Tải bản đầy đủ (.doc) (92 trang)

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT SAU KHI DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (470.58 KB, 92 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

LÊ THỊ THÚY
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
SỬ DỤNG ĐẤT SAU KHI DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA
HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP


HÀ NỘI, 2013
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

LÊ THỊ THÚY
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
SỬ DỤNG ĐẤT SAU KHI DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA
HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
MÃ SỐ : 60.85.01.03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. NGUYỄN KHẮC THỜI

HÀ NỘI, 2013
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ


nguồn gốc.

Tác giả luận văn



Lê Thị Thuý
i
LỜI CẢM ƠN !
Để có được kết quả nghiên cứu này, ngoài sự cố gắng và nỗ lực của bản
thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ từ rất nhiều đơn vị và cá nhân. Tôi xin ghi
nhận và bày tỏ lòng biết ơn tới những tập thể, cá nhân đã dành cho tôi sự giúp
đỡ quý báu đó.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng sự giúp đỡ nhiệt tình
của thầy giáo PGS.TS. Nguyễn Khắc Thời, người đã trực tiếp hướng dẫn đề
tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy,
cô trong Khoa Tài Nguyên và Môi trường, các thầy cô trong Khoa Sau đại
học.
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo UBND huyện Khoái
Châu, các đồng chí lãnh đạo, chuyên viên Phòng Nông nghiệp, Phòng Tài
nguyên và Môi trường, Phòng Thống kê và UBND các xã đã tạo điều kiện về
thời gian và cung cấp số liệu giúp tôi thực hiện đề tài này.
Cám ơn sự cổ vũ, động viên và giúp đỡ của gia đình, các anh, chị đồng
nghiệp, bạn bè trong quá trình học tập và thực hiện luận văn.

Tác giả luận văn
Lê Thị Thuý
ii
MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ! ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ ix
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT x
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích, yêu cầu của đề tài 2
2.1. Mục đích 2
2.2. Yêu cầu 3
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
1.3.1. Ý nghĩa khoa học 3
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn 3
Chương 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4
1.1. Cơ sở lý luận của dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp 4
1.1.1. Sự cần thiết phải dồn điền đổi thửa 4
1.1.2. Ý nghĩa của dồn điền đổi thửa 6
1.2 Tổng quan về chính sách quản lý và sử dụng đất nông nghiệp Việt Nam. .7
1.2.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975 7
1.2.2. Giai đoạn từ năm 1976 đến năm 1985 8
1.2.3. Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 1992 9
1.2.4. Giai đoạn từ Luật đất đai năm 1993 đến nay 9
1.3. Tổng quan về dồn điền đổi thửa 12
1.3.1. Vấn đề manh mún đất đai 12
iii
1.3.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 16
1.3.3. Tình hình nghiên cứu dồn điền đổi thửa ở Việt Nam 19
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 22
1.4.1. Nhóm các yếu tố về điều kiện tự nhiên 22

1.4.2. Nhóm các yếu tố kinh tế - xã hội 22
1.4.3. Nhóm các yếu tố tổ chức, kỹ thuật 24
Chương 2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Đối tượng nghiên cứu 25
2.2 Nội dung nghiên cứu 25
2.2.1. Điều tra, đánh giá khái quát điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội
trên địa bàn nghiên cứu 25
2.2.2. Nghiên cứu thực trạng quá trình tiến hành dồn điền đổi thửa ở
huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên 25
2.2.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của công tác dồn điền đổi thửa đến sử dụng
đất sản xuất nông nghiệp và công tác quản lý đẩt sản xuất nông
nghiệp trên địa bàn nghiên cứu 25
2.2.4. Đánh giá hiệu quả sử dụng đất trước và sau khi dồn điền, đổi thửa.
25
2.2.5. Đề xuất các giải pháp thực hiện liên quan đến vấn đề tập trung
ruộng đất nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất trong nông hộ: 26
2.3 Phương pháp nghiên cứu 26
2.3.1. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 26
2.3.2. Phương pháp thu thập thông tin 27
2.3.3. Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA) 27
2.3.4. Phương pháp xử lý số liệu, dữ liệu bằng phần mền EXCEL 28
2.3.5. Phương pháp xác định hệ thống chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả sử
dụng đất sản xuất nông nghiệp 28
2.3.6. Phương pháp chuyên gia 29
iv
29
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
3.1. Điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội huyện Khoái Châu 30
3.1.1. Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên 30
3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội: 32

