Tải bản đầy đủ (.doc) (74 trang)

nâng cao hiệu quả cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ ở ngân hàng công thương việt nam chi nhánh ba đình

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (722.44 KB, 74 trang )

Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh
Huệ

Như chúng ta đã biết, hiện nay doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) chiếm
hơn 95% số lượng doanh nghiệp ở nước ta. Cùng với sự phát triển của đất nước thì
DNVVN cũng đang trên đà phát triển mạnh mẽ và đúng một vai trò cực kỳ quan
trọng trong nền kinh tế nước nhà. Doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò rất quan
trọng trong tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, huy động các nguồn lực
xã hội cho đầu tư phát triển và đóng góp vào ngân sách nhà nước. Các doanh nghiệp
vừa và nhỏ có vốn đầu tư ban đầu tuy không lớn nhưng được hình thành và phát
triển rộng khắp ở cả thành thị và nông thôn, ở hầu hết các ngành nghề và lĩnh vực,
là khu vực khai thác và huy động các nguồn lực, tiềm năng, tạo cơ hội cho đông đảo
dân cư có thể tham gia đầu tư.
Thực tế cho thấy, những năm qua nền kinh tế thế giới khủng hoảng kéo theo
sự suy giảm của nền kinh tế trong nước. Các doanh nghiệp lớn thì tỏ ra rất khó khăn
trong việc đối phó với tình trạng giảm sút về số lượng khách hàng cũng như lợi
nhuận. Trong khi đó các doanh nghiệp nhỏ lại rất linh hoạt trong việc chủ động thay
đổi chiến lược kinh doanh như : cắt giảm những chi phí không cần thiết, xây dựng
mối quan hệ với khách hàng và nhà cung cấp, đánh giá những nhân viên giỏi, cắt
giảm một số khoản tiền lương. Với những thay đổi trên thì các doanh nghiệp vừa và
nhỏ đang hồi phục một cách nhanh chóng sau thời kỳ khủng hoảng, đang dần tạo ra
đà tăng trưởng cho toàn bộ nền kinh tế của đất nước.
Với những kết quả đạt được đó thì doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng đang gặp
phải một số khó khăn nhất định, đặc biệt là việc tìm kiếm nguồn vốn để mở rộng
sản xuất, đổi mới thiết bị, công nghệ nhằm nâng cao năng suất lao động tạo ra hiệu
quả sản xuất cho doanh nghiệp. Do đó, việc tìm hiểu thực trạng tín dụng ngân hàng
nhằm tìm ra các biện pháp nhằm giải quyết khó khăn trên của doanh nghiệp vừa và
nhỏ trở nên bức thiết hơn bao giờ hết.
Xuất phát từ nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, em xin chọn đề
tài : “ !
"#$%&'$()*+,


Trần Anh Vũ Thị trường chứng khoán 49
1
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh
Huệ
" /0
123456"-0'7-89210"-8':;
4'<=8:-0->?'@:'A-B"C:0D
-A02 /09
EFEF 2GH$%&(I
1.1.1. Khái niệm
Theo cách tiếp cận trên phương diện những loại hình dịch vụ mà ngân hàng
cung cấp. Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài
chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện
nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền
kinh tế.
Theo luật Tổ chức tín dụng của Việt Nam thì : “ Ngân hàng thương mại là tổ
chức tín dụng được phép thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động
khác có liên quan. Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ
ngân hàng với nội dung chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi và dựng số tiền
này để cấp tín dụng và cung ứng một số dịch vụ thanh toán.
1.1.2. Chức năng của ngân hàng
a. Trung gian tài chính
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là
chuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại cá nhân và tổ chức
trong nền kinh tế : (1) các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu, tức là chi
tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập và vì thế họ là những người cần bổ
sung vốn ; và (2) các cá nhân và tổ chức thặng dư trong chi tiêu, tức là thu nhập
hiện tại của họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho hàng hóa, dịch vụ và do vậy họ có
tiền tiết kiệm.
Sự tồn tại của hai loại cá nhân và tổ chức trên hoàn toàn độc lập với Ngân

