Tải bản đầy đủ (.doc) (113 trang)

Tình hình triển khai nghiệp vụ bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt tại BIC

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (517.68 KB, 113 trang )

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Nghiệp vụ Bảo hiểm cháy là một trong những nghiệp vụ truyền thống
của BIC. Trong những năm qua việc khai thác nghiệp vụ này luôn là thế
mạnh của công ty, doanh thu của nghiệp vụ thường chiếm tỷ trọng lớn trong
cơ cấu doanh thu phí bảo hiểm gốc.
Đặc biệt kể từ sau khi Chính phủ ban hành nghị định 130/2006/NĐ- CP
ngày 8/11/2006 quy định chế độ Bảo hiểm cháy nổ bắt buộc thì đối tượng tham
gia bảo hiểm ngày càng được mở rộng, tạo tiền đề cho các doanh nghiệp khai
thác tiềm năng này. Tuy nhiên hiện tại thị trường Bảo hiểm cháy còn nhiều
khoảng trống, việc khai thác nguồn doanh thu này không hề đơn giản, đặt ra bài
toán khó cho tất cả các doanh nghiệp trong đó có cả BIC.
Nhận thức được tầm quan trọng của hỏa hoạn nói chung cũng như nghiệp
vụ Bảo hiểm cháy ở BIC nói riêng, em đã chọn đề tài:“ Tình hình triển khai
nghiệp vụ bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt tại BIC” cho chuyên đề thực
tập tốt nghiệp của mình để giúp mọi người có cái nhìn tổng hợp nhất về loại
hình nghiệp vụ bảo hiểm cơ bản này.
Trong thời gian thực tập ở BIC, được sự giúp đỡ nhiệt tình của tập thể
ban lãnh đạo của công ty nói chung cũng như các anh chị phòng kinh doanh
khu vực Đống Đa nói riêng và sự chỉ bảo hướng dẫn của cô giáo Nguyễn Hải
Đường em đã hoàn thành tốt chuyên đề. Tuy nhiên do hạn chế về nguồn tài
liệu và kiến thức có hạn, đề tài còn gặp nhiều khiếm khuyết và sai sót, rất
mong được sự đóng góp ý kiến của cô giáo và các anh chị để bài viết hoàn
chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn.
Nguyễn Thị Thu Trang Bảo hiểm 46A
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM CHÁY
VÀ CÁC RỦI RO ĐẶC BIỆT


I. SỰ CẦN THIẾT VÀ TÁC DỤNG CỦA BẢO HIỂM CHÁY VÀ CÁC
RỦI RO ĐẶC BIỆT
1. Vài nét về lịch sử ra đời và phát triển của nghiệp vụ Bảo hiểm cháy và
các rủi ro đặc biệt
1.1. Trên thế giới
Trong quá trình tồn tại và phát triển loài người luôn phải đối mặt với
những rủi ro tai ương, thảm hoạ xảy ra bất ngờ như động đất, núi lửa, bão,
bạo loạn chiến tranh…Trong đó cháy được coi là một trong những rủi ro
nguy hiểm nhất.
Theo lịch sử để lại từ thời Trung đại rồi Phục Hưng, ở Châu Âu vẫn chưa có
có một hệ thống phòng cháy hữu hiêụ nào hơn hệ thống sử dụng từ thời các
hoàng đế La mã trị vì. Ở các thành phố lớn và thị trấn, nhà nào cũng phải dự trữ
các xô đầy nước. Vào ban đêm đội tuần tra đi dọc các phố hễ thấy nhà nào có
nguy cơ cháy là họ báo ngay cho chủ nhà. Nếu có hoả hoạn xảy ra thì thiệt hại
từ cháy có thể được phường hội giúp đỡ với điều kiện họ phải là hội viên. Tuy
nhiên khoản trợ giúp này chỉ mang tính chất động viên khích lệ chứ chưa thể coi
là một khoản bồi thường thực sự. Phường hội đầu tiên kiểu này do các nhà buôn
thành phố Rowen (Pháp) thành lập năm 1374 trong nhà thờ Saint Patree. Nhưng
thời bấy giờ dân chúng vẫn có tư tưởng xem hoả hoạn là rủi ro không thể tránh
khỏi cũng như nạn đói, chiến tranh và các dịch bệnh khác…
Hiệp hội BH cháy đầu tiên ra đời ở Đức năm 1591mang tên là Feuer
Casse. Một thời gian ngắn sau đó xuất hiện thêm một vài tổ chức nữa nhưng
không để lại dấu ấn gì lớn cho đến giữa thế kỷ 17. Phải đến năm 1666, sau khi
Nguyễn Thị Thu Trang Bảo hiểm 46A
2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
chứng kiến vụ cháy khủng khiếp ở thủ đô Luân Đôn diễn ra trong vòng 7 ngày
8 đêm, thiêu huỷ 13.200 ngôi nhà, 87 nhà thờ và rất nhiều tài sản có giá trị
khác, người dân Anh mới thực sự nhận thức được tầm quan trọng của việc thiết
lập hệ thống PCCC và bồi thường cho người thiệt hại một cách hữu hiệu. Với

mức độ nghiêm trọng của thảm hoạ này khiến các nhà kinh doanh của Anh
phải nghĩ ngay đến việc cộng đồng chia sẻ rủi ro trong hoả hoạn. Do vậy năm
1667 ở Anh đã xuất hiện một số văn phòng cung cấp dịch vụ PCCC .Trong
thời gian thành phố được kiến thiết lại, một nhà vật lý người Anh tên là
Nicolas Bavbon đã bắt đầu nhận BH cháy cho những ngôi nhà xây dựng lại.
Ban đầu công ty của ông hoạt động theo hình thức tư nhân, nhưng sau đó năm
1684 đã bắt đầu chuyển đổi thành công ty cổ phần với tên gọi là “Friendly
Society Fire Office”. Công ty này hoạt động trên nguyên tắc tương hỗ, hệ
thống phí cố định và người BH phải chịu một phần thiệt hại xảy ra. Tiếp theo
đó một số công ty BH khác cũng theo đó ra đời: Hand in hand (1696), Sun Fire
office (1710), Union (1714). Và khi mới ra đời các công ty này chỉ nhận đảm
bảo cho hậu quả sự cố “hoả hoạn” gọi là BH cháy đơn thuần.
Trước những nhu cầu của nhiều khách hàng muốn được BH chống lại
các rủi ro đặc biệt có mức độ tổn thất tương tự hoả hoạn với chi phí thấp và
thể thức đơn giản, các công ty phải thiết kế những bản hợp đồng BH phối hợp
giữa rủi ro hoả hoạn và các rủi ro khác như đa rủi ro nhà ở, đa rủi ro của các
doanh nghiệp…
Từ đó đến nay, nghiệp vụ BH cháy đã được triển khai hầu hết các nước
trên thế giới và là một trong những nghiệp vụ BH truyền thống chiếm tỷ trọng
doanh thu phí cao của các doanh nghiệp BH. Theo tài liệu thống kê việc kinh
doanh BH thì BH cháy có lịch sử gần lâu đời nhất, chỉ đứng sau BH hàng hải.
Nguyễn Thị Thu Trang Bảo hiểm 46A
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.2. Ở Việt Nam
Tại Việt Nam trước năm 1945 đã có một công ty BH cháy của Pháp
hoạt động. Tuy nhiên do cơ chế bao cấp, Nhà nước đứng ra bù đắp mọi thiệt
hại nhằm đảm bảo tài chính cho các doanh nghiệp khi họ không may gặp rủi
ro. Vì vậy BH nói chung và BH cháy cháy nói riêng không có điều kiện phát
triển. Phải đến tận khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường với cơ chế