3.2. Tình hình quản lý đất đai và hiện trạng sử dụng đất huyện Khoái Châu. 37
3.2.1. Hiện trạng sử dụng đất năm 2012 của huyện Khoái Châu 37
3.2.2. Tình hình quản lý đất đai trên địa bàn huyện Khoái Châu 40
3.3. Tình hình Dồn điền đổi thửa huyện Khoái Châu 43
3.3.1. Cơ sở pháp lý của việc dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp 43
3.3.2. Tổ chức thực hiện công tác dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp trên
địa bàn huyện Khoái Châu 44
3.3.3. Kết quả thực hiện Dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp 49
3.4. Thực trạng công tác dồn điền đổi thửa 3 xã nghiên cứu 50
3.5. Ảnh hưởng của dồn điền đổi thửa đến cơ cấu và hiệu quả sử dụng đất
nông nghiệp 53
3.5.1. Dồn điền đổi thửa tác động đến việc thay đổi của cơ cấu thu nhập
của hộ nông dân 53
3.5.2. Chuyển đổi ruộng đất tạo điều kiện thuận lợi cho chuyển đổi cơ
cấu sử dụng đất đai 55
3.5.3. Dồn điền đổi thửa đã làm tăng diện tích đất giao thông thuỷ lợi. .57
3.5.4. Chuyển đổi ruộng đất tạo tạo tâm lý ổn định cho người nông dân
yên tâm đầu tư sản xuất 59
3.5.5. Chuyển đổi ruộng đất đã làm tăng diện tích đất nông nghiệp bình
quân trên khẩu 59
3.5.6. Đánh giá hiệu quả sử dụng đất trên một héc ta đất sản xuất nông
nghiệp của 3 xã nghiên cứu trước và sau chuyển đổi ruộng đất 60
3.6. Nghiên cứu ảnh hưởng của công tác dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp
v
đến công tác quản lý về đất đai 63
Nguồn: Tác giả tổng hợp 64
3.7. Ý kiến người dân về chính sách dồn điền đổi thửa 64
3.8. Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên
địa bàn huyện Khoái Châu 67
3.8.1. Những quan điểm chủ yếu 67

3.8.2. Những giải pháp trọng tâm 67
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73
1. Kết luận 73
2.2. Kiến nghị 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
vi
DANH MỤC BẢNG
STT
Tên bảng
Trang
Bảng 1.1. Mức độ manh mún ruộng đất của các vùng ở Việt Nam 14
Bảng 1.2. Tích tụ ruộng đất của các trang trại ở một số nước Âu, Mỹ
17
Bảng 1.3. Tích tụ ruộng đất ở một số nước Châu Á 18
Bảng 3.1. Hiện trạng sử dụng đất huyện Khoái Châu 37
Bảng 3.2. Kết quả thực hiện DĐĐT theo nhóm hộ ở huyện Khoái
Châu 49
Bảng 3.3. Kết quả thực hiện DĐĐT theo quy mô ở huyện Khoái Châu
50
Bảng 3.4. Thực trạng ruộng đất trước và sau thực hiện dồn điền
đổi thửa tại các xã nghiên cứu đại diện 51
Bảng 3.5. Sự thay đổi của cơ cấu thu nhập của hộ nông dân trước
và sau dồn điền đổi thửa tại các xã nghiên cứu đại diện 54
Bảng 3.6. So sánh cơ cấu sử dụng đất đai trước và sau dồn điền ở các
xã nghiên cứu đại diện 56
Bảng 3.7. Diện tích đất giao thông, thuỷ lợi trước và sau CĐRĐ 58
Bảng 3.8. Bình quân diện tích đất SXNN trên nhân khẩu
trước và sau CĐRĐ 60
Bảng 3.9. So sánh hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp trên một
ha/năm tại các xã nghiên cứu đại diện 61

Bảng 3.10. Ảnh hưởng của dồn đổi ruộng đất đến lượng thống kê
sổ địa chính 64
Bảng 3.11. Quan điểm của hộ nông dân đối với công tác
dồn điền đổi thửa 65
vii
viii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
STT Tên biểu đồ Trang
Biểu đồ 3.1: Cơ cấu kinh tế huyện Khoái Châu (%)
32
Biểu đồ 3.2. Cơ Cấu các loại đất năm 2012 huyện Khoái Châu
38

ix
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu Chú giải
DĐĐT Dồn điền đổi thửa
NN & PTNT Nông nghiệp & Phát triển nông thôn
CNH - HĐH Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá
GCN Giấy chứng nhận
QSDĐ Quyền sử dụng đất
UBND Uỷ ban nhân dân
KHKT Khoa học kỹ thuật
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
CNXH Chủ nghĩa xã hội
WTO Tổ chức thương mại quốc tế
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
GTSX Giá trị sản xuất
NTTS Nuôi trồng thủy sản
BVTV Bảo vệ thực vật