hàng. Điều tất yếu là tiền sẽ chuyển từ nhóm (2) sang nhóm (1) nếu cả hai cùng có
lợi. Như vậy thu nhập gia tăng là động lực tạo mối quan hệ giữa hai nhóm. Nếu
dòng tiền di chuyển với điều kiện phải quay trở lại với một lượng lớn hơn trong một
khoảng thời gian nhất định thì đó là quan hệ tín dụng. Nếu không thì đó là quan hệ
cấp phát hoặc hùn vốn. Lấy quan hệ tín dụng làm ví dụ. người có tiền tiết kiệm đòi
1% cho chi phí giao dịch, 2% phòng rủi ro và 3% là thu nhập ròng từ số tiền tiết
Trần Anh Vũ Thị trường chứng khoán 49
2
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh
Huệ
kiệm mà anh ta đang phải tạm thời từ bỏ quyền sử dụng. Tổng cộng anh ta đòi 6%
trên số tiền cho vay. Người vay phải chi 1% chi phí giao dịch, 6% trả cho người có
tiền, tổng cộng phí tổn tín dụng là 7%. Nếu việc sử dụng tiền vay có thể tạo ra cho
anh ta một tỷ suất thu nhập lớn hơn 7% ( giả sử 10% ) thì quan hệ tín dụng sẽ được
thiết lập. Quan hệ tín dụng trực tiếp đã có rất lâu và tồn tại cho đến ngày nay, tạo ra
mối liên kết giữa người có thu nhập thừa và người có thu nhập thiếu.
Tuy nhiên, quan hệ trực tiếp bị nhiều giới hạn do sự không phù hợp về quy
mô, thời gian, không gian Điều này cản trở quan hệ trực tiếp phát triển và là điều
kiện nảy sinh trung gian tài chính. Do chuyên môn hóa, trung gian tài chính có thể
làm giảm chi phí giao dịch ví dụ từ 2% xuống 1% ở ví dụ trên, chi phí rủi ro từ 2%
xuống 1%. Trung gian có thể trả cho người tiết kiệm 3,5% với cam kết không có rủi
ro ( lớn hơn 3% thu nhập trước đó ), và đòi người sử dụng 6,5% ( nhỏ hơn 7% trước
đó ). Chênh lệch 6,5% - 3,5%= 3% chính là thu nhập của trung gian. Như vậy trung
gian tài chính đã làm tăng thu nhập cho người tiết kiệm, từ đó mà khuyến khích tiết
kiệm, đồng thời giảm phí tổn tín dụng cho người đầu tư ( tăng thu nhập cho người
đầu tư ), từ đó khuyến khích các nhà đầu tư. Trung gian tài chính đã tập hợp những
người tiết kiệm và đầu tư, vì vậy mà giải quyết được mâu thuẫn của tín dụng trực
tiếp. Cơ chế hoạt động của trung gian sẽ rất hiệu quả khi nó gánh chịu rủi ro và sử
dụng các kỹ thuât nghiệp vụ để hạn chế, phân tán rủi ro và giảm phí giao dịch.
Hầu hết các lý thuyết hiện đại đều giải thích sự tồn tại của ngân hàng bằng

cách chỉ ra sự không hoàn hảo trong hệ thông tài chính của mỗi quốc gia. Chẳng
hạn các khoản tín dụng và chứng khoán không thể chia thành những khoản nhỏ mà
mọi người có thể mua. Ngân hàng cung cấp một dịch vụ có giá trị trong việc chia
các chứng khoán đó thành các chứng khoán nhỏ hơn ( dưới dạng tiền gửi ) phục vụ
cho hàng triệu người. Trong ví dụ này, hệ thống tài chính kém hoàn hảo tạo ra vai
trò cho các ngân hàng phục vụ những người tiết kiệm.
Một đóng góp khác của ngân hàng là họ sẵn sàng chấp nhận các khoản cho
vay nhiều rủi ro trong khi lại phát hành các chứng khoán ít rủi ro cho người gửi
tiền. Thực tế các ngân hàng tham gia vào kinh doanh rủi ro. Ngân hàng cũng thừa
mãn nhu cầu thanh khoản của nhiều khách hàng.
Một lý do nữa làm cho ngân hàng phát triển thịnh vượng là khả năng thẩm
định thông tin. Sự phân bổ không đều thông tin và năng lực phân tích thông tin
được gọi là tình trạng " thông tin không cân xứng " làm giảm tính hiệu quả của thị
trường nhưng tạo ra một khả năng sinh lợi cho ngân hàng, nơi có chuyên môn và
kinh nghiệm đánh giá các công cụ tài chính và có khả năng lựa chọn những công cụ
với các yếu tố rủi ro – lợi nhuận hấp dẫn nhất.
b. Tạo phương tiện thanh toán.
Trần Anh Vũ Thị trường chứng khoán 49
3
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh
Huệ
Tiền vàng có một chức năng quan trọng là tạo phương tiện thanh toán. Các
ngân hàng đã không tạo được tiền kim loại. Các ngân hàng thợ vàng tạo phương
tiện thanh toán khi phát hành giấy nhận nợ với khách hàng. Giấy nhận nợ do ngân
hàng phát hành có ưu điểm nhất định đã trở thành phương tiện thanh toán rộng rãi
được nhiều người chấp nhận. Như vậy, ban đầu các ngân hàng đã tạo phương tiện
thanh toán thay cho tiền kim loại dựa trên số lượng tiền kim loại đang nắm giữ. Với
nhiều ưu thế, dần dần giấy nợ của ngân hàng đã thay thế tiền kim loại làm phương
tiện lưu thông và phương tiện cất giữ, nó trở thành tiền giấy.
Việc in tiền mang lại lợi nhuận rất lớn, đồng thời với nhu cầu có đồng tiền

