Tải bản đầy đủ (.pdf) (129 trang)

Cổ phần hóa DNNN và hoạt động TTCK Việt Nam trong thời gian qua cùng với thực tiễn của hệ thống niêm yết

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (700.77 KB, 129 trang )

1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Thò trường chứng khoán là một bộ phận cuả thò trường tài chính, hoạt động
trong lónh vực trao đổi cổ phiếu và trái phiếu dài hạn, là một cấu trúc xã hội đặc
biệt của sự vận hành vốn. TTCK có vai trò rất quan trọng không chỉ trong việc
huy động vốn cho sự phát triển nền kinh tế mà còn tham gia phân phối lại thu
nhập quốc dân, điều hoà phân bổ vốn đầu tư xã hội giữa các ngành nghề, doanh
nghiệp, tạo ra môi trường điều tiết vó mô, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh
doanh cuả doanh nghiệp…
Chiến lược phát triển thò TTCK Việt Nam đến năm 2010 đã được Thủ Tướng
chính phủ phê duyệt ngày 05/08/2003 tại quyết đònh số 163/2003/QĐ – TTg thể
hiện sự đặc biệt chú trọng của Đảng và Chính phủ trong việc xây dựng thò
trường vốn vững mạnh. Theo đó, mục tiêu là phát triển TTCK cả về quy mô và
chất lượng hoạt động nhằm tạo ra kênh huy động vốn trung và dài hạn cho đầu
tư phát triển, góp phần phát triển thò trường tài chính Việt Nam; duy trì trật t
ự,
an toàn, mở rộng phạm vi, tăng cường hiệu quả quản lý, giám sát thò trường
nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư; từng bước nâng cao khả
năng cạnh tranh và chủ động hội nhập tài chính quốc tế .
Đònh hướng đầu tiên để phát triển thò trường là mở rộng quy mô của TTCK tập
trung, phát triển thò trường trái phiếu và tăng số lượng các loại cổ phiếu niêm
yết trên TTCK tập trung nhằm tăng quy mô về vốn cho các doanh nghiệp, nâng
cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các công ty niêm yết, đưa TTCK ngày một
đi vào ổn đònh, đa dạng hàng hoá nhằm thu hút nhà đầu tư.
TTCK đã trải qua hơn 5 năm hoạt động, kể từ khi Trung tâm Giao dòch chứng
khoán Thành Phố Hồ Chí Minh chính thức ra đời (ngày 20/07/2000), đến
20/07/2005 chỉ có 30 doanh nghiệp tham gia niêm yết chứng khoán. Tiến trình
2
CPH qua chặng đường hơn 10 năm, đã tạo được những thành tựu đáng ghi nhận
với số doanh nghiệp CPH trên cả nước đến nay khoảng hơn 2.500 doanh nghiệp,


hầu hết các doanh nghiệp CPH đều có kết quả kinh doanh khả quan, nhưng nếu
xét thực chất về nhu cầu hàng hoá hiện nay trên thò trường thì rõ ràng các nhà
đầu tư, các CTCK vẫn chưa thoả mãn nhu cầu tạo lập và phát triển danh mục
đầu tư cuả họ một cách đầy đủ. Vậy đâu là nguyên nhân khiến các doanh nghiệp
ngại “lên sàn” dẫn đến tình trạng khan hiếm hàng hoá trên TTCK Việt Nam
hiện nay?
Xuất phát từ tình hình thực tế và câu hỏi nêu trên, việc đề ra các giải pháp
thúc đẩy các doanh nghiệp tiềm năng lên niêm yết trên TTCK Việt Nam trong
giai đoạn hiện nay là hết sức cần thiết để gia tăng khối lượng hàng hoá cho thò
trường, đồng thời tạo điều kiện cho các doanh nghiệp niêm yết huy động vốn
qua TTCK được dễ dàng, thuận lợi hơn (vì thực tế cho thấy hiện nay hình thức
CPH cuả đa số các doanh nghiệp Nhà nước đều diễn ra trong nội bộ) nhằm nâng
cao khả năng cạnh tranh, quảng bá thương hiệu, lành mạnh hoá tình hình tài
chính và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
2. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
Bổ sung cơ sở lý luận khoa học cho việc hình thành và vận hành hệ thống lộ
trình đưa các doanh nghiệp tiềm năng lên niêm yết trên TTCK.
Tổng kết thực tiễn quá trình thúc đẩy các doanh nghiệp tiềm năng lên niêm
yết trên TTCK tập trung dựa vào số liệu thực tế để từ đó có những đánh giá về
xu hướng, khả năng phát hành và niêm yết cuả các doanh nghiệp tiềm năng
trong tương lai.
Đề tài còn đóng góp về mặt nhận thức dựa trên nền tảng khoa học đối với các
giải pháp thúc đẩy có hiệu quả, giúp đưa các doanh nghiệp tiềm năng lên niêm
yết trên TTCK Việt Nam.
3
Đề tài đưa ra một số giải pháp cho sự hình thành và phát triển hệ thống thúc
đẩy các doanh nghiệp tiềm năng lên niêm yết, có thể áp dụng vào điều kiện cụ
thể của Tp.HCM và các tỉnh phiá Bắc, và xa hơn có thể tiến đến nhân rộng mô
hình để áp dụng trên phạm vi cả nước.
Việc ứng dụng đề tài vào thực tiễn có thể giúp khai thác mọi tiềm lực cuả các

doanh nghiệp, tương xứng với tiềm năng, lợi thế và tầm vóc cuả Tp.HCM, các
tỉnh phiá Bắc mà chủ yếu là Tp. Hà Nội, phù hợp với xu thế phát triển và hoàn
thiện thò trường tài chính nói chung và TTCK nói riêng.
Cuối cùng, Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất
nước nên rất cần một lượng vốn lớn đáp ứng nhu cầu phát triển của các doanh
nghiệp – những “tế bào” cấu thành nên nền kinh tế. Để đạt được mục tiêu này,
chúng ta cần huy động tối đa mọi nguồn lực từ tất cả các thành phần kinh tế, sử
dụng mọi phương thức huy động vốn, trong đó huy động vốn qua các doanh
nghiệp niêm yết trên TTCK là một giải pháp thật sự hữu hiệu.
3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Mục tiêu của việc nghiên cứu đề tài này không nằm ngoài việc đóng góp
thêm một số giải pháp thu hút các doanh nghiệp tiềm năng lên niêm yết trên
TTCK Việt Nam, nhằm giúp họ quảng bá thương hiệu, thu hút vốn được dễ dàng
hơn, lành mạnh và công khai hoá tình hình tài chính. Một bước tiến xa hơn là
nhằm đưa TTCK VN đi vào ổn đònh, phong phú về hàng hóa, đa dạng về chủng
loại, nâng cao về mặt chất lượng để có thể nhanh chóng hội nhập vào TTCK thế
giới.
Củng cố, mở rộng các quan hệ hàng hóa – tiền tệ, đặc biệt là các quan hệ tài
chính trong nền kinh tế.
Cải thiện môi trường kinh tế vó mô, đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế.
Tạo uy tín và lòng tin từ nơi nhà đầu tư trong và ngoài nước.
4
Mục tiêu sau cùng của đề tài chính là đề xuất mô hình hỗ trợ việc gia tăng
năng lực hoạt động của các doanh nghiệp tiềm năng tại hai đòa bàn nêu trên
mang tính hệ thống, khả thi nhằm giúp các doanh nghiệp này đáp ứng các tiêu
chuẩn niêm yết, tháo gỡ những khó khăn vướng mắc trong quá trình tạo hàng
cho TTCK, trong đó nhấn mạnh đến những khó khăn từ phía doanh nghiệp.
4. ĐỐI TƯNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các doanh nghiệp tiềm năng trên đòa bàn
Tp.HCM và các tỉnh phía Bắc.

