Tải bản đầy đủ (.doc) (14 trang)

Các vấn đề cơ bản về cạnh tranh và pháp luật cạnh tranh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (118.84 KB, 14 trang )

Các vấn đề cơ bản về cạnh tranh và pháp luật cạnh tranh

1. Khái niệm cạnh tranh
1.1. Khái niệm
Khái niệm cạnh tranh với tư cách là một hiện tượng kinh tế, xuất hiện và tồn tại với tính
cách là một trong những đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường, là năng lực phát triển của
kinh tế thị trường. Với cách tiếp cận này, Từ điển Kinh doanh của Anh năm 1992 đã định
nghĩa “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường
nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía
mình”. Từ điển Tiếng Việt “Bách khoa tri thức phổ thông” cũng giải thích cạnh tranh là sự
ganh đua giữa những nhà sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh
trong nền kinh tế nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất.
Theo các cách giải thích trên, nếu nhìn từ phía các chủ thể của hành vi thì cạnh tranh được
coi là phương thức giải quyết mâu thuẫn về lợi ích tiềm năng giữa các nhà kinh doanh với
vai trò quyết định của người tiêu dùng. Nếu nhìn khái quát trên quy mơ tồn xã hội, thì
cạnh tranh là phương thức phân bổ các nguồn lực, tài nguyên một cách tối ưu, do đó là
động lực bên trong của nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu cũng đã chỉ
ra rằng, cạnh tranh có bản chất kinh tế và bản chất xã hội của nó. Bản chất kinh tế của cạnh
tranh thể hiện mục đích tạo lập cho mình một ưu thế chi phối thị trường và vì lợi nhuận.
Bản chất xã hội của cạnh tranh là bộc lộ đạo đức kinh doanh và uy tín của mỗi chủ thể
cạnh tranh trong mối quan hệ đối với những người lao động trực tiếp tạo ra tiềm lực cạnh
tranh của doanh nghiệp và trong mối quan hệ với người tiêu dùng và với các đối thủ cạnh
tranh khác[1].
1.2. Các hình thái về cạnh tranh
1.2.1. Cạnh tranh hoàn hảo và cạnh tranh khơng hồn hảo
Căn cứ vào cơ cấu doanh nghiệp và mức độ tập trung trong một ngành, lĩnh vực kinh tế,
người ta phân thị trường thành các hình thái: Cạnh tranh hoàn hảo, độc quyền và cạnh tranh
không hoàn hảo[2].
- Cạnh tranh hoàn hảo là hình thái thị trường trong đó giá cả và sản lượng của một hàng
hoá được hoàn toàn xác định bởi cung và cầu trên thị trường về hàng hoá đó và do vậy một



doanh nghiệp tham gia thị trường phải là người chấp nhận giá.
Theo cách hiểu trên, cạnh tranh hoàn hảo là hình thái thị trường trong đó có nhiều người
bán và nhiều người mua một sản phẩm. Bất kỳ người bán và người mua nào đều là quá nhỏ
so với quy mô thị trường do vậy không có khả năng để tác động tới giá của sản phẩm. Điều
này có nghĩa là sự thay đổi sản lượng của một doanh nghiệp hoàn toàn không ảnh hưởng gì
tới giá thị trường. Tương tự, mỗi người mua cũng quá nhỏ để có thể đòi hỏi người bán
những điều như phải giảm giá khi mua nhiều hay bán chịu.
Độc quyền là một hình thái thị trường trong đó có một doanh nghiệp duy nhất bán một sản
phẩm mà không có một sản phẩm thay thế gần giống với nó (được gọi là độc quyền bán monopoly), hoặc chỉ có một người mua (được gọi là độc quyền mua - monopsony). Do vậy
độc quyền là thái cực trái ngược với cạnh tranh hoàn hảo.
- Cạnh tranh không hoàn hảo là một hình thái thị trường nằm giữa hai hình thái là cạnh
tranh hoàn hảo và độc quyền. Cạnh tranh không hoàn hảo bao gồm: cạnh tranh mang tính
độc quyền và độc quyền nhóm.
+ Cạnh tranh mang tính độc quyền là hình thái thị trường có nhiều người bán sản xuất ra
những sản phẩm có thể dễ dàng thay thế cho nhau. Mỗi người chỉ có khả năng hạn chế ảnh
hưởng tới giá cả sản phẩm của mình. So với hình thái cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh
mang tính độc quyền cũng có nhiều doanh nghiệp gia nhập thị trường không hạn chế.
Nhưng nó khác với cạnh tranh hoàn hảo ở chỗ sản phẩm được phân hoá cao độ - mỗi
doanh nghiệp đều có một loại sản phẩm khác nhau về hình dáng, kích thước, nhãn mác,
chất lượng và danh tiếng và mỗi doanh nghiệp là người duy nhất sản xuất loại hàng hoá
riêng của mình.
+. Độc quyền nhóm là một hình thái thị trường trong đó chỉ có một số ít các nhà sản xuất,
mỗi người đều nhận thức được rằng giá cả của mình không chỉ phụ thuộc vào sản lượng
của mình mà còn phụ thuộc vào hoạt động của các đối thủ cạnh tranh quan trọng trong
ngành đó.
1.2.2. Cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh
Căn cứ vào mục đích, tính chất của các phương thức cạnh tranh, người ta phân loại các
hành vi cạnh tranh trên các hình thái thị trường thành: Cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh
không lành mạnh.



