Tải bản đầy đủ (.doc) (12 trang)

CÂU HỎI ÔN TẬP Môn: Những vấn đề cơ bản về Nhà nước và pháp luật XHCN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (146.37 KB, 12 trang )

CÂU HỎI ÔN TẬP
Môn: Những vấn đề cơ bản về Nhà nước và pháp luật XHCN
Câu 1: Phân tích các đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt
Nam
* Khái niệm nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
Nhà nước pháp quyền XHCN VN là nhà nước XHCN thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì
nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp quản lý
XH theo Pháp luật nhằm phục vụ lợi ích và hạnh phúc của nhân dân do Đảng tiền phong của giiai cấp
công nhân lãnh đạo đồng thời chịu trách nhiệm trước nhân dân và sự giám sát của nhân dân.
* Đặc trưng của nhà nước pháp quyền
- Là nhà nước quản lý XH bằng pháp luật, trong hệ thống PL Hiến Pháp là tối cao.
- PL trong NN pháp quyền mang tính nhân văn, nhân đạo phục vụ con người, vì con người.
- Mọi cơ quan NN, CBCC NN đều ph ải tôn trọng PL, nghiêm chỉnh chấp hành PL, dặt mình
dưới PL.
- Các quyền tự do, lợi ích của công dân được mở rộng có cơ chế bảo đảm và được bảo vệ trong
hiện thực CS.
- Q.hệ giữa NN và công dân, công dân với NN được thiết lập trên cơ sở trách nhiệm qua lại,
tương tác gắ bó hữu cơ với nhau ở các lĩnh vực đ/s XH
- Trong NNPQ, vai trò của tòa án được đề cao trong bảo vệ PL tránh cho PL sự xâm hại từ mọi
phía.
* Phân tích các đặc trưng của NN PQ XHCN Việt Nam
1. Là nhà nước thực sự của dân, do dân và vì nhân dân; bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước
thuộc về nhân dân. Nhân dân thực hiện quyền lực của mình thông qua hình thức dân chủ đại diện(qua
cơ quan nhà nước do mình bầu ra) và hình thức dân chủ trực tiếp, tham gia tích cực vào xâydựng và
bảo vệ nhà nước, kiểm tra giám sát hoạt động của nhà nước, của cán bộ, công chức, viênchức nhà
nước. Đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng của nhân dân, xây dựng xã hội phất triển toàn diện vì nhân
dân, lôi cuốn thu hút nhân dân tham gia sâu rộng ngày càng nhiều vào hoạt động quản lý nhà
nứơc, quản lý xã hội,tạo điều kiện cho nhân dân thực hiện ngày càng tốt hơn quyền làm chủ trong
hoạt động của nhà nước của xã hội, phấn đấu đạt đến mục đich “dân giàu, nước mạnh, xã hội
côngbằng, dân chủ và văn minh”.
2. Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhà nước tổ chức theo nguyên tắc quyền lực


nhà nướclà thống nhất, nhưng có sự phân công và phối hợp giưã các cơ quan nhà
nướctrong qua trình thực hiện quyền lực NN về mặt lập pháp, hành pháp, tư pháp, được phân
công cho 03 hệ thống cơ quan Nhà nước chặt chẽ nhằm, đảm bảo việc thực hiện pháp luật một
cách thống nhất,đồng bộ và hiệu quả nhằm hạn chế sự lộng quyền, lạm quyền, xâm hại tới lợi ích
hợp pháp của công dân từ phía Nhà nước. Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, tăng cường pháp
chế, xử lý nghiêm minh, kịp thời mọi vi phạm pháp luật nhằm thực hiện và bảo vệ được các quyền
tự do dân chủ và lợi ích hợp pháp củanhân dân, ngăn ngừa sự tuỳ tiện từ phía cơ quan nhà nước,
cán bộ, công chức nhà nước, ngăn ngừahiện tượng dân chủ cực đoan, vô kỷ luật, kỷ cương,
bảo đảm hiệu lực và hiệu quả hoạt động củanhà nước.
3. Đó là NN được tổ chức, hoạt động trên cơ sở H.pháp và PL, bảo đảm tính tối cao của Hiến
pháp và Luật trong đ/s XH.
Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhà nước phải có hệ thống PL đồng bộ, hoàn chỉnh, chất
lượng cao thể hiện được ý chí, lợi ích và nguyện vọng của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, phù
hợp với hiện thực khách quan, thúc đẩy tiến bộ xã hội, trong đó Hiến pháp vàcác đạo luật phải giữ
vị trí tối cao. Các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, cán bộ, công chức nhà nước và mọi
thành viên trong xã hội phải tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật.
Nhà nước pháp quyền XHCN là Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, lấy pháp luật
làm chuẩn mực cao nhất để điều chỉnh các quan hệ xã hội, cáchành vi của con ngời. Nhà
nước XHCN không xem nhẹ bằng quản lý, bằng kinh nghiệm hay b ằ n g đạ o lý m à đó
là m ột n h à nướ c xây dự n g đợc một n hà n ước pháp luật có hệ thống pháp luật khoa học
hoàn chỉnh. Pháp luật của nhà nước được thể hiện đầy đủ thể chế hoá chủ trương đuờng lối của Đảng.
4. Đó là NN tôn trọng, thực hiện và bảo vệ quyền con người, tất cả vì hạnh phúc con người ;
bảo đảm trách nhiệm giữa NN và công dân, thực hành dân chủ gắn với tăng cường kỷ cương, kỷ luật.
Nhà nước đảm bảo mối quan hệ Nhà nước với công dân là bình đẳng và
ngược lại: Mọi công dân đều bình đẳng trớc pháp luật, bình đẳng về quyềnvà nghĩa vụ, nhà nớc bảo
đảm quyền ấy, không phân biệt tôn giáo, sắc tộcnhn g m ọi công d ân đều phải tôn trọng
pháp luật, thực hiện đầy đủ cá c nghĩa vụ của công dân và tham gia xây dựng để ngày càng
hoàn thiện hệ thống pháp luật. Quyền và l ợ i ích h ợp p há p củ a công dâ n đuợc nhà nướ c
bảo đảm và b ả o vệ toàn bộ: Nhà nước bảo đảm bằng cách quy định những quyền và lợi
ích hợppháp của mọi tổ chức và cá nhân trong Luật. Khi những quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm

phạm thì nhà nước có trách nhiệm đứng ra bảo vệ.
Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam thực hiện được quản lý xã hội bằng pháp luật, tăng cường
được pháp chế trong xã hội, xử lý nghiêm minh mọi vi phạm pháp luật, bảo đảm thực hiện và bảo
vệ được các quyền tự do và lợi ích chính đáng, hợp pháp của công dân,chịu trách nhiệm trước công
dân về mọi hoạt động của mình. Chất lượng cuộc sống của nhân dânchính là một thước đo hiệu
lực và hiệu quả quản lý, điều hành của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của dân, do
dân và vì dân.
5. Đó là nhà nước do ĐCSVN lãnh đạo, đồng thời bảo đảm sự giám sát của nhân dân, sự giám
sát và phản biện XH của MTTQ VN và các tổ chức thành viên của Mặt trận. .Đảng đề ra những đường
lối, chính sách phát triển xã hội phù hợp với quy luật và có đầy đủ khảnăng để tổ chức thực hiện
thành công đường lối, chính sách đó. Đảng cộng sản VN là đảng duy nhất lãnh dạo toàn diện
và tuyệt đối hệ thống chính trị. Sự lãnh đạo của Đảng thể hiện ở các hìnhthức sau: định ra chiến
lược, mục tiêu cơ bản, đường lối chính sách phát triển XH làm cơ sở cho các hoạt động của các tổ
chức trong hệ thống chính trị. Đảng tiến hành kiểm tra các hoạt động củacác cơ quan nhà nước trong
việc thực hiện đưòng lối chính sách của Đảng. Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là Nhà nước do
Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo.Đây là đặc điểm đặc trưng, cơ bản, rất quan trọng mang tính lý luận
và đã được kiểm chứng bằng thực tế lịch sử của CM Việt Nam
6. Là nhà nước thực hiện đường lối hoà bình, hữu nghị với nhân dân các nước, các
dân tộc, các nhà nước trên thế giới trên nguyên tắc tôn trọng độc lập độc lập chủ quyền toàn ven
lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau và cùng có lợi; đồng thời tôn trọng
và cam kết thực hiện các công ước, điều ước, hiệp ước quốc tế đã tham gia, ký kết, phê chuẩn.
Câu 2: Vì sao nói xét xử là chức năng đặc thù chỉ thuộc về tòa án?
Trả lời:
Tòa án là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện xét xử các
vụ hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính và các vụ án khác theo quy
dịnh của pháp luật.
Xét xử chỉ thuộc về tòa án bởi đây là chức năng mang tính chất đặc thù của tòa án. Đó là việc
đưa ra phán quyết dưới hình thức một bản án hoặc quyết định của tòa án có thẩm quyền nhằm giải
quyết các xung đột trong trong các quan hệ pháp lý cụ thể do pháp luật quy định. Việc làm này chỉ có
thể do tòa án thực hiện mà không thể là cơ quan khác, được cụ thể thông qua các đặc điểm của xét xử.

Cụ thể:
- Nhà nước giao cho Tòa án được nhân danh mình để tuyên các phán quyết thể hiện thái độ ý
chí của nhà nước trong việc giải quyết các xung đột pháp lý qua các vụ án cụ thể. Xét xử là hoạt động
thể hiện bản chất và uy quyền của NN, cũng thể hiện trách nhiệm cao của TA trước NN, trước con
người, bởi phán quyết của TA tực tiếp tác động đến danh dự, nhân phẩm, tài sản, tính mạng con người.
- Xét xử không phải là hoạt động áp dụng pháp luật máy móc, mà là hoạt động sáng tạo, đòi
hỏi phải huy động tối đa trí tuệ, ý thức PL và kiến thức thực tiên, với việc nêu cao đạo đức của người
thẩm phán.
- Xét xử là hoạt động mang tính nghề nghiệp và tính pháp lý cao. Nghề nghiệp xét xử là loại
lao động quyền lực phức tạp, có những tiêu chuẩn, quy tắc và đạo đức nghề nghiệp riêng (đây cũng là
điểm khác biệt với các loại lao động khác trong XH). Đó cũng là nghề luật bởi các phán quyết của TA
là sự vận dụng PL để xác định và đánh giá các sự kiện pháp lý.
- Xét xử là hoạt động mang tính hình thức cao, bởi nó tiến hành theo những thủ tục tố tụng rất
chặt chẽ và rõ ràng, mang tính dân chủ và công khai, được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật
về tố tụng. Yêu cầu của hoạt động xét xử là phải đảm bảo tính có căn cứ và đúng pháp luật không chỉ
về nội dung mà cả về hình thức, tức là phải tiến hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng.
- Ngoài ra xét xử còn có vai trò thực hiện kiểm tra tính có căn cứ và đúng pháp lụât của các
hoạt động tư pháp khác, trước hết là các hoạt động điều tra, truy tố, đồng thời góp phần để các cơ
quanquản lí nhà nước hoàn thiện cính sách, pháp luật, khắc phục các quy định sơ hở, thiếu chặt chẽ.
Là cơ quan trong hệ thống tư pháp, Tòa án có những đặc thù so với các cơ quan khác trong hệ
thống này, đó là:
- Tòa án, người đại diện của quyền lực tư pháp khác với cơ quan lập pháp và hành pháp ở chỗ
không giải quyết các vấn đề ở tầm vĩ mô, không hoạch định chính sách kinh tế - xã hội mà có chức
năng giải quyết các vấn đề rất cụ thể, từng tình huống, từng sự kiện cụ thể trong đời sống xã hội. Vì
vậy, cách thức tổ chức và hoạt động khác với cơ quan lập pháp và hành pháp. Nói cách khác, so với
hai cơ quan nói trên, Tòa án "thụ động" hơn, phải "chờ" có việc thì mới xét xử. Toà án là chủ yếu đóng
vai trò là một bộ máy “quyền lực” chứ không sản sinh ra “công lực” mới, nó thực hiện việc áp dụng
pháp luật, đưa việc thực hiện quyền lực tư pháp vào cuộc sống. Bởi vì thông qua quyền lực tư pháp mà
pháp luật tác động đến những quan hệ xã hội. Đây không phải là phương tiện duy nhất nhưng là
phương tiện chủ yếu trong việc giải quyết các trường hợp xung đột giữa các quan hệ pháp luật.

