đây, tỷ lệ mắc của nữ lại cao hơn hẳn ở
nam giới.
Ở Việt Nam, nghiên cứu đầu tiên của Nguyễn Quang Bảy mô tả một
trường hợp chẩn đoán hội chứng X chuyển hóa tại khoa Nội tiết - Đái tháo
đường Bệnh viện Bạch Mai năm 1999. Nghiên cứu của Lê Nguyễn Trung
Đức Sơn và cộng sự năm 2000 đã cho thấy tỷ lệ HCCH ở nội thành thành phố
Hồ Chí Minh là 12%, có liên quan đến tuổi, tỷ lệ phần trăm mỡ và nghề
nghiệp. Kết quả nghiên cứu của Trần Văn Huy cho biết tỷ lệ mắc hội chứng
này ở người trưởng thành Khánh Hòa là 15,7% theo tiêu chuẩn NCEP ATP
III, trong đó độ tuổi trên 54 tuổi có tỷ lệ cao nhất là 21,5%, nam gặp nhiều
hơn nữ và yếu tố HDL - C thấp gặp nhiều nhất (37%). Nghiên cứu Hội chứng
chuyển hóa (theo tiêu chuẩn của NCEP-ATP III) ở cán bộ, công chức cơ quan
tỉnh Hà Nam của Trần Thị Phượng và Hoàng Trung Vinh đã cho thấy tỷ lệ
chung HCCH là 28,3%, trong đó 66,33% trường hợp với 3 chỉ tiêu, 26,63%
với 4 chỉ tiêu và 7,04% với 5 chỉ tiêu. Theo nghiên cứu của Viện dinh dưỡng
Việt Nam ở 620 đối tượng tuổi từ 25-64 cho thấy tỷ lệ mắc HCCH là 13,1%,
riêng tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là 18% [15]. Một số nghiên cứu
khác cũng xác định tỷ lệ mắc HCCH ở bệnh nhân tăng huyết áp điều trị tại
bệnh viện.
Như vậy, sự gia tăng tỷ lệ bệnh tăng huyết áp, rối loạn chuyển hóa
lipid, bệnh mạch vành, béo phì, đái tháo đường týp 2 đang là những thách
thức lớn đối với kinh tế và xã hội. Nghiên cứu về HCCH ở Việt Nam vẫn còn
ít nhất là nghiên cứu về HCCH ở nhóm người tiền đái tháo đường. Đây là cơ
sở để đề ra các biện pháp can thiệp dự phòng làm giảm không những người
19
mắc hội chứng chuyển hóa mà cả người mắc bệnh đái tháo đường.

3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: 638 người tiền đái tháo đường (cả nam và nữ)
tuổi từ 30-69 ở tỉnh Ninh Bình. Các đối tượng nghiên cứu được lựa chọn từ
dự án D-START của Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế tài trợ do Viện Đái
tháo đường và Rối loạn chuyển hóa thực hiện.
3.1.2. Tiêu chuẩn lựa chọn
Tiêu chuẩn lựa chọn: Các đối tượng tiền đái tháo đường, có tuổi đời từ 30 đến
69 được xác định bằng nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống tại thời
điểm bắt đầu nghiên cứu.
Tiêu chuẩn loại trừ: Các đối tượng đã được chẩn đoán đái tháo đường trước
thời điểm nghiên cứu hoặc đang uống thuốc phòng chống đái tháo đường; phụ
nữ có thai hoặc những người đang bị mắc các bệnh cấp tính.
3.2. Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được triển khai tại tỉnh Ninh Bình.
3.3. Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành trong thời gian 24 tháng.
3.4. Phương pháp nghiên cứu và cỡ mẫu nghiên cứu
3.4.1. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu phân tích, theo dõi dọc.
3.4.2. Cỡ mẫu nghiên cứu
- Cỡ mẫu nghiên cứu được tính toán dựa trên phương pháp tính cỡ mẫu
nghiên cứu mô tả, phân tích, theo dõi dọc.
- Cỡ mẫu và lực mẫu nghiên cứu được tính toán dựa vào những số liệu
được thu tập gần đây tại Việt Nam và trong khu vực châu Á. Ước tính tỷ lệ có
hội chứng chuyển hóa ở nhóm tiền đái tháo đường là 35%.
- Lực mẫu trong nghiên cứu là 80%, mức ý nghĩa thống kê về 2 phía là
95% tính theo phương pháp Kelsey và phương pháp Fleiss with CC.
20
- Sử dụng công thức tính cỡ mẫu trong phân tích:

[z
1-
α
/2
.√2p
2
.q
2
+ z
1-
α
/2
√(p
1
q
1
+ p
2
.q
2
) ]
2
n =
(p
1
- p
2
)
2
- Cỡ mẫu tính được thấp nhất là 638, tỷ lệ cho phép bỏ cuộc là 15%.

3.5. Các chỉ số nghiên cứu
- Tình trạng nhân khẩu học: tuổi, giới, trình độ học vấn, nghề nghiệp.
DỰ ÁN D-START
(Những người tiền đái tháo đường mới được sàng lọc)
NGƯỜI TIỀN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG
(638 người tiền đái tháo đường)
- Đồng ý tham gia nghiên cứu
- Đủ tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu
THU THẬP CÁC CHỈ SỐ ĐẦU VÀO
(Thời điểm bắt đầu nghiên cứu)
- Thu thập các chỉ số nghiên cứu:
o Thông tin về hành chính
o Các chỉ số nhân khẩu học
o Các chỉ số nhân trắc
o Các chỉ số về thể lực
o Các chỉ số sinh hóa (glucose lúc
đói, glucose 2h, insulin, lipid máu)
- Tỷ lệ HCCH theo các tiêu chuẩn của
IDF, NCEP-ATP III, EGIR, AACE
THU THẬP CÁC CHỈ SỐ ĐẦU RA
(Sau 2 năm)
- Thu thập các chỉ số nghiên cứu:
o Thông tin về hành chính
o Các chỉ số nhân khẩu học
o Các chỉ số nhân trắc
o Các chỉ số về thể lực
o Các chỉ số sinh hóa (glucose lúc
đói, glucose 2h, insulin, lipid máu)
- Tỷ lệ HCCH theo các tiêu chuẩn của
IDF, NCEP-ATP III, EGIR, AACE

KẾT LUẬN
- Tỷ lệ HCCH theo IDF, NCEP-ATP III, EGIR, AACE.
- Đặc điểm HCCH theo IDF, NCEP-ATP III, EGIR, AACE sau 2 năm.
SƠ ĐỒ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
21
- Tiền sử bệnh tật của bản thân và gia đình, thói quen.
- Tình trạng thể lực: Chiều cao, cân nặng, vòng eo, BMI.
- Nhịp tim, huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trương.
- Chế độ dinh dưỡng: tần xuất tiêu thụ thực phẩm, thực phẩm tiêu thụ
trong 24 giờ.
- Hoạt động thể lực: tình trạng hoạt động thể lực.
- Sinh hoá máu: Glucose máu lúc đói, Glucose máu 2 giờ sau khi uống
75 gram đường anhydrite, Insulin huyết tương lúc đói, các chỉ số lipid máu.
3.6. Các tiêu chuấn sử dụng trong nghiên cứu
3.6.1. Các tiêu chuẩn đánh giá Hội chứng chuyển hóa
Tiêu chuẩn của Liên đoàn Đái tháo đường quốc tế (IDF)
Tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng chuyển hóa theo IDF-2005 khi thỏa
mãn các điều kiện sau:
 Tiêu chí bắt buộc là phải có béo trung tâm (được xác định bằng tăng số
đo vòng eo*) số đo này khác nhau theo các chủng tộc.
 Kết hợp với bất kỳ 2 trong 4 tiêu chí sau :
o Tăng triglycerid máu :
 TG ≥ 1,7mmol/l (150mg/dl) hoặc
 Đã điều trị các rối loạn lipid máu bằng thuốc.
o Giảm HDL-cholesterol máu:
 Nam: <1,03mmol/l(150mg/dl) hoặc
 Nữ: <1,29mmol/l(50mg/dl) đối với nữ
 hoặc đã điều trị các rối loạn lipid máu bằng thuốc.
o Tăng huyết áp:
 Huyết áp tâm thu ≥ 130 hoặc