tự hạch toán kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp phải tự chịu trách nhiệm về
tài chính, về thiệt hại kinh doanh, cùng với quyết định số 06/TCQĐ ngày
17/11/1989 của bộ trưởng Bộ Tài chính kèm theo quy tắc và biểu phí BH
cháy thì nghiệp vụ này mới chính thức được công ty Bảo hiểm Việt Nam
(Bảo Việt) triển khai và phát triển.
Sau một thời gian thực hiện để phù hợp với tình hình thực tế, Bộ Tài
chính ban hành thêm một số quyết định khác đối với nghiệp vụ BH cháy: quyết
định số 142/TCQĐ về quy tắc và biểu phí mới, quyết định 212/TCQĐ
ngày12/4/1993 thay thế cho biểu phí quyết định 142 và mới nhất là quyết định
số 28/2007/QĐ-BTC ngày 24/4/2007 về quy tắc và biểu phí Bảo hiểm cháy bắt
buộc. Việc Chính phủ ban hành nghị định 130/2006/NĐ- CP ngày 8/11/2006
quy định chế độ BH cháy nổ bắt buộc kèm theo quyết định số 28 của Bộ Tài
chính về quy tắc và biểu phí BH cháy nổ bắt buộc đã tạo cơ sở pháp lý đầu tiên
để Bảo Việt cũng như các công ty BH khác triển khai nghiệp vụ BH cháy .
Từ năm 1990, nước ta đã có 16 công ty triển khai nghiệp vụ BH cháy
với giá trị tham gia BH lên đến 6.200 tỷ đồng. Đến năm 1994 BH cháy được
thực hiện ở hầu hết 53 tỉnh thành phố với tổng giá trị BH là 27.000 tỷ đồng.
Tuy nhiên các công ty mới chỉ BH chủ yếu cho các kho xăng dầu, còn phần
lớn các tài sản như nhà máy, khách sạn, xí nghiệp…trị giá nhiều tỷ đồng vẫn
chưa được BH. Giai đoạn 1994-1995 đánh dấu sự ra đời của một số công ty
Nguyễn Thị Thu Trang Bảo hiểm 46A
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
BH phi nhân thọ như Bảo Long, Bảo Minh, Pjico làm cho thị trường BH nói
chung và thị trường BH cháy nói riêng bắt đầu phát triển sôi động.
Qua một số năm thực hiện, nghiệp vụ này càng phát triển. Năm 2000
doanh thu phí BH đạt 16.200.000USD Mỹ, tăng 16% so 1999. Số lượng công
ty BH tham gia cung cấp dịch vụ trên thị trường BH cháy không ngừng tăng
với sản phẩm ngày càng đa dạng phong phú.
2. Sự cần thiết và tác dụng của Bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt

2.1 Sự cần thiết của Bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt
Cháy là một trong những rủi ro mang tính chất thảm hoạ và khi xảy ra
hậu quả để lại rất nặng nề. Việc khắc phục nó đòi hỏi phải có nguồn tài chính
khổng lồ. Theo số liệu thống kê, hàng năm trên thế giới có khoảng 5 triệu vụ
cháy lớn nhỏ gây thiệt hại hàng trăm tỷ đô la. Các vụ cháy không chỉ xảy ra ở
các nước có nền kinh tế phát triển như Anh, Pháp, Mỹ…nơi mà có nền khoa
học, công nghệ đã đạt đến đỉnh cao của sự hiện đại và an toàn thì cháy vẫn
xảy ra và ngày càng tăng về số lượng và mức độ nghiêm trọng, ảnh hưởng
không nhỏ đến cuộc sống và hoạt động sản xuất kinh doanh của con người.
Ở Việt Nam, các vụ cháy xảy ra nhiều, gây thiệt hại lớn đặc biệt tại các
khu vực kinh tế phát triển như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh…Trong vòng
30 năm, kể từ ngày chủ tịch Hồ Chí Minh ký sác lệnh PCCC ngày 4/10/1961
đến ngày 4/10/1991 đã xảy ra 566.036 vụ cháy lớn nhỏ, gây thiệt hại về vật
chất ước tímh 948 tỷ đồng, làm chết 2.574 người, bị thương 4.479 người.
Từ năm 1992-1993 cả nước có khoảng 1.710 vụ cháy, làm chết 213
người, bị thương 348 người, ước tính thiệt hại 114,746 tỷ đồng.
Giai đoạn 1996-2003, xảy ra 8.015 vụ cháy, gây thiệt hại trên 1.000 tỷ
đồng. Tỷ lệ các vụ cháy lớn là 2,47%, thiệt hại lên tới 67,25% tổng thiệt hại.
Năm 97 cả nước có 58 vụ cháy chợ trong đó có 4 vụ cháy lớn xảy ra ở Hà
Nội, Nam Định, Thành phố Hồ Chí Minh và Nha Trang.
Nguyễn Thị Thu Trang Bảo hiểm 46A
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trong những năm gần đây nước ta liên tiếp xảy ra nhiều vụ cháy lớn
nhỏ để lại hậu quả nặng nề:
+ Ngày 16/12/2006 cháy chợ Lớn Quy Nhơn thiêu rụi toàn bộ hàng hoá trong
hai dãy nhà hai tầng và một dãy nhà hai tầng tổng diện tích 5.000m
2
, tổng
thiệt hại trên 120 tỷ đồng.

+ Ngày 27/3/2007 trung tâm thương mại Sài gòn cháy kho chứa dụng cụ vệ
sinh, tổng thiệt hại lên đến 67.150USD.
+ Ngày 23/5/2007 cháy doanh nghiệp tư nhân Dy Khang ở khu công nghiệp
Vĩnh Lộc A (TPHCM), thiệt hại tài sản khoảng 19,2 tỷ đồng.
+ Ngày 30/6/2007 công ty TNHH Nhị Hà & Tân Việt Phát cháy, tổng giá trị
thiệt hại ước tính 20 tỷ đồng.
Thiệt hại do cháy gây ra rất nghiêm trọng không chỉ ảnh hưởng đến
cuộc sống của một vài cá nhân mà còn tác động mạnh đến cả cộng đồng dân
cư, môi trường khí hậu. Để đối phó với cháy từ xa xưa con người dân sử dụng
rất nhiều biện pháp khác nhau như PCCC, đào tạo nâng cao trình độ kiến thức
và ý thức thông tin tuyên truyền về PCCC. Mặc dù khoa học công nghệ phát
triển thì phương tiện PCCC được đổi mới. Tuy nhiên sự phát triển của khoa
học công nghệ về an toàn thường chậm hơn so kỹ thuật, công nghệ trong sản
xuất và nguồn vốn đầu tư vào công tác đảm bảo an toàn thường thấp hơn so
nguồn vốn đầu tư phát triển. Vì thế ngày càng có nhiều vụ cháy với thiệt hại
lớn hơn, nguyên nhân xảy ra cũng khó lường hơn trong đó cũng có cả nguyên
nhân xuất phát từ mặt trái công nghệ.
Do vậy để đối phó hậu quả của cháy gây ra thì BH vẫn được coi là một
trong những biện pháp hữu hiệu nhất. Ngoài ra khi tham gia BH, người được
BH còn có thể nhận được các dịch vụ tư vấn về quản lý rủi ro, PCCC từ phía
người BH. Mặt khác, trong điều kiện kinh tế thị trường, các tổ chức doanh
nghiệp, cá nhân đều phải tự chủ về tài chính. Hoạt động sản xuất, đầu tư, khai
Nguyễn Thị Thu Trang Bảo hiểm 46A
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thác…ngày một gia tăng, khối lượng hàng hoá, vật tư luân chuyển và tập trung
rất lớn, công nghệ sản xuất đa dạng phong phú. Nếu xảy ra cháy lớn, họ phải
đương đầu với rất nhiều khó khăn về tài chính, thậm chí có thể bị phá sản. Vì
vậy bên cạnh việc tích cực PCCC thì BH cháy thực sự là một giá đỡ cho các tổ
chức cá nhân tham gia BH.

