Tải bản đầy đủ (.doc) (24 trang)

tìm hiểu công cụ tỉ giá ở Việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (205.1 KB, 24 trang )

Lời nói đầu
Tỷ giá hối đoái là một vấn đề hết sức quan trọng nhng cũng hết sức phức tạp.
Ngày nay, tỷ giá là một vũ khí lợi hại trong cuộc chiến tranh thơng mại hết sức
khốc liệt trên thế giới, nhất là giữa Mỹ - Nhật - Tây Âu. ở Việt Nam, từ khi
chuyển sang nền kinh tế thị trờng, mở cửa hội nhập với nền kinh tế thế giới, tỷ giá
cũng là một vấn đề hết sức nóng bỏng và đợc nhiều ngời quan tâm. Chính sách tỷ
giá đã đợc nhà nớc ta sử dụng nh một công cụ quản lý vĩ mô. Nếu không có quyết
sách về tỷ giá kịp thời phù hợp sễ gây ảnh hởng tiêu cực, kìm hãm quá trình đầu t
trong nớc làm thâm hụt cán cân thơng mại và khó có thể thực hiện thành công
những mục tiêu và nhiệm vụ của sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất n-
ớc. Vì vậy, em đã chọn đề tài Tìm hiểu về công cụ tỷ giá ở Việt Nam
Qua đó nghiên cứu ảnh hởng về chế độ điều hành tỷ giá đến sự phát triển
kinh tế đất nớc và đa ra một số kiến nghị nhằm từng bớc hoàn thành chính sách tỷ
giá ở Việt Nam để hoàn thành bài viết này em xin chân thành cảm ơn sự hớng dẫn
của các thầy cô trong khoa. Do kiến thức còn hạn chế kinh nghiệm thực tế cha
nhiều, do vậy bài tiểu luận này sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Em mong
nhận đợc sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo để bài tiểu luận của em đạt kết
quả cao hơn.

1
Ch ơng I
những lý luận chung về tỷ giá và thị trờng tỷ giá
1. Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái là một nội dung quan trọng trong chính sách quản lý ngoại
hối. Theo quan điểm cổ điển, tỷ giá hối đoái (TGHĐ) là tỷ lệ so sánh ngang
giá(vàng) giữa đồng tiền của hai nớc, là hệ số chuyển đổi giữa đơn vị tiền tệ này
sang đơn vị tiền tệ khác. Theo quan điểm kinh tế hiện đại, TGHĐ là giá ngời ta trả
khi mua hoặc nhận đợc khi bán một ngoại tệ, trên thị trơng ngoai hối tỷ giá là giá
cả của tiền tệ nớc này tính bằng đơn vị tiền tệ của nớc khác. Nếu theo quan hệ
giữa ngoại tệ với nội tệ thì tỷ giá đợc hiểu là giá cả của đồng ngoai tệ đợc thể hiện
bằng đồng nội tệ. TGHĐ là một phạm trù kinh tế quan trọng trong đời sống kinh