quốc gia duy nhất đã dẫn đến việc Nhà nước tập trung quyền lực phát hành tiền giấy
vào một tổ chức hoặc là bộ tài chính hoặc là Ngân hàng Trung ương. Từ đó chấm
dứt việc các ngân hàng thương mại tạo ra giấy bạc của riêng mình.
Trong điều kiện phát triển thanh toán qua ngân hàng, các khách hàng nhận
thấy nếu họ có được số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán, họ có thể chi trả để có
được hàng hóa và dịch vụ theo yêu cầu. Theo quan điểm hiện đại, đại lượng tiền tệ
bao gồm nhiều bộ phận. Thứ nhất là tiền giấy trong lưu thông (Mo) , thứ hai là số
dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tăng lên, khách hàng có thể
dựng để mua hàng và dịch vụ. Do đó, bằng việc cho vay ( hay tạo tín dụng ) các
ngân hàng đã tạo ra phương tiện thanh toán ( tham gia tạo ra M1 ).
Toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng tạo phương tiện thanh toán khi các khoản
tiền gửi được mở rộng từ ngân hàng này đến ngân hàng khác trên cơ sở cho vay.
Khi khách hàng tại một ngân hàng sử dụng khoản tiền vay để chi trả thì sẽ tạo nên
khoản thu ( tức làm tăng số dư tiền gửi ) của một khách hàng khác tại một ngân
hàng khác từ đó tạo ra các khoản cho vay mới. Trong khi không một ngân hàng
riêng lẻ nào có thể cho vay lớn hơn dự trữ dư thừa, toàn bộ hệ thống ngân hàng có
thể tạo ra khố lượng tiền gửi gấp bội thông qua hoạt động cho vay.
Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra lượng tiền gửi mà hệ thống ngân hàng tạo ra
chịu tác động trực tiếp của các nhân tố như tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ lệ dự trữ vượt
bắt buộc, tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt qua ngân hàng, tỷ lệ tiền gửi không phải là
tiền gửi thanh toán
c. Trung gian thanh toán.
Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết các
quốc gia. Thay mặt khách hàng, ngân hàng thay mặt thực hiện thanh toán giá trị
hàng hóa và dịch vụ. Để việc thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi
phí, ngân hàng đưa cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng
séc, ủy nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết
nối các quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần. Các ngân hàng còn thực hiện
Trần Anh Vũ Thị trường chứng khoán 49
4

Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh
Huệ
thanh toán bù trừ với nhau thông qua ngân hàng Trung ương hoặc thông qua các
trung tâm thanh toán. Công nghệ thanh toán qua ngân hàng càng đạt hiệu quả cao
khi quy mô sử dụng công nghệ đó càng được mở rộng. Vì vậy, công nghệ thanh
toán hiện đại qua ngân hàng thường được các nhà quản lý tìm cách áp dụng rộng
rãi. Nhiều hình thức thanh toán được chuẩn hóa góp phần tạo tính thống nhất trong
thanh toán không chỉ giữa các ngân hàng trong một quốc gia mà còn giữa các ngân
hàng trên toàn thế giới. Các trung tâm thanh toán quốc tế được thiết lập đã làm tăng
hiệu quả của thanh toán qua ngân hàng, biến ngân hàng trở thành trung tâm thanh
toán quan trọng và có hiệu quả, phục vụ đắc lực cho nền kinh tế toàn cầu.
1.1.2. Các dịch vụ của ngân hàng.
Ngân hàng là một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cho công chúng và doanh
nghiệp. Thành công của ngân hàng phụ thuộc vào năng lực xác định các dịch vụ tài
chính mà xã hội có nhu cầu, thực hiện các dịch vụ đó một cách có hiệu quả.
a. Nhận tiền gửi.
Cho vay được coi là hoạt động sinh lời cao, do đó các ngân hàng đã tìm mọi
cách để huy động được tiền. Một trong những nguồn quan trọng là việc nhận tiền
gửi. Ngân hàng mở dịch vụ nhận tiền gửi để bảo quản hộ người có tiền với cam kết
hoàn trả đúng hạn. Trong cuộc cạnh tranh để tìm và dành được các khoản tiền gửi,
các ngân hàng đã trả lãi cho tiền gửi như là phần thưởng cho khách hàng về việc sẵn
sàng hy sinh nhu cầu tiêu dùng trước mắt và cho phép ngân hàng tạm thời sử dụng
để kinh doanh. Trong lịch sử đã có những kỷ lục vê lãi suất, chẳng hạn các ngân
hàng Hy Lạp đã trả 16%/ một năm để thu hút các khoản tiền tiết kiệm nhằm mục
đích cho vay đối với các chủ tàu ở Địa Trung Hải với lãi suất gấp đôi hay gấp 3 lãi
suất tiết kiệm.
b. Cho vay.