- Cạnh tranh lành mạnh là hình thức cạnh tranh đẹp, trong sáng, cạnh tranh bằng tiềm năng
vốn có của bản thân doanh nghiệp. Đó là những hoạt động nhằm thu hút khách hàng mà
pháp luật không cấm và phù hợp với tập quán thương mại và đạo đức kinh doanh.
- Cạnh tranh không lành mạnh là những hành vi cụ thể của một chủ thể kinh doanh, nhằm
mục đích cạnh tranh, luôn thể hiện tính không lành mạnh (không nhất thiết phải trái pháp
luật) và vô tình hay cố ý gây thiệt hại cho một đối thủ cạnh tranh hay bạn hàng cụ thể.
Như vậy, từ những khái niệm đã trình bày ở trên, có thể hiểu rằng cạnh tranh là sự ganh
đua nhau giữa các doanh nghiệp về giá cả, số lượng, dịch vụ hoặc kết hợp các yếu tố này
để dành nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường.
Cạnh tranh trên thị trường được phân chia thành cạnh tranh hồn hảo, độc quyền, cạnh
tranh khơng hồn hảo nếu xét theo cơ cấu doanh nghiệp và mức độ tập trung trong một
ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc thành cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh
nếu căn cứ vào mục đích và tính chất của các phương thức cạnh tranh.
2. Lịch sử hình thành của pháp luật cạnh tranh
Chính sách cạnh tranh, theo cách hiểu phổ biến nhất trong giới nghiên cứu về lĩnh vực này
trên thế giới, bao gồm tất cả các biện pháp, chính sách Nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp
đến hành vi kinh doanh của doanh nghiệp và cấu trúc thị trường. Chính sách cạnh tranh
bao gồm hai mảng chính. Mảng thứ nhất là việc ban hành và thực thi một tập hợp các
chính sách có tác dụng thúc đẩy cạnh tranh trên thị trường, bao gồm các chính sách về tư
nhân hóa (ở Việt Nam là cổ phần hóa), tự do hóa về thương mại và chính sách hối đối, các
chính sách về phi điều tiết hóa cũng như các quy đinh hiệu quả điều chỉnh các hoạt động
kinh doanh ngành, v.v. Mảng thứ hai là pháp luật cạnh tranh, bao gồm các chế định pháp lý
được ban bành để kiểm soát/ngăn chặn các hành vi hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh không
lành mạnh và các can thiệp quá mức của Nhà nước vào việc điều tiết thị trường. Để có hiệu
quả tối ưu, cả luật và chính sách đều phải được phối hợp thực thi một cách mạch lạc và
chặt chẽ.
Pháp luật cạnh tranh của các nước ra đời đều bắt nguồn từ nhu cầu của nền kinh tế. Cùng
với quá trình phát triển, pháp luật cạnh tranh đã được liên tục sửa đổi để phù hợp với thực

tiễn. Luật Cạnh tranh có thể được gọi theo nhiều cách khác nhau (ví dụ: Luật cạnh tranh Competition Law của Anh, Luật chống độc quyền- Anti monopoly Act của Nhật Bản, Luật
thương mại lành mạnh – Fair Trade Law của Đài Loan…) nhưng tất cả đều có một mục


đích chung là duy trì và bảo vệ sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường, cho phép các thực
thể kinh tế có cơ hội bình đẳng cạnh tranh cũng như tiếp cận thị trường. Bảo vệ người tiêu
dùng thông qua việc khuyến khích hạ giá và cải thiện chất lượng sản phẩm được xem như
một hệ quả của cạnh tranh tự do và lành mạnh trên thị trường.
Trên thế giới có thể nói Mỹ là một trong số những nước ban hành pháp luật cạnh tranh sớm
nhất, pháp luật cạnh tranh này còn được biết đến với tên gọi là luật chống độc quyền. Lịch
sử chống độc quyền của Mỹ nhìn chung được bắt đầu với Luật Sherman năm 1890, đây là
bộ luật chống độc quyền đầu tiên được thông qua bởi các bang trước khi trở thành bộ luật
Liên bang. Luật Sherman gồm hai phần chính. Phần một quy định các thoả thuận gây hạn
chế thương mại. Phần hai cấm việc giành được vị thế độc quyền bằng việc sử dụng các
biện pháp phản cạnh tranh hoặc lạm dụng vị trí độc quyền (khơng phải là độc quyền tự
nhiên). Một điểm quan trọng cần lưu ý là Luật Sherman có thể được thực thi như luật dân
sự hoặc như luật hình sự, các phán xét được trao cho Vụ Chống độc quyền, Bộ Tư pháp.
Cụ thể, các hành vi hiển nhiên vi phạm như: ấn định giá tạm thời, thơng đồng để thắng
thầu sẽ bị truy tố hình sự. Trong năm 1914, hai bộ luật Liên bang nữa đã được thông qua là
Luật Clayton và Luật Uỷ ban Thương mại Liên bang (FTC).
Theo quy định của Luật Ủy ban Thương mại Liên bang, FTC được thành lập để thực thi
Luật Clayton, Luật Robinson-Patman (ngoại trừ điều khoản xử lý hình sự theo Luật
Sherman). Mặc dù đã có những sửa đổi, bổ sung đối với 3 bộ luật Liên bang này (điển hình
là Luật Robinson-Patman 1936 và Luật Hart-Scott-Rodino 1976) nhưng về cơ bản là khơng
có sự thay đổi lớn từ năm 1914. Đến nay, hầu hết các bang cũng đã thông qua luật của
bang căn cứ theo nội dung của Luật Sherman và Luật FTC.
Canada ban hành Luật Cạnh tranh lần đầu tiên năm 1889. Mặc dù có lịch sử tương đối dài
nhưng Luật Cạnh tranh vẫn không có được vai trị nổi trội trong các hoạt động kinh tế của
Canada cho tới gần đây. Đó một phần là do các lực lượng kinh tế và chính trị đứng đằng
sau quá trình phát triển của nền kinh tế Canada vốn thích sự phát triển một cơ cấu cơng

nghiệp tương đối tập trung. Canada đã phát triển nền kinh tế của mình với một mức độ
tham gia lớn của Chính phủ. Theo đó, các quy định về âm mưu và duy trì giá đã nhận được
sự chú ý đáng kể về mặt thi hành luật nhưng sự phân biệt giá, bán phá giá, sáp nhập và độc
quyền thì thực sự bị bỏ qua. Năm 1975, Nghị viện đã thực hiện giai đoạn sửa đổi đầu tiên.
Điểm đáng chú ý trong sửa đổi lần này là đã mở rộng quyền hành động có giới hạn của tư
nhân, biến các hành vi thông đồng trong đấu thầu thành đương nhiên bất hợp pháp, và việc
từ chối giao dịch, bán hàng có ràng buộc, giao dịch mang tính độc quyền và hạn chế thị
trường thành những hành vi được xem xét về mặt dân sự.