tế - xã hội của mỗi nớc, là công cụ để đo lờng giá trị giữa các ngoại tệ, và do vậy
có tác động nh một công cụ cạnh tranh trong thơng mại giữa các nớc, ảnh hởng
mạnh mẽ tới giá cả, tới mọi hoạt động kinh tế - xã hội của nớc đó và các nớc có
liên quan.
Nền kinh tế càng hớng ngoại bao nhiêu thì quy mô và vị trí của kinh của
nền kinh tế đó cành mở rộng và tăng trởng bấy nhiêu, do đói vị trí của đồng tiền n-
ớc đó và sức mua của nó trên thị trờng quốc tế càng lớn bấy nhiêu. Có thể quy nạp
vai trò của TGHĐ vào một số điểm sau :
- TGHĐ có tác động to lớn tới quan hệ thơng mại quốc tế xuất nhập khẩu
hàng hoá, dịch vụ của một nớc với nớc khác.
Nếu TGHĐ trong nớc tăng, tức là đồng nội tệ mất giá so với đồng tiền nớc
ngoài, nghĩa là một ngoại tệ sẽ chuyển đổi đợc nhiều nội tệ hơn so với trớc. Lúc đó
hàng hoá mang ra bán ở nớc ngoài sẽ thu đợc nhiều lợi nhuận hơn so với bán hàng
hoá đó ỏ trong nớc, nh vậy sẽ khuyến khích xuất khẩu hàng hoá, đồng thời cũng
hạn chế nhập khẩu, vì hàng hoá nhập khẩu luác này sẽ phải bán đắt mới bù đủ chi
phí và phải cạnh tranh vớia nàng hoá trong nớc.
Ngợc lại, nếu TGHĐ trong nớc có xu thế giảm, tức là đồng nội tệ lên giá so
với đồng tiền nớc ngoài, nghĩa là một ngoại tệ sẽ đổi đợc ít nội tệ hơn so với trớc.
Trong trờng hợp này sẽ hạn chế xuất khẩu và khuyến khích hàng nhập khẩu. Rõ
ràng công cụ tỷ giá hối đoái có thể tác đọng khuyến khích hay hạn chế việc xuất
nhập khẩu háng hoá, dịch vụ.
2
- Tỷ giá hối đoái tác động mạnh mẽ tới kinh tế trong nớc và gây ảnh hớng
trực tiếp tỷ lệ lạm phát. Chẳng hạn, khi đồng nội tệ giảm giá so với đồng ngoại tệ,
tức là TGHĐ tăng, thì hàng nhập khẩu sẽ đắt hơn, toàn bộ hàng hoá, t liệu sản
xuất, vật t nhập khẩu, chuyển đổi sang đồng nội tệ sẽ bị đội giá làm cho giá
thành sản phẩm tăng, đẩy mặt bằng giá cả trong nớc lên gây ra sức ép đối với lạm
phát. Ngợc lại khi TGHĐ giảm, đồng nội tệ có xu hớng lên so với đồng ngoại tệ,
thì hàng nhập khẩu vào nớc đó sẽ rẻ hơn trớc, kéo mặt bằng giá cả xuống làm cho
tình trạng lạm phát trong nớc đợc cải thiện, tỷ lệ lạm phát giảm dần.

Nh vậy TGHĐ là một công cụ quản lý vĩ mô hết sức lợi hại, Chính phủ các n-
ớc luôn quan tâm tìm cách điều chỉnh tỷ giá, can thiệp vào tỷ giá trên thị trờng hối
đoái với ý đồ sử dụng nó làm công cụ để quản lý, điều tiết những mất cân đối lớn
trong hoat động kinh tế trong nớc, cũng nh những mất cân đối trong kinh tế đối
ngoại. Đồng thời, TGHĐ còn đợc xem nh là tìn hiệu của thực trạng mối quan hệ
kinh tế đối ngoai, mà thông qua nó chính phủ có thể đa ra các biện pháp hoặc sử
dụng những công cụ của chính sách kinh tế một cách phù hợp, hữu hiệu để đáp
ứng kịp thời nhu cầu phát triển kinh tế nói chung và kinh tế đối ngoại nói riêng.
TGHĐ chính là nhan tố hết sức quan trọng trong chính sách quản lý ngoại
hối của mỗi nớc. Không thể không thừa nhận vai trò trên đây của tỷ giá, vấn đề là
ở chỗ phải có một chế độ tỷ giá phù hợp để đảm bảo thực hiện đợc vai trò của tỷ
giá thì cho đến nay các nhà kinh tế tiền tệ còn có những ý kiến khác nhau.
Các nhà kinh tế theo trờng pháI chính thống (orthodox) cho rằng nên áp dụng
tỷ giá linh hoạt. Theo họ, tỷ giá thực chất là một loại giá cả, do cung - cầu về
ngoại tệ trên thị trờng quyết định, Nhà nớc không nên can thiệp vào. lợi thế chủ
yếu của chế độ tỷ giá linh hoạt là với chế độ tỷ giá này cán cân thanh toán quốc tế
sẽ do cung - cầu thị trờng xác lập thế cân bằng nhà nớc không cần phải dùng tới
dự trữ ngoại hối chínhthức để can thiệp, nhà nớc không cần đến những biện pháp
quản lý hành chính khác nhằm tác động vào tỷ giá. Mặt hạn chế của chế độ tỷ giá
linh hoạt là mọi hoạt động trong nền kinh tế thị tròng kể cả tỷ giá không phải lúc
nào cũng vận hành vận hành một cách thuận lợi, mà luôn xảy ra những mâu
thuẫn, cạnh tranh dẫn đến sự biến động. Khi có sự biến động dữ dội thì bà tay
ddieeuf tiết của chính phủ vào thị trờng, nhất là lĩnh vựec TGHĐ là hết sức quan
trọng và cần thiết.
Ngợc lại các nhà kinh tế sau chiến tranh thế giới lần thứ hai lại tán đồng thực
hiện chế độ tỷ giá cố định (hiệp ớc bretton woods), với quan điểm cho rằng, muốn
phục hồi và phát triển kinh tế trớc hết phải pphục hồi thơng mại quốc tế, muốn th-
ơng mại quốc tế phát triển phải có một chế độ tỷ giá cố định. Trong chế độ tỷ giá
cố định Bretton woods, đồng đôla mỹ đựoc gắn với vàng, đổi đợc ra vàng và trở
thành đồng tiền dự trữ và thanh toán quốc tế chủ yếu. Các đồng tiền khác phải xác