2.2 Tác dụng của Bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt
BH cháy là loại hình BHTS, trong đó đối tượng bảo hiểm thường có giá
trị BH rất lớn. Khi xảy ra rủi ro hậu quả để lại rất nặng nề không chỉ riêng đối
với cá nhân mà còn ảnh hưởng đến cả xã hội. Vì vậy nghiệp vụ BH cháy và
rủi ro đặc biệt ra đời có ý nghĩa tác dụng vô cùng to lớn.
* Đối với người tham gia Bảo hiểm :
Thứ nhất, BH cháy khắc phục tổn thất từ đó góp phần ổn định cuộc sống
sản xuất sinh hoạt của mỗi cá nhân trong cộng đồng.
Đối với các cá nhân, hộ gia đình giá trị tài sản đều nằm trong phạm vi
ngôi nhà của họ. Theo số liệu thống kê cho thấy trong những năm gần đây, tỷ
lệ xảy ra cháy ở các hộ dân cư khá cao chiếm 70,1% số vụ cháy. Do đó khi
cháy xảy ra bản thân mỗi người gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống.
Trong các doanh nghiệp, quy mô sản xuất càng rộng, giá trị TS càng
lớn. Vì vậy khi có tổn thất do cháy gây ra thì hậu quả thật khôn lường và ảnh
hưởng lâu dài tới bản thân doanh nghiệp và cá nhân đơn vị khác có liên quan.
Doanh nghiệp phải đứng trước bờ vực cơ nguy cơ mất trắng những TS có giá
trị lớn và việc khôi phục sản xuất trở lại là điều vô cùng khó khăn, trong
trường hợp xấu nhất là phá sản.
BH ra đời giúp cho mỗi cá nhân doanh nghiệp ổn định được cuộc sống
cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua việc bồi thường một cách
kịp thời thoả đáng khi không may có tổn thất, từng bước khắc phục hậu quả
của những thiệt hại xảy ra đối với họ. Trên cơ sở người tham gia BH cháy
Nguyễn Thị Thu Trang Bảo hiểm 46A
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
đóng góp một khoản phí với tỷ lệ nhỏ so với giá trị TS của mình, các cá nhân
doanh nghiệp sẽ nhận được cam kết bồi thường từ phía công ty BH khi co rủi
ro xảy ra. Có thể nói BH là “lá chắn kinh tế” hữu hiệu đảm bảo nguồn tài
chính cho các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp khi không may xảy ra sự cố bảo
hiểm, giúp họ yên tâm sản xuất kinh doanh, tiến hành mở rộng đầu tư góp

phần tăng trưởng kinh tế.
Thứ hai, Bảo hiểm cháy còn góp phần tích cực công tác ĐPHCTT, giúp
cho cuộc sống con người an toàn hơn, xã hội trật tự hơn, giảm bớt nỗi lo cho
mỗi cá nhân, doanh nghiệp.
Rủi ro cháy có thể xảy ra bất cứ đâu bất cứ khi nào.Vì vậy để giảm thiểu
xác suất bồi thường cho khách hàng, các công ty BH hết sức quan tâm đến
công tác quản trị rủi ro mà trong đó công tác PCCC được đặt lên hàng đầu.
Bằng một khoản trích theo tỷ lệ nhất định từ phần phí thu được, các công ty
BH sẽ thực hiện các biện pháp ĐPHCTT một cách hiệu quả thông qua công
tác thống kê tình hình tổn thất hàng năm, xác định nguyên nhân tổn thất, tư
vấn những khu vực có nguy hiểm cao về cháy, thường xuyên phối hợp với
khách hàng trong công tác tập huấn PCCC, hỗ trợ khách hàng trang bị
phương tiện PCCC …Để làm tốt công tác này, công ty BH cần có những cán
bộ chuyên môn giỏi về đánh giá và quản lý rủi ro , tích cực hướng dẫn khách
hàng các biện pháp đảm bảo an toàn.
Ngoài ra hàng năm các doanh nghiệp cũng thường xuyên đóng góp kinh
phí cho hoạt động PCCC theo quy định Nhà nước để đầu tư trang bị PCCC,
hỗ trợ tuyên truyền phổ biến kiến thức pháp luật và kiến thức phổ thông về
PCCC cho toàn dân…Hoạt động này không chỉ có ý nghĩa đối với người
tham gia trong công tác hạn chế rủi ro mà có ý nghĩa đối với cả xã hội.
Thứ ba, BH cháy còn là chỗ dựa tinh thần cho mọi cá nhân, tổ chức, giúp
họ yên tâm trong cuộc sống và trong hoạt động sản xuất kinh doanh
Nguyễn Thị Thu Trang Bảo hiểm 46A
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
BH thể hiện tính cộng đồng, tương trợ, nhân văn sâu sắc, góp phần ổn
định xã hội. Hậu quả của rủi ro cháy sẽ gây khó khăn về tài chính, kinh doanh
bị gián đoạn, phá sản…dẫn đến tình trạng thất nghiệp gia tăng do nhà máy
đóng cửa, đình công, bạo loạn gây mất trật tự cho xã hội. Việc triển khai BH
cháy gúp nhà đầu tư và nhà thầu mạnh dạn đầu tư phát triển kinh tế vì đã có

BH cháy bảo trợ. Từ đó ngày càng tạo công ăn việc làm cho người lao động.
Đồng thời tránh sự lo lắng, bất ổn của người dân sống xung quanh khu vực
thường xuyên có cháy và nguy cơ xảy ra cháy cao.
Bên cạnh đó BH cháy ra đời còn giúp các doanh nghiệp tham gia thuận
tiện hơn trong các hoạt động vay vốn của các tổ chức tài chính, Ngân hàng. Vì
khi tiến hành cho các doanh nghiệp vay vốn để sản xuất kinh doanh thì các
Ngân hàng, quỹ tài chính bao giờ cũng đòi hỏi có thế chấp. Doanh nghiệp đã
tham gia BH thì có thể trình hợp đồng BH như một bằng chứng của sự đảm
bảo để vay vốn, giúp các Ngân hàng, tổ chức tài chính yên tâm đối với các
khoản cho vay bởi vì nếu có rủi ro xảy ra đối với doanh nghiệp đó thì doanh
nghiệp sẽ nhận được bồi thường từ phía công ty BH, đảm bảo khả năng trả nợ
cao hơn các doanh nghiệp không tham gia BH.
Thứ tư, BH cháy góp phần nâng cao ý thức cộng đồng về công tác
PCCC và tham gia BH.
Đối với các nghiệp vụ BH, đặc biệt BH cháy, công tác thống kê đóng
vai trò hết sức quan trọng. Có làm tốt công tác này thì việc tính toán tỷ lệ phí,
tỷ lệ tổn thất, tỷ lệ bồi thường mới chính xác được. Thông qua thống kê BH
số liệu về các vụ cháy xảy ra trong quá khứ cũng như xác suất xảy ra cháy
được thu thập đầy đủ và khoa học. Những tài liệu này có vai trò hết sức quan
trọng trong việc nâng cao nhận thức của người dân về rủi ro cháy. Hơn nữa
bằng việc tham gia BH cháy, người tham gia sẽ có ý thức hơn về việc tự bảo
Nguyễn Thị Thu Trang Bảo hiểm 46A
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
vệ TS của mình cũng như cộng đồng thông qua sự tuyên truyền rộng rãi, phổ
biến kiến thức PCCC của các nhà BH về nguy cơ, hậu quả của rủi ro cháy.
* Đối với Nhà nước và nền kinh tế:
BH cháy mang lại lợi ích kinh tế xã hội cho cả doanh nghiệp BH và Nhà
nước.
Khi nghiệp vụ BH cháy ngày càng được mở rộng, đặc biệt với sự chấp