Giai đoạn sửa đổi thứ hai được thực hiện vào năm 1986. Luật, khi đó được gọi là Luật
Điều tra các vụ kết hợp được đổi tên thành Luật Cạnh tranh. Những cuộc cải cách trong
năm 1986 cũng bao gồm việc củng cố các quy định về âm mưu mang tính hình sự của
Luật, bổ sung quy định về các thoả thuận chun mơn hố, và bổ sung khả năng xem xét
về mặt dân sự hành vi định giá chuyển giao, lạm dụng vị trí thống lĩnh và sáp nhập. Cuộc
cải cách trong năm 1986 cũng tạo nên một cơ quan pháp luật mới gọi là Toà Cạnh tranh
thay cho Hội đồng các hành vi hạn chế thương mại để xử lý các quy định dân sự của Luật.
Vào tháng 3/1999, Luật được sửa đổi lần nữa bởi Luật sửa đổi Luật Cạnh tranh. Những sửa
đổi lần này đã làm thay đổi Luật về một số khía cạnh rất quan trọng như đã chuyển một số
hành vi (ví dụ quảng cáo gây nhầm lẫn) từ hành vi vi phạm mang tính hình sự thuần t
sang hành vi được xem xét cả về mặt hình sự và dân sự tuỳ từng trường hợp; sửa đổi cũng
bổ sung quy định miễn trừ và các quy định về xử lý hình sự… Năm 2000, Luật tiếp tục
được sửa đổi để giao cho Cao Uỷ Cạnh tranh (Commissioner) và Toà Cạnh tranh những
quyền mới để xử lý các hành vi lạm dụng vị trí tiềm năng thị trường của Hàng không
Canada (Air Canada).
Trong các nước Châu Âu (Italia, Bỉ, Đức, Đan Mạch, Hà Lan, Pháp, Anh và Thụy điển),
Đức là quốc gia ban hành pháp luật cạnh tranh rất sớm. Đức đã ban hành Luật Chống hạn
chế cạnh tranh, viết tắt ARC, và chính thức có hiệu lực vào ngày 01/01/1958. Tính đến
nay, Luật đã được sửa đổi, bổ sung 7 lần. Lần sửa đổi cuối cùng có hiệu lực vào tháng
07/2005.

Italia đã ban hành Luật Cạnh tranh và Thương mại công bằng ngày 10/10/1990. Tiếp đó,
Quốc hội Italia ban hành pháp luật chống độc quyền quốc gia trên cơ sở yêu cầu của Điều
41 Hiến pháp, nhằm bảo vệ, bảo đảm quyền tự do kinh doanh, và để làm cho pháp luật của
Italia phù hợp với luật lệ của Cộng đồng Châu Âu.
Ở Pháp, Bộ Luật Thương mại đã chứa đựng các quy định về cạnh tranh. Quay lại lịch sử
hình thành và phát triển pháp luật cạnh tranh Pháp, có thể nhận thấy một số thay đổi của
pháp luật tuy chỉ mang tính hình thức nhưng lại có tầm quan trọng đáng kể: Pháp lệnh ngày
01/12/1986 về tự do giá cả và tự do cạnh tranh đã bị bãi bỏ và chuyển hố vào Bộ Luật
Thương mại sau một chương trình pháp điển hoá rộng lớn. Kể từ nay, nếu xét về nguồn
luật trong nước thì văn bản nền tảng của pháp luật cạnh tranh chính là Quyển IV của Bộ
luật Thương mại. Do q trình pháp điển hố nên số thứ tự của các điều khoản đã hoàn
toàn bị thay đổi. Chính vì vậy, Quyển IV đã dành một phụ lục trong đó trình bày bảng đối
chiếu giữa các điều khoản trước đây của Pháp lệnh năm 1996 và các điều khoản hiện hành
của Bộ Luật Thương mại. Một số thay đổi khác của pháp luật cạnh tranh trong nước, chủ


yếu xuất phát từ việc ban hành Luật ngày 15/05/2001 về các biện pháp điều tiết kinh tế
mới, là những thay đổi liên quan đến cả luật nội dung lẫn luật tố tụng.
Mặc dù cịn nặng về mặt hình thức, nhưng pháp luật cạnh tranh của Châu Âu đã chiếm một
vị trí rất quan trọng, có uy tín tại nhiều quốc gia muốn gia nhập Liên minh và tại một số
quốc gia khác. Đặc biệt, cách thức áp dụng pháp luật cạnh tranh của Châu Âu đã làm cho
các chủ thể kinh tế phải tôn trọng và cân nhắc thận trọng những ràng buộc của pháp luật
đó.
Hà Lan ban hành Luật Cạnh tranh đầu tiên vào năm 1956 với tên gọi là Luật Cạnh tranh
kinh tế (Economic Competition Act). Đến 1997, Chính phủ liên minh mới đã ban hành
Luật Cạnh tranh mới thay thế cho Luật 1956. Luật Cạnh tranh 1997 này có hiệu lực kể từ
ngày 1/1/1998. Từ đó đến nay, Luật Cạnh tranh đã qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung để phù
hợp với thực tiễn và các quy định của Liên minh Châu Âu. Bản sửa đổi có thể áp dụng tại
thời điểm hiện nay là phiên bản ngày 01/08/2004.
Tại Anh, Luật Cạnh tranh được ban hành ngày 09/11/1998 để sửa đổi Luật Thương mại