VAC Vườn - Ao - Chuồng
HTX Hợp tác xã
ĐVT Đơn vị tính
VNĐ Việt Nam đồng
TQ Trung Quốc
SX Sản xuất
CĐ Chuyển đổi
KH Ký hiệu
DT Diện tích
TT Thứ tự
TL Tỷ lệ
x
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, vừa là
tư liệu sản xuất, đồng thời là đối tượng sản xuất. Đất đai là thành phần quan
trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố khu dân cư, cơ sở
kinh tế, văn hóa – xã hội, quốc phòng an ninh. Đất đai có vai trò vô cùng quan
trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của mỗi đất nước.
Trong công cuộc cải cách kinh tế nông nghiệp nông thôn những năm
trước đây, Đảng và Nhà nước ta đã có hàng loạt những chính sách mới về đất
đai nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, giải quyết vấn đề lương thực của cả
nước, điển hình là Luật đất đai năm 2003, Nghị định số 64/CP ngày
27/9/1993 của Thủ tướng chính phủ quy định việc giao đất nông nghiệp cho
hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông
nghiệp. Với chính sách mới về quyền sử dụng đất như vậy đã làm thay đổi
hoàn toàn quan hệ sản xuất ở nông thôn, người nông dân đã thực sự trở thành
người chủ mảnh đất của riêng mình – đó là động lực cho sự phát triển vượt
bậc của nền nông nghiệp nước ta sau giải phóng miền Nam. Sản xuất nông
nghiệp từ tự cung tự cấp sang đa dạng hàng hóa, hướng mạnh ra xuất khẩu.

Một số hàng hóa đã vươn lên cạnh tranh khá và có vị thế trên thị trường thế
giới, đem lại hiệu quả kinh tế cho người nông dân như gạo, cà phê, hạt điều,
thủy sản …
Vai trò to lớn của sự phân chia ruộng đất cho hộ nông dân như đã nói
trên là không thể phủ nhận. Song với bối cảnh hiện nay, đất nước đang
trên đà phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong môi trường
hội nhập kinh tế quốc tế, ngành nông nghiệp không những có nhiệm vụ quan
trọng đảm bảo an ninh lương thực quốc gia mà còn phải đảm bảo tối đa nguyên
liệu cho ngành công nghiệp, tăng khối lượng nông sản xuất khẩu. Nhưng trên
1
thực tế, khi chia ruộng đất cho nông dân theo tinh thần của Nghị định 64/CP,
chúng ta đã thực hiện phương châm công bằng xã hội, ruộng tốt cũng như ruộng
xấu, ruộng xa cũng như ruộng gần được chia đều tính trên nhân khẩu cho các gia
đình, dẫn đến tình trạng ruộng đất bị phân tán manh mún không đáp ứng được
nhu cầu phát triển của nền nông nghiệp trong thời kỳ đổi mới.Sự manh mún
ruộng đất đã dẫn đến tình trạng chung là hiệu quả của sản xuất thấp, hạn chế khả
năng đổi mới và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Ngoài ra,
tình trạng manh mún ruộng đất còn gây nên những khó khăn trong quản lý và sử
dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên đất.
Để khắc phục tình trạng manh mún ruộng đất như đã nói trên, thì việc
dồn đổi ruộng đất nhiều ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn, liền khu, liền khoảnh là
việc làm hết sức cần thiết, đáp ứng được đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới, xây
dựng một nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ
thuật vào đồng ruộng, đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân, tạo điều kiện
cho các hộ nông dân yên tâm sử dụng và khai thác đất nông nghiệp lâu dài, có
hiệu quả, đồng thời nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý Nhà nước về đất
đai.Từ đó, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra chủ trương “ Dồn điền đổi thửa” để
việc sử dụng có hiệu quả hơn.
Với những lý do nêu trên, cùng sự đồng ý của khoa Tài Nguyên – Môi
Trường với sự hướng dẫn của Thầy giáo PGS.TS. Nguyễn Khắc Thời chúng

tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả
sử dụng đất sau khi đồn điền đổi thửa huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên”.
2 Mục đích, yêu cầu của đề tài
2.1. Mục đích
Đề tài nghiên cứu thực trạng công tác dồn điền đổi thửa đất sản xuất
nông nghiệp từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất
sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.
2
2.2. Yêu cầu
- Nghiên cứu, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tác động đến
quá trình sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Khoái Châu
- Đánh giá được những ảnh huởng của việc dồn điền đổi thửa đến đến
hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp, đến quản lý đất đai từ đó nhằm
xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và công tác
quản lý đất đai.
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
Đề tài góp phần xây dựng cơ sở lý luận và hoàn thiện quy trình chuyển
đổi ruộng đất phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Từ kết quả nghiên cứu, đề xuất các giải pháp đầu tư thâm canh, chuyển
dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá, đa dạng hoá
sản phẩm, cải tiến kỹ thuật trong sản xuất, thực hiện việc cơ giới hoá trong
sản xuất nông nghiệp, từng bước hình thành các trang trại trên cơ sở tích tụ
ruộng đất.
3
Chương 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lý luận của dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp
1.1.1. Sự cần thiết phải dồn điền đổi thửa
Chủ trương của Đảng và Nhà nước là tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi

mới cơ chế kinh tế nông nghiệp, nông thôn thừa nhận hộ nông dân là một đơn
vị kinh tế tự chủ trong nền kinh tế thị trường. Thực hiện Luật đất đai năm
1993, Nghị định 64/NĐ-CP của Chính phủ quy định, về việc giao đất nông
nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản
xuất nông nghiệp, cùng với việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
(QSDĐ) và các chính sách về nông nghiệp, nông thôn; người nông dân phấn
khởi thực sự đầu tư, khai thác sử dụng đất có hiệu quả, thúc đẩy nền sản xuất
nông, lâm nghiệp phát triển [3].
Trước thực trạng của việc giao đất nông nghiệp ổn định lâu dài cũng như
những đòi hỏi, nhu cầu mới của cuộc sống kinh tế - xã hội, của việc sử dụng
đất vào mục đích sao cho có hiệu quả nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của
tỉnh nói chung, cơ cấu nền kinh tế nông nghiệp, nông thôn nói riêng. Việc dồn
điền đổi thửa (DĐĐT) là một nhu cầu bức thiết nhằm các mục đích sau:
Thứ nhất, khắc phục những tồn tại và hạn chế của việc giao đất nông
nghiệp ổn định lâu dài theo đúng quy định của Luật đất đai năm 1993 và Nghị
định 64/NĐ-CP.
Thứ hai, lập quy hoạch sử dụng đất dành cho các nhu cầu nhất là nhu
cầu công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch tạo tiền đề để đẩy mạnh công
nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH - HĐH) nông nghiệp, nông thôn, từng bước
phân công lại lao động trong sản xuất nông nghiệp, nông thôn chuyển dần
một bộ phận lao động nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp (TTCN) và dịch vụ.
Thứ ba, từ việc dồn điền đổi thửa làm giảm chi phí sản xuất, tạo ra vùng
4
sản xuất tập trung, sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nâng cao hiệu quả sử
dụng đất. Song, trước tình hình mới, nhu cầu mới của sự nghiệp CNH - HĐH
của đất nước, vấn đề ruộng đất trong nông nghiệp cũng bộc lộ những tồn tại,
những nảy sinh mới cần phải được quan tâm giải quyết, đó là:
- Công tác quy hoạch lại đồng ruộng (giao thông, thuỷ lợi, cải tạo đất)
hạn chế, không thực hiện được toàn diện, triệt để. Người lao động ngại đầu tư