- Những người làm công tác xét xử phải có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ pháp lý rất cao, đủ
khả năng để giải quyết các vấn đề rất phức tạp như xác định tội phạm và người phạm tội và áp dụng
hình phạt, phán quyết các tranh chấp, các sự kiện liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của công
dân, tổ chức.
- Lao động xét xử là lao động sáng tạo trong áp dụng pháp luật, đòi hỏi tư duy ở trình độ cao
của người Thẩm phán. Họ phải tiếp cận với một hệ thống đồ sộ các văn bản quy phạm pháp luật hiện
hành, kể cả pháp luật của các quốc gia khác khi có liên quan và cả pháp luật quốc tế.
- Lao động xét xử luôn luôn bị giới hạn bởi những quy định khắt khe của pháp luật tố tụng về
chứng cứ, về thời hạn, về độ chính xác của bản án, quyết định.
- Việc xét xử phải tuân theo các nguyên tắc Hiến định cũng như nguyên tắc tố tụng. Các Tòa án
về nguyên lý không tổ chức theo nguyên tắc tập trung thống nhất mà tổ chức thành từng cấp, độc lập
với nhau khi xét xử. Trong số các nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của Toà án thì nguyên
tắc khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật chiếm vị trí đặc biệt và là
nguyên tắc rất đặc trưng.
Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, vị trí, vai trò của toà án lại càng được khẳng
định. Vì toà án chính là cơ quan thực thi quyền tư pháp trong bộ máy nhà nước và việc thực thi quyền
này lại ảnh hưởng trực tiếp tới mục tiêu và các giá trị của công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền ở
Việt Nam, toà án là nơi thể hiện sâu sắc nhất bản chất của Nhà nước và nền công lý của chế độ, đồng
thời thể hiện chất lượng hoạt động và uy tín của cả hệ thống tư pháp trong Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa.
Nguyên tắc độc lập xét xử là một giá trị phổ biến khi nói về một nền tư pháp công bằng, là một
trong những đặc thù của việc thực hiện quyền tư pháp và là một nguyên tắc rất quan trọng trong tổ
chức và hoạt động của toà án trong nhà nước pháp quyền.
Nhà nước pháp quyền XHCN đòi hỏi ở Toà án các yếu tố, chuẩn mực như sự công minh, công
bằng, dân chủ, hiệu quả, hiệu lực, trong đó thực hiện nguyên tắc độc lập xét xử là cơ sở nền tảng thực
hiện các đòi hỏi này. Độc lập xét xử được xem như một điều kiện bảo đảm sự vận hành bình thường
của Toà án, cho một trình tự tư pháp công bằng trong Nhà nước pháp quyền XHCN.
Từ việc phân tích các đặc điểm của hoạt động xét xử trên cho thấy, xét xử là chức năng đặc thù
chỉ thuộc về tòa án.
Cau 3: * Trách nhiệm của Đại biểu Hội đồng nhân dân

Khái niệm:
Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước tại địa phương

từ cấp xã tới cấp tỉnh,
thuộc Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Đại biểu Hội đồng nhân dân là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa
phương, gương mẫu chấp hành pháp luật, chính sách của Nhà nước, tuyên truyền, vận động nhân dân
thực hiện pháp luật, chính sách và tham gia vào việc quản lý nhà nước.
*Nhiệm vụ:
1. Đối với cử tri
Đại biểu Hội đồng nhân dân phải liên hệ chặt chẽ với cử tri ở đơn vị bầu ra mình, chịu sự
giám sát của cử tri, có trách nhiệm thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị
của cử tri với Hội đồng nhân dân và cơ quan nhà nước hữu quan ở địa phương.
Mỗi năm một lần vào cuối năm, kết hợp với việc tiếp xúc cử tri, đại biểu Hội đồng nhân dân
báo cáo với cử tri ở đơn vị bầu ra mình về hoạt động trong năm, nhiệm vụ năm tới của mình và của
Hội đồng nhân dân.
Sau mỗi kỳ họp Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân có trách nhiệm báo cáo với cử
tri về kết quả của kỳ họp, phổ biến và giải thích các nghị quyết của Hội đồng nhân dân, vận động và
cùng với nhân dân thực hiện các nghị quyết đó
2. Tại kỳ họp Hội đồng nhân dân
a. Đại biểu Hội đồng nhân dân có nhiệm vụ chấp hành nội quy kỳ họp, tham dự đầy đủ kỳ họp,
phiên họp của Hội đồng nhân dân, cuộc thảo luận ở Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân, cuộc họp Ban
của Hội đồng nhân dân mà đại biểu là thành viên, tham gia các hoạt động khác của Hội đồng nhân
dân.
Khi nhận được thông báo về thời gian, dự kiến chương trình và tài liệu kỳ họp, đại biểu Hội
đồng nhân dân phải nghiên cứu tài liệu, tiếp xúc cử tri, tham gia các hoạt động của Tổ đại biểu Hội
đồng nhân dân chuẩn bị cho kỳ họp Hội đồng nhân dân.
b. Trong kỳ họp Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân có những nhiệm vụ sau đây:
- Tham gia thảo luận và quyết định chương trình kỳ họp;
- Thảo luận tại phiên họp toàn thể và thảo luận ở Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân về các vấn đề