lành mạnh 1973. Luật đã đưa thêm các điều khoản cấm các hành vi phản cạnh tranh
(Chương I và Chương II). Văn phòng Thương mại lành mạnh (OFT) có thẩm quyền khá
lớn trong việc điều tra các doanh nghiệp được cho là vi phạm Luật và áp dụng các hình
phạt đối với các doanh nghiệp này. Luật được sửa đổi ngày 01/05/2004, theo đó đã trao
cho OFT quyền điều tra và áp dụng các hình phạt đối với các tổ chức/các nhân vi phạm các
điều khoản cấm theo Điều 81 và Điều 82 của Hiệp ước EC. Tuy nhiên một điểm đáng lưu
ý đối với pháp luật cạnh tranh của Anh là khi tiến hành xử lý, OFT không chỉ dựa trên Luật
Cạnh tranh, mà còn tuân theo các quy định pháp luật có liên quan, chẳng hạn Luật Doanh
nghiệp 2002 (có điều khoản quy định vi phạm cacten). Theo đó, các cá nhân tham gia vào
một trong các dạng thoả thuận phản cạnh tranh nghiêm trọng có thể bị truy cứu trách
nhiệm hình sự. Hơn nữa, khi Luật Doanh nghiệp 2002 được ban hành, nước Anh cũng đã
tiến hành sửa đổi Luật Truất quyền các nhà điều hành doanh nghiệp. Các nhà điều hành
doanh nghiệp khi vi phạm pháp luật cạnh tranh (các hành vi bị cấm theo Điều 81, Điều 81
Hiệp ước EC và của Luật Cạnh tranh) có thể phải nhận Lệnh truất quyền cạnh tranh. Lệnh
này sẽ chấm dứt các hành vi có liên quan và buộc họ khơng được quản lý doanh nghiệp
trong thời hạn tối đa là 15 năm.
Nhưng quan trọng hơn chính là những thay đổi của pháp luật cạnh tranh của Liên minh
Châu Âu. Khuôn khổ pháp luật điều chỉnh các hành vi hạn chế cạnh tranh theo chiều dọc
đã được sửa đổi ngay từ năm 1999. Quy chế về kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế giữa
các doanh nghiệp cũng đã được sửa đổi bổ sung và có hiệu lực kể từ ngày 01/05/2004. Các
quy định hướng dẫn thi hành Điều 81 và các điều tiếp theo của Hiệp ước thành lập Cộng


đồng Châu Âu đã được sửa đổi một cách toàn diện vào cuối năm 2002 và trong năm 2003.
Những sửa đổi này cũng bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 01/05/2004. Ở đây cần lưu ý: điều
khoản được hướng dẫn thi hành là Điều 81 chứ khơng cịn là Điều 85, bởi sau khi Hiệp
ước Amsterdam được ký kết, đã kéo theo sự thay đổi trong cách đánh số quen thuộc của
các điều khoản.
Đối với Úc, pháp luật cạnh tranh được quy định trong Luật Thực tiễn Thương mại năm
1974 và Luật Giám sát giá cả năm 1983. Mục đích của Luật Thực tiễn Thương mại (TPA)

là nhằm thúc đẩy sự thịnh vượng của Úc thông qua việc thúc đẩy cạnh tranh và thương mại
lành mạnh và bảo vệ người tiêu dùng. TPA liên quan đến hầu hết các vấn đề trên thị
trường: mối quan hệ giữa nhà cung cấp, bán buôn, bán lẻ, các đối thủ cạnh tranh và khách
hàng. Trên bình diện rộng, TPA giải quyết các vấn đề như các hành vi không lành mạnh
trên thị trường, luật theo ngành, sáp nhập, an toàn sản phẩm, nhãn mác sản phẩm, giám sát
giá cả và quy định của các ngành cơng nghiệp như viễn thơng, khí đốt, điện và hàng không.
Luật Cạnh tranh của Brazil gắn liền với bối cảnh lịch sử và chính sách kinh tế của Brazil.
Như chúng ta đã biết, sau chiến tranh thế giới thứ hai chính sách kinh tế của Brazil dựa vào
sự can thiệp rộng của Chính phủ đối với sự vận hành của thị trường. Chính phủ kiểm sốt
giá ở nhiều ngành, hơn nữa, hầu hết các doanh nghiệp công nghiệp, vận tải, và tài chính
lớn nhất đất nước hoặc là doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước hoặc độc quyền tư nhân bị
áp đặt các chế tài công khai. Trong bối cảnh đó, năm 1962 Brazil đã ban hành Luật Cạnh
tranh đầu tiên số hiệu 4137, luật đã thiết lập nên Hội đồng quản lý hành chính về an ninh
kinh tế “CADE’’ (Admistrative Council for Economic Defence). Năm 1988, cùng với một
loạt thay đổi đáng kể về kinh tế ở Brazil, hiến pháp mới đã đưa vấn đề cạnh tranh vào
trong các quy định pháp lý và coi cạnh tranh giống như một yếu tố chính để thiết lập nên
“trật tự kinh tế’’. Chương trình tư nhân hố đã được đề xuất, các rào cản trong thương mại
quốc tế đã được cắt giảm và vai trò của CADE đã được tăng cường. Một kỷ nguyên mới
cho chính sách cạnh tranh ở Brazil đã bắt đầu từ năm 1994 và để ứng phó với giai đoạn
lạm phát tăng nhanh, “kế hoạch thực tiễn’’ (Real Plan) đã được thực thi trong năm này.
Như một phần của chương trình cải cách, một Luật Cạnh tranh mới (Luật Chống độc
quyền Số 8884) đã được ban hành trong năm 1994 với kỳ vọng có thể được áp dụng để
giải quyết vấn đề tăng giá. Luật Cạnh tranh mới này cũng điều chỉnh việc kiểm sốt sáp
nhập và đã có những thay đổi quan trọng trong quy định về tổ chức thực thi. CADE đã
được thiết lập lại với vai trò là một cơ quan độc lập, một số vấn đề về thẩm quyền thực thi
đã được trao cho hai cơ quan khác (sẽ được nói rõ ở phần sau). Từ 1994 đến nay, hai văn
bản pháp lý sửa đổi, bổ sung luật cạnh tranh đã được ban hành. Vào tháng 01/1999 Luật số
9781 đã bổ sung quy định về phí đệ đơn sáp nhập và theo đó phí thu được sẽ được phân bổ
cho CADE. Tháng 12/2000 Luật 10149 cũng đã bổ sung thêm thẩm quyền điều tra, làm rõ