vào những mảnh ruộng nhỏ, xa, trên nhiều xứ đồng.
- Không khuyến khích người lao động đầu tư, thâm canh, chuyển dịch
cơ cấu cây trồng, đa dạng hoá sản phẩm, cải tiến kỹ thuật chậm được áp dụng
vào đồng ruộng.
- Khả năng cơ giới hoá nông nghiệp, để giải phóng sức lao động, điều
chỉnh lao động nông nghiệp sang làm thủ công nghiệp, dịch vụ khác; áp dụng
tiến bộ kỹ thuật, tăng công lao động, sản lượng hàng hoá thấp, giảm diện tích
đất, tăng chi phí quản lý. Thực hiện các quyền sử dụng đất, từng bước hình
thành các trang trại nông nghiệp và tích tụ ruộng đất sẽ gặp nhiều khó khăn.
- Các địa phương khi chia ruộng đất cho nông dân đó lấy phương châm
phải đồng đều về tốt, xấu, gần, xa nên đây là một trong những nguyên nhân
dẫn đến tình trạng manh mún đất đai và được coi là nguyên nhân bao trùm.
- Có sự khác biệt về độ phì nhiêu tự nhiên giữa các khoảnh đất, lô đất.
Sự khác biệt này tạo sự chênh lệch về thu nhập trong điều kiện canh tác cùng
một cây trồng, cùng một loại giống và cùng một điều kiện sản xuất.
- Hệ số an toàn trong sản xuất chưa cao, diện tích úng ngập không tiêu
thoát nước được ở đồng bằng sông Hồng cũng đến 57.449ha, chiếm khoảng
hơn 8% diện tích đất lúa, đây là những diện tích sản xuất lúa không chắc ăn,
kém ổn định. Một diện tích khá lớn phân bố ở ngoài đê chịu sự ảnh hưởng của
mưa lũ và mức độ an toàn phụ thuộc vào cấp địa hình của bãi phù sa.
- Giá đất khác nhau, đặc biệt tại khu đô thị lớn, sự gia tăng giá trị là do
vị trí của lô đất chi phối.
5
Nhằm hạn chế những bất cập nói trên “Dồn điền đổi thửa” đã xuất hiện,
đây là hoạt động liên quan đến thị trường đất đai, là hành vi của những hộ có
quyền sử dụng ruộng đất dồn đổi cho nhau, từ vị trí này sang vị trí khác để
hình thành các ô thửa lớn, nhằm khắc phục tình trạng phân tán, manh mún
trong sản xuất là việc làm cần thiết, tạo tiền đề cho công cuộc thực hiện sự
nghiệp CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn; nhằm thúc đẩy kinh tế - xã hội
phát triển, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập ổn định cho người nông dân,

đưa nông thôn nước ta tiến lên văn minh hiện đại.
1.1.2. Ý nghĩa của dồn điền đổi thửa
Khi hộ chưa tham gia dồn điền đổi thửa thì mỗi hộ có nhiều thửa, diện
tích nhỏ, khoảng cách giữa các thửa xa nhau do mỗi thửa nằm ở các xứ đồng
khác nhau, nên tốn rất nhiều công trong các khâu sản xuất:
- Quá trình DĐĐT tạo sự thay đổi lớn về số thửa và quy mô thửa của
mỗi hộ. Sự dồn đổi ruộng đất từ các ô thửa nhỏ thành những ô thửa lớn sẽ
thuận lợi hơn cho hộ trong khâu làm đất, gieo trồng, chăm sóc và thu hoạch.
- Dồn đổi ruộng đất tạo điều kiện tăng đầu tư thâm canh, tăng năng suất
cây trồng và năng suất đất đai, thúc đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu cây trồng,
bố trí cây trồng hợp lý và từng bước đưa cơ giới hoá vào sản xuất.
- Dồn đổi đất đai thành những thửa lớn sẽ làm giảm được công lao động
trong tất cả các khâu, tiết kiệm diện tích bờ thửa, thuận lợi trong việc tưới
tiêu, giúp chúng ta thiết kế lại hệ thống kênh mương, giao thông nội đồng
theo hướng kiên cố hoá. Về lâu dài việc dồn điền đổi thửa là tiền đề kích thích
quá trình tập trung ruộng đất nhằm tạo ra các tiểu trang trại, trang trại, góp
phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn.
- Ruộng đất có ô thửa lớn sẽ thuận tiện cho việc giải thửa và thể hiện
trên bản đồ địa chính làm cơ sở cho việc cấp chứng nhận QSDĐ lâu dài cho
hộ nông dân và việc theo dõi sau này.
- Từ việc dồn điền đổi thửa và tích tụ đất đai thành những vùng cụ thể rõ
6
ràng, làm cho việc sử dụng quỹ đất công của địa phương hợp lý và hiệu quả
hơn, khắc phục được tình trạng quỹ đất công nằm xen kẽ, giải rác khắp nơi,
cản trở việc quản lý, sử dụng đất nông nghiệp [3].
1.2 Tổng quan về chính sách quản lý và sử dụng đất nông nghiệp Việt Nam
1.2.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975
Lịch sử cách mạng giải phóng dân tộc và phát triển kinh tế của Việt
Nam có mối quan hệ chặt chẽ với các vấn đề về sử dụng đất đai. Những mâu
thuẫn trong chính sách đất đai đã diễn ra trong suốt thời kỳ là thuộc địa của