Ngay ở thời kỳ đầu, các ngân hàng đã chiết khấu thương phiếu mà thực tế là
cho vay đối với những người bán ( người bán chuyển khoản phải thu cho ngân hàng

để lấy tiền trước ). Sau đó là bước chuyển tiếp từ chiết khấu thương phiếu sang cho
vay trực tiếp đối với các khách hàng ( là người mua ), giúp họ có vốn để mua hàng
dự trữ nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh.

Trong giai đoạn đầu hầu hết các ngân hàng không tích cực cho vay đối với cá
nhân và hộ gia đình bởi vì họ tin rằng các khoản cho vay tiêu dùng rủi ro vỡ nợ khá
cao. Sự gia tăng thu nhập của người tiêu dùng và sự cạnh tranh trong cho vay đã buộc
các ngân hàng phải hướng tới người tiêu dùng như là một khách hàng tiềm năng. Sau
chiến tranh thế giới thứ hai, tín dụng tiêu dùng đã trở thành một trong những loại hình
tín dụng tăng trưởng nhanh nhất ở các nước có nền kinh tế phát triển.
Trần Anh Vũ Thị trường chứng khoán 49
5
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh
Huệ

Bên cạnh cho vay truyền thống là cho vay ngắn hạn, các ngân hàng ngày càng
trở nên năng động trong việc tài trợ cho xây dựng nhà máy mới đặc biệt là trong các
ngành công nghệ cao. Do rủi ro trong loại hình tín dụng này nói chung là cao song
lãi lại lớn. Một số ngân hàng còn cho vay để đầu tư vào bất động sản.
c. Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán.
Khi các doanh nhân gửi tiền vào ngân hàng, họ nhận thấy ngân hàng không
chỉ bảo quản mà còn thực hiện các lệnh chi trả cho khách hàng của họ. Thanh toán
qua ngân hàng đã mở đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt, tức là người gửi tiền
không cần phải đến ngân hàng để lấy tiền mà chỉ cần viết giấy chi trả cho khách
( còn được gọi là séc ), khách hàng mang giấy đến ngân hàng sẽ nhận được tiền.
Các tiện ích của thanh toán không dùng tiền mặt (an toàn, nhanh chóng, chính xác,
tiết kiệm chi phí ) đã góp phần rút ngắn thời gian kinh doanh và nâng cao thu nhập
cho các doanh nhân. Điều này đã khuyến khích các doanh nhân gửi tiền vào ngân
hàng để nhờ ngân hàng thanh toán hộ. Như vậy, một dịch vụ mới, quan trọng nhất
được phát triển đó là tài khoản tiền gửi giao dịch, cho phép người gửi tiền viết séc

thanh toán cho việc mua hàng hóa và dịch vụ. Việc đưa ra loại tài sản tiền gửi mới
này được xem là một trong những bước đi quan trọng nhất trong công nghiệp ngân
hàng. Cùng vơi sự phát triển của công nghệ thông tin, nhiều thể thức thanh toán
được phát triển như Ủy nhiệm chi, nhờ thu, L/C, thanh toán bằng điện, thẻ
d. Quản lý ngân quỹ.
Các ngân hàng mở tài khoản và giữ tiền của phần lớn các doanh nghiệp và
nhiều cá nhân. Nhờ đó, ngân hàng thường có mối liên hệ chặt chẽ với nhiều khách
hàng. Do có kinh nghiệm trong quản lý ngân quỹ, trong đó ngân hàng đồng ý quản
lý việc thu và chi cho một công ty kinh doanh và tiến hành đầu tư phần thặng dư
tiền mặt tạm thời vào các chứng khoán sinh lời và tín dụng ngắn hạn cho đến khi
khách hàng cần tiền mặt để thanh toán.
e. Tài trợ các hoạt động của chính phủ.
Khả năng huy động và cho vay với khối lượng lớn của ngân hàng đã trở thành
trọng tâm chú ý của các Chính phủ. Do nhu cầu chi tiêu lớn và thường là cấp bách
trong khi thu không đủ; Chính phủ các nước đều muốn tiếp cận với các khoản cho
vay của ngân hàng. Trong điều kiện các ngân hàng tư nhân không muốn tài trợ cho
chính phủ vì rủi ro cao, chính phủ thường dùng một số đặc quyền trao đổi lấy các
khoản vay của những ngân hàng lớn. Khi ngân hàng Trung ương thành lập, chính
phủ đều tìm cách tham dự, hoặc trực tiếp can thiệp để có được các khoản tín dụng
lớn. Ngày nay, Chính phủ giành quyền cấp phép hoạt động và kiểm soát ngân hàng.
Các ngân hàng được cấp giấy phép thành lập với điều kiện là họ phải cam kết thực
Trần Anh Vũ Thị trường chứng khoán 49
6
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh
Huệ
hiện với mức độ nào đó các chính sách của Chính phủ và tài trợ cho Chính phủ. Các
ngân hàng phải mua trái phiếu
Chính phủ theo một tỷ lệ nhất định trên tổng lượng tiền gửi mà ngân hàng huy
động được; hoặc phải cho vay với các điều kiện ưu đãi cho các doanh nghiệp của
Chính phủ.