thuộc nội dung, chương trình kỳ họp;
- Biểu quyết thông qua những vấn đề thuộc nội dung, chương trình kỳ họp.
3. Tiếp xúc cử tri, tiếp công dân
Trong thời gian giữa hai kỳ họp, đại biểu Hội đồng nhân dân có nhiệm vụ tiếp xúc cử tri ở đơn
vị bầu cử của mình, phản ánh tâm tư nguyện vọng của nhân dân với Hội đồng nhân dân và các cơ
quan Nhà nước, báo cáo kết quả kỳ họp với cử tri, tuyên truyền thực hiện tốt pháp luật.
Đại biểu Hội đồng nhân dân tiếp công dân nhằm thu thập ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của
công dân; giải thích, tuyên truyền chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước cho công dân; hướng
dẫn, giúp đỡ công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo và nhận đơn thư của công dân để chuyển đến
cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật.
Khi nhận được ý kiến, kiến nghị của công dân, đại biểu Hội đồng nhân dân xem xét, nghiên
cứu để phản ánh tới Thường trực Hội đồng nhân dân hoặc chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có
thẩm quyền.
Khi nhận được khiếu nại, tố cáo của công dân, đại biểu Hội đồng nhân dân có trách nhiệm
nghiên cứu và hướng dẫn công dân gửi khiếu nại, tố cáo đến đúng cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm
quyền giải quyết. Trong trường hợp cần thiết, đại biểu Hội đồng nhân dân trực tiếp hoặc thông qua
Thường trực Hội đồng nhân dân chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền để xem xét
giải quyết. Đại biểu Hội đồng nhân dân có trách nhiệm đôn đốc, theo dõi cơ quan, tổ chức, cá nhân
có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân.
Đại biểu Hội đồng nhân dân tiếp công dân phải tổng hợp ý kiến, kiến nghị, đơn thư khiếu nại,
tố cáo của công dân để báo cáo Thường trực Hội đồng nhân dân.
* Quyền hạn
1. Quyền chất vấn
Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền chất vấn Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch và các
thành viên khác của Uỷ ban nhân dân, Chánh án Toà án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân và Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cùng cấp. Người bị chất vấn phải trả
lời về những vấn đề mà đại biểu Hội đồng nhân dân chất vấn.
Trong thời gian Hội đồng nhân dân họp, đại biểu Hội đồng nhân dân gửi chất vấn đến Thường
trực Hội đồng nhân dân cùng cấp. Người bị chất vấn phải trả lời trước Hội đồng nhân dân tại kỳ họp
đó. Trong trường hợp cần điều tra, xác minh thì Hội đồng nhân dân có thể quyết định cho trả lời tại

kỳ họp sau của Hội đồng nhân dân hoặc cho trả lời bằng văn bản gửi đến đại biểu đã chất vấn và
Thường trực Hội đồng nhân dân.
Trong thời gian giữa hai kỳ họp Hội đồng nhân dân, chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân
được gửi đến Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp để chuyển đến người bị chất vấn và quyết
định thời hạn trả lời chất vấn.
2. Quyền yêu cầu chấm dứt các hành vi trái pháp luật
Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã
hội, đơn vị vũ trang nhân dân kịp thời chấm dứt những việc làm trái pháp luật, chính sách của Nhà
nước trong cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc của cán bộ, công chức, nhân viên cơ quan, tổ chức, đơn vị
đó.
Khi đại biểu Hội đồng nhân dân yêu cầu gặp người phụ trách của cơ quan nhà nước, tổ chức
kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân thì người đó có trách nhiệm tiếp.
3. Quyền kiến nghị thi hành chính sách, pháp luật của nhà nước
Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền kiến nghị với cơ quan nhà nước về việc thi hành pháp
luật, chính sách của Nhà nước và về những vấn đề thuộc lợi ích chung. Cơ quan hữu quan có trách
nhiệm trả lời kiến nghị của đại biểu.
Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền đề nghị Hội đồng nhân dân bỏ phiếu tín nhiệm đối với
người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu.
4. Quyền được cung cấp thông tin
Ðại biểu Hội đồng nhân dân được cung cấp thông tin liên quan đến hoạt động của Hội đồng
nhân dân và được quyền yêu cầu các cơ quan chức năng cung cấp thông tin phục vụ cho hoạt động
của mình.
Uỷ ban nhân dân các cấp, các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cán bộ, công chức ở địa phương,
trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp tư liệu, thông tin, bảo đảm nơi
tiếp xúc cử tri và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các đại biểu Hội đồng nhân dân.
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận tạo điều kiện để đại
biểu Hội đồng nhân dân tiếp xúc cử tri, thu thập ý kiến, nguyện vọng và kiến nghị của nhân dân với
Hội đồng nhân dân.
5. Quyền nhân thân
Trong thời gian Hội đồng nhân dân họp, nếu không được sự đồng ý của Chủ tọa kỳ họp thì