hành nghiêm chỉnh của đối tượng tham gia BH cháy bắt buộc, khoản phí thu
được từ khách hàng ngày càng gia tăng, từ đó quỹ BHcháy được hình thành
tương đối lớn. Các công ty BH chỉ giữ lại một khoản tiền nhất định trong quỹ
để đảm bảo khả năng thanh toán, số còn lại sẽ được mang đi đầu tư sinh lời.
Với nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi không nhỏ các công ty BH có thể cho vay,
mua trái phiếu, đầu tư bất động sản…Do vậy nền kinh tế chắc chắn luôn nhận
được một lượng vốn đầu tư đáng kể từ quỹ của các doanh nghiệp BH khiến
cho các hoạt động kinh tế trở nên sôi động, hiệu quả hơn. Với tư cách là trung
gian tài chính lớn của nền kinh tế, BH góp phần tạo nguồn quỹ đầu tư dồi dào
kích thích thị trường vốn phát triển. Các doanh nghiệp BH đã tạo ra “bàn tay
vô hình” thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Hậu quả của cháy để lại thường rất nằng nề, số tiền để khắc phục hậu quả
thường rất lớn, không có một tổ chức cá nhân nào có thể gánh chịu được mà
phải viện tới sự giúp đỡ của Ngân sách Nhà nước. BH cháy ra đời góp phần
giảm bớt gánh nặng cho Ngân sách quốc gia trong việc chi khắc phục hậu quả,
tránh nhiều biến động chi tiêu ảnh hưởng đến kế hoạch Ngân sách Nhà nước.
Ngoài ra BH cháy còn góp phần tăng thu ngoại tệ cho Nhà nước thông qua
hoạt động TBH. Đây là nghiệp vụ có giá trị lớn, để đảm bảo khả năng thanh
toán bồi thường, các doanh nghiệp bảo hiểm phải tiến hành nhượng tái đồng thời
nhận tái từ những hợp đồng lớn. Thị trường BH cháy ngày càng phát triển thì
ngày càng có nhiều đơn TBH và mang lại nguồn ngoại tệ cho đất nước.
Nguyễn Thị Thu Trang Bảo hiểm 46A
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Ngày nay khi nền kinh tế đang mở cửa, có rất nhiều doanh nghiệp đã và
đang đầu tư vào nước ta. Các nhà đầu tư nước ngoài rất yên tâm khi đầu tư
vào Việt Nam vì những lĩnh vực mà họ hoạt động đều được các công ty BH
đứng ra bảo trợ khi không may xảy ra rủi ro tổn thất. Điều này tạo điều kiện
thuận lợi thúc đẩy quá trình mở rộng phát triển kinh té đối ngoại trong công
cuộc xây dựng đất nước.

Như vậy với những tác dụng to lớn mà BH nói chung và BH cháy nói
riêng mang lại cho cá nhân người tham gia cũng như cho Nhà nước, nhiều
quốc gia đã quy định chế độ BH cháy bắt buộc đối với những cơ sở có nguy
cơ cháy cao. Ở Việt Nam điều 8 luật kinh doanh BH và điều 9 luật PCCC
cũng quy định bắt buộc nghiệp vụ này.
II. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA BẢO HIỂM CHÁY VÀ CÁC
RỦI RO ĐẶC BIỆT
1. Một số khái niệm
BH cháy thực chất là loại hình BHTS. Tuy nhiên do tính chất đặc thù
riêng của nghiệp vụ chỉ BH cho những rủi ro cháy đơn thuần và các rủi ro đặc
biệt đi kèm, nên trong đơn BH cháy và các rủi ro đặc biệt có một số khái
niệm, thuật ngữ sau:
- Cháy: theo nghĩa thông thường cháy được hiểu là phản ứng hoá học có
toả nhiệt và phát ra ánh sáng.
- Hoả hoạn: là cháy xảy ra ngoài sự kiểm soát của con người, ngoài nguồn
lửa chuyên dùng và gây thiệt hại về người hoặc tài sản.
- Sét: là hiện tượng phóng điện từ các đám mây tích điện tác động vào đối
tượng BH.
- Nổ: có nhiều hiện tượng nổ, có 2 loại nổ chính:
+ Nổ lý học: là trường hợp nổ do áp suất trong một thể tích tăng lên quá
cao, vỏ thể tích không chịu được áp lực nên bị nổ. Nói một cách khác có thể
Nguyễn Thị Thu Trang Bảo hiểm 46A
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
coi hiện tượng nổ là một việc san bằng bất thình lình sự khác nhau về áp lực
giữa hai khối khí.
+ Nổ hoá học: là hiện tượng nổ do cháy quá nhanh (một phần nghìn hay
một phần vạn giây đồng hồ) toả ra nhiều sức nóng, sinh ra nhiều hơi. Nghiên
cứu các hiện tượng nổ hoá học thì thấy có đủ ba dấu hiệu của sự cháy, đó là
có phản ứng hoá học có toả nhiệt và phát ra ánh sáng .Vì vậy nổ hoá học thực

chất là hiện tượng cháy nhưng cháy với tốc độ nhanh. Các loại thuốc nổ, bom
đạn đều là nổ hoá học.
Nổ thường gây thiệt hại có tính cơ học cho môi trường xung quanh như
phá huỷ, lật đổ hay lan sang rất mạnh.
- Đơn vị rủi ro: là một nhóm TS tách biệt nhóm TS khác, cách nhau một
khoảng trống lớn hơn khoảng trống tối thiểu hoặc có bức tường chống lửa giữa
các nhóm TS đó, không cho lửa cháy lan từ nhóm này sang nhóm khác. Đơn vị
rủi ro còn gọi là rủi ro riêng biệt: rủi ro TS này không ảnh hưởng rủi ro TS khác.
+ Đơn vị rủi ro được coi là cách biệt về không gian nếu TS được BH đảm
bảo khoảng cách tối thiểu.
Khoảng cách tối thiểu được quy định là khoảng cách tính bằng chiều
cao của ngôi nhà cao nhất. Hoặc:
• Tối thiểu 20m đối với các kho bãi ngoài trời chứa nguyên vật liệu dễ cháy
• Tối thiểu 15m đối với các ngôi nhà có chứa hay gia công vật liệu dễ cháy
• Tối thiểu 10m đối với tài sản là loại không cháy hoặc khó cháy
Lưu ý trong phạm vi khoảng cách đó không được để vật liệu dễ cháy.
Cầu và hành lang nối các nhà làm bằng vật liệu không cháy, các ống khói
không liên quan đến việc xác định khoảng cách tối thiểu.
+ Đơn vị rủi ro được coi là cách biệt về cấu trúc nếu các toà nhà, bộ phận
ngôi nhà hoặc kho tàng được ngăn cách bằng tường ngăn cháy.
Nguyễn Thị Thu Trang Bảo hiểm 46A
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tường ngăn cháy là cấu trúc xây dựng phân chia đơn vị rủi ro, ngăn cho lửa
không cháy lan giữa các đơn vị rủi ro. Tường ngăn cháy phải đáp ứng yếu tố
kỹ thuật sau:
• Có giới hạn chịu lửa ít nhất 90 phút
• Phải chịu được nhiệt độ trên 1000
o
C