5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận văn sử dụng phương pháp thu thập số liệu, kế thừa một cách có chọn lọc
các tài liệu khoa học, mô tả, phân tích đánh giá, so sánh dựa vào thực tiễn hoạt
động sản xuất, kinh doanh, dòch vụ và tiềm năng niêm yết của các doanh
nghiệp; bài học kinh nghiệm của các nước trên thế giới, dựa vào hoàn cảnh và
điều kiện cụ thể của Tp.HCM và các tỉnh phía Bắc từ đó rút ra kết luận và giải
pháp theo quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lòch sử.
Nội dung của đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Những lý luận cơ bản về công ty cổ phần, thò trường chứng khoán,
niêm yết và một số vấn đề liên quan đến việc thúc đẩy các doanh nghiệp tiềm
năng lên niêm yết trên thò trường chứng khoán.
Chương 2: Thực trạng quá trình cổ phần hoá DNNN và hoạt động của TTCK
Việt Nam trong thời gian qua cùng với thực tiễn hoạt động cuả hệ thống niêm
yết
Chương 3: Một số giải pháp nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp tiềm năng lên
niêm yết trên TTCK Việt Nam

-----WZYX-----
5
CHƯƠNG I
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN, THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN, NIÊM YẾT VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN
VIỆC THÚC ĐẨY CÁC DOANH NGHIỆP TIỀM NĂNG LÊN NIÊM YẾT
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

1.1. CÔNG TY CỔ PHẦN – NGUỒN HÀNG HOÁ CHO TTCK
1.1.1. Khái niệm công ty cổ phần
Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó :
Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; Cổ đông chỉ
chòu trách nhiệm về nợ và các nghóa vụ tài sản khác của DN trong phạm vi số

vốn đã góp vào DN; Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình
cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy đònh khác; Cổ đông có thể là tổ
chức, cá nhân; Số lượng cổ đông tối thiểu phải là ba và không hạn chế số lượng
tối đa; CTCP có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy đònh của
pháp luật về chứng khoán.
1.1.2. Đặc điểm cuả công ty cổ phần
- Vốn điều lệ của CTCP được chia làm nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần.
Người chủ sở hữu vốn cổ phần gọi là cổ đông. Mỗi cổ đông có thể mua một hoặc
nhiều cổ phần.
- Công ty có thể phát hành nhiều loại cổ phần, trong đó phải có cổ phần phổ
thông. Ngoài cổ phần phổ thông, công ty có thể phát hành thêm cổ phần ưu đãi:
cổ phần ưu đãi biểu quyết, cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại và cổ
phần ưu đãi do điều lệ công ty qui đònh.
- Cổ đông có quyền chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ
trường hợp đó là cổ phần ưu đãi và cổ phần của cổ đông sáng lập công ty sau
6
một thời gian quy đònh phải nắm giữ (thường từ hai đến ba năm) kể từ ngày công
ty được cấp giấy chứng chận đăng ký kinh doanh. Đặc điểm này của CTCP cho
phép các nhà đầu tư có thể chuyển đổi hình thức và mục tiêu đầu tư một cách
linh hoạt.
- Cổ đông chỉ chòu trách nhiệm về nợ và các nghóa vụ khác của công ty trong
phạm vi vốn góp của mình vào công ty. Đặc điểm này cho thấy các cổ đông chỉ
chòu trách nhiệm pháp lý hữu hạn đối với phần vốn góp của mình vào công ty
(khác với tính chòu trách nhiệm vô hạn của các thành viên trong CTHD, chủ DN
trong DNTN.
- Công ty được quyền phát hành chứng khoán ra công chúng. Đặc điểm này
cho thấy khả năng huy động vốn của công ty là rất lớn và rộng rãi trong công
chúng.
- Cổ đông của CTCP tối thiểu phải là ba và không hạn chế số lượng tối đa
(khác với công ty TNHH là số thành viên không được vượt quá 50 thành viên).

Trong quá trình hoạt động, CTCP được quyền phát hành chứng khoán ra công
chúng và các cổ đông được quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình, vì
vậy số lượng cổ đông của CTCP thường là rất đông.
1.1.3. Huy động vốn cuả công ty cổ phần
CTCP là tế bào của nền kinh tế thò trường, là tổ chức rất phổ biến và lớn mạnh
ở các nước tư bản phát triển. Các-Mác đã đánh giá vai trò của CTCP như sau:
“…Nếu phải chờ đợi tư bản tư nhân tích tụ cho đến lúc nó đủ sức làm các con
đường sắt thì có lẽ cho đến ngày nay Châu Âu vẫn chưa có con đường sắt nào,
nhưng nhờ việc thành lập các CTCP nên việc ấy đã làm được dễ dàng như trở
bàn tay vậy”.
Bằng những ưu thế của CTCP về phương thức huy động và sử dụng vốn, chỉ
trong thời gian rất ngắn hình thức CTCP đã vượt xa các hình thức khác về khả
7
năng tận dụng những nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội. Có thể nói CTCP là hình
thức tập trung vốn mới, hiệu quả và tiến bộ hơn.
Chính những ưu thế vượt trội này, CTCP trở thành mô hình phổ biến hiện nay ở
các nước phát triển. Nó được hình thành theo 3 phương thức huy động vốn chủ
yếu sau đây:
- Hình thành CTCP bằng cách liên kết nguồn vốn trong nước.
- Hình thành bằng phương thức liên kết nguồn vốn trong và ngoài nước.
- Hình thành bằng phương pháp CPH các DN (đây là hình thức mà nước ta
đang thực hiện trong khoảng hơn 10 năm trở lại đây).
1.1.4. Vai trò cuả công ty cổ phần trong việc cung cấp hàng hoá cho TTCK
Trước khi có CTCP, việc bán các trái phiếu và các thương phiếu thường chỉ
xuất hiện khi các chủ sở hữu chúng cần tiền mặt. Việc di chuyển đầu tư kiếm
lời từ loại công trái hay thương phiếu này sang loại công trái hay thương phiếu
khác là rất hãn hữu vì mức lãi suất các loại trái phiếu về cơ bản là tương đương
nhau và độ an toàn cũng vậy. TTCK do đó chỉ hoạt động ở qui mô nhỏ.
Trái lại, với sự xuất hiện CTCP, việc giao dòch mua bán chứng khoán đã bùng
nổ và bước sang một giao đoạn hoàn toàn mới mẻ. Điều này bắt nguồn từ nhiều