thủ tục đối với các tổ chức nước ngoài, xây dựng chương trình khoan dung, gia tăng mức
phí đệ đơn sáp nhập và quy định sự phân chia cân xứng về phí này giữa ba cơ quan quản lý
cạnh tranh.
So với Mỹ, Úc, Canada và Brazil, Nam Phi ban hành luật cạnh tranh khá muộn, điều này
đã giúp Nam phi hoàn thiện nhiều mặt trong các quy định về cạnh tranh của mình. Luật
Cạnh tranh Nam phi Số 89 được thơng qua năm 1998, các Điều 1-3, 6,11,19-43,78,79 & 84
có hiệu lực từ ngày 30/11/1998. Các điều khoản còn lại có hiệu lực từ ngày 01/12/1999.
Mục đích của luật là nhằm thúc đẩy và duy trì cạnh tranh trên thị trường Nam Phi, bao gồm
tính hiệu quả, thích ứng và phát triển kinh tế; tăng sự lựa chọn cho người tiêu dùng và với
giá cả cạnh tranh; thúc đẩy vấn đề việc làm, gia tăng phúc lợi kinh tế và xã hội cho người
dân; mở rộng cơ hội tham gia vào thị trường quốc tế và thừa nhận vai trò của cạnh tranh
nước ngoài tại Nam phi; đảm bảo cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ có cơ hội bình đẳng
khi tham gia vào nền kinh tế; thúc đẩy mở rộng quyền sở hữu. Từ khi ban hành đến nay
Luật đã qua nhiều lần sửa đổi, các lần sửa đổi có thể được chỉ ra như: Luật sửa đổi số 35
Năm 1999, có hiệu lực 01/12/1999; Luật sửa đổi số 15 Năm 2000, có hiệu lực 01/12/2000;
Luật sửa đổi số 39 Năm 2000 (lần thứ 2), có hiệu lực 01/02/2001.
3. Vai trị và chức năng của chính sách cạnh tranh đối với nền kinh tế thị trường
Chính sách cạnh tranh đảm bảo duy trì tính năng động và hiệu quả của nền kinh tế. Cạnh
tranh còn giúp cho các doanh nghiệp phát huy hết khả năng của mình bằng cách khuyến
khích họ liên tục phấn đấu đạt tiêu chuẩn cao về chất lượng, dịch vụ và giá cả. Sức ép cạnh
tranh sinh ra những sản phẩm mới vì các cơng ty áp dụng công nghệ mới và những biện
pháp quản lý tiên tiến.
Cạnh tranh là một đặc trưng cơ bản, là nền tảng và động lực phát triển của kinh tế thị
trường. Có thể nói rằng khơng có cạnh tranh thì cũng khơng thể có nền kinh tế thị trường.
Cùng với quy luật cung cầu và quy luật giá trị, cạnh tranh trở thành một quy luật cơ bản
của nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên nếu chỉ với những tiền đề kinh tế như trên, cạnh
tranh vẫn chưa thể có cơ hội nảy sinh và tồn tại trong đời sống kinh tế. Cạnh tranh chỉ có
thể xuất hiện với tư cách là một sản phẩm của kinh tế thị trường trong những điều kiện của
những tiền đề pháp lý cụ thể, nghĩa là các chủ thể thuộc mọi thành phần kinh tế phải được

Nhà nước thừa nhận và bảo vệ quyền tự do, tự chủ trong kinh doanh, quyền sở hữu và tính
đa dạng của các loại hình sở hữu cũng như địa vị bình đẳng trước pháp luật. Do đó, xây
dựng chính sách duy trì một mơi trường cạnh tranh lành mạnh và kiểm soát sự độc quyền
trong kinh doanh là việc làm cần thiết.


Chính sách cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường có những vai trị và chức năng cơ bản
như sau:
Thứ nhất, tạo nền tảng cơ bản cho quá trình cạnh tranh, duy trì và thúc đẩy quá trình cạnh
tranh tự do hay bảo vệ hoặc thúc đẩy cạnh tranh hiệu quả. Luật cạnh tranh bảo vệ và
khuyến khích các doanh nghiệp cạnh tranh, hợp tác bình đẳng trong một khn khổ pháp
luật chung, điều tiết mặt trái của cạnh tranh bằng cách kiểm sốt q trình dẫn đến vị trí
thống lĩnh thị trường, độc quyền của doanh nghiệp, chống các hành vi gây cản trở cạnh
tranh, cũng như thủ đoạn cạnh tranh khơng lành mạnh trên thương trường. Vì vậy, thách
thức đặt ra đối với doanh nghiệp đó là buộc doanh nghiệp phải chấp nhận cạnh tranh một
cách văn minh hơn, bài bản hơn, và sẽ khơng có đất dung thân cho các doanh nghiệp làm
ăn chụp giật. Các doanh nghiệp lớn sẽ phải cẩn thận hơn trước khi đưa ra những quyết định
quan trọng trong kinh doanh, bởi lẽ những quyết định của họ sẽ ảnh hưởng đáng kể tới thị
trường và sẽ được giám sát chặt chẽ.