thực dân Pháp; thời kỳ chiến tranh chống Mỹ và các chính sách của Chính
phủ từ sau ngày thống nhất đất nước năm 1975.
Trước năm 1945, đất nông nghiệp được phân chia thành 2 loại chính: đất
sở hữu cộng đồng và đất tư hữu. Khu vực nông thôn được phân chia làm 2
tầng lớp dựa trên tính chất sở hữu đất đai đó là tầng lớp Địa chủ và Tá điền.
Sau năm 1945, đã thực hiện phân chia lại ruộng đất và giảm bớt thuế cho
nông dân nghèo. Sau khi kết thúc Kháng chiến chống thực dân Pháp, miền
Bắc thực hiện cải cách ruộng đất; mục đích nhằm công hữu hoá ruộng đất của
địa chủ người Việt và người Pháp. Đồng thời, tiến hành phân chia lại cho hộ
nông dân ít đất hoặc không có đất với khẩu hiệu “người cày có ruộng”. Giai
đoạn tiếp theo của chính sách cải cách ruộng đất đó là miền Bắc bước sang
giai đoạn sở hữu tập thể đất nông nghiệp dưới hình thức hợp tác xã từng khâu
(bậc thấp) và hợp tác xã toàn phần (bậc cao). Đến năm 1960, khoảng 86% hộ
nông dân và 68% tổng diện tích đất nông nghiệp đã vào hợp tác xã bậc thấp.
Trong hợp tác xã này người nông dân vẫn sở hữu đất đai và tư liệu sản xuất, ở
hình thức hợp tác xã bậc cao, nông dân góp chung đất đai và các tư liệu sản
xuất khác (trâu, bò, gia súc và các công cụ khác) vào hợp tác xã dưới sự quản
lý chung. Từ năm 1961 đến năm 1975, có khoảng 20.000 hợp tác xã bậc cao
đã ra đời với sự tham gia của hơn 80% hộ nông dân cả nước.
Ở miền Bắc, các Hợp tác xã (HTX) nông nghiệp mở rộng quy mô từ
7
HTX toàn thôn đến HTX toàn xã. Ở miền Nam, nông dân vẫn được phép hoạt
động dưới hình thức thị trường tự do đến năm 1977 - 1978, sau đó cũng từng
bước đi theo hướng tập thể hoá. Kết quả thực hiện mô hình kinh tế tập thể
khác nhau ở các vùng, cụ thể ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, có không
đến 6% số hộ nông dân tham gia HTX nông nghiệp. Khác với miền Bắc, ở
miền Nam các hộ nông dân vẫn là đơn vị sản xuất cơ bản mặc dù họ đã tham
gia HTX nông nghiệp. Họ sử dụng chung lao động và các nguồn lực sản xuất
nhưng họ tự quyết định trong sử dụng các đầu vào cũng như áp dụng các kỹ
thuật sản xuất.