lý do. Thứ nhất, các lónh vực đầu tư trở nên vô cùng đa dạng, bao gồm toàn bộ
các hoạt động sản xuất kinh doanh. Người đầu tư lúc này đứng trước hàng loạt
lựa chọn đầu tư. Thứ hai, mức độ kiếm lời và rủi ro của các lónh vực này hay
công ty khác nhau cũng khác nhau, thậm chí mức sinh lãi của đầu tư còn phụ
thuộc vào cả tình hình chính trò hay sự sống của một cá nhân có uy tín trong
chính trường hay trong kinh doanh. Nói cách khác, người đầu tư đứng trước hàng
loạt các tình huống lựa chọn đầu tư, và do đó tạo ra nhiều khả năng cho việc di
chuyển đầu tư từ lónh vực này sang lónh vực khác. Thứ ba, tính chất đầu cơ trong
giao dòch mua bán loại chứng khoán này xuất hiện. Kết quả là, thứ tư, một khối
8
lượng lớn giao dòch mua bán chuyển nhượng chứng khoán trên thò trường trở nên
thường xuyên với sự tham gia hết sức đông đảo của hầu hết các tầng lớp trong
xã hội. TTCK đến lúc đó mới thực sự phát triển cả về số lượng cũng như về
chất.
Như vậy CTCP có một ảnh hưởng có tính chất cách mạng làm thay đổi toàn bộ
hoạt động của TTCK. Nếu như trước đây TTCK chỉ là nơi giao dòch các trái
phiếu, thì giờ đây nó gồm thêm cả một loại chứng khoán có sức hấp dẫn đầu tư
hơn gấp nhiều lần, đó là các cổ phiếu. Từ đây trở đi, cổ phiếu là loại hàng hoá
chiếm tỉ trọng áp đảo trong giao dòch mua bán tại TTCK.
Với đặc điểm vượt trội của CTCP, cùng với khả năng phát hành các loại chứng
khoán và việc chuyển nhượng, mua bán chứng khoán sẽ tạo điều kiện cho sự ra
đời của TTCK. Vì vậy, vai trò của CTCP trong việc tạo hàng hóa cho TTCK là
không thể phủ nhận. Bên cạnh đó, sự phát triển của CTCP cả về lượng lẫn về
chất tác động lớn đến sự hoàn thiện vai trò của TTCK đến nền kinh tế thò
trường, và đến lượt nó, TTCK sẽ tạo điều kiện cho nhà kinh doanh có thể tìm
kiếm các nguồn tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
1.1.5. Công ty cổ phần là ưu thế cuả nền kinh tế thò trường
Ngày nay, tất cả các quốc gia trên thế giới có nền kinh tế phát triển, hoạt động
theo cơ chế thò trường đều có hệ thống thò trường tài chính tốt. Thực tế cho thấy,
hệ thống thò trường tài chính đã góp phần thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng

nền kinh tế tư bản chủ nghóa, kể cả ở những quốc gia mà tài nguyên hầu như
không có gì. Một thò trường tài chính năng động là một thứ “ tài nguyên” bất tận
và nó làm tăng thêm sức mạnh cho nền kinh tế hơn bất cứ loại tài nguyên nào
và với trữ lượng bao nhiêu. Chính vì vậy, từ lâu các nhà DN lớn của thế giới đã
khẳng đònh : “Không thể triển khai các dự án tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản
xuất, nếu không tập hợp được những nguồn vốn khổng lồ mà người tập hợp có
9
toàn quyền sử dụng cho những mục tiêu trung và dài hạn. TTCK có vai trò đó,
cái mà ngành ngân hàng với phương thức kinh doanh ăn chắc không thể làm
được”. Cho nên, việc CTCP ra đời đã giải quyết được tình trạng thiếu vốn để
thành lập hoặc phát triển các DN đòi hỏi vốn lớn mà một cá nhân không đủ khả
năng tài chính cho việc đó. Và thông qua TTCK, CTCP đã biến những nguồn
vốn ngắn hạn, lẻ tẻ trở thành những nguồn vốn đầu tư dài hạn to lớn.
Từ kinh nghiệm của các quốc gia đi trước cũng như thực tiễn hoạt động của các
CTCP ở nước ta đã khẳng đònh được lợi ích của việc CPH các DNNN và những
ưu thế của mô hình CTCP so với mô hình tổ chức, quản lý các DNNN hiện tại.
Mặc dù vẫn còn không ít khó khăn nhưng sau khi thực hiện CPH, các DN đều tỏ
ra năng động hơn, hoạt động theo “điều lệ” trên cơ sở Luật DN, các CTCP tự
quyết đònh phương án phát triển sản xuất, kinh doanh, tự quyết đònh và tự trách
nhiệm đối với các dự án đầu tư; lợi ích của người lao động gắn bó chặt chẽ với
lợi ích của DN. Điều này có thể khẳng đònh được thông qua kết quả hoạt động
sản xuất kinh doanh, đặc biệt là sự tăng trưởng về vốn và lợi nhuận một cách đột
biến của các CTCP trong giai đoạn 2000-2004. Với mô hình DNNN trước đây,
những DN này chưa bao giờ tạo ra được mức độ tăng trưởng nhanh như vậy.
1.2. LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.2.1. Khái niệm về thò trường chứng khoán
TTCK có thể được hiểu đơn giản là một bộ phận của thò trường vốn và là nơi
diễn ra các hoạt động giao dòch mua bán các loại chứng khoán trung và dài hạn.
Về hình thức TTCK chỉ là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi mua bán các loại
chứng khoán, qua đó thay đổi các chủ thể nắm giữ chứng khoán. Nhưng về bản