Thứ hai, điều tiết quá trình cạnh tranh, hướng quá trình này phục vụ cho những mục tiêu
đã được định sẵn, ví dụ như đạt hiệu quả kinh tế cao, bảo vệ các doanh nghiệp vừa và nhỏ,
duy trì hệ thống doanh nghiệp tự do, duy trì sự công bằng, trung thực trong kinh doanh,
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Thị trường hình thành từ mối quan hệ qua lại giữa người mua và người bán, hay rộng hơn
là người sản xuất và người tiêu dùng dưới quy luật cung cầu và quy luật giá trị. Trong mối
quan hệ này người tiêu dùng ln ở vị trí trung tâm. Người tiêu dùng và sức tiêu thụ của họ
chính là thước đo giá trị chất lượng sản phẩm, là nguồn lợi nhuận cho người sản xuất. Họ
có quyền lựa chọn hàng hố cũng như người cung ứng hàng hoá và trả tiền cho sự lựa chọn
đó. Tuy nhiên, quyền lựa chọn của họ bị giới hạn trong phạm vi khả năng cung ứng của

người sản xuất. Về phía người sản xuất, lợi nhuận khơng chỉ là mục tiêu, động lực mà cịn
là phương thức tồn tại của họ. Lợi nhuận đến từ khách hàng, do đó việc ngày càng đáp ứng
tốt hơn nhu cầu của khách hàng là tôn chỉ của mọi doanh nghiệp. Mặt khác người sản xuất
không thể vượt quá khả năng của mình để chạy theo người tiêu dùng. Việc tối đa hoá lợi
nhuận nhiều khi phụ thuộc vào việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực, giảm chi phí, nâng
cao năng lực sản xuất hơn là số lượng khách hàng. Ngoài ra, việc nâng cao năng lực sản
xuất cũng sẽ mở rộng khả năng đáp ứng các như cầu luôn thay đổi và ngày một tăng của
người tiêu dùng. Do có sự hữu hạn của các yếu tố sản xuất, người tiêu dùng và nguồn lợi
nhuận - sự hữu hạn của thị trường nói chung, các nhà sản xuất ln có sự cạnh tranh theo


hai hướng: mở rộng đầu ra và thu hẹp đầu vào. Q trình này diễn ra liên tục, địi hỏi mỗi
người phải luôn cố gắng phát triển, vượt lên các đối thủ, khơng ngừng tự hồn thiện nếu
khơng muốn bị loại bỏ. Kết quả còn lại là những nhà sản xuất có năng lực nhất, có khả
năng phục vụ tốt nhất người tiêu dùng. Như vậy cạnh tranh tham gia vào mọi phương diện
của nền kinh tế: nó sàng lọc và lành mạnh hoá thị trường, thúc đẩy sản xuất và điều tiết
tiêu dùng.
Thứ ba, hạn chế các tác động tiêu cực nảy sinh do sự điều hành quá mức của nhà nước vào
thị trường như kéo dài thời gian ra quyết định của doanh nghiệp và chi phí giao dịch cao.
Quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường đã
làm thay đổi về căn bản vai trò của Nhà nước trong thị trường. Có những điều được coi là
hiển nhiên trong nền kinh tế kế hoạch hoá trở nên khơng cịn phù hợp với kinh tế thị trường
và ngược lại, có những điều khơng được chấp nhận trong kinh tế tập trung lại thích hợp
trong kinh tế thị trường. Trong kinh tế thị trường, việc Nhà nước chỉ huy một cách tập
trung - thể hiện bằng các quy định, chỉ thị, mệnh lệnh hành chính đối với hoạt động kinh
doanh của các thành phần kinh tế, kể cả quốc doanh, ngoài quốc doanh, đầu tư nước ngoài
– cho tới nay không còn phù hợp nữa. Thực tế đã cho thấy vẫn cịn có khơng ít hiện tượng
chia cắt thị trường trong nước, chỉ định đối tác giao dịch xuất phát từ các cơ quan quản lý
nhà nước. Đây có thể nói là một nét đặc thù của các nền kinh tế chuyển đổi. Chính vì thế
Luật cạnh tranh của các nước trong Cộng đồng các quốc gia độc lập (CIS) đều quy định

các hành vi bị cấm đối với các cơ quan quản lý nhà nước các cấp[3]. Theo đó, hành vi lạm
dụng thẩm quyền của cơ quan quản lý nhà nước cũng sẽ bị điều chỉnh, góp phần làm hạn
chế các tác động tiêu cực nảy sinh do sự can thiệp quá mức của Nhà nước vào thị trường.
Rõ ràng là chính sách cạnh tranh giữ một vai trò quan trọng đối với nền kinh tế thị trường.
Dưới sự điều chỉnh của Luật và chính sách cạnh tranh, các doanh nghiệp sẽ có một sân
chơi bình đẳng, lành mạnh để có thể cung cấp các sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường
trong đó người tiêu dùng sẽ mua hàng hóa/dịch vụ với chất lượng tốt nhất và giá cả rẻ nhất
có thể. Điều này có nghĩa là thơng qua q trình cạnh tranh, trình độ cơng nghệ của họ sẽ
được nâng cao qua các hoạt động R&D (nghiên cứu và phát triển) hoặc cải tiến kiểu dáng
và hiệu quả sẽ được nâng cao nhờ cải tiến kỹ thuật cũng như cải tiến phương pháp quản
lý/hoạt động. Điều này cũng mang lại lợi ích cho người tiêu dùng. Do có cạnh tranh, sẽ có
hàng loạt sản phẩm với các mức giá thấp hơn vì vậy, lựa chọn của người tiêu dùng được
nới rộng hơn và làm tăng phạm vi tiêu dùng. Bên cạnh đó, chúng ta cũng đang chuyển đổi
sang một nền kinh tế mở cửa hơn, hội nhập hơn với mức độ lớn hơn với kinh tế thế giới.
Điều này có nghĩa là mở rộng cạnh tranh nhằm đảm bảo cho tự do thương mại và ổn định