1.2.2. Giai đoạn từ năm 1976 đến năm 1985
Sau năm 1975, nền kinh tế Việt Nam nói chung và nông nghiệp nói
riêng phải gánh chịu những hậu quả nặng nề của cuộc chiến tranh để lại. Mặt
khác, nền kinh tế Việt Nam còn chịu hậu quả từ những chính sách trong thời
kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung và kinh tế tập thể hoá trong nông nghiệp.
Trong thời kỳ sở hữu tập thể trong nông nghiệp, sản xuất giảm do người nông
dân thiếu động lực làm việc, sản lượng nông nghiệp tăng hàng năm ở mức rất
thấp 2%. Cùng thời điểm này dân số tăng rất nhanh (2,2 - 2,35 %/năm), đã
dẫn đến việc phải nhập khẩu bình quân hơn một triệu tấn lương thực mỗi năm
trong suốt thời kỳ sau chiến tranh. Điều đó đã dẫn đến một bộ phận lớn dân số
sống trong tình trạng đói nghèo [10].
Sự thay đổi cơ chế quản lý và sử dụng đất trong lĩnh vực nông nghiệp
bắt đầu bằng Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, hay còn gọi là
"Khoán 100". Dưới chính sách "Khoán 100", các HTX giao đất nông nghiệp
đến nhóm hộ nông dân và người lao động. Những người này có trách nhiệm
trong ba khâu của quá trình sản xuất. Sản xuất vẫn dưới sự quản lý của HTX,
cuối vụ hộ nông dân được trả thu nhập bằng thóc dựa trên sản lượng sản xuất
ra và ngày công đóng góp trong quá trình sản xuất. Nhưng đất đai vẫn thuộc
sở hữu của Nhà nước và dưới sự quản lý của HTX. Mặc dù còn đơn giản
8
nhưng Khoán 100 đã trở thành bước đột phá trong quá trình hướng tới nền
kinh tế thị trường. Sự ra đời của "Khoán 100" đã có những ảnh hưởng đáng kể
đến sản xuất nông nghiệp, đặc biệt đối với sản xuất lúa gạo, tăng 6,3 %/năm
trong suốt giai đoạn 1981 - 1985.
1.2.3. Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 1992
Sau năm 1985, tăng trưởng trong sản xuất nông nghiệp bắt đầu giảm, cụ
thể tốc độ tăng trưởng của tổng sản lượng nông nghiệp trong giai đoạn 1986 -
1988 chỉ là 2,2 %/năm. Đầu năm 1988, sản xuất lương thực không đáp ứng được
yêu cầu nên đã dẫn đến tình trạng thiếu ăn tại 21 tỉnh, thành ở Miền Bắc. Ở miền
Nam, một loạt các mâu thuẫn cũng gia tăng trong khu vực nông thôn, đặc biệt là

mối quan hệ đất đai bởi sự “cào bằng” về phân chia và điều chỉnh đất đai. Điều
này hiển nhiên đặt ra yêu cầu một cuộc cải cách mới trong chính sách đất đai.
Để giải quyết các vấn đề trên, chính sách đổi mới trong nông nghiệp đã
được thực hiện theo tinh thần của Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 28/03/1988 của
Bộ Chính trị, về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp. Với sự ra đời của Nghị
quyết 10 thường được biết đến với tên Khoán 10, người nông dân được giao đất
nông nghiệp sử dụng từ 10 - 15 năm và lần đầu tiên hộ nông dân được thừa nhận
như một đơn vị kinh tế tự chủ trong nông nghiệp. Bắt đầu từ thời kỳ này, các tư
liệu sản xuất (máy móc, trâu, bò, gia súc và công cụ khác) được sở hữu dưới
hình thức cá thể [10].
Tuy nhiên, cùng với Khoán 10 chưa có luật tương ứng dẫn đến một số
quyền sử dụng đất như cho hoặc thừa kế chưa được luật pháp hóa và thừa nhận.
Một loạt các vấn đề khác nảy sinh liên quan đến sản xuất chẳng hạn như: Trạm
điện, hệ thống giao thông nông thôn, thị trường, mà trước đây thuộc trách nhiệm
quản lý của các HTX nông nghiệp. Để giải quyết các vấn đề này Luật Đất đai
năm 1993 đó ra đời.
1.2.4. Giai đoạn từ Luật đất đai năm 1993 đến nay
Theo Luật Đất đai 1993, hộ nông dân được giao quyền sử dụng ruộng
9
đất lâu dài với 5 quyền: Chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế và thế
chấp. Người có nhu cầu sử dụng được giao đất trong thời hạn 20 năm đối với
cây hàng năm, 50 năm đối với cây lâu năm. Việc giao đất sẽ được tiến hành
lại tại thời điểm cuối chu kỳ giao đất, nếu như người sử dụng đất vẫn có nhu
cầu sử dụng. Luật Đất đai quy định mức hạn điền đối với hộ nông dân, cụ thể
như quy định hạn mức đất trồng cây hàng năm là 2 ha đối với các tỉnh ở miền
Bắc và miền Trung; 3 ha đối với các tỉnh ở miền Nam Cùng với việc giao đất
nông nghiệp thì việc cấp giấy chứng nhận QSDĐ cũng được các cơ quan chức
năng xem xét và cấp cho các hộ nông dân. Đến năm 1998, giấy chứng nhận
QSDĐ đã được cấp cho 71% hộ nông dân, cuối năm 2004 con số này trên 90%.
Đối với đất rừng ở khu vực Trung du và Miền núi nơi có rất nhiều