• Nếu là nhà cao tầng thì phải được xây kín ở hầu hết các tầng không
được so le nhau
• Nếu mái nhà làm bằng vật liệu khó cháy thì tường ngăn cháy phải được
xây dựng sát và khít tới tận mái nhà. Nếu mái nhà làm bằng vật liệu dễ cháy
thì phải xây vượt quá phần mái nhà ít nhất 30m
• Nếu mái nhà có lỗ hở thì phải xây cách ít nhất 5m
• Không được để được vật liệu hay cấu kiện xây dựng dễ cháy vắt ngang
qua tường ngăn cháy
- Bậc chịu lửa của công trình: đặc trưng cho khả năng chịu lửa theo tính
chất ngôi nhà và công trình, được xác định bởi giới hạn chịu lửa của các kết
cấu xây dựng chính. Các công trình có bậc chịu lửa khác nhau thì tỷ lệ phí
BH cũng khác nhau.
- Giới hạn chịu lửa: là thời gian tính từ khi bắt đầu chịu lửa theo một tiêu chuẩn
nhất định đến khi xuất hiện một trong các trạng thái giới hạn của kết cấu.
- Tổn thất toàn bộ:
+ Tổn thất toàn bộ thực tế: trong BH cháy và rủi ro đặc biệt là TS được
bảo hiểm bị phá huỷ hoặc hư hỏng hoàn toàn hoặc số lượng còn nguyên
nhưng giá trị không còn gì.
+ Tổn thất toàn bộ ước tính: là TS được BH bị phá huỷ đến mức nếu sửa
chữa phục hồi thì chi phí sửa chữa, phục hồi lớn hơn số tiền BH.
Nguyễn Thị Thu Trang Bảo hiểm 46A
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Tổn thất bộ phận: là bộ phận của TS bị hư hỏng hoặc bị phá huỷ, thường
tồn tại dưới bốn dạng: giảm về giá trị, giảm về số lượng, giảm về trọng lượng
và giảm về thể tích.
2. Đặc điểm của Bảo hiểm cháy và rủi ro đặc biệt
Cháy là một trong số những loại rủi ro gây hậu quả lớn nhất và nặng nề
nhất. Bởi vậy trên thế giới hầu hết các công ty BH phi nhân thọ đều triển khai
nghiệp vụ này. Ngoài những đặc điểm chung của loại hình BHTS, BH cháy và

các rủi ro đặc biệt còn có những đặc điểm riêng sau:
Thứ nhất: Những tài sản tham gia BH cháy rất đa dạng và phong phú từ
máy móc thiết bị vật tư đến hàng hoá thành phẩm, mỗi loại có khả năng gặp
hoả hoạn rất khác nhau. Ngay bản thân một loại TS được làm bằng nguyên
vật liệu khác nhau thì khả năng xảy ra hoả hoạn cũng khác nhau. Phạm vi BH
hay rủi ro rất dễ xảy ra trong cuộc sống hàng ngày, do sự vô tình hay hữu ý
của con người hay do sự biến động của thiên nhiên gây ra. Chính vì vậy nhà
BH rất khó phân loại, kiểm soát và đánh giá rủi ro trước khi ký hợp đồng, và
khó có thể đưa ra được những biện pháp ĐPHCTT một cách có hiệu quả cho
những TS tham gia BH. Để tránh phải bồi thường nhiều cho đối tượng BH và
hạn chế tối thiểu được hiện tượng trục lợi BH cũng như để người tham gia
nhận thức chính xác về thực trạng TS của mình, các công ty BH cần có những
cán bộ chuyên môn giỏi trong việc đánh giá rủi ro và ĐPHCTT góp phần tạo
lòng tin cho khách hàng và tăng doanh thu cho nghiệp vụ BH cháy.
Thứ hai: Hoạt động của nghiệp vụ BH cháy mang tính chất kỹ thuật rất
phức tạp. Vì đối tượng tham gia BH thường là các TS như: máy móc, nguyên
vật liệu, hàng hoá…nên quá trình triển khai sẽ liên quan đến nhiều yếu tố kỹ
thuật. Đặc điểm này thể hiện rõ trong từng khâu của nghiệp vụ: xác định giá
trị BH, phân chia đơn vị rủi ro, đánh giá mức độ rủi ro, ĐPHCTT, xác định
nguyên nhân cháy, giá trị thiệt hại.
Nguyễn Thị Thu Trang Bảo hiểm 46A
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Thứ ba: Phí BH cháy phụ thuộc vào nhiều yếu tố tăng giảm rủi ro. Đây là
loại hình BH cho đối tượng là TS, và rủi ro cơ bản được BH là rủi ro hoả hoạn,
do vậy các yếu tố như: kết cấu của loại TS ( vật liệu xây dựng, bao bì), chất
lượng TS, cách thức hay khu vực bố trí TS, các phương tiện PCCC…ảnh hưởng
rất lớn đến phí BH. Bởi vì các yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến việc gia tăng
hay giảm thiểu rủi ro cháy. Nếu khả năng xảy ra rủi ro cháy càng ít thì cả người
được BH, nhà BH và xã hội đều có lợi. Người được BH giảm được phí, nhà BH

giảm được khả năng phải bồi thường, xã hội không ngưng trệ bởi tổn thất.
Thứ tư: Đối tượng của BH cháy thường là các công trình xây dựng, vật
kiến trúc đã đưa vào sử dụng , xí nghiệp... Giá trị TS của các đối tượng này
rất lớn nên số tiền BH rất lớn. Mức độ thiệt hại do hoả hoạn gây ra đôi khi
mang tính thảm hoạ. Do vậy khi triển khai nghiệp vụ BH này các công ty BH
đồng thời phải nghĩ ngay đến việc thực hiện TBH để phân tán rủi ro và các
nghiệp vụ bổ sung như: BH gián đoạn kinh doanh, BH trách nhiệm đối với
thiệt hại người thứ ba…
Bên cạnh đó trong nghiệp vụ này các công ty cũng phải đặc biệt quan tâm
đến nguồn tài chính dự trữ dự phòng. Mặc dù có thể xác định khá chính xác phí
BH nhưng do các vụ cháy xảy ra không đúng quy luật nên biên độ dao động tổn
thất của nghiệp vụ là khá lớn, hậu quả không lường trước được. Do vậy việc duy
trì và đảm bảo an toàn cho quỹ dự phòng dao động lớn là rất quan trọng.
Như vậy trong quá trình triển khai nghiệp vụ BH cháy và các rủi ro đặc
biệt, doanh nghiệp BH cần chú ý những đặc điểm trên để xây dựng những
phương án phòng tránh hữu hiệu, phối hợp với lực lượng cảnh sát PCCC để
kịp thời xử lý trong mọi tình huống, giải quyết nhanh chóng khiếu nại bồi
thường. Điều này mang lại lợi ích cho các doanh nghiệp BH, giúp tiết kiệm
được thời gian tiền bạc trong suốt quá trình BH.
Nguyễn Thị Thu Trang Bảo hiểm 46A
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
3. Nội dung cơ bản của Bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt
3.1 Đối tượng, phạm vi Bảo hiểm
3.1.1 Đối tượng Bảo hiểm
BH cháy là loại hình BHTS vì vậy đối tượng BH có giá trị rất lớn, đa
dạng, phức tạp. Các đối tượng đó bao gồm là các TS bất động sản, động sản
( trừ phương tiện giao thông, vật nuôi, cây trồng và tài sản đang trong quá
trình xây dựng, lắp đặt thuộc loại hình BH khác) thuộc quyền sở hữu và quản
lý hợp pháp của các đơn vị, tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế

trong xã hội. Tuy nhiên để giúp cho việc tính phí BH chính xác, giúp công tác
giải quyết bồi thường nhanh chóng, đồng thời giúp cho người tham gia BH
nhận biết một cách dễ dàng TS tham gia, các công ty BH thống nhất chia đối
tượng BH thành năm nhóm cơ bản:
+ Công trình xây dựng, vật kiến trúc đã đưa vào sử dụng ( trừ đất đai).
+ Máy móc thiết bị, phương tiện lao động phục vụ sản xuất kinh doanh.
+ Sản phẩm vật tư, hàng hoá dự trữ trong kho.
+ Nguyên vật liệu, sản phẩm làm dở, thành phẩm trên dây truyền sản xuất.
+ Các loại tài sản khác như: kho, bãi, chợ, cửa hàng, khách sạn…
3.1.2 Phạm vi Bảo hiểm
Phạm vi BH là giới hạn các rủi ro được BH và giới hạn trách nhiệm của
các công ty BH. Trong BH cháy và các rủi ro đặc biệt, nhà BH có trách
nhiệm bồi thường thiệt hại và chi phí sau:
+ Những thiệt hại do những rủi ro được BH gây ra cho TS .
+ Những chi phí cần thiết và hợp lý để hạn chế bớt tổn thất TS được BH
trong và sau khi cháy.
+ Những chi phí dọn dẹp hiện trường sau khi cháy.
a, Rủi ro được Bảo hiểm: bao gồm rủi ro chính và rủi ro đặc biệt ( rủi ro phụ)
* Rủi ro chính ( rủi ro nhóm A): Hoả hoạn
Nguyễn Thị Thu Trang Bảo hiểm 46A
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Rủi ro này thực chất bao gồm ba phần: cháy, sét. nổ
- Cháy: Trong đơn BH cháy tiêu chuẩn không định nghĩa rõ như thế nào là
hoả hoạn vì người ta hiểu nó theo nghĩa thông dụng. Tuy nhiên Hoả hoạn
được BH phải hội tụ đầy đủ ba yếu tố:
+ Phải thực sự phát lửa.
+ Lửa đó không phải lửa chuyên dùng.
+ Về bản chất đám lửa đó phải là bất ngờ hay ngẫu nhên đối với người
được BH chứ không phải cố ý, có chủ định của họ hoặc có sự đồng loã của

họ. Tuy nhiên hoả hoạn xảy ra do sự bất cẩn của người được BH vẫn thuộc
phạm vi trách nhiệm bồi thường.
Khi có đủ ba điều kiện đó và có những thiệt hại vật chất do những
nguyên nhân được cho là hợp lý gây ra, những thiệt hại đó vẫn được bồi
thường cho dù đó là vì cháy hay do nhiệt hoặc khói.
Mặc dù không được nêu rõ trong đơn BH nhưng thiệt hại do hoả hoạn ở
đây gồm cả:
+ Thiệt hại do khói mà mà nguồn lửa gây ra thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm.
+ Thiệt hại do nước dùng để chữa cháy.
+ Thiệt hại do phá vỡ để ngăn chặn cháy lan.
+ Thiệt hại do việc thực hiện nhiệm vụ chữa cháy
+ Thiệt hại mà người được BH phải gánh chịu do việc bảo vệ TS và
kiểm soát sự phát triển của ngọn lửa.
Tuy vậy, hoả hoạn ở đây loại trừ:
+ Động đất, núi lửa phun hay biến động khác của thiên nhiên
+ Tài sản bị phá huỷ hay hư hỏng do:
• Tự lên men hoặc tự toả nhiệt.
• Chịu tác động của một quá trình xử lý có dùng nhiệt.
Nguyễn Thị Thu Trang Bảo hiểm 46A
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
+ Bất kỳ thiệt hại nào gây nên bởi hoặc do cháy rừng, bụi cây, đồng cỏ,
hoang mạc, rừng nhiệt đới dù là ngẫu nhiên hay không và đốt cháy với mục
đích làm sạch đất đai.
Việc loại trừ chỉ nhằm mục đích thống nhất khái niệm hoả hoạn được
dùng trong toàn bộ đơn BH. Nếu người BH yêu cầu, TS vẫn có thể được BH
bằng những rủi ro phụ riêng biệt.
- Sét: Người BH sẽ bồi thường khi TS bị phá huỷ trực tiếp do sét hoặc do sét
đánh gây ra cháy. Như vậy khi sét đánh mà không làm biến dạng hoặc gây cháy
cho TS được BH thì không thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của BH.

Cần lưu ý, khi tia sét phá huỷ trực tiếp hoặc làm phát lửa gây cháy đối
với các thiết bị điện thì được bồi thường. Nếu tia sét chỉ làm thay đổi dòng
điện, mà không gây cháy, dẫn đến thiệt hại do thiết bị điện thì không được
bồi thường (sét gián tiếp).
- Nổ: Theo rủi ro nhóm A, phạm vi BH chỉ bao gồm:
+ Nổ nồi hơi phục vụ sinh hoạt.
+ Nổ các lò sưởi trong gia đình, công xưởng có có sử dụng hơi đốt.
Các trường hợp nổ gây ra hoả hoạn nghiễm nhiên được BH. Như vậy ở
đây còn lại là những thiệt hại do nổ mà không gây cháy:
+ Tổn thất hoặc thiệt hại do nổ nhưng không gây cháy thì không được
bồi thường, trừ trường hợp nổ nồi hơi hoặc khí phục vụ sinh hoạt, với điều
kiện là sự nổ đó không phải là do các nguyên nhân bị loại trừ.
+ Tổn thất hoặc thiệt hại do nổ xuất phát từ cháy: thiệt hại ban đầu do
cháy được bồi thường nhưng những tổn thất do hậu quả của nổ, ngoài nồi hơi
và hơi đốt phục vụ sinh hoạt thi không được bồi thường.
Nổ trong rủi ro A chỉ bồi thường những thiệt hại do cháy phát sinh từ nổ.
Những thiệt hại từ các mảnh vỡ hoặc do sức ép từ nổ không được bồi thường.
- Rủi ro nhóm B: Nổ
Nguyễn Thị Thu Trang Bảo hiểm 46A
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nổ trong rủi ro phụ BH cho cả những thiệt hại từ các mảnh vỡ hoặc do
sức ép từ nổ. Tuy nhiên loại trừ:
+ Thiệt hại xảy ra đối với nồi hơi, bình tiết kiệm, bình chứa, máy móc
hoặc thiết bị có sử dụng áp lực hoặc đối với các chất liệu chứa trong các máy
móc thiết bị đó do chúng bị nổ. Mục đích của loại trừ này để tránh trùng lặp
đơn BH kỹ thuật khác (đổ vỡ máy móc), thiệt hại đối với các TS khác vẫn
thuộc phạm vi trách nhiệm BH.
+ Thiệt hại gây nên bởi hoặc do hậu quả trực tiếp hoặc gián tiếp của
những hành động khủng bố.