không được bắt giữ đại biểu Hội đồng nhân dân. Nếu vì phạm tội quả tang hoặc trong trường hợp
khẩn cấp mà đại biểu Hội đồng nhân dân bị tạm giữ thì cơ quan ra lệnh tạm giữ phải báo cáo ngay
với Chủ tọa kỳ họp.
Giữa hai kỳ họp Hội đồng nhân dân, nếu cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra lệnh tạm giữ đại
biểu Hội đồng nhân dân thì phải thông báo cho Chủ tịch Hội đồng nhân dân cùng cấp.
6. Quyền xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu
Đại biểu Hội đồng nhân dân có thể xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu vì lý do sức khoẻ hoặc vì lý
do khác. Việc chấp nhận đại biểu Hội đồng nhân dân xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu do Hội đồng
nhân dân cùng cấp xét và quyết định.
7. Quyền giới thiệu và ứng cử
Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền giới thiệu và ứng cử vào các chức vụ quy định tại các điểm
sau:
- Chủ tịch Hội đồng nhân dân trong số các đại biểu Hội đồng nhân dân theo sự giới thiệu của Chủ
tọa kỳ họp;
- Phó Chủ tịch, Uỷ viên thường trực Hội đồng nhân dân, Trưởng ban, Phó Trưởng ban và các
thành viên khác của các Ban của Hội đồng nhân dân trong số các đại biểu Hội đồng nhân dân theo sự
giới thiệu của Chủ tịch Hội đồng nhân dân.
- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân trong số các đại biểu Hội đồng nhân dân theo sự giới thiệu của Chủ
tịch Hội đồng nhân dân;
- Phó Chủ tịch và các thành viên khác của Uỷ ban nhân dân theo sự giới thiệu của Chủ tịch Uỷ
ban nhân dân;
- Thư ký kỳ họp của mỗi khoá Hội đồng nhân dân theo sự giới thiệu của Chủ tọa kỳ họp;
Bãi nhiệm, tạm đình chỉ nhiệm vụ đại biểu
Đại biểu Hội đồng nhân dân nào không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân thì tuỳ mức
độ phạm sai lầm mà bị Hội đồng nhân dân hoặc cử tri bãi nhiệm. Thường trực Hội đồng nhân dân và
Uỷ ban nhân dân quyết định việc đưa ra Hội đồng nhân dân hoặc cử tri bãi nhiệm đại biểu Hội đồng
nhân dân theo đề nghị của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp.
Trong trường hợp Hội đồng nhân dân bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân thì việc bãi nhiệm
phải được ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân biểu quyết tán thành.
Trong trường hợp cử tri bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân thì việc bãi nhiệm được tiến hành

theo thể thức do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định.
Trong trường hợp đại biểu Hội đồng nhân dân bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì Thường trực
Hội đồng nhân dân quyết định tạm đình chỉ việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Hội
đồng nhân dân đó.
Đại biểu Hội đồng nhân dân phạm tội, bị Toà án kết án và bản án đã có hiệu lực pháp luật thì
đương nhiên mất quyền đại biểu Hội đồng nhân dân.
* Liên hệ:
Hiệu quả hoạt động của HĐND được đảm bảo bằng hiệu quả của các kỳ họp HĐND, hiệu quả
hoạt động của Thường trực HĐND, UBND, các đại biểu HĐND. Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, chất
lượng hoạt động của HĐND các cấp phụ thuộc chủ yếu và được quyết định bởi chất lượng hoạt động
của đại biểu HĐND. Muốn HĐND hoạt động hiệu quả, thực sự là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa
phương, là nơi bảo đảm cho nhân dân thực hiện quyền làm chủ, đòi hỏi hoạt động của người đại biểu
phải luôn đổi mới, mà trước hết phải đổi mới từ nhận thức.
Từ trách nhiệm của đại biểu HĐND tại xã Yên Sơn cho thấy:
- Ưu điểm: Đại biểu Hội đồng nhân dân là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân
địa phương, gương mẫu chấp hành chính sách, pháp luật của Nhà nước; tuyên truyền, vận động nhân
dân thực hiện chính sách, pháp luật và tham gia vào việc quản lý nhà nước; Đại biểu HĐND liên hệ
chặt chẽ với cử tri ở đơn vị bầu ra mình, chịu sự giám sát của cử tri, thu thập và phản ánh trung thực ý
kiến, nguyện vọng, kiến nghị của cử tri với HĐND ở địa phương
- Hạn chế: Một số đại biểu HĐND hoạt động kiêm nhiệm, ít tham gia thảo luận, đóng góp tại
kỳ họp hoặc có tham gia đóng góp nhưng chưa đầy đủ, chất lượng chưa cao.
- Nguyên nhân: do nắm thông tin không đầy đủ, kịp thời; do tính chất kiêm nhiệm của phần
lớn đại biểu HĐND nên thời gian, công sức dành cho hoạt động của cơ quan dân cử còn hạn chế, các
đại biểu cũng không có nhiều điều kiện và thời gian tiếp cận với các nguồn thông tin cần thiết để phục
vụ hoạt động.
Biện Pháp:
- Có trách nhiệm và lòng nhiệt huyết.
- Luôn gương mẫu chấp hành chính sách, pháp luật của Nhà nước; tuyên truyền, vận động nhân
dân thực hiện chính sách, pháp luật và tham gia vào việc quản lý nhà nước;
- Mỗi người đại biểu phải không ngừng nâng cao nhận thức, bản lĩnh chính trị, trau dồi kiến

thức, kỹ năng hoạt động đại biểu để thực hiện ngày càng tốt hơn trách nhiệm của mình.
- Mỗi đại biểu phải tích cực nghiên cứu, nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật
của Nhà nước và Nghị quyết của HĐND; thường xuyên trau dồi kỹ năng hoạt động, kỹ năng thu thập
và xử lý thông tin, nghe dân nói và nói dân nghe.
- Tích cực nắm bắt thông tin, nắm tình hình thực tế của địa phương để tham gia thực hiện tốt
công tác giám sát, thẩm tra, thảo luận và quyết định những vấn đề quan trọng tại diễn đàn kỳ họp của
HĐND.
- Chủ động nghiên cứu tài liệu, thể hiện đầy đủ trách nhiệm và bản lĩnh của mình trong hoạt động
chất vấn; tích cực tham gia thảo luận, tranh luận tại kỳ họp để làm sáng tỏ các vấn đề; cùng HĐND bàn
bạc và đi đến quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương, nhằm không ngừng nâng cao chất
lượng, hiệu quả của kỳ họp HĐND.
- Đại biểu HĐND cần tích cực hơn trong hoạt động, khắc phục khó khăn, chủ động sắp xếp thời
gian để tham gia đầy đủ các hoạt động của Thường trực HĐND và các Ban của HĐND, cố gắng làm
tròn trách nhiệm của người đại biểu nhân dân.
Câu hỏi 5: Anh/chị hãy cho biết trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan trong thực hiện dân chủ
trong hoạt động của cơ quan. Liên hệ việc thực hiện trách nhiệm đó của thủ trưởng cơ quan anh
chị công tác.
Trả lời:
Dân chủ là một hình thức chính trị - nhà nước của xã hội. Có thể hiểu dân chủ là chính quyền
thuộc về nhân dân. Nhân dân là chủ thể quyền lực của nhà nước, Nhà nước dân chủ là nhà nước thừa
nhận và bảo đảm các quyền tự do và bình đẳng của công dân.
Dân chủ trong nội bộ cơ quan quy định trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan và của cán bộ,
công chức trong thực hiện dân chủ trong hoạt động nội bộ của cơ quan; những việc phải công khai để
cán bộ, công chức biết; những việc cán bộ, công chức tham gia ý kiến; những việc cán bộ, công chức
giám sát, kiểm tra.
Thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan nhằm phát huy quyền làm chủ của cán bộ,
công chức, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức là công bộc của nhân dân, có đủ phẩm chất
chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, làm việc có năng suất, chất
lượng, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển và đổi mới của đất nước; phòng ngừa, ngăn chặn và chống
các hành vi tham nhũng, lãng phí, quan liêu, phiền hà, sách nhiễu nhân dân.