để phát triển. Tự do thương mại phải được hiểu là tự do kinh doanh trong khn khở pháp
ḷt. Vì vậy, chính sách cạnh tranh góp phần duy trì mơi trường cạnh tranh lành mạnh và
kiểm soát độc quyền trong kinh doanh nhằm bảo vệ lợi ích kinh tế của Nhà nước, doanh
nghiệp và người tiêu dùng.
4. Tác động của chính sách và pháp luật cạnh tranh đối với việc phát triển kinh tế xã hội
Ngày nay, hầu hết tất cả các quốc gia trên thế giới đều thừa nhận trong mọi hoạt động đều
phải có cạnh tranh và coi cạnh tranh không những là môi trường và động lực của sự phát
triển nói chung, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển và tăng năng suất lao động, hiệu
quả của các doanh nghiệp nói riêng mà cịn là yếu tố quan trọng làm lành mạnh hoá các
quan hệ xã hội.
Đối với nền kinh tế, cạnh tranh có ảnh hưởng quan trọng đối với phát triển kinh tế và xã
hội như:
- Cạnh tranh đảm bảo điều chỉnh cung và cầu hàng hố trên thị trường. Khi cung về mợt

hàng hoá nào đó lớn hơn nhu cầu, cuộc cạnh tranh giữa những người bán trở nên gay gắt.
Khi đó, giá cả thị trường giảm xuống, chỉ những cơ sở kinh doanh nào đủ khả năng cải tiến
công nghệ, trang bị kỹ thuật, phương thức quản lý và hạ được giá bán sản phẩm hàng hoá
mới có thể tồn tại. Với ý nghĩa đó, cạnh tranh là nhân tố quan trọng kích thích việc ứng
dụng khoa học, công nghệ tiên tiến trong sản xuất.
Khi cung về một hàng hoá nào đó thấp hơn cầu, thị trường về hàng hoá đó trở nên khan
hiếm, giá cả thị trường đẩy lên cao tạo ra lợi nhuận cao hơn lợi nhuận bình quân. Khi đó,
người kinh doanh sẽ đầu tư vốn xây dựng thêm cơ sở sản xuất mới hoặc nâng cao năng lực
sản xuất của những cơ sở sản xuất sẵn có. Đó là động lực quan trọng nhất làm tăng thêm
lượng vốn đầu tư cho sản xuất, kinh doanh, nâng cao năng lực sản xuất trong toàn xã hội.
Điều quan trọng là động lực đó hoàn toàn tự nhiên, không theo và không cần bất kỳ một
mệnh lệnh hành chính nào của cơ quan quản lý Nhà nước.
- Đảm bảo đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng: nếu một người bán không
cung cấp cho người tiêu dùng cái họ muốn thì sẽ ln ln có người khác sẵn sàng làm
điều đó. Mặt khác người tiêu dùng nhận được hàng hố với giá thấp nhất có thể. Trong mơi
trường cạnh tranh, khơng ai có thể bóc lột người tiêu dùng vì ln có một số đối thủ mời
chào sản phẩm với giá thấp hơn. Giá cả trong cơ chế thị trường nhìn chung bằng chi phí
sản xuất cộng lợi nhuận vừa đủ để cho phép người sản xuất tồn tại kinh doanh.


- Tác động một cách tích cực đến phân phối thu nhập: cạnh tranh sẽ hạn chế hành vi bóc
lột trên cơ sở quyền lực thị trường và việc hình thành thu nhập khơng tương ứng với năng
suất.
- Khuyến khích áp dụng công nghệ mới: công nghệ mới giảm chi phí sản xuất và có thể
tăng chất lượng sản phẩm, từ đó hàng hố áp dụng cơng nghệ mới sẽ có khả năng chiếm
được phần lớn thị trường do rẻ và tốt hơn so với sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh.
- Tạo sức ép buộc phải sử dụng có hiệu quả các nguồn lực (lao động, vốn, kinh nghiệm
quản lý...) để tăng hiệu quả kinh tế.
- Tạo sự đổi mới nói chung, thường xuyên và liên tục và vì vậy mang lại tăng trưởng kinh
tế cao.

Đối với xã hội, cạnh tranh là động lực quan trọng nhất để huy động nguồn lực của xã hội
vào sản xuất kinh doanh hàng hố, dịch vụ cịn thiếu, qua đó nâng cao năng lực sản xuất
của toàn xã hội. Trong cạnh tranh, tất yếu sẽ có doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh nhờ làm
ăn hiệu quả, đồng thời có doanh nghiệp bị phá sản, có người khuynh gia bại sản. Xét về
khía cạnh xã hợi thì phá sản doanh nghiệp khơng hoàn toàn mang ý nghĩa tiêu cực vì các
nguồn lực của xã hội được chuyển sang cho nhà kinh doanh khác tiếp tục sử dụng một cách
hiệu quả hơn chứ không bị mất đi. Phá sản không phải là sự huỷ diệt hoàn toàn mà là sự
huỷ diệt sáng tạo: doanh nghiệp yếu kém mất đi, doanh nghiệp mới xuất hiện và chỉ những
doanh nghiệp nào hiệu quả mới có thể tiếp tục tờn tại. Điều này góp phần làm thúc đẩy xã
hội ngày càng tiến bợ.
Chính sách thương mại và chính sách cạnh tranh đều có chung mục đích là tạo môi trường
pháp lý cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế, mang lại lợi ích cho đất nước. Theo
báo cáo tổng hợp (consolidated report) của Tổ chức Thương mại và Phát triển Liên Hợp
Quốc thì chính sách cạnh tranh được đề cập trong Tuyên bố Doha chỉ gồm những biện
pháp chống hạn chế cạnh tranh như cấm cartel, cấm lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và
kiểm soát và sáp nhập, mua lại. Đây là quan điểm truyền thống về chính sách cạnh tranh
trong khi đó ở một số nước, trong đó có Việt Nam, chính sách cạnh tranh được hiểu là tất
cả những biện pháp của Nhà nước nhằm kiểm soát hạn chế cạnh tranh, khuyến khích cạnh
tranh lành mạnh và bảo vệ người tiêu dùng chống lại sự lạm dụng vị trí độc quyền và tác
động của các hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh.