- Rủi ro nhóm C: Máy bay và các phương tiện hàng không khác hoặc các
thiết bị trên các phương tiện đó rơi vào.
- Rủi ro nhóm D: Gây rối, đình công, công nhân bế xưởng.
Những thiệt hại gây nên trực tiếp bởi:
+ Hành động của bất kỳ người nào cùng với những người khác tham gia
vào công việc làm mất trật tự xã hội (dù có liên quan đến đình công, bế
xưởng bãi công hay không).
+ Hành động của bất kỳ chính quyền hợp pháp nào trong việc trấn áp
hoặc cố găng trấn áp các hành động gây rối hoặc việc hạn chế hậu quả của
những hành động gây rối đó.
+ Hành động cố ý của bất kỳ người đình công hay người bế xưởng bãi
công nào nhằm ủng hộ bãi công hoặc chống lại bế xưởng bãi công.
+ Hành động của bất kỳ chính quyền hợp pháp nào nhằm ngăn chặn
hoặc cố gắng ngăn chặn những hành động như vậy hay hạn chế hậu quả của
những hành động đó.
Rủi ro nhóm D loại trừ:
+ Những thiệt hại gây nên bởi hay hậu quả gián tiếp hoặc trực tiếp của:
• Những hành động khủng bố.
Nguyễn Thị Thu Trang Bảo hiểm 46A
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
• Phong trào quần chúng có quy mô hoặc có thể phát triển thành một cuộc
khởi nghĩa quần chúng.
• Hành động ác ý của bất kỳ người nào (cho dù hành động đó có được
thực hiện trong việc gây mất trất tự xấ hội hay không) khác với hành động cố
ý của người tham gia đình công hoặc của công nhân bế xưởng bãi công nhằm
ủng hộ bãi công hoặc nhằm chống lại bế xưởng bãi công.
• Hành động ác ý xóa, làm mất mát sai lệch hay làm hư hỏng thông tin
trên hệ thống máy tính hay các hồ sơ chương trình phần mềm khác.
+ Thiệt hại do mất thu nhập, do chậm trễ, do mất thị trường hay bất kỳ tổn

thất nào mang tính chất hậu quả hay mang tính chất gián tiếp khác dưới bất
kỳ phương tiện hay h́nh thức nào.
• Thiệt hại do ngừng toàn bộ hay một phần công việc hoặc do chậm trễ
hoặc do gián đoạn bất kỳ một quy trình hay hoạt động nào.
• Thiệt hại do bị tước quyền sở hữu vĩnh viễn hay tạm thời do tài sản bị
tịch biên, tịch thu, trưng dụng, phá hủy theo lệnh của nhà cầm quyền hợp pháp.
• Thiệt hại do bị tước quyền sở hữu vĩnh viễn hay tạm thời của bất kỳ ngôi
nhà nào do việc chiếm hữu bất hợp pháp các tòa nhà đó của bất kỳ người nào.
- Rủi ro nhóm E: Hành động ác ý:
Thiệt hại xảy ra đối với TS được BH mà nguyên nhân trực tiếp là hành
động ác ý của bất cứ người nào (dù co hành động này có xảy ra trong quá
trình gây rối trật tự hay không) nhưng loại trừ những thiệt hại do trộm cắp
hoặc mưu toan thực hiện trộm cắp. Rủi ro này chỉ được BH khi người tham
gia đã mua BH cho rủi ro nhóm D.
- Rủi ro nhóm F: Động đất , núi lửa phun: bao gồm cả lũ lụt và nước biển
tràn vào do hậu quả của động đất và núi lửa phun.
Nguyễn Thị Thu Trang Bảo hiểm 46A
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Rủi ro nhóm G: Giông bão: Phạm vi bảo hiểm là những thiệt hại gây ra
đối với tài sản do ảnh hưởng của thiên nhiên như gió mạnh, mưa lớn kéo dài
về mặt không gian và thời gian. Tuy nhiên rủi ro nhóm G loại trừ:
+ Thiệt hại gây ra do:
• Nước thoát ra khỏi ranh giới bình thường của các nguồn nước tự nhiên
hay nhân tạo, các kênh hồ, đê, đập, các bể chứa nước, thiết bị chứa nước hay
đường ống dẫn.
• Nước tràn từ biển dù là do giông bão hay các nguyên nhân khác.
+ Thiệt hại gây ra do sương muối, sụt lở đất.
+ Thiệt hại đối với bạt mái hiên che nắng, mành tre bảng biển hoặc các trang
thiết bị lắp đặt phía ngoài, hàng rào, cổng ngõ và các động sản khác để ngoài

trời
+ Thiệt hại đối với các công trình đang trong quá trình xây dựng, cải tạo hay
sửa chữa trừ khi các cửa ra vào, cửa sổ và các lỗ thông thoáng khác đã được
hình thành và được bảo vệ chống giông bão.
+ Thiệt hại do nước mưa hoặc mưa, ngoại trừ nước mưa tràn vào tòa nhà
thông qua các của hoặc lỗ thông thoáng do tác động trực tiếp của giông bão.
- Rủi ro nhóm H: Nước thoát ra từ các bể chưa nước, thiết bị chứa nước
hoặc đường ống dẫn nước nhưng loại trừ:
+ Thiệt hại do nước thoát ra, rò rỉ từ hệ thống chữa cháy tự động sprinkler.
+ Thiệt hại tại những công trình, ngôi nhà bỏ trống hoặc không có người sử dụng.
- Rủi ro nhóm I: Va chạm bởi xe cơ giới hay động vật: thiệt hại trực tiếp
phát sinh từ việc va chạm với xe cơ giới hay động vật.
Các rủi ro phụ ( rủi ro từ nhóm B đến rủi ro I) không được BH riêng mà
chỉ có thể được BH cùng với những rủi ro cơ bản (cháy, sét, nổ- Rủi ro nhóm
A). Mỗi rủi ro phụ này cũng không được BH một cách tự động mà chỉ được
Nguyễn Thị Thu Trang Bảo hiểm 46A
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
BH khi khác hàng yêu cầu với điều kiện đóng thêm phí và được ghi rõ trong
giấy yêu cầu và giấy chứng nhận BH.
b, Các rủi ro loại trừ:
Mỗi một rủi ro đều có những điểm loại trừ riêng biệt. Tuy nhiên những rủi
ro loại trừ sau được áp dụng chung cho tất cả các rủi ro trong đơn BH cháy:
- Các thiệt hại gây ra do
+ Gây rối, nổi dậy quần chúng, bãi công, công nhân bế xưởng trừ khi rủi
ro nhóm D được ghi nhận là được BH thể hiện trong giấy chứng nhận bảo
hiểm nhưng chỉ với phạm vi BH đã quy định cho rủi ro đó.
+ Chiến tranh xâm lược, hành động thù định nước ngoài, hành động gây
hấn hay các hành động có tính chất chiến tranh (dù có tuyên chiến hay
không), nội chiến.