Chính phủ đã ban hành quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan (ban hành kèm
theo Nghị định số 71/1998/NĐ-CP ngày 08/9/1998 của Chính phủ) cho thấy pháp luạt dân chủ ở cơ sở
trong hoạt động của cơ quan bao gồm: Trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan và trách nhiệm của cán bộ,
công chức thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan. Trong đó, trách nhiệm của thủ trưởng cơ
quan trong thực hiện dân chủ là nội dung quan trọng, cụ thể:
Thứ nhất, tại cuộc họp giao ban định kỳ, hàng tháng, 6 tháng 1 lần và cuối năm thủ trưởng cơ
quan đánh giá việc thực hiện công việc của cơ quan đánh giá việc thực hiện công việc của cơ quan,
xem xét việc thực hiện các nghị quyết của Đảng, nhiệm vụ của cơ quan, của các bộ phận trong cơ
quan. Thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm lắng nghe đóng góp của cán bộ, công chức, đặt ra những
công việc chủ yếu phải giải quyết trong thời gian tới, đề ra các giải pháp phát huy quyền làm chủ của
cán bộ, công chức; khắc phục tệ quan liêu, cửa quyền, tham nhũng, sách nhiễu dân và những yếu kém
trong thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch, pháp luật, chính sách, chế độ, nội quy, quy chế của cơ quan.
Thứ hai, thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm quản lý cán bộ, công chức thuộc cơ quan về các
mặt tư tưởng, phẩm chất, đạo đức, sử dụng đào tạo, thực hiện chinhs ách để xây dựng đội ngũ cán bộ,
công chức có phẩm chất năng lực. Việc đánh giá định kỳ hàng năm đối với cán bộ, công chức phải
được tiến hành theo ba bước: Bước 1, Cán bộ, công chức viết bản tự nhận xét; bước 2, tập thể cán bộ,
công chức làm việc tham gia ý kiến vào bản tự nhận xét công tác đó; bước 3, thủ trưởng trực tiếp của
cán bộ, công chức ghi đánh giá định kỳ hàng năm đối với cán bộ, công chức ghi đánh giá định kỳ hàng
năm đối với cán bộ, công chức và thông báo trực tiếp cho cán bộ, công chức biết và đưa vào hồ sơ cán
bộ, công chức do cơ quan quản lý.
Thứ ba, thủ trưởng cơ quan chịu trách nhiệm về việc sử dụng có hiệu quả của cơ quan, tiết
kiệm kinh phí được cấp và công khai tài chính.
Thứ tư, thủ trưởng cơ quan trong phạm vi quyền hạn vủa mình có trách nhiệm thực hiện các
biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn hành vi tham nhũng, xử lý và tạo điều kiện để cơ quan tổ chức có
thẩm quyền xử lý những người có hành vi tham nhũng. Thủ trưởng cơ quan phải chịu trách nhiệm nếu
để xảy ra tham nhũng trong cơ quan mình.
Thứ năm, thủ trưởng cơ quan phối hợp với công đoàn cơ quan tổ chức hội nghị cán bộ, công
chức cơ quan mỗi năm một lần vào cuối năm. Hội nghị cán bộ, công chức phải thực hiện dân chủ
thông quan việc kiểm điểm thực hiện nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kế hoạch công tác
của cơ quan và bàn biện pháp thực hiện kế hoạch công tác năm tới; tiếp thu ý kiến đóng góp phê bình

của cán bộ, công chức; giải đáp thắc mắc đề nghị của cán bộ, công chức; bàn các biện pháp cải tiến
điều kiện làm việc, nâng cao đời sống của cán bộ, công chức; tham gia ý kiến về các vấn đề của cơ
quan trước khi thủ trưởng cơ quan quyết định, thực hiện khen thưởng cá nhân, tập thể có thành tích.
Phần liên hệ anh/chị liên hệ thực tế cơ quan anh chị công tác
Câu hỏi 6: Đ/C hãy cho biết thế nào là áp dụng pháp luật lý giải vì sao ADPL là
hình thức áp dụng đặc thù.
Trả lời:
Khái niệm ADPL:
ADPL là 1 hình thức thực hiện pháp luật trong đó nhà nước thông qua các cơ quan nhà
nước hoặc cán bộ, công chức có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể thực hiện những quy định
của pháp luật hoặc tự mình căn cứ vào các quy định của pháp luật ra các quyết định làm phát
sinh, chấm dứt, hay thay đỏi những quan hệ pháp luật cụ thể.
ADPL vừa là 1 hình thức thực hiện pháp luật diễn ra trong hoạt động thực hiện quyền
hành pháp và thực hiện quyền tư pháp của nhà nước. Đây là hoạt động thực hiện pháp luật của
cơ quan nhà nước, được xem như là đảm bảo đặc thù của nhà nước cho các quy phạm pháp
luật được thực hiện có hiệu qủa trong đời sống xã hội. Là 1 dạng thực hiện pháp luật quan
trọng, ADPL cần làm rõ các vấn đề sau:
Các trường hợp ADPL;
- ADPL cần sử dụng các biện pháp cưỡng chế bằng các chế tài thích hợp cần sử dụng
các biện pháp cưỡng chế bằng các chế tài thích hợp đối với chủ thể có hành vi vi phạm pháp
luật.
- ADPL khi các quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý cụ thể không tự phát sinh nếu không
có sự tác động của Nhà nước.
- ADPL khi sẩy ra tranh chấp về quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên tham gia các
quan hệ pháp luật mà họ không tự giải quyết được.
- ADPL trong các trường hợp Nhà nước thấy cần thiết tham gia để kiểm tra, giám sát
hoạt động các bên tham gia quan hệ đó, hoặc nhà nước xác nhận sự tồn tại hay không tồn tại
của 1 số sự việc, sự kiện thực tế.
Đặc điểm ADPL;
- ADPL về nguyên tắc chỉ do những cơ quan nhà nước có thẩm quyền thi hành. Pháp