 Huyết áp tâm trương ≥ 85mmHg
 Hoặc đang điều trị tăng huyết áp.
22
o Tăng glucose máu lúc đói:
 Glucose máu lúc đói ≥ 5,6mmol/l (100mg/dl) hoặc
 Đã được chẩn đoán ĐTĐ typ2 trước đó.
Nếu BMI >30kg/m2, béo trung tâm có thể được xác định, có thể không
cần đo vòng eo.
Tiêu chuẩn của nhóm nghiên cứu về kháng Insulin Châu Âu (EGIR)
Tiêu chuẩn của EGIR [25] là:
 Tiêu chí bắt buộc có kháng Insulin và/hoặc tăng insulin máu lúc đói
(nồng độ insulin máu ở khoảng tứ phân vị thứ nhất của những người
không bị ĐTĐ) (tiêu chí A)
 Các tiêu chí khác (tiêu chí B)
o Tăng glucose máu: Glucose máu lúc đói ≥ 6,1 mmol/l (nhưng
không bao gồm đái tháo đường).
o Tăng huyết áp khi:
 Huyết áp tâm thu ≥ 140mmHg và/hoặc
 Huyết áp tâm trương ≥90mmHg
 Hoặc đã điều trị thuốc hạ áp.
o Rối loạn chuyển hóa lipid khi:
• Triglycerid > 2,0mmol/l(178mg/dl) và/hoặc
• HDL-cholesterol <1,0mmol/l(39mg/dl)
• Hoặc đã điều trị rối loạn chuyển hóa lipid.
o Béo bụng khi: vòng eo ≥ 94cm (đối với nam) và ≥ 80cm (đối
với nữ).
Để chẩn đoán xác định phải có tăng insulin máu (tiêu chí A) với ít nhất
hai điểm của tiêu chí B.
Tiêu chuẩn của ATP III thuộc chương trình giáo dục về Cholesterol quốc
gia của Hoa Kỳ (NEPT– 2005)

23
Hội chứng chuyển hóa được xác định khi có bất kỳ 3 trong 5 tiêu chí sau.
 Tăng vòng bụng* :
 Nam: ≥ 102 cm
 Nữ: ≥ 88cm
 Tăng triglycerid khi:
TG ≥ 1,7mmol/l (150mg/dl) hoặc
Điều trị tăng triglycerid
 Giảm HDL-cholesterol khi:
Nam : <1,03mmol/l (40mg/dl)
Nữ : <1,29mmol/l (50mg/dl)
Hoặc điều trị giảm HDL-cholesterol
 Huyết áp cao khi:
Huyết áp tâm thu ≥ 130 mmHg hoặc
Huyết áp tâm trương ≥ 85mmHg
Hoặc điều trị tăng huyết áp.
 Tăng glucose máu lúc đói khi:
FBG ≥ 5,6 mmol/l (100mg/dl)
Hoặc điều trị tăng glucose máu.
* Đối với người Châu Á, tiêu chuẩn tăng vòng bụng là: ≥ 90cm đối với
nam và ≥ 80 cm đối với nữ.
Tiêu chuẩn của các nhà Nội tiết học Lâm sàng Mỹ (AACE)
Hội chứng chuyển hoá được xác định khi có ít nhất một yếu tố chính và
hai yếu tố phụ.
 Yếu tố chính:
o Thừa cân / béo phì: BMI ≥ 25kg/m2, hoặc vòng eo > 94 cm đối
với nam, > 80 cm đối với nữ hoặc
o Nguy cơ cao của tình trạng kháng insulin: Khi có ít nhất một
trong các biểu hiện sau; được chẩn đoán bệnh mạch vành, tăng huyết
24