+ Những hành động khủng bố.
+ Binh biến, dấy binh, bạo loạn, khởi nghĩa cách mạng, bạo động, đảo
chính, lực lượng quân sự tiếm quyền, thiết quân luật, phong tỏa, giới nghiêm
hoặc những biến cố và nguyên nhân dẫn đến việc tuyên bố hay duy trì tình
trạng phong tỏa hoặc thiết quân luật.
- Các thiệt hại xảy ra đối với bất kỳ các TS nào, hoặc bất kỳ tổn thất hay chi
phí nào bắt nguồn từ hay phát sinh từ những nguyên nhân sau đây hoặc bất kỳ
những tổn thất có tính chất hậu quả trực tiếp gây ra bởi hoặc phát sinh từ:
+ Nguyên vật liệu vũ khí hạt nhân.
+ Phóng xạ ion hóa hay nhiễm phóng xạ từ nhiên liệu hạt nhân hoặc từ chất
thải hạt nhân do bốc cháy nguyên liệu hạt nhân. Đối với điểm loại trừ này thuật
ngữ “bốc cháy” bao gồm cả quá trình phản ứng phân hủy hạt nhân tự phát.
- Các thiệt hại xảy ra đối với bất kỳ máy móc, dụng cụ điện nào hay bất kỳ
bộ phận nào của thiết bị điện cho chạy quá tải, quá áp lực, đoản mạch, tự đốt
nóng, hồ quang điện hay rò điện do bất kỳ nguyên nhân nào (kể cả sét).
Nguyễn Thị Thu Trang Bảo hiểm 46A
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Các thiệt hại gây ra do sự ô nhiễm, nhiễm bẩn, ngoại trừ những thiệt hại
đối với TS được BH gây ra do :
+ Ô nhiễm, nhiễm bẩn từ những rủi ro được BH cháy.
+ Bất kỳ rủi ro được BH nào mà chính những rủi ro ấy lại phát sinh từ ô
nhiễm hay nhiễm bẩn.
- Hàng hóa nhận ủy thác hay nhận bảo quản: vàng bạc và đá quý, tiền (tiền
giấy hay kim loại), séc, thư bảo lãnh, tín phiếu, tem, tài liệu, bản thảo, sổ sách
kinh doanh, hệ thống dữ liệu máy tính, hàng mẫu, vật mẫu, khuôn mẫu, sơ đồ,
bản vẽ hay tài liệu thiết kế, chất nổ trừ khi được xác định cụ thể là chúng
được BH theo đơn BH này.
+ Thiệt hại xảy ra đối những TS mà vào thời điểm xảy ra tổn thất, được BH
hay lẽ ra được BH theo đơn BH hàng hải, nhưng không loại trừ thiệt hại vượt

quá số tiền lẽ ra có thể được bồi dưỡng theo đơn BH hàng hải nếu như đơn
BH này chưa có hiệu lực.
- Những mất mát hoặc tổn thất mang tính chất hậu quả dưới bất kỳ hình thức
nào, trừ thiệt hại về tiền thuê nhà nếu tiền thuê nhà được xác nhận là được BH
theo đơn BH và có số tiền BH riêng cho thiệt hại này.
3.2. Giá trị Bảo hiểm và số tiền Bảo hiểm.
3.2.1 Giá trị Bảo hiểm
Trong các hợp đồng BHTS, giá trị Bảo hiểm (GTBH) là cơ sở để xác
định STBH của hợp đồng. GTBH ở đây là giá trị của tài sản được BH, được
tính bằng giá trị thực tế hoặc giá trị mua mới.
TS được BH cháy thường đa dạng về chủng loại và có giá trị rất lớn như:
nhà cửa, máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, hàng hóa vật tư trong kho. Bởi
vậy GTBH trong đơn BH cháy và các rủi ro đặc biệt được xác định như sau:
- Đối với nhà cửa, vật kiến trúc GTBH được xác định theo giá trị mua mới
hoặc giá trị còn lại.
Nguyễn Thị Thu Trang Bảo hiểm 46A
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
+ Giá trị mới là giá trị là giá trị ban đầu khi đưa những loại TS này vào sử
dụng (giá trị mới xây của ngôi nhà) bao gồm cả chi phí khảo sát thiết kế.
+ Giá trị còn lại là giá trị mua mới trừ đi hao mòn đã sử dụng theo thời
gian (đối với TS đã qua sử dụng).
- Đối với máy móc, thiết bị và các loại TS cố định khác: GTBH được xác
định trên cơ sở giá trị mua mới cộng chi phí chuyên chở lắp đặt (nếu có) hoặc
giá trị còn lại.
- Đối với thành phẩm, bán thành phẩm, GTBH được xác định trên cơ sở giá
thành sản xuất.
- Đối với hàng hóa mua về để trong kho, để trong cửa hàng GTBH được
xác định theo giá trị bình quân hoặc giá trị tối đa của các loại hàng hoá có
mặt trong thời gian BH.

3.2.2 Số tiền Bảo hiểm
Số tiền bảo hiểm (STBH) là giới hạn bồi thường tối đa của người được
BH trong trường hợp TS được BH tổn thất toàn bộ. STBH còn là căn cứ để
xác định phí BH, Vì thế xác định chính xác STBH có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng. Cơ sở xác định STBH là GTBH.
Trong điều kiện kinh tế hiện nay, quy mô sản xuất ngày càng được mở
rộng do đó số lượng, giá trị TS cũng luôn luôn biến động theo xu hướng ngày
càng tăng lên. Thông thường người ta chỉ có thể xác định một cách chính xác
giá trị TS tại một thời điểm nào đó còn trong cả một năm, một quý, một tháng
là rất khó. Bởi vậy trong BH cháy thuật ngữ STBH được sử dụng rất phổ biến.
Đối với các TS cố định việc xác định STBH căn cứ vào GTBH của tài
sản. Đối với các TS lưu động, giá trị thường xuyên biến đổi. Vì vậy, STBH
trong BH cháy thường được xác định theo hai loại là giá trị trung bình hoặc
giá trị tối đa.
Nguyễn Thị Thu Trang Bảo hiểm 46A
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
+ Loại 1: STBH tính theo giá trị trung bình: nghĩa là số tiền này được
xác định bình quân trong một thời kỳ tham gia BH. Giá trị trung bình này
thường được xác định căn cứ sổ sách kế toán của đơn vị tham gia BH và
thường được tính theo số bình quân thời điểm hoặc số bình quân gia quyền.
Trong thời gian BH, giá trị trung bình này được coi là STBH.
Căn cứ vào STBH trung bình này để nhà BH định phí được chính xác và
nếu tổn thất toàn bộ xảy ra thì số tiền bồi thường tối đa chỉ bằng STBH tính
theo giá trị trung bình đã khai báo.
+ Loại 2: STBH tính theo giá trị tối đa.
Vì lượng hàng hóa, vật tư được luân chuyển liên tục, có những thời
điểm có giá trị rất lớn nhưng cũng có thời điểm giá trị rất nhỏ cho nên người
tham gia BH cháy có thể tham gia với STBH bằng giá trị tài sản đạt mức tối
đa tại một thời điểm nào đó.

Đầu mỗi tháng,mỗi quý (tùy theo sự thỏa thuận của hai bên), người
được BH thông báo cho công ty BH số hàng tối đa có thực trong tháng, quý
trước đó. Cuối thời hạn BH trên cơ sở giá trị được thông báo, công ty BH tính
giá trị số hàng tối đa bình quân của cả thời hạn BH và tính lại phí BH. Nếu
phí BH tính được trên cơ sở số giá trị tối đa bình quân nhiều hơn số phí BH
đã nộp thì người được BH trả thêm cho công ty BH số phí còn thiếu.
Trong thời gian tham gia BH, tổn thất thuộc phạm vi BH được người
BH bồi thường và số tiền bồi thường vượt quá giá trị tối đa bình quân thì phí
BH được tính dựa vào STBH đã trả. Trong trường hợp này số tiền được bồi
thường được coi là STBH.
Nếu BH theo giá trị tối đa thì thông thường các công ty BH trên thế giới
cũng như Việt Nam khi xác định phí người ta chia thành hai trường hợp:
• Trường hợp thứ nhất: Chỉ yêu cầu người tham gia BH nộp 75% số phí.
Nếu tại thời điểm nào đó STBH đạt mức tối đa thì khi hết hạn hợp đồng BH
Nguyễn Thị Thu Trang Bảo hiểm 46A
25

×