f. Bảo lãnh.
Do khả năng thanh toán của ngân hàng cho một khách hàng rất lớn và do ngân
hàng nắm giữ tiền gửi của các khách hàng nên ngân hàng có uy tín trong bảo lãnh cho
khách hàng. Trong những năm gần đây, nghiệp vụ bảo lãnh ngày càng đa dạng và phát
triển mạnh. Ngân hàng thường bảo lãnh cho khách hàng của mình mua chịu hàng hóa
và trang thiết bị, phát hành chứng khoán, vay vốn của tổ chức tín dụng khác
g. Cung cấp các dịch vụ ủy thác và tư vấn.
Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính các ngân hàng có nhiều chuyên gia về
quản lý tài chính. Vì vậy, nhiều cá nhân và doanh nghiệp đã nhờ ngân hàng quản lý
tài sản và quản lý hoạt động tài chính hộ. Dịch vụ ủy thác phát triển sang cả ủy thác
vay hộ, ủy phát cho vay hộ, ủy thác phát hành, ủy thác đầu tư Thậm chí các ngân
hàng đóng vai trị là người được ủy thác trong di chúc, quản lý tài sản cho khách
hàng đã qua đời bằng cách công bố tài sản, bảo quản các tài sản có giá. Nhiều khách
hàng còn coi ngân hàng như một chuyên gia tư vấn tài chính. Ngân hàng sẵn sàng
tư vấn về đầu tư, về quản lý tài chính, về thành lập, mua bán, sáp nhập doanh
nghiệp
h. Cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán.
Nhiều ngân hàng đang phấn đấu cung cấp đủ các dịch vụ tài chính cho phép
khách hàng thừa mãn mọi nhu cầu. Đây là một trong những lý do chính khiến các
ngân hàng bắt đầu bán các dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho khách hàng
cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác mà không phải nhờ đến
kinh doanh chứng khoán. Trong một vài trường hợp, các ngân hàng tổ chức ra công
ty chứng khoán hoặc công ty môi giới chứng khoán.
i. Cung cấp các dịch vụ đại lý.
Nhiều ngân hàng trong quá trình hoạt động không thể thiết lập chi nhánh hoặc
văn phòng ở khắp mọi nơi. Nhiều ngân hàng cung cấp dịch vụ đại lý cho các ngân
hàng khác như thanh toán hộ, phát hành hộ chứng chỉ tiền gửi , làm ngân hàng đầu
mối trong đồng tài trợ
1.1.3. Các loại hình ngân hàng thương mại
Có thể chia ngân hàng thương mại theo nhiều hình thức khác nhau tùy thuộc