Đối với doanh nghiệp, mục tiêu chính sách cạnh tranh của Việt Nam là nhằm tạo lập và
phát triển môi trường cạnh tranh bình đẳng, không phân biệt đối xử; bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của doanh nghiệp, của người tiêu dùng; góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế,
xã hợi. Chính sách cạnh tranh tập trung vào tác động tới cách hành xử của các doanh
nghiệp với nhau, và đối với người tiêu dùng. Mục đích cuối cùng của doanh nghiệp là lợi
nhuận. Do đó, muốn tăng lợi nhuận, doanh nghiệp phải bán được nhiều hàng hóa phải thực
hiện nhiều biện pháp cạnh tranh thắng lợi trên thị trường. Các biện pháp cạnh tranh lành
mạnh phải nhằm không ngừng cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng, hạ giá thành, hạ giá

bán sản phẩm, tăng cường chất lượng dịch vụ chăm sóc khách hàng nhằm chiếm được lòng
tin của người tiêu dùng.
Qua các hành vi cạnh tranh lành mạnh như trên, người tiêu dùng sẽ có nhiều lựa chọn hơn
do chủng loại mẫu mã hàng hoá phong phú hơn, họ sẽ có hàng hố với chất lượng cao hơn
và dịch vụ chăm sóc khách hàng chu đáo hơn. Các doanh nghiệp sẽ phải cạnh tranh với
nhau để thoả mãn yêu cầu của người tiêu dùng, để tranh thủ sự tín nhiệm của người tiêu
dùng nhằm bán được nhiều hàng hơn, thu được nhiều lợi nhuận hơn. Vì vậy, nhờ có cạnh
tranh lành mạnh mà người tiêu dùng được lợi, doanh nghiệp cạnh tranh thắng lợi cũng sẽ
thu được nhiều lợi nhuận và nền kinh tế cũng như xã hội sẽ phát triển.
Một đặc trưng nổi bật của xu thế tồn cầu hố hiện nay là các cơng ty xuyên quốc gia và đa
quốc gia đang ngày càng trở thành chủ thể kinh doanh trên thị trường quốc tế. Đó là những
tập đồn với thế lực rất mạnh, có khả năng khống chế thị trường, có thể lạm dụng vị trí
thống lĩnh trên thị trường, tạo thế độc quyền để ngăn cản các doanh nghiệp nhỏ hơn tham
gia thị trường và áp đặt phi lý đối với người tiêu dùng. Họ có thể thực hiện hành vi hạn chế
cạnh tranh xuyên quốc gia như thoả thuận, cấu kết với đối thủ cạnh tranh ở các nước trong
việc áp đặt giá, thông đồng trong đấu thầu và phân chia thị trường. Các hành vi đó khơng
những chèn ép, ngăn cản thậm chí bóp chết các doanh nghiệp trong nước, mà cịn gây tổn
hại đến lợi ích người tiêu dùng.
Với mục tiêu nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình
hội nhập quốc tế, giữa những năm 1990 chính phủ Việt Nam đã quyết định thành lập một
loạt các tổng công ty Nhà nước để thực hiện vai trò đại diện quốc gia trong cạnh tranh quốc
tế. Các tổng công ty này tập hợp các doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong cùng ngành
sản phẩm được coi là có ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng với nền kinh tế mà không
nhất thiết phải căn cứ vào quy mô của hiệu quả kinh tế như vẫn từng được coi là cơ sở cho
độc quyền tự nhiên. Tuy nhiên, kết quả cho thấy sự tồn tại của các tổng công ty này trong
một phạm vi quá rộng như vậy đã làm hạn chế cạnh tranh giữa tổng công ty với các doanh
nghiệp không phải là thành viên và giữa các công ty thành viên trong nội bộ tổng công ty.


Ở nước ta, tuy một số ngành do Nhà nước độc quyền là cần thiết nhưng độc quyền Nhà

nước không có nghĩa là độc quyền của doanh nghiệp. Tiếc rằng đôi khi một số doanh
nghiệp được nhà nước giao cho thực hiện độc quyền Nhà nước đã coi đó là độc quyền của
doanh nghiệp mình, tuỳ tiện chèn ép các doanh nghiệp khác, áp đặt giá và chất lượng của
sản phẩm, dịch vụ lên người tiêu dùng. Độc quyền trong kinh doanh dù hình thành và tồn
tại bằng cách nào cũng gây ra những hậu quả tiêu cực nhất định đối với sự phát triển kinh
tế-xã hội. Mặt khác, được bảo hộ mạnh mẽ trên thị trường trong nước khỏi sự cạnh tranh
của các doanh nghiệp khác và cạnh tranh của hàng nhập khẩu nên các tổng công ty cũng
không đạt được mục tiêu nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Do khơng phải cọ xát với
cạnh tranh trong nước nên các tổng công ty độc quyền khó có thể có năng lực cạnh tranh
cao trên thị trường q́c tế. Do vậy, Luật cạnh tranh sẽ góp phần giải quyết mâu thuẫn giữa
việc khuyến khích mở cửa thị trường và việc kiểm soát sự lũng đoạn của các tập đồn
xun quốc gia thơng qua các hành vi hạn chế cạnh tranh của họ. Bên cạnh đó, Luật cạnh
tranh cịn điều chỉnh được các hành vi sáp nhập, thơn tính, tạo thế thống lĩnh thị trường dẫn
đến độc quyền của một số doanh nghiệp Nhà nước. Ngồi ra, chính sách cạnh tranh cũng
rất cần thiết để bổ sung cho các luật lệ, quy định về mở cửa thị trường nhằm chống lại
những hành vi hạn chế cạnh tranh của các cơng ty nước ngồi đồng thời tăng cường năng
lực cho Nhà nước trong việc bảo vệ lợi ích cộng đồng như bảo vệ môi trường, xã hội.
------------------------------------------------------------------[1] Nguyễn Như Phát, Bùi Nguyên Khánh (2001), Tiến tới xây dựng pháp luật về cạnh
tranh trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam. NXB Công an Nhân
dân, Hà nội, trang 19.
[2] Đề tài khoa học cấp Bộ của Viện Nghiên cứu thương mại Bộ Thương mại “Một số giải
pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam
trong tiến trình hội nhập quốc tế” Năm 2002.
[3] />


×