luật quy định các cơ quan nhà nước khác nhau có thẩm quyền áp dụng pháp luật khác nhau.
Như vậy so với các hình thức thực hiện pháp luật khác, ADPL chỉ do các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền tiến hành. Ngoài ra, có 1 số trường hợp ca biệt, pháp luật trao cho các tổ chức xã
hội thẩm quyền áp dụng pháp luật.
- ADPL là 1 dạng hoạt động mang tính quyền lực nhà nước. Trong nhiều trường hợp,
các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành ADPL theo ý trí đơn phương không phụ thuộc
vào ý trí của chủ thể bị áp dụng. Sự áp dụng này có tính bắt buộc đối với chủ thể bị áp dụng và
được bảo đảm bởi sức mạnh cưỡng chế của nhà nước.
- ADPL là hoạt động phải tiến hành theo các thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định. Ví
dụ; việc áp dụng Luật hình sự để giải quyết một vụ an hình sự phải tuân thủ Luật Tố tụng hình
sự với những quy định rất chặt chẽ, đòi hỏi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các bên liên
quan trong quá trình ADPL phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định có tính thủ tục đó.
- ADPL là hoạt động cá biệt hoá các quy phạm pháp luật chung áp dụng cho các cá
nhân, tổ chức cụ thể.
- ADPL là hoạt động mang tính sáng tạo. Bởi vì áp dụng pháp luật là quá trình vận dụng
cái chung ( các quy pham pháp luật) để giải quyết các vụ việc củ thể. Điều đó đòi hỏi người có
thẩm quyền áp dụng pháp luật phải vận dụng cái chung phù hợp với cái riêng rất phong phú,
đa dạng và phức tạp. Để làm được điều đó người áp dụng pháp luật không thể máy móc, có
kiến thức tổng hợp kinh nghiệm tập huấn phong phú.
Vậy từ các trường hợp ADPL và đặc điểm của ADPL ta có thể khẳng định ADPL là
hình thức áp dụng đặc thù.
Mon 2: Lich su dang cong san viet nam
Câu hỏi: Hãy so sánh những nội dung cơ bản của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng
và Luận cương chính trị tháng 10-1930 qua đó rút ra nhận xét?
Đảng cộng sản Việt Nam ra đời là một tất yếu của lịch sử, là một bước ngoặt vĩ đại của cách
mạng Việt Nam. Để xác lập đường lối chiến lược, sách lược cơ bản của cách mạng Việt Nam và đưa ra
tôn chỉ, mục đích nguyên tắc tổ chức và tôn chỉ hoạt động của Đảng cộng sản Việt Nam, cương lĩnh
chính trị được vạch ra. Tại hội nghị thành lập Đảng, các đại biểu đã thống nhất thông qua Chánh
cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, chương trình vắn tắt, Điều lệ tóm tắt của Đảng cộng sản Việt Nam do
Nguyễn Ái Quốc soạn thảo. Tiếp sau đó vào tháng 10-1930, Ban chấp hành Trung ương Đảng họp Hội

nghị lần thứ nhất thông qua luận cương chính trị do đồng chí Trần Phú soạn thảo. Cương lĩnh chính trị
và luận cương chính trị là những văn kiện thể hiện đường lối quan điểm cách mạng của Đảng ta, vậy
hai văn kiện này có đặc điểm gì giống và khác nhau chúng ta cùng đi tìm hiểu để làm rõ nội dung này.
Hai văn kiện trên được xây dựng trên cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn, xác định rõ phương
hướng chiến lược, nhiệm vụ cụ thể và cơ bản, lực lượng cách mạng, phương pháp cách mạng, đoàn kết
quốc tế và vai trò lãnh đạo của Đảng.
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng và Luận cương chính trị tháng 10-1930 có những điểm
giống nhau sau:
- Về phương hướng chiến lược của cách mạng: cả hai văn kiện đều xác định tính chất của cách
mạng Việt Nam là cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng, bỏ qua thời kỳ tư bản chủ nghĩa
để tiến lên cộng sản chủ nghĩa. Đây là hai nhiệm vụ cách mạng nối tiếp nhau. Phương hướng chiến
lươc thể hiện xu thế phát triển của thời đại và nguyện vọng của đông đảo nhân dân Việt Nam.
- Về nhiệm vụ cách mạng: cả hai văn kiện đều nêu ra nhiệm vụ chống đế quốc, chống phong
kiến để giành độc lập cho dân tộc, lấy lại ruộng đất cho nông dân.
- Về lực lượng cách mạng: hai văn kiện đã chỉ ra chủ yếu là lực lượng nông dân và công nhân.
Đây là hai lực lượng nòng cốt cơ bản và đông đảo trong xã hội góp phần to lón vào công cuộc giải
phóng dân tộc nước ta.
- Về phương pháp cách mạng: sử dụng sức mạnh của số đông dân chúng Việt Nam cả về chính
trị và vũ trang nhằm đạt mục tiêu cơ bản của cách mạng là đánh đổ đế quốc và phong kiến giành chính
quyền về tay công nông.
- Cách mạng Việt Nam là một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới
- Về vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản: với tư cách là đội tiên phong của giai cấp công nhân
thì Đảng phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được
dân chúng.
Sự giống nhau của hai văn kiện trên là sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin
vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam.
Bên cạnh những điểm giống nhau nói trên, Chính cương sách lược vắn tắt và Luận cương chính
trị tháng 10-1930 của Đảng còn có những điểm khác nhau như sau:
- Cương lĩnh chính trị xây dựng đường lối của cách mạng Việt Nam còn Luận cương thì rộng
hơn là ( Đông Dương).