vào yêu cầu của người quản lý.
 !" #$%&
'!$%&!
Là ngân hàng do cá nhân thành lập bằng vốn của cá nhân. Loại ngân hàng
thường nhỏ, phạm vi hoạt động hẹp trong từng địa phương mụt. Các ngân hàng này
Trần Anh Vũ Thị trường chứng khoán 49
7
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh
Huệ
thường gắn liền với cá nhân và các doanh nghiệp ở địa phương. Chủ ngân hàng
thường rất am hiểu tình hình của người vay, vì vậy hạn chế được sự lừa đảo của
khách. Tuy nhiên, do kém đa dạng, nên khi địa phương đó gặp rủi ro ngân hàng
thường không tránh được tổn thất.
('!$%&)*+,-!*./0
Ngân hàng này được thành lập thông qua phát hành các cổ phiếu. Việc nắm
giữ cổ phiếu cho phép người sở hữu có quyền tham gia quyết định các hoạt động
của ngân hàng, tham gia chia cổ tức từ thu nhập của ngân hàng đồng thời phải gánh
chịu các tổn thất có thể xảy ra. Do vốn sở hữu được hình thành thông qua tập trung,
các ngân hàng cổ phần có khả năng tăng vốn nhanh chóng, vì vậy thường là các
ngân hàng lớn. Các tổ chức ngân hàng lớn nhất trên thế giới hiện nay là ngân hàng
cổ phần. Các ngân hàng cổ phần thường có phạm vi hoạt động rộng, hoạt động đa
năng, có nhiều chi nhánh hoặc công ty con. Khả năng đa dạng hóa cao nên các ngân
hàng cổ phần có thể giảm rủi ro gây nên bởi tính chuyên môn hóa ( thiên tai tại một
vùng, sự suy thoái của một ngành hoặc một quốc gia ), song chúng thường phải
gánh chịu các rủi ro từ cơ chế quản lý phân quyền ( nhiều chi nhánh được phân
quyền lớn và hoạt động tương đối độc lập với trụ sở ngân hàng mẹ, giám đốc các
chi nhánh này có thể có hành vi lạm dụng hoặc bất cẩn gây tổn thất cho ngân hàng.
'!$%&'1
Đây là loại hình ngân hàng mà vốn sở hữu do nhà nước cấp, có thể là Nhà
nước trung ương hoặc tỉnh, thành phố. Các ngân hàng này được thành lập nhằm

thực hiện một số mục tiêu nhất định thường là do chính sách của chính quyền trung
ương hoặc địa phương quy định. Tại các nước đi theo con đường phát triển Xã hội
Chủ nghĩa, Nhà nước thường quốc hữu hóa các ngân hàng tư nhân hoặc cổ phần
lớn, hoặc tự xây dựng nên các ngân hàng. Những ngân hàng sỡ hữu nhà nước
thường được nhà nước hỗ trợ về tài chính và bảo lãnh phát hành giấy nợ, do vậy rất
ít khi bị phá sản. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, các ngân hàng này phải thực
hiện chính sách của nhà nước có thể gây bất lợi cho hoạt động kinh doanh.
'!
Ngân hàng này được hình thành dựa trên góp vốn của 2 hoặc nhiều bên,
thường là giữa ngân hàng trong nước với ngân hàng nước ngoài để tận dụng các ưu
thế của nhau.
2 !"34+5
6+5+7
Ngân hàng hoạt động theo hướng chuyên doanh: loại ngân hàng này chỉ tập
trung cung cấp một số dịch vụ ngân hàng ví dụ như chỉ cho vay đối với xây dựng cơ
bản, hoặc đối với nông nghiệp hoặc chỉ cho vay Tính chuyên môn hóa cao cho
Trần Anh Vũ Thị trường chứng khoán 49
8
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh
Huệ
phép ngân hàng có được đội ngũ cán bộ giàu kinh nghiệm, tinh thông nghiệp vụ.
Tuy nhiên, loại ngân hàng này thường gặp rủi ro lớn khi ngành hoặc lĩnh vực hoạt
động mà ngân hàng phục vụ sa sút. Ngân hàng đơn năng thường là ngân hàng nhỏ,
phạm vi hoạt động hẹp, trình độ cán bộ không đa dạng, hoặc là những ngân hàng sở
hữu của công ty.
Ngân hàng đa năng : là ngân hàng cung cấp mọi dịch vụ ngân hàng cho mọi
đối tượng. Đây là xu hướng hoạt động chủ yếu hiện nay của các ngân hàng thương
mại. Ngân hàng đa năng thường là ngân hàng lớn ( hoặc sở hữu công ty ). Tính đa
năng sẽ giúp ngân hàng tăng thu nhập và hạn chế rủi ro.
(6+5((,!(8