định một tỷ giá cố định với đồng đôla Mỹ. Đồng thời, chính phủ các nớc thông
3
qua ngân hàng trung ơng phải tham ra can thiệp vào thị trờng tiền tệ nớc mình để
giữ cho tỷ đã xác định với đồng đôla mỹ đợc ổn định. Nh vậy, với tỷ giá cố định
mọi hoạt động thơng mại quốc tế sẽ diễn ra một cách êm đẹp.
Đến thập kỷ 70, nền kinh tế các nứoc Tây âu và Nhật Bản đợc phục hồi và
phát triển mạnh, một phần có sự đóng góp của chế độ tỷ giá cố định. Nhng đồng
thời tỷ giá cố định này cũng đựơc bộc lộ nhiều nhợc điểm của nó. Nhợc điểm lớn
nhất của chế độ tỷ giá cố định là đã đa đồng tiền của một quốc gia (đồng đôla Mỹ)
lên làm đồng tiền dự trữ và thanh toán quốc tế. Ngay từ những năm 1960, nhà kinh
tế mỹ Robert triffin đã vạch ra nghịch lý đó. Để cho dự trữ thế giới tăng theo sự
tăng trởng của thơngmại quốc tế, nớc Mỹ, ngời cung ứng dự trữ quốc tế, buộc phải
bội chi cán cân thanh toán của mình. Nớc Mỹ có bội chi cán cân thanh toán quốc
tế, thì các nớc khác mới có thể tích luỹ đợc dự trữ đôla, đó là điều kiẹn cần thiết.
Thế nhng số đôla trong dự trữ của các nớc càng tăng lên thì khả năng chuyển đổi
đôla ra vàng cuả Mỹ càng giảm theo, vảtên thị trờng đôla càng mất giá.
Đó là cha nói đến ý đồ lạm dụng của nớc có đồng tiền làm phơng tiện dự trữ
quốc tế, họ có thể dùng đồng tiền của nớc mình để chi tiêu, thao túng các sự việc
nhằm mục đích chính trị, kinh tế, quân sự ở nớc ngoài, nh mỹ đã từng làm trong
những năm sau chiến tranh thế giới lần thứ hai. Mặt khác, trong khi cán cân thanh
toán quốc tế của Mỹ thờng xuyên bội chi, thì cán cân thanh toán quốc tế của các
nớc Nhật Bản, Cộng Hoà Liên Bang Đức, thờng xuyên bội thu, chế đọ tỷ giá cố
định không thể tự điều chỉnh để lập lại thế cân bằng, chính phủ các nớc kẻ cả Mỹ
không thể tung vàng, tung ngoại tệ ra can thiệp để giữ ổn định mãi một tỷ giá mà
thị trờng không chấp nhận. Cuối cùng các nớc buộc phải thả nổi đồng đôla Mỹ,
cũng có nghĩa là chế độ tỷ giá cố định bretton woods sụp đổ.
Một số nhà kinh tế khác lại cho rằng, chế độ tỷ giá cố định thích hợp với nền
kinh tế khép kín, hớng nội . Còn chế độ tỷ giá linh hoạt thích hợp với nền kinh
tế hớng ngoại .
Nh vậy, cuộc tranh luận giữa hai trờng pháI duy trì chế độ tỷ giá cố định hay