áp, hội chứng buồng trứng đa nang, tiền sử gia đình có người mắc
ĐTĐ type 2, THA, mắc bệnh tim mạch, tiền sử đái tháo đường thai
kỳ hoặc rối loạn dung nạp glucose, không phải người da trắng, lối
sống tĩnh tại, BMI > 25 kg/m2 hoặc vòng eo > 94 cm (nam) và > 80
cm (với nữ), tuổi > 40
 Yếu tố phụ:
o Triglycerides: ≥ 150 mg/dl (1,7mmol/l)
o HDL cholesterol thấp:
 Nam: < 1,03mmol/l (40mg/dl)
 Nữ : < 1,29mmol/l (50mg/dl)
o Tăng huyết áp: > 130/85mmHg
o Glucose máu:
Glucose máu lúc đói: 6,1-6,9mmol/l (10mg/dl đến 126mg/dl)
Glucose 2 giờ sau nghiệm pháp tăng đường huyết:7,8-11 mmol/l
(140-200mg/dl)
3.6.2. Tiêu chuẩn chẩn đoán tiền đái tháo đường theo ADA
Theo ADA [12], [38] chẩn đoán xác định tiền Đái tháo đường khi có ít
nhất một trong hai tiêu chuẩn sau:
 Rối loạn dung nạp glucose (IGT): nếu mức glucose huyết
tương ở thời điểm 2 giờ sau nghiệm pháp tăng glucose máu
đường uống từ 7,8 mmol/l (140 mg/dl) đến 11,0 mmol/l
(198mg/dl) và glucose huyết tương lúc đói < 126mg/dl
(7mmol/l).
 Suy giảm dung nạp glucose máu lúc đói (IFG): nếu lượng
glucose huyết tương lúc đói (sau ăn 8 giờ) từ 5,6 mmol/l (100
mg/dl) đến 6,9 mmol/l (125 mg/dl) và lượng glucose huyết tương
ở thời điểm 2 giờ của nghiệm pháp dung nạp glucose máu dưới
7,8 mmol/l (< 140 mg/dl).
25
3.6.3. Đánh giá chỉ số BMI, vòng eo

Dựa theo tiêu chuẩn của WHO 2000 áp dụng cho người trưởng thành
Châu Á [3], [4].
• Chỉ số BMI được tính theo công thức:
BMI = Cân nặng (kg)/(Chiều cao)
2
(m)
Bảng đánh giá BMI áp dụng cho người Châu Á
Phân loại BMI (kg/m
2
)
Thiếu cân < 18,5
Bình thường 18,5 - 22,9
Thừa cân 23 - 24,9
Béo phì
≥ 25
3.6.4. Đánh giá chỉ số huyết áp theo JNC VII
Bảng phân loại huyết áp theo JNC VII – 2003
Phân loại
HA tâm thu
(mmHg)
HA tâm trương
(mmHg)
Bình thường < 120 Và < 80
Tiền tăng HA 120 - 139 Và/ hoặc 80 - 90
Tăng HA giai đoạn I 140 - 159 Và/ hoặc 90 - 99
Tăng HA giai đoạn II
≥ 160 Và/ hoặc ≥ 100
3.7. Phân tích kết quả
- Tính tỷ lệ HCCH theo các tiêu chuẩn khác nhau, phân tích các yếu tố
liên quan, các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến HCCH.

- So sánh, phân tích sự thay đổi HCCH sau 2 năm.
3.8. Quản lý và xử lý số liệu

×