- Thứ nhất là việc xác định kẻ thù, nhiệm vụ và mục tiêu của cách mạng: Trong Cương lĩnh
chính trị xác định kẻ thù, nhiệm vụ của cách mạng là đánh đổ thực dân Pháp sau đó mới đánh đổ
phong kiến và tay sai phản cách mạng( nhiệm vụ dân tộc và dân chủ). Nhiệm vụ dân tộc là nhiệm vụ
trọng đại của cách mạng, nhiệm vụ dân chủ cũng dựa vào nhiệm vụ dân tộc để giải quyết. Như vậy
mục tiêu của Cương lĩnh xác định làm cho dân tộc Việt Nam hoàn toàn độc lập, nhân dân được tự do,
dân chủ bình đẳng, tịch thu ruộng đất của địa chủ, Việt gian chia cho dân cày nghèo thành lập chính
phủ công nông binh. Còn trong Luận cương chính trị tháng 10-1930 xác định phải tranh đấu để đánh
đổ các tàng tích phong kiến để thực hiện thổ địa cách mạng cho triệt để. Đánh đổ đế quốc Pháp làm
cho Đông Dương hoàn toàn độc lập. Hai nhiệm vụ chiến lược dân chủ và dân tộc tiến hành cùng một
lúc có quan hệ khăng khít với nhau. Việc các định nhiệm vụ như vậy của Luận cương chính trị đã đáp
ứng nhu cầu khách quan đồng thời giải quyết hai mẫu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam lúc bấy giờ
là mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp đang ngày càng sâu sắc. Tuy nhiên, Luận cương tháng 10-
1930 chưa xác định được kẻ thù chính nên chưa nêu cao vấn đề dân tộc lên hàng đầu mà nêu cao vấn
đề đấu tranh giai cấp, vấn đề cách mạng ruộng đất.
- Thứ hai là về lực lượng cách mạng: Trong Cương lĩnh chính trị xác định lực lượng cơ bản của
cách mạng là giai cấp công nhân và giai cấp nông dân trong đó giai cấp công nhân lãnh đạo; đồng thời
chủ trương đoàn kết tất cả các giai cấp, các lực lượng tiến bộ, yêu nước để tập trung chống đế quốc và
tay sai . Do vậy, “Đảng phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình”, “
phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày, hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông… để
kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp. Còn đối với bọn phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà
chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ trung lập”. Đây là tư tưởng tập
hợp lực lượng cách mạng trên cơ sở đánh giá thái độ các giai cấp phù hợp với đặc điểm xã hội Việt
Nam. Còn Luận cương chính trị thì xác định giai cấp công nhân và nông dân là động lực chính của
cách mạng tư sản dân quyền trong đó giai cấp công nhân là lực lượng lãnh đạo cách mạng, nông dân là
lực lượng đông đảo nhất là động lực của cách mạng. Luận cương chưa đề cập đến việc tập hợp tất cả
các giai cấp, tầng lớp trong xã hội tạo thành khối đại đoàn kết tàn dân tộc, chưa đánh giá đúng khả
năng cách mạng của giai cấp tiểu tư sản, tư sản dân tộc, tầng lớp trí thức, một bộ phận của tiểu địa
chủ… trong việc tham gia xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc để chống đế quốc và tay sai phản
động.
Nhận xét: Tóm lại, luận cương đã thể hiện một văn kiện tiếp thu được chủ yếu quan điểm của

Chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt, Điều lệ tóm tắt, xác định được nòng cốt của cách mạng. Tuy
nhiên, Luận cương chính trị tháng 10-1930 cũng có một số hạn chế nhất định: sử dụng một cách máy
móc dập khuôn chủ nghĩa Mác-Lênin vào cách mạng Việt Nam còn quá nhấn mạnh đấu tranh gia cấp.
Còn Cương lĩnh chính trị tuy còn sơ lược vắn tắt nhưng nó đã vạch ra phương hướng cơ bản của cách
mạng Việt Nam phát triển từ cách mạng giải phóng dân tộc tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Cương lĩnh thể hiện sự vận dụng đúng đắn quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn cách mạng
Việt Nam kết hopự nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế vô sản phù hợp với xu thế
phát triển của thời đại và nhu cầu khách quan của lịch sử.
Chính cương sách lược đầu tiên của Đảng và Luận cương chính trị tháng 10-1930 cùng với sự
ra đời thống nhất về tổ chức có ý nghĩa hết sức to lớn cùng với sự ra đời của Đảng ta, là sự chuẩn bị
đầu tiên có tính chất quyết định cho nhũng bước phát triển nhảy vọt trong tiến trình lịch sử cách mạng
của dân tộc ta. Chúng là nền tảng cho những văn kiện xây dựng và phát triển đất nước sau này. Sự
đúng đắn của Cương lĩnh chính trị đầu tiên đã được khẳng định bởi quá trình khảo nghiệm của lịch sử
đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội của dân tộc ta từ khi
Đảng ra đời và đến nay vẫn là ngọn cờ dẫn dắt nhân dân ta trong công cuộc đổi mới theo định hướng
xã hội chủ nghĩa.

×