chế độ tỷ giá linh hoạt vẫn còn đang tiếp diễn. Vì mỗi chế độ tỷ giá đều có những
u thế riêng, đồng thời kèm theo những mặt hạn chế.
Xu thế hiện nay là nhiều nớc thực hiện theo chế độ tỷ giá linh hoạtcó quỷan
lý. Đây là một chế độ hỗn hợp giữa chế độ tỷ giá cố định và chế độ tỷ giá linh
hoạt. Với chế độ này tỷ giá đợc xác định theo cơ chế thị trờng cho phép nó đợc
biến động trong biên độ nhất định. Nếu vợt biên độ nàychính phủ thông qua chính
sách tiền tệ để điều tiết nhằm giữ cho tỷ giá biến động trong phạm vi quy định.
Nh vậy vấn đề cốt lõi cần quan tâm là chính sách tiền tệ, chính sách quản lý ngoại
hối nh thế nào. Nếu chính sách tiền tệ không đúng đắn thì mọi biện pháp can thiệp
vào tỷ giá đều ít có hiệu quả, vấn đề bội chi ngân sách là khó tránh khỏi và có tầm
quan trọng hơn. ngợc lại, nếu chính sách tiền tệ trong nớc đó đúng đắn và có hiệu
4
quả, nền kinh tế tăng trởng ổn định, phát triển hàI hoà giữa kinh tế đối nội và kinh
tế đối ngoại, đồnh tiền quốc gia ổn định, lành mạnh, thì sự can thiệp của chính
phủ vào tỷ giá chỉ là việc rất hãn hữuvà có thể khong cần thiết. Bởi vậy, việc xác
định một chính sách tiền tệ đung đắn, trong đó có chính sác ngoại hối hữu hiệu là
một vấn đề hết sức quan trọng và cần thiết đối với bất cứ loại hình kinh tế nào
Chúng ta có thể rút những nhận định rằng, chế độ tỷ giá hỗn hợp kết hợp giữa
tỷ giá linh hoạt theo cơ chế thị trờng với sự quản lý điều tiết của Nhà nớc là phù
hợp và đạt hiệu quả tối u hơn cả, nhất là đối với các nớc có nền kinh tế đang
chuyển đổi sang cơ chế thị trờng. ĐIều quan trọng trong việc thực hiện chế độ tỷ
giá hỗn hợp là quá trình xây dựng và xác định tỷ gía. Thông thờng ngờita dựa vào
năm yếu tố cơ bản sau đây để xác định tỷ giá hối đoái.
Thứ nhất, sức mua của đồng tiền biểu thị qua chỉ số lạm phát
Sức mua của đồng nội tệ và đồng ngoại đợc biểu thị qua chỉ số lạm phát là
một nhân tố quan trọng ảnh hởng trực tiếp tới TGHĐ. Trên thế giới có hai cách
xác định tỷ giá trên cơ sở cân bằng sức mua giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ, đó
là :
- Cân bằng sức mua tuyệt đối:
Tỷ giá = =