Hoạt động ngân hàng bán buôn : cung cấp các dịch vụ cho ngân hàng, các
công ty tài chính, cho nhà nước, cho các doanh nghiệp lớn. Những ngân hàng có
hoạt động bán buôn phát triển thường là các ngân hàng lớn hoạt động tại các trung
tâm tài chính quốc tế, cung cấp các khoản tín dụng lớn.
Hoạt động ngân hàng bán lẻ: cung cấp các dịch vụ trực tiếp cho doanh nghiệp,
hộ gia đình và các cá nhân, với các khoản tín dụng nhỏ. Dịch vụ bán lẻ thường kết
hợp đa tiện ích, được xây dựng trên cơ sở công nghệ hiện đại. Ví dụ như thẻ tín
dụng vừa là phương tiện để cung cấp các khoản vay, vừa là phương tiện để thanh
toán, truy vấn tin tài khoản cung cấp dịch vụ ngân hàng 24h/ ngày.
Xu hướng hiện nay là ngân hàng cung cấp kết hợp cả dịch vụ bán buôn và
dịch vụ bán lẻ.
 !"4*#
Ngân hàng sở hữu công ty và công ty sở hữu ngân hàng. Ngân hàng sở hữu
công ty là ngân hàng nắm giữ phần vốn chi phối của công ty, cho phép ngân hàng
được quyền tham gia quyết định các hoạt động cơ bản của công ty. Do luật nhiều
nước cấm hoặc hạn chế ngân hàng thương mại được quyền tham gia trực tiếp vào
một số loại hình kinh doanh như bất động sản, chứng khoán nên các ngân hàng
lớn đã thành lập hoặc mua lại một số công ty chứng khoán, quỹ đầu tư nhằm mở
rộng hoạt động trên một số lĩnh vực liên quan mật thiết với kinh doanh tiền tệ.
Ngân hàng thuộc sở hữu công ty : các tập đoàn kinh tế ( công nghiệp, thương
mại, dịch vụ ) thường tổ chức thành lập ngân hàng nhằm cung cấp dịch vụ tài chính
cho các đơn vị thành viên của tập đoàn và ngoài tập đoàn.
Ngân hàng đơn nhất và ngân hàng có chi nhánh. Ngân hàng đơn nhất được
hiểu là ngân hàng không có chi nhánh, tức là các dịch vụ ngân hàng chỉ do một hội
sở ngân hàng cung cấp. Ngân hàng có chi nhánh thường là ngân hàng có vốn tương
đối lớn, cung cấp dịch vụ ngân hàng thông qua nhiều đơn vị ngân hàng. Việc thành
lập chi nhánh thường bị kiểm soát chặt chẽ bởi ngân hàng Nhà nước thông qua các
quy định về mức vốn sở hữu, về chuyên môn của đội ngũ cán bộ, về sự cần thiết của
Trần Anh Vũ Thị trường chứng khoán 49
9

Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh
Huệ
dịch vụ ngân hàng trong vùng
EFJF-I$KL$%&(I=''
1.2.1. Một số vấn đề cơ bản về DNVVN
29':
Hiện nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, Các doanh nghiệp
vừa và nhỏ là loại hình doanh nghiệp ngày càng phổ biến ở hầu hết các nước trên
thế giới. Tuy nhiên, không có một tiêu chuẩn chung cho việc phân định ranh giới
quy mô doanh nghiệp giữa các nước đó. Ở nhiều nước trên thế giới, người ta dựa
vào hai tiêu thức chủ yếu là quy mô về vốn và lao động để phân loại doanh nghiệp
thành doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tuy nhiên, việc lượng hóa quy
mô vừa và nhỏ theo tiêu thức vốn và lao động chỉ mang tính tương đối, bởi hai tiêu
thức này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: trình độ phát triển của mỗi nước, tính chất
từng ngành nghề, tính chất vùng, lãnh thổ, tính chất lịch sử
Ở Việt Nam, theo điều 3 nghị định của chính phủ số 56/2009/ND-CP của chính
phủ ngày 30 tháng 06 năm 2009 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ có núi
;<=:.>?$%@+A+7@B@"C+D
)..EF+4.;$?F?F>"C,*G
H-*GH*$I+J+D(I!+H@K)
:.0L$H+5( C!7-*GH30M
Với tiêu chí xác định như trên thì tỷ trọng DNVVN hiện nay đã tăng lên đáng
kể với số lượng trên 120.000 doanh nghiệp, chiếm khoảng hơn 95% tổng số doanh
nghiệp trong cả nước. Đa phần các DNVVN hoạt động trong các lĩnh vực Thương
mại dịch vụ, công nghiệp chế biến, xây dựng và vận tải với mức đóng góp đáng kể
trong cơ cấu GDP hằng năm của đất nước.
223.!
Nói đến DNVVN là nói đến phân loại doanh nghiệp dựa trên độ lớn hay quy
mô các doanh nghiệp. Việc phân loại DNVVN phụ thuộc vào loại tiêu thức sử dụng
quy định, giới hạn các tiêu thức phân loại quy mô doanh nghiệp.Tuy nhiên, không

có tiêu thức thống nhất để phân loại DNVVN cho tất cả các nước vì điều kiện kinh
tế-xã hội mỗi nước khác nhau và ngay trong một nước, sự phân loại cũng khác nhau
tùy theo từng thời kỳ, từng ngành nghề, từng vùng lãnh thổ.
Ở Việt Nam thì tiêu chí phân loại của DNVVN được đưa vào ngay trong điều
3 nghị định chính phủ số 56/2009/NĐ-CP với nội dung như sau :
M(# =NO