chất thì TTCK là nơi tập trung và phân phối các nguồn vốn tiết kiệm; là đònh
chế tài chính trực tiếp, mà cung cầu vốn có thể trực tiếp tìm đến với nhau; là sự
10
vận động của tư bản tiền tệ, chuyển tư bản tiền tệ từ tư bản sở hữu sang tư bản
chức năng. Đây là hình thức phát triển cao của nền sản xuất hàng hóa.
1.2.2. Chức năng cuả thò trường chứng khoán
1.2.2.1 Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế
Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền nhàn
rỗi của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở
rộng sản xuất xã hội. Thông qua TTCK, chính phủ và chính quyền ở các đòa
phương cũng huy động được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu tư phát
triển hạ tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung của xã hội.
1.2.2.2. Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng
TTCK cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các cơ
hội lựa chọn phong phú. Các loại chứng khoán trên thò trường rất khác nhau về
tính chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể lựa chọn hàng
hoá phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình.
1.2.2.3. Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán
Nhờ có TTCK các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán họ sở hữu
thành tiền hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn. Khả năng thanh khoản
là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán đối với người đầu tư. Đây
là yếu tố cho thấy tính linh hoạt, an toàn của vốn đầu tư. TTCK hoạt động càng
năng động và có hiệu quả thì tính thanh khoản của các chứng khoán giao dòch
trên thò trường càng cao.
1.2.2.4 Đánh giá hoạt động cuả doanh nghiệp
Thông qua chứng khoán, hoạt động của các DN được phản ánh một cách tổng
hợp và chính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động của DN được
nhanh chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra một môi trường cạnh tranh lành
11
mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới,

cải tiến sản phẩm.
1.2.2.5. Tạo môi trường giúp chính phủ thực hiện các chính sách vó mô
Các chỉ báo của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén
và chính xác. Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang mở rộng, nền
kinh tế tăng trưởng; ngược lại giá chứng khoán giảm sẽ cho thấy dấu hiệu tiêu
cực của nền kinh tế. Vì thế, TTCK được gọi là phong vũ biểu của nền kinh tế và
là một công cụ quan trọng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách vó mô.
Thông qua TTCK, Chính phủ có thể mua và bán trái phiếu Chính phủ để tạo ra
nguồn thu bủ đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát. Ngoài ra, Chính phủ
cũng có thể sử dụng một số chính sách, biện pháp tác động và TTCK nhằm đònh
hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nền kinh tế.
1.2.3. Cơ cấu thò trường chứng khoán
Xét về lưu thông cuả chứng khoán trên thò trường, TTCK có hai loại :
1.2.3.1. Thò trường sơ cấp
Là thò trường mua bán các chứng khoán mới phát hành. Trên thò trường này,
vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thông qua việc nhà đầu tư
mua các chứng khoán mới phát hành.
1.2.3.2. Thò trường thứ cấp
Là nơi giao dòch các chứng khoán đã được phát hành trên thò trường sơ cấp. Thò
trường thứ cấp đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán đã phát hành.
1.2.4. Các nguyên tắc hoạt động cuả thò trường chứng khoán
 Nguyên tắc công khai
Chứng khoán là loại hàng hoá trừu tượng nên TTCK phải được xây dựng trên
cơ sở hệ thống công bố thông tin tốt. Theo luật đònh, các tổ chức phát hành có
nghóa vụ phải cung cấp thông tin đầy đủ theo chế độ thường xuyên và đột xuất
12
thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, SGDCK, các CTCK và các tổ
chức có liên quan.
 Nguyên tắc trung gian
Theo nguyên tắc này, các giao dòch chứng khoán được thực hiện thông qua tổ

chức trung gian là các CTCK. Trên thò trường sơ cấp, các nhà đầu tư không mua
trực tiếp của nhà phát hành mà mua từ các nhà bảo lãnh phát hành. Trên thò
trường thứ cấp, thông qua các nghiệp vụ môi giới, kinh doanh, các CTCK mua,
bán chứng khoán giúp các khách hàng, hoặc kết nối các khách hàng với nhau
qua việc thực hiện các giao dòch mua bán chứng khoán trên tài khoản của mình.
 Nguyên tắc đấu giá
Mọi việc mua bán chứng khoán trên TTCK đều hoạt động trên nguyên tắc đấu
giá. Nguyên tắc đấu giá dựa trên mối quan hệ cung cầu trên thò trường quyết
đònh.
Khi thực hiện nguyên tắc này, bao giờ cũng tuân thủ theo các thứ tự ưu tiên về
giá (giá đặt mua cao nhất và giá chào bán thấp nhất), về thời gian, về khách
hàng (ưu tiên các nhà đầu tư cá nhân trước), về quy mô lệnh (cùng một mức giá,
ưu tiên các lệnh có khối lượng lớn hơn).
1.2.5. Các thành phần tham gia thò trường chứng khoán
Các tổ chức và cá nhân tham gia TTCK được chia làm 3 nhóm chủ yếu sau:
1.2.5.1. Nhà phát hành
Nhà phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua TTCK.
Nhà phát hành là người cung cấp các chứng khoán – hàng hóa của TTCK, nhà
phát hành bao gồm:
- Chính phủ và chính quyền đòa phương là nhà phát hành các trái phiếu Chính
phủ và trái phiếu chính quyền đòa phương.
13
- Công ty phi tài chính là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty
nhằm huy động vốn cho sản xuất kinh doanh.
- Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính như các cổ
phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi, chứng chỉ đầu tư, ... phục vụ cho hoạt động
kinh doanh của họ.
1.2.5.2. Nhà đầu tư
Là những người thực sự mua và bán chứng khoán trên TTCK. Nhà đầu tư có
thể chia thành 2 loại: nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư có tổ chức.

- Các nhà đầu tư cá nhân: Là những người có vốn nhàn rỗi tạm thời có thặng
dư tài chính, tham gia mua bán trên TTCK với mục đích tìm kiếm lợi nhuận.
- Các nhà đầu tư là tổ chức: nhà đầu tư là tổ chức, hay còn gọi là các đònh chế
đầu tư, thường xuyên mua bán chứng khoán với số lượng lớn trên thò trường. Các
tổ chức này thường có các bộ phận chức năng bao gồm nhiều chuyên gia có kinh
nghiệm để nghiên cứu thò trường và đưa ra quyết đònh đầu tư. Một số nhà đầu tư
chuyên nghiệp chính trên TTCK là các công ty đầu tư, các công ty tài chính, các
công ty bảo hiểm, các quỹ lương hưu và các quỹ bảo hiểm xã hội khác. Đầu tư
thông qua các tổ chức đầu tư có ưu điểm nổi bật là có thể đa dạng hóa danh mục
đầu tư và các quyết đònh đầu tư được thực hiện bởi các chuyên gia có kinh
nghiệm.
Bên cạnh các CTCK, các NHTM cũng có thể trở thành nhà đầu tư chuyên
nghiệp khi họ mua chứng khoán cho chính mình.
1.2.5.3. Các tổ chức kinh doanh trên TTCK
- Công ty chứng khoán: Là những công ty hoạt động trong lónh vực chứng
khoán, có thể đảm nhận một hoặc nhiều trong số các nghiệp vụ chính là bảo
lãnh phát hành, môi giới, tự doanh, quản lý danh mục đầu tư và tư vấn đầu tư
14
chứng khoán. Để có thể được thực hiện mỗi nghiệp vụ, các CTCK phải đảm bảo
được một số vốn nhất đònh và phải được phép của cơ quan có thẩm quyền.
- Các NHTM: Tại một số nước, các NHTM có thể sử dụng vốn tự có để tăng
và đa dạng hóa lợi nhuận thông qua đầu tư vào các chứng khoán. Tuy nhiên, các
ngân hàng chỉ được đầu tư vào chứng khoán trong những giới hạn nhất đònh, chủ
yếu là chứng khoán nợ để bảo vệ ngân hàng trước những biến động của giá
chứng khoán. Một số nước cho phép NHTM thành lập công ty con độc lập để
kinh doanh chứng khoán và thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành.
1.2.5.4. Các tổ chức có liên quan đến thò trường chứng khoán
- Cơ quan quản lý, giám sát TTCK được hình thành dưới nhiều mô hình hoạt
động khác nhau, có nước do các tổ chức tự quản thành lập, có nước cơ quan này
trực thuộc Chính phủ, nhưng có nước lại có sự kết hợp quản lý giữa các tổ tự