phong tục tập quán thì việc giao đất phức tạp hơn, quá trình cấp giấy chứng
nhận diễn ra chậm hơn và quá trình này vẫn đang được tiếp tục. Năm 1998,
những sửa đổi bổ sung một số điều Luật Đất đai năm 1993, thì người nông dân
được giao thêm hai quyền sử dụng nữa, đó là quyền cho thuê lại và quyền được
góp vốn đầu tư kinh doanh bằng quyền sử dụng đất [1].
Năm 2004, những sửa đổi bổ sung một số điều Luật Đất đai năm 1993
cho phép người sử dụng được tặng đất đai cho họ hàng, bạn bè của họ và được
đền bù nếu bị thu hồi. Sự bổ sung này cũng đưa ra một số các thay đổi liên
quan đến đất đai và thay đổi trong thủ tục đăng ký đất đai. Luật Đất đai mới ra
đời thay thế cho Luật Đất đai năm 1993 và các sửa đổi bổ, sung của Luật đất
đai được ban hành vào tháng 12 năm 2003 và có hiệu lực từ tháng 07 năm
2004. Đối với đất nông nghiệp không có sự thay đổi về thời hạn sử dụng và
diện tích hạn điền so với Luật Đất đai năm 1993. Tuy nhiên, lần đầu tiên đất
đai được chính thức xem như là “hàng hoá đặc biệt’ có giá trị và chính vì thế có
thể chuyển nhượng (thương mại). Luật Đất đai năm 2003, vẫn khẳng định “đất
đai là tài sản của Nhà nước” và cũng cho rằng cần có sự khuyến khích đối với
thị trường bất động sản bao gồm thị trường các quyền sử dụng đất đối với khu
10
vực thành thị. Cá nhân (người nông dân) và các tổ chức kinh tế được quyền
tham gia vào thị trường này. Những thay đổi trong chính sách đất đai của Việt
Nam từ năm 1993 đến nay đã góp phần đáng kể trong việc tăng nhanh sản
lượng nông nghiệp và phát triển khu vực nông thôn. Tổng sản lượng nông
nghiệp tăng 6,7 %/năm trong suốt giai đoạn 1994 - 1999 và khoảng 4,6% trong
giai đoạn 2004- 2003. An ninh lương thực quốc gia không còn là vấn đề
nghiêm trọng nữa và đói nghèo đang từng bước được đẩy lùi [6].
Các chính sách đất đai liên quan đến việc giao đất và các quyền của
người sử dụng đất cho phép sự phát triển của thị trường đất đai. Điều đó đã
mang lại hiệu quả trong việc phân bổ nguồn lực trong điều kiện hiện nay.
Theo Luật pháp của nước ta thì: Đất đai là tài sản của toàn dân, Nhà nước
thống nhất quản lý với tư cách người đại diện. Luật Đất đai năm 2003 thừa

nhận rằng Chính phủ là “đại diện cho sở hữu toàn dân”. Chính vì đất đai
thuộc sở hữu toàn dân nên không thể chuyển quyền sở hữu cho từng cá nhân
(hay tổ chức) mặc dù cá nhân hay tổ chức đó (có thể là người nước ngoài -
Việt Kiều) có thể sở hữu hoặc chuyển nhượng tài sản trên đất, như nhà cửa
được xây dựng trên thửa đất đó. Các cá nhân (trừ người nước ngoài), hộ nông
dân và các tổ chức có thể sử dụng hoặc chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Những chính sách đổi mới trong quản lý đất đai vào năm 1993, với mục đích
giúp người nông dân có được sự đảm bảo trong việc sử dụng đất thông qua
việc giao đất nông nghiệp sử dụng ổn định, lâu dài và cấp giấy chứng nhận
QSDĐ. Tuy nhiên, thời hạn giao đất vẫn còn ngắn và vẫn chưa được thay đổi
trong Luật Đất đai năm 2003. Điều này có thể khiến người dân vẫn chưa yên
tâm trong việc đầu tư dài hạn trong nông nghiệp. Thêm vào đó, tính linh hoạt
trong sử dụng đất vẫn bị ràng buộc, cá biệt là sự chuyển đổi sang các loại cây
trồng khác trên diện tích đất lúa truyền thống. Bằng việc tăng tính đảm bảo
chắc chắn cho người sử dụng đất, tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận
11

×