- Cân bằng tơng đối:
= x
Thứ hai, cán cân thanh toán quốc tế phản ánh mức cung - cầu ngoạitệ của
một nớc, do đó ảnh hởng trực tiếp đến TGHĐ.
Theo quan hệ của quy luật cung - cầu thì khi có bội thu cán cân thanh toán
quốc tế sẽ làm cho tỷ giá giảm (nội tệ lên giá, ngoại tệ giảm giá) và ngợc lại khi có
bội chi cán cân thanh toán quốc tế sẽ làm cho tỷ giá tăng (ngoại tệ lên giá, nội tệ
giảm giá).
Thứ ba, lãi suất, lợng cung ứng tiền.
Trong cơ chế thị trờng, lãi suất và tỷ giá là hai công cụ quan trọng nhất trong
việc điều hành chính sách tiền tệ. Chính sách lãi suất và chính sách tỷ giá luôn gắn
bó với nhau và hỗ trợ nhau. Việc đề ra một chính sách lãi suất hợp lý cùng với việc
điều hành lợng cung ứng tiền phù hợp vơí tốc độ tăng trởng của nền kinh tế đó và
chỉ số lạm phát sẽ góp phần ổn định sức mua của đồng tiền, là yếu tố ổn định tỷ
giá.
Thứ t, các chính sách kinh tế vĩ mô.
Khi nhà nớc có những thay đổi về chính sách kinh tế _ xã hội, thì lập tức sẽ
tác động đến các chỉ kinh tế vĩ mô nh tốc độ tăng trởng kinh tế, chỉ số thất nghiệp,
5
bội chi ngân sách, . . . điều này cũng gián tiếp ảnh hởng tơí tỷ giá.
Thứ năm, yếu tố tâm lý.
Khi tình hình kinh tế, chính trị có thay đổi, thì tất yếu sẽ tác động đến tâm lý
con ngời làm cho tỷ giá có thể đột biến lên xuống trên thị trờng.
Đối với các nớc có nền kinh tế thị trờng hoàn chỉnh với cơ chế tỷ giáthả nổi, thì
tỷ giá hình thành và biến động theocácyếu tố cơ bản trên đây, và theo quy luật cung -
cầu, tất nhiên là luôn có sự tách biệt giữa tỷ giá danh nghĩa và tỷ giá thực tế.
Tỷ giá hối đoái danh nghĩa đợc xây dựng và xác định trên cơ sở năm yếu tố
cơ bản nêu trên. loại tỷ giá này đợc biết đến nhiều nhất và tỷ giá đợc niêm yết,
công bố trên các phơng tiện thông tin đại chúng. Còn TGHĐ thực tế đợc xác định
theo công thức sau:

= x
Đây chính là tỷ giá mà các nhà kinh tế quan tâm.
Nhìn chung TGHĐ thực tế có mục đích điều chỉnh, hay nói một cách khác là
sửa chữa tác động lạm phát và để phản ánh những biến đổi thực tế trong khả
năng cạnh tranh của hàng hoá nhập khẩu của một quốc gia.
Ví dụ: Nếu TGHĐ danh nghĩa ở mức :1USD = 10. 000 VND. Trong khi mức
tăng giá cả trong nớc tăng gấp đôi, mặc dù không có lạm phát trên thế giới, thì lúc
đó TGHĐ thực tế của VND sẽ ở mức
1USD = 5000 VND. Tỷ giá thực tế VND đã tăng gấp đôi so với tỷ giá danh
nghĩa. Rõ ràng, trong trờng hợp này ngời xuất khẩu sẽ bị thiệt thòi, tức là số tiền thu
đợc từ xuất khẩu sẽ mang lại ít nội tệ hơn, trong khi đó nhập khẩu lại có lợi.
2. Thị trờng hối đoái
Thị trờng hối đoái là nhân tố hết sức quan trọng nếu không nói là không thể
thiếu trong nền kinh tế thị trờng. Thị trờng hối đoái là nơi diễn ra các giao dịch
trao đổi, mua, bán, vay mợn ngoại tệ, là nơi thông qua sự cọ xát giữa cung và cầu
ngoại tệ để thoả mãn các nhu cầu cuả các chủ kinh tế, đồng thời xác định các điều
kiện giao dịch, tức là giả cả, thời hạn và giao vốn.
Thị trờng hối đoái hiểu theo nghĩa rộng là thị trờng có tính chất quốc tế, hoạt
động không có giờ giấc nhất định, liên tục suốt 24/24 giờ trong ngày trên phạm vi
toàn cầu, xuất phát từ châu á sang châu âu, đóng cửa ở châu mỹ cũng đồng thời là
mởi cửa ở châu á. Với phạm vi toàn cầu và thời gian hoạt động nh vậy, thị trờng
hối đoái là nơi phản ánh kịp thời mọi diễn biến của tỷ giá, của lãi suất các loại tiền
tệ trên thế giới.
Trong phạm vi một quốc gia, thị trờng hối đoái đợc xem nh một dạng thị tr-
ờng liên ngân hàng. Nó là nơi giao dịch mua, bán, chuyển đổi các ngoại tệ đợc
6
chấp nhận ra nội tệ, hoặc giữa các loại ngoại tệ dựoc hoán đổi cho nhau trên cơ sở
các điều kiện đợc xác định (tức là giá cả và giao vốn).
Dù là thị trờng hối đoái quốc tế hay thị trờng hối đoái quốc gia, những thành
viên tham ra trực tiếp hay gián tiểptên thị trờng đều là ngân hàng trung ơng, Ngân