quản và Nhà nước.
Nhìn chung cơ quan quản lý này do Chính phủ (Nhà nước) của các nước thành
lập, nhằm mục đích bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư và bảo đảm cho TTCK hoạt
động lành mạnh, suôn sẻ và phát triển vững chắc.
Cơ quan này có thể có những tên gọi khác nhau, tùy thuộc từng nước và nó
được thành lập để thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với chứng khoán
và TTCK.
Ở Việt Nam, cơ quan quản lý Nhà nước về Chứng khoán và TTCK đó là
UBCKNN, thành lập theo Nghò đònh 75/CP ngày 28/11/1996, nay là Nghò đònh
90/CP của Chính phủ. UBCKNN là cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức
năng quản lý Nhà nước đối với TTCK Việt Nam. Hiện nay, UBCKNN đã được
chuyển về Bộ Tài chính theo Nghị Định 66/2004/NĐ-CP ban hành ngày
19/02/2004
15
- TTGDCK Tp.HCM: Theo Quyết đònh 328/QĐ-UBCK ngày 17/12/2003 của
Chủ tòch UBCKNN quy đònh chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức
của TTGDCK Tp.HCM, TTGDCK là đơn vò sự nghiệp thuộc UBCKNN có chức
năng tổ chức, quản lý, điều hành và giám sát hoạt động giao dòch chứng khoán
và TTCK theo quy đònh của pháp luật.
- Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán: Là tổ chức tự quản bao gồm các
CTCK và một số thành viên khác hoạt động trong ngành chứng khoán, được
thành lập với mục đích bảo vệ cho từng thành viên nói riêng và cho toàn ngành
chứng khoán nói chung.
- Tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán: Là tổ chức nhận lưu giữ
các chứng khoán và tiến hành các nghiệp vụ thanh toán bù trừ cho các giao dòch
chứng khoán (ngân hàng Đầu tư và Phát triển được chỉ đònh thanh toán).
- Công ty dòch vụ máy tính chứng khoán: Là tổ chức phụ trợ, phục vụ cho các
giao dòch chứng khoán. Công ty này cung cấp hệ thống mày tính với các chương
trình để thông qua đó thực hiện được các lệnh giao dòch chính xác, nhanh chóng.
Thông thường công ty dòch vụ máy tính chứng khoán ra đời khi TTCK đã phát

triển đến một trình độ nhất đònh, đi vào tự động hóa các giao dòch.
- Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm: Là công ty chuyên cung cấp dòch vụ đánh
giá năng lực thanh toán các khoản vốn gốc và lãi đúng thời hạn, theo những điều
khoản đã cam kết của công ty phát hành đối với đợt phát hành cụ thể. Các mức
hệ số tín nhiệm vì thế thường được gắn cho một đợt phát hành, chứ không phải
cho công ty. Vì thế, một công ty phát hành có thể mang hệ số tín nhiệm khác
nhau cho các phát hành nợ khác nhau.
Các nhà đầu tư có thể dựa vào các hệ số tín nhiệm do các công ty đánh giá hệ
số tín nhiệm cung cấp để cân nhắc đưa ra quyết đònh đầu tư của mình.
16
1.3. NIÊM YẾT CHỨNG KHOÁN VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI THÚC ĐẨY
CÁC DOANH NGHIỆP TIỀM NĂNG LÊN NIÊM
1.3.1. Niêm yết chứng khoán và một số vấn đề liên quan
1.3.1.1. Khái niệm niêm yết chứng khoán
Niêm yết là việc một chứng khoán được đưa vào giao dòch chính thức tại
SGDCK sau khi đã đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn niêm yết do SGDCK đó quy
đònh. Việc chứng khoán của một tổ chức phát hành được niêm yết sẽ đem lại cho
chính tổ chức đó và các nhà đầu tư nhiều lợi thế đáng kể như: hoạt động mua
bán được tiến hành trong một thò trường trật tự và được quản lý chặt chẽ, tính
thanh khoản của chứng khoán được tăng cường, giá cả được xác đònh một cách
minh bạch và công bằng, quyền lợi của người sở hữu chứng khoán được bảo vệ
tối đa bởi các quy đònh của pháp luật…
1.3.1.2. Phân loại niêm yết
 Niêm yết lần đầu (Intial Listing):
Niêm yết lần đầu là việc cho phép chứng khoán của tổ chức phát hành được
đăng ký niêm yết, giao dòch lần đầu tiên sau khi chào bán ra công chúng và đáp
ứng được các tiêu chuẩn về niêm yết chứng khoán.
 Niêm yết bổ sung (Additional Listing):
Niêm yết bổ sung là quá trình chấp thuận của SGDCK cho một CTNY được
niêm yết các chứng khoán mới phát hành thêm với mục đích tăng vốn hay vì các