hàng thơng mại và ngời môi giới. Tuỳ theo luật định của mỗi nớc, cơ cấu tổ chức và
ngời tham gia vào thị trờng hối đoái đợc qui định cụ thể.
Ví dụ, ở cộng hoà Pháp các thành viên tham gia vào thị trờng hối đoái bao
gồm ngân hàng trung ơng Pháp, các ngân hàng thơng mại tơng đối lớn(khoảng 30
ngân hàng) và các nhà môi giới. Họ đều lànhững thành viên tham gia trực tiếp vào
kinh doanh hối đoái trên thị trờng. Còn ở Vơng quốc Anh, trên thị trờng hối đoái
ngời giao dịch trực tiếp mua, bán, trao đổi, vay mợn đồng bảng Anh(GBP) với các
ngoại tệ khác chỉ là ngời môi giới hoặc công ty kinh doanh lớn(không phải nghề
ngân hàng), còn các ngân hàng thơng mại và ngân hàng trung ơng tham gia gián
tiếp, họ muốn trao đổi, mua, bán, ngoại tệ thì phải thông qua ngời môi giới.
Tuy nhiên dù tham gia trực tiếp haygián tiếp, chức năng cúa các ngân hàng
thơng mại ở đây vẫn là kinh doanh cho bản thân và cho khách hàng của họ. Ngân
hàng trung ơng tham gia trên thị trờng hối đoái một mặt nhằm phục vụ khách hàng
của mình(chủ yếu là các cơ quan hành chính nhà nớc và các tổ chức tài chính, tiền
tệ quốc tế), mặt khác nhằm phục vụ quỹ bình ổn hối đoái, theo dõi tỷ giá và trong
trờng hợp cần thiết sẽ can thiệp để hạn chế những biến động tỷ giá có thể xảy ra
giữ ngoại tệ với nội tệ. Những ngời môi giới tham gia vào thị trờng hối đoái thực
hiện thuần tuý một chức năng kinh doanh phục vụ khách hàng khi có yêu cầu.
Những ngời tham gia giao dịh trên thị trờng hối đoái có thể thực hiện mua,
bán, vay mợn lẫn nhau thông qua các ký hiệu giao dịch đã qui ớc, hoặc có thể
thông qua hình thức liên lạc viễn thông để thực hiện giao dịch. Song dù ở hình
thức nào thì các giao dịch đều thực hiện theo nguyên tắc trao đổi tài sản Có trên
tài sản đợc nghi bằng hai bằng hai đồng tiền giao dịch.
Sở dĩ chính phủ các nớc phải quản lý và điều tiết vĩ mô thị trờng hối đoái, vì
thông qua thị trờng hối đoái quan hệ cung cầu về ngoại tệ, giá cả của giao dịch
tức là tỷ giá hối đoái, lãi suất của các ngoại tệ theo quan hệ cung - cầu và các yếu
tố của thị trờng đợc thể hiện và xác định, trên cơ sở đó Chính phủ Ngân hàng
Trung ơng thực hiện việc điều tiết thị trờng hối đoái bằng cách mua, bán ngoại tệ
từ qỹu bình ổn hối đoái để tác động lên tỷ giá, nhằm mục đích đạt đợc một tỷ giá
phù hợp ôứi nhu cầu phát triển của nền kinh tế quốc dân.