mục đích khác như: sáp nhập, chi trả cổ tức bằng cổ phiếu, thực hiện các trái
quyền hoặc thực hiện các trái phiếu chuyển đổi thành cổ phiếu.
 Thay đổi niêm yết (Change Listing):
Thay đổi niêm yết phát sinh khi CTNY thay đổi tên giao dòch, khối lượng,
mệnh giá hoặc tổng giá trò cổ phiếu được niêm yết của mình.
 Niêm yết lại (Relisting):
17
Niêm yết lại là việc cho phép một công ty phát hành được tiếp tục niêm yết trở
lại các chứng khoán trước đây đã bò hủy bỏ niêm yết vì các lý do không đáp ứng
được các tiêu chuẩn duy trì niêm yết.
 Niêm yết cửa sau (Backdoor Listing):
Niêm yết cửa sau là trường hợp một tổ chức niêm yết chính thức sáp nhập, liên
kết hoặc tham gia vào hiệp hội với mộ tổ chức, nhóm không niêm yết và kết qủa
là các tổ chức không niêm yết đó lấy được quyền kiểm soát tổ chức niêm yết.
 Niêm yết đa thò trường (Dual Listing):
Niêm yết đa thò trường là việc công ty niêm yết có chứng khoán được niêm yết
ở nhiều thò trường trong và ngoài nước.
 Niêm yết từng phần (Partial Listing):
Niêm yết từng phần là việc công ty chỉ niêm yết một phần cổ phiếu đang lưu
hành của mình. Đây là trường hợp các DNNN lớn chỉ niêm yết phần chứng
khoán bán cho công chúng.
1.3.1.3. Tiêu chuẩn niêm yết
 Tiêu chuẩn đònh lượng:
- Mức độ vốn: Vốn đăng ký, vốn cổ phần, tài sản hữu hình ròng, giá trò thò
trường, số cổ phiếu, doanh số, …
- Thời gian hoạt động của công ty: Thời gian kể từ lúc công ty thành lập đến
lúc công ty đăng ký niêm yết cũng là một tiêu chuẩn đối với việc niêm yết
chứng khoán, yêu cầu này nhằm bảo đảm hoạt động có tính liên tục không gián
đoạn.
- Khả năng sinh lời cũng là một nhân tố quan trọng đánh giá công ty, chỉ tiêu

này có thể quy đònh bằng mức tuyệt đối hay tương đối (%). Chẳng hạn như tổng
số lợi nhuận thu được từ vốn cổ phần trong 3 năm gần nhất phải nhiều hơn tiền
thu được từ tiền gửi kỳ hạn 1 năm.
18
- Tỷ lệ nợ, chỉ số này được tính bằng cách lấy tổng tài sản nợ chia cho tổng
vốn cổ phần, chỉ số này đánh giá mức độ khỏe mạnh về cấu trúc vốn của công
ty.
- Phân phối cổ phiếu, số cổ phiếu do cổ đông nắm giữ phải đạt một tỷ lệ tối
thiểu quy đònh.
Theo Nghò đònh 144/CP ngày 28/11/2003 của Chính phủ về chứng khoán và
TTCK thay thế Nghò đònh 48/CP thì :
- Vốn điều lệ tối thiểu của CTCP xin niêm yết là 5 tỷ đồng, DN xin niêm yết
trái phiếu phải có vốn điều lệ tối thiểu là 10 tỷ đồng.
- Kết quả hoạt động kinh doanh : Đối với CTCP đăng ký niêm yết, hoạt động
kinh doanh của 02 năm liền kể trước năm xin niêm yết phải có lãi. Đối với
DNNN CPH và niêm yết ngay trên TTCK, chỉ cần có lãi trong năm liền kề trước
năm xin niêm yết.
- Số lượng cổ đông: Tối thiểu 20% vốn cổ phần của CTNY phải do ít nhất 50
cổ đông ngoài tổ chức phát hành nắm giữ. Đối với công ty có vốn cổ phần từ 100
tỷ đồng trở lên thì tỷ lệ này tối thiểu phải là 15% vốn cổ phần. Đối với việc
niêm yết trái phiếu, số lượng người sở hữu trái phiếu tối thiểu phải là 50 người.
- Về hạn chế chuyển nhượng: Các cổ đông là thành viên HĐQT, Ban Giám
đốc, ban kiểm soát của CTNY phải cam kết nắm giữ ít nhất 50% số cổ phiếu do
mình sở hữu trong thời gian 03 năm kể từ ngày niêm yết.
 Tiêu chuẩn đònh tính:
- Đánh giá về triển vọng của công ty;
- Phương án khả thi về sử dụng vốn đợt phát hành;
- Ý kiến kiểm toán về các báo cáo tài chính;
- Cơ cấu tổ chức hoạt của công ty (HĐQT và Ban Giám đốc điều hành);
- Lợi ích mang lại đối với ngành, nghề trong nền kinh tế quốc dân;

19
- Tổ chức công bố thông tin.
Dựa vào các tiêu chuẩn trên SGDCK quyết đònh có chấp nhận việc niêm yết
của các công ty đăng ký niêm yết hay không. Những điều kiện này thường
không áp dụng chung cho tất cả TTCK mà còn tùy thuộc vào tình hình và cơ chế
vận hành TTCK cũng như mục đích xây dựng SGDCK của từng nước sẽ có
những quy đònh cụ thể phù hợp với quốc gia đó. Những quy đònh này thông
thường sẽ rất nghiêm ngặt ở những thò trường lớn, hoạt động lâu đời và có danh
tiếng nhưng lại tương đối dễ dàng hơn đối với những thò trường mới vận hành
hay còn non trẻ (TTCK của nước ta cũng là một trong số đó). Ở Việt Nam, tiêu
chuẩn về hoạt động của tổ chức niêm yết : Phải có tình hình tài chính lành
mạnh; Ý kiến kiểm toán : Đối với báo cáo tài chính trong 2 năm kiên tục gần
nhất tính đến ngày xin phép niêm yết hay niêm yết lại, ý kiến kiểm toán phải là
chấp nhận toàn bộ hoặc chấp nhận có ngoại trừ.
1.3.1.4. Điều kiện niêm yết
Để chứng khoán được niêm yết, các tổ chức phát hành phải nộp Hồ sơ xin cấp
phép niêm yết lên SGDCK hoặc UBCKNN. Tổ chức xin cấp phép phải chòu
trách nhiệm về tính đầy đủ và hợp lệ của bộ hồ sơ. Ngoài ra, các tổ chức liên
quan như tổ chức tư vấn niêm yết, tổ chức kiểm toán được chấp thuận, và những
người ký xác nhận báo cáo tài chính của tổ chức xin niêm yết phải liên đới chòu
trách nhiệm về tính hợp pháp của bộ hồ sơ theo luật đònh.
1.3.1.5. Thủ tục cần thiết cho việc niêm yết chứng khoán
Thủ tục niêm yết là quá trình thực hiện các bước xem xét về điều kiện và tiêu
chuẩn của tổ chức xin niêm yết, cũng là quá trình xem xét để chấp thuận tổ chức
đó có được niêm yết hay không. Thủ tục niêm yết thường được các nước quy
đònh trong Luật chứng khoán hoặc các văn bản pháp lý khác. Đối với mỗi hình
thức niêm yết đều có những trình tự thủ tục niêm yết khác nhau. Thông thường,
20
các thủ tục trong trường hợp niêm yết lần đầu khá phức tạp, và được cơ quan cấp
phép niêm yết xem xét rất cẩn thận. Trong trường hợp niêm yết bổ sung, thủ tục