3. Vàng, bạc, đá quý
Một nhân tố không thể không đề cập đến trong hoạt động kinh doanh của thị
trờng hối đoái và trong thị trờng quản lý ngoại hối đó là lĩnh vực vàng, bạc, đá
quý.
7
Thời kỳ đầu của chủ nghĩa t bản (thế kỷ XVII - XVIII) vang, bạc, đá quý nói
chung đợc coi nh là biểu tợng của sự giàu có của một quốc gia. Vàng đợc coi là mọi
của cải của xã hội, là phơng tiện thanh toán, trao đổi, dự trữ quốc tế duy nhất ở thời
kỳ này. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, các quan hệ kinh
tế cũng nh sự hiện đại hoá mọi lĩnh vực từ sản xuất, kinh doanh đến dịch vụ, đầu t
đã tạo ra những công ụ trong thanh toán, trao đổi và dự trữ quốc tế rất đa dạng,
khiến cho vàng không còn chiếm vị trí độc tôn nh trớc.
Cho đến giai đoạn hiện nay ngơì ta hoàn toàn không dùng vàng để thanh toán
trong thơng mại quốc tế, tuy vậy, vàng vẫn chiếm một vị trí xứng đáng trong kho
dự trữ của mỗi quốc gia, và đợc sử dụng nh một chiếc phao cứu hộ đắc lực cho
việc cân bằng Cán cân thanh toán quốc tế. Đồng thời, sự can thiệp của vàng vào
thị trờng sẽ tác động tích cực lên TGHĐ trong trờng hợp cần thiết. Chính vì lẽ đó,
vấnđề vàng, bạc, đá quý nói chung và vàng nói riêng đợc các quốc gia hết sức coi
trọngvà chú ý, đơc đề cập đến nh một đối tọng trong chính sách quản lý ngoại hối.
Ngày nay vàng là hàng háo phi tài chính duy nhất đợc mua bán tự do liên tục
24/24 giờ trong ngày trên thế giới. Bởi vậy, thị trờng vàng quốc tế và thị trờng
vàng khu vực luôngluôn tác động vào thị trờng vàng của mỗi quốc gia. Biến động
trong quan hệ cung - cầu vàng trên thị trờng gây ra giá vàng lên, xuống sẽ tác
động vào giá trị tiền tệ, lam TGHĐ biến động. Ngợc lại, khi tỷ giá biến động ở
một chừng mực nhất định sẽ tác động lên giá vàng.
Nh vậy nếu chính phủ thực hiện đợcviệc quản lý, điều tiết và khống chế thị
trờng vàng trong nớc, thì trong một mức độ nhất định có thể tác động tích cực ổn
định đợc tỷ giá theo mong muốn. Điều đó khẳng định thị trờng vàng có tầm quan
trọng, và việc quản lý vàng, bạc, đá quý là không thể thiếu đợc trong chính sách
quản lý ngoại hối của mỗi quốc gia.

8
ch ơng II
DIễn BIếN Tỷ GIá
I. Dịch chuyển tỷ giá một số nguyên nhân giải thích
Thực tế tốc độ tăng tỷ giá VND/USD trong năm 2000 đến thời điểm hiện nay
cũng không lớn hơn nhiều so với tốc độ tăng trởng trong năm 1999. Nhng sự dịch
chuyển tỷ giá trong 2 thời kỳ này đợc đánh giá bởi một số nhân tố cơ bản khác
nhau. điều chỉnh tỷ giá VND/USD trong năm nhằm tăng cờng khả năng cạnh tranh
của hàng hoá xuất khẩu VN;giảm bớt sự mất cân bằng của đồng việt nam so cới
USD, dịch chuyển tỷ giá dần tới trạng thái cân bằng của nó. Sự dịch chuyể tỷ giá
VND/USD trong năm 2000, ngoài những nhân tố trên, chụi sức ép của nhiều nhân
tố khác nh mức chênh lệch lớn tỷ giá kỳ hạn và giao ngay, chênh lệch lãi xuất
USD trên thị trờng tiền tệ quốc tế và trong nớc quá cao, thâm hụp gia tăng, lạm
phát thấp,
Diễn biến dịch chuyển tỷ giá VND/USD có thể nhìn tổng thể qua biểu đồ 1.
Nếu trong năm 1999, đồng Việt Nam chỉ giảm giá 1%, thì đến tháng 9/2000,
đã giảm 1, 33% so với cuối năm 1999. Tuy nhiên, tốc độ dịch chuyển tỷ giá
VND/USD thời gian gần đây tăng cao. Tỷ giá tăng dồn dập đã đặt ra câu hỏi Tại
9
13900
13950
14000
14050
14100
14150
14200
14250
14300
14350
1/08/00

8/08/00
15/08/00
22/08/00
29/08/00
5/09/00
12/09/00
19/09/00
26/09/00
3/10/00
10/10/00
17/10/00
24/10/00

×