niêm yết đơn giản hơn vì hầu như cơ quan cấp phép chỉ kiểm tra về tính hợp lệ
của đợt phát hành bổ sung. Vì thế, trong phạm vi đề tài này, tác giả chỉ xin đề
cập đến thủ tục niêm yết lần đầu.
Ở Việt Nam, theo Nghò đònh 144/2003/NĐ-CP, trình tự xin cấp phép niêm yết
và đăng ký niêm yết lần đầu theo quy đònh hiện tại như sau:
(1) Tổ chức phát hành nộp hồ sơ xin cấp phép niêm yết lên UBCKNN
(2) UBCKNN xem xét hồ sơ và trả lời về việc chấp thuận hoặc không chấp
thuận cho niêm niêm yết trong vòng 45 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
Sau khi được UBCKNN chấp thuận cấp phép niêm yết, tổ chức phát hành nộp
đơn và hồ sơ đăng ký niêm yết tại TTGDCK.
(3) TTGDCK xem xét và kiểm tra vềø tính đầy đủ, hợp lệ của bộ hồ sơ đăng ký,
sau đó ra thông báo chấp thuận đăng ký niêm yết, tiến hành khai trương niêm
yết và công bố thông tin về tổ chức niêm yết.
1.3.1.6. Mối quan hệ giữa phát hành và niêm yết
Các CTNY trên TTCK thường là CTCP đại chúng, tức là đa số cổ phiếu mà
công ty phát hành phải do một khối lượng lớn công chúng nắm giữ. Phát hành
chứng khoán trở thành khâu tiền đề của niêm yết chứng khoán. Do vậy, ở nhiều
nước trên thế giới, nơi mà việc niêm yết cổ phiếu trở thành điều tất yếu của các
CTCP tiềm năng, quá trình phát hành và niêm yết có mối liên hệ rất chặt chẽ.
Trong khi đó ở Việt Nam, vì việc phát hành ra công chúng và niêm yết chứng
khoán của các CTCP, Công ty TNHH, DNNN hiện đang được điều chỉnh bởi
Nghò đònh 144/CP. Mặc dù điều chỉnh cả hai lónh vực phát hành và niêm yết
chứng khoán nhưng theo Nghò đònh này, UBCKNN chỉ cấp phép niêm yết cho
các tổ chức phát hành nào có đơn xin cấp phép niêm yết. Vì vậy, việc phát hành
21
và niêm yết chứng khoán hoàn toàn tách rời nhau, điều này có nghóa là tổ chức
phát hành không bò ràng buộc bởi nghóa vụ niêm yết. Kể cả khi tổ chức phát
hành đủ điều kiện niêm yết, nhưng nếu không lập hồ sơ xin niêm yết thì họ vẫn
không được niêm yết.
1.3.1.7. Một số vấn đề khác có liên quan

Sau khi chứng khoán đã được niêm yết, SGDCK (TTGDCK) chòu trách nhiệm
trực tiếp quản lý và theo dõi tình hình giao dòch của chứng khoán đã niêm yết,
hoạt động sản xuất kinh doanh, tài chính và việc thực hiện các nghóa vụ sau
niêm yết của tổ chức phát hành. Sau khi niêm yết, một số vấn đề có thể phát
sinh và cần được theo dõi chặt chẽ, như: Tình hình giao dòch chứng khoán niêm
yết; Tổ chức niêm yết thực hiện mua bán cổ phiếu quỹ; Tổ chức niêm yết thực
hiện chế độ báo cáo và công bố thông tin đònh kỳ (thông thường là thông tin của
báo cáo tài chính năm, báo cáp tài chính 06 tháng và quý), bên cạnh đó là thực
hiện chế độ công bố thông tin theo yêu cầu và công bố thông tin bất thường.
1.3.2. Sự cần thiết phải thúc đẩy các doanh nghiệp tiềm năng lên niêm yết
1.3.2.1. Lợi ích và bất lợi cuả việc niêm yết
 Lợi ích :
- Dễ dàng huy động vốn để mở rộng qui mô sản xuất kinh doanh khi có nhu
cầu
Về mặt nguyên tắc, việc niêm yết là nhằm mục đích tìm kiếm nguồn tài trợ
vốn thông qua phát hành chứng khoán. Các CTNY có thể huy động vốn dài hạn
với chi phí thấp bằng cách phát hành cổ phiếu. Thông thường, một CTNY có độ
tín nhiệm của công chúng cao hơn nhiều so với một công ty không niêm yết. Vì
vậy, chi phí sử dụng vốn huy động sẽ giảm đi khi đây là một CTNY.
- Nâng cao tính thanh khoản cho chứng khoán
22
Khi đã trở thành CTNY, khả năng trao đổi chứng khoán của DN cao hơn.
Chứng khoán của DN luôn được đònh giá khách quan, công bằng. Nhờ vậy chúng
dễ dàng được chấp nhận rộng rãi và được làm tài sản kế thừa, cho, tặng, vay
mượn và cầm cố.
Ngoài ra, các nhà đầu tư nhỏ cũng có cơ hội để trở thành cổ đông của CTNY,
bởi vì họ có thể mua được số lượng nhỏ cổ phiếu qua sàn giao dòch, điều này rất
có ý nghóa đối với mục tiêu xã hội hóa đầu tư.
- Được hưởng ưu đãi về thuế và những chính sách khuyến khích của Nhà nước.
Nhằm phát triển TTCK, các Chính phủ thường đưa ra nhiều chính sách khuyến

khích DN đi ra niêm yết, trong đó chính sách thường áp dụng nhất đó là miễm
giảm thuế. Bên cạnh đó, nhà đầu tư cũng được hưởng các ưu đãi về thuế từ việc
đầu tư chứng khoán.
- Tác dụng tích cực của tính đại chúng
Việc niêm yết sẽ giúp quảng bá hình ảnh của DN ra công chúng, cụ thể là nhà
đầu tư, các tổ chức cung cấp tín dụng, khách hàng, nhà cung cấp, nhân viên của
công ty và cả cộng đồng xung quanh, bởi vì tên tuổi của công ty luôn luôn được
công chúng quen thuộc qua các phương tiện thông tin đại chúng. Nhờ đó DN
niêm yết dễ dàng tìm kiếm thêm khách hàng, nhà cung cấp, nhà tài trợ,…
- Chứng khoán của DN có nơi giao dòch tin cậy, khách quan và an toàn
Các SGDCK và các cơ quan quản lý chức năng luôn bảo vệ nhà đầu tư, thông
qua việc ban hành nhiều quy đònh liên quan đến công bố thông tin, chống giao
dòch nội gián, thao túng giá,… nhằm giữ cho việc giao dòch chứng khoán luôn
được trật tự và công bằng. Còn việc thanh toán chứng khoán giao dòch sẽ được
bảo đảm an toàn, thông qua các đònh chế cung cấp dòch vụ thanh toán của thò
trường.
- Một số lợi ích khác
23
Dưới sự đánh giá một cách khách quan của công chúng đầu tư, từ đó có thể
giúp cho công ty có được những giải pháp phù hợp và kòp thời để chấn chỉnh
hoạt động của công ty mình ngày một tốt hơn.
 Bất lợi
Bên cạnh những mặt tích cực khi công ty ra niêm yết như vừa nêu trên đây thì
vẫn còn có một số bất lợi và cản trở sau:
- Phải công bố thông tin công khai
Vấn đề đáng ngại nữa cho các CTNY là phải công bố tất cả thông tin về DN
theo quy đònh. Thật vậy, các thông tin quan trọng, ảnh hưởng rất nhạy cảm đến
giá chứng khoán, như các thông tin liên quan đến nhân sự, tài chính, kế hoạch
kinh doanh… của DN cũng phải công bố. Bên cạnh đó, theo quy đònh về công bố
thông tin, những thông tin không tốt của CTNY cũng phải phổ biến rộng rãi, do

vậy DN có thể gặp bất lợi trong cạnh tranh với các đối thủ và giá chứng khoán
của mình.
- Phải đáp ứng các tiêu chuẩn rất cao về công tác quản trò công ty
Các DN niêm yết luôn được yêu cầu phải thiết lập mối quan hệ giữa DN với
các cổ đông hiện tại, cổ đông tiềm năng, để giải đáp và cung cấp kòp thời các
thông tin họ cần tìm hiểu về DN. CTNY còn phải bố trí sắp xếp nhân sự, hệ
thống phục vụ cho hoạt động niêm yết của công ty, để đảm bảo việc tuân thủ
các chuẩn mực công bố thông tin theo quy đònh của pháp luật, của SGDCK.
- Đối mặt với rủi ro bò thâu tóm, kiểm soát
Việc niêm yết mở rộng phạm vi trao đổi vốn và quyền biểu quyết của cổ phiếu
ra bên ngoài, nên CTNY đương đầu với các rủi ro bò thâu tóm, sát nhập mang
tính thù nghòch là có thể xảy ra.
- Một số bất lợi khác
24
Việc biến động giá chứng khoán trên thò trường còn phụ thuộc vào nhiều yếu
tố, trong đó yếu tố tâm lý của nhà đầu tư không thể không nói đến, CTNY vẫn
phải phụ thuộc vào trào lưu ấy, do đó việc biến động giá trên thò trường giao
dòch chưa phản ánh đúng thực chất của hoạt động sản xuất kinh doanh của tổ
chức niêm yết.
1.3.2.2. Sự cần thiết phải thúc đẩy các DN tiềm năng lên niêm yết trên TTCK
Việc đề ra các giải pháp để thúc đẩy các DN tiềm năng thuộc mọi thành phần
kinh tế lên niêm yết trên TTCK sẽ mang lại nhiều lợi ích cho DN như đã được
phân tích trong phần 1.3.2.1, và từ những luận điểm bổ sung sau đây có thể thấy
được sự cần thiết phải thúc đẩy các DN tiềm năng lên niêm yết.
Việc thúc đẩy các DN tiềm năng lên niêm yết trên TTCK hiện nay sẽ giúp cổ
đông của DN dễ dàng trao đổi số vốn đã đầu tư của mình. Các nguồn vốn có kỳ
hạn khác nhau được khai thông để trở thành nguồn vốn dài hạn cho các DN. Nhà
đầu tư có thể dễ dàng tham gia hoặc rút vốn đầu tư thông qua việc giao dòch
chứng khoán, từ đó tính thanh khoản của chứng khoán được nâng cao, giúp các
DN có nhiều thuận lợi hơn trong việc huy động vốn khi cần thiết.

Theo kết quả nghiên cứu gần đây của Tổng cục Thống kê, trình độ công nghệ,
trang thiết bò của hầu hết các DN đều đã lạc hậu. Trong bối cảnh nền kinh tế
đang từng bước hội nhập quốc tế thì đây là một trở ngại lớn cho các DN trong
môi trường cạnh tranh mới. Việc niêm yết trên TTCK sẽ giúp DN tăng thêm khả
năng có được nguồn vốn dài hạn để đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Việc thúc đẩy các DN tiềm năng lên niêm yết sẽ giúp TTCK phát triển mạnh
mẽ, giúp hoàn thiện hệ thống tài chính, tạo ra một cơ chế đồng bộ cho phép tất
cả các nguồn vốn có kỳ hạn khác nhau lưu thông nhanh và hiệu quả.
Triển khai thực hiện nghò quyết IX, Chính phủ đã tập trung vào việc củng cố
và phát triển TTCK, thúc đẩy các Tổng công ty, DN lớn, có uy tín trong lónh vực
25
sản xuất kinh doanh, tài chính, ngân hàng và khu vực DN có vốn ĐTNN tham
gia niêm yết. Bên cạnh đó, Chính phủ có yêu cầu Bộ Tài chính rà soát để sửa
đổi, bổ sung các quy đònh về ưu đãi thuế đối với các hoạt động chứng khoán,
theo hướng tạo thêm thuận lợi cho các nhà đầu tư.
Bộ tài chính và UBCKNN đã tiến hành làm việc với các DN niêm yết, các
đònh chế trung gian, các Tổng công ty, các ngân hàng lớn, các Bộ ngành liên
quan để để ra các giải pháp hiệu quả nhằm phát triển TTCK. Một trong những
giải pháp đó là tạo nên một sự chuyển biến mạnh mẽ về nguồn cung chứng
khoán cho thò trường ngay trong giai đoạn năm 2005-2006.
Bên cạnh đó, nền kinh tế đã bắt đầu được hội nhập vào quỹ đạo chung của nền
kinh tế quốc tế và khu vực, các DN phải tăng khả năng cạnh tranh của mình
trong môi trường kinh doanh mới. Nhà nước đang quản lý kinh tế và xã hội bằng
pháp quyền, hệ thống pháp luật cho vận hành kinh tế xã hội theo cơ chế thò
trường đang được hình thành và phát triển. TTCK đã đi vào hoạt động hơn 5 năm
và đang chuẩn bò bước sang một giai đoạn phát triển mới. Tất cả những điều
kiện trên đây đã tạo ra những tiền đề tích cực cho sự phát triển của thò trường
vốn, và cho thấy tính tất yếu và sự cần thiết phải tạo nguồn cung hàng hoá dồi
dào phong phú cho TTCK trong giai đoạn sau.









×