= =
Trần Anh Vũ Thị trường chứng khoán 49
10
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh
Huệ
PQ
3R
K
2G
S
3R
K
2G
S
3R
K
Nông,lâm
nghiệp và
thủy sản
10 người
trở xuống
20 tỷ đồng
trở xuống

Từ 10
người đến
200 người
Từ trên 20
tỷ đồng đến
100 tỷ đồng
Từ trên 200
người đến
300 người
Công
nghiệp và
xây dựng
10 người
trở xuống
20 tỷ đồng
trở xuống
Từ 10
người đến
200 người
Từ trên 20
tỷ đồng đến
100 tỷ đồng
Từ trên 200
người đến
300 người
Thương
mại và dịch
vụ
10 người
trở xuống

10 tỷ đồng
trở xuống
Từ 10
người đến
50 người
Từ trên 10
tỷ đồng đến
50 tỷ đồng
Từ trên 50
người đến
100 người
2NO)='NN'
1.2.1.3.1. Tạo ra nhiều việc làm với chi phí thấp
Các cơ sở DNVVN rất thích hợp với các phương pháp tiết kiệm vốn và do đó
chúng được xem là phương pháp giải quyết tình trạng thất nghiệp hiệu quả nhất mà
các nước có được.
2T$Udo đặc tính phân bố rải rác của chúng. Các doanh nghiệp loại này
thường phân tán nên chúng có thể đảm bảo cơ hội việc làm cho nhiều vùng địa lý và
nhiều đối tượng lao động, đặc biệt là các vùng sâu, vùng xa, vùng chưa phát triển
kinh tế, với các đối tượng lao động có trình độ thấp. Nhờ vậy chúng vừa giúp giảm
tình trạng thất nghiệp và tình trạng dân cư đổ xô về thành phố để tìm việc làm
2TUdo tính linh hoạt, uyển chuyển dễ thích nghi với những thay đổi thị
trường của DNVVN. Trong trường hợp có biến động xảy ra, các doanh nghiệp lớn
sẽ đối phó khá chậm chạp, không phải vì cấp quản lý không có năng lực mà vì bộ
máy doanh nghiệp lớn khá là cồng kềnh. Họ sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong hoạt
động, sau đó sẽ phải sa thải bớt lao động để cắt giảm chi phí đến mức có thể tồn tại
và phát triển được trong điều kiện cung lớn hơn cầu khi nền kinh tế bị suy thoái.
Trong khi đó do khả năng linh hoạt, có thể thích ứng nhanh với thay đổi của thị
trường, các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn có thể tồn tại được mà không phải sử
dụng đến việc cắt giảm lao động.

1.2.1.3.2. Cung cấp cho xã hội một khối lượng hàng hóa đáng kể về cả chất
lượng, số lượng cũng như chủng loại
Các công ty, DNVVN thu hút một lượng lớn lao động và tài nguyên để sản
xuất ra hàng hóa. Để có thêm sức cạnh tranh đối với các công ty và các tập đoàn
lớn, hàng hóa của họ tập trung thiên về sự đa dạng về chất lượng và chủng loại, tạo
Trần Anh Vũ Thị trường chứng khoán 49
11
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh
Huệ
cho người tiêu dùng có nhiều cơ hội để được lựa chọn. Bên cạnh đó họ cũng tiến
vào nhiều thị trường nhỏ mà các công ty lớn bỏ qua vì doanh thu của nó quá ít.
1.2.1.3.3. Tăng nguồn tiết kiệm cho dân địa phương
Nhìn chung các doanh nghiệp vừa và nhỏ mở ra ở địa phương nào đều có chủ
doanh nghiệp và người lao động ở địa phương đó. Khi các doanh nghiệp loại đó
được mở ra thì người dân lao động ở địa phương có công ăn việc làm, có nguồn thu
nhập. Từ đó làm tăng nguồn tiết kiệm cho dân địa phương.
1.2.1.3.4. Làm cho nền kinh tế trở nên năng động và hiệu quả hơn
Các công ty lớn và các tập đoàn không có được tính năng động của các đơn vị
kinh tế nhỏ hơn chúng vì một lý do đơn giản là quy mô của chúng quá lớn, bộ máy
làm việc cồng kềnh. Các đơn vị kinh tế càng to lớn thì càng thiếu tính linh hoạt,
thiếu khả năng phản ứng nhanh, nói cách khác là sức ì càng lớn. Một nền kinh tế đặt
một tỷ lệ quá lớn nguồn lao động và tài nguyên vào tay các doanh nghiệp quy mô
lớn sẽ trở nên chậm chạp không bắt kịp và phản ứng kịp với các thay đổi trên thị
trường. Ngược lại, một nền kinh tế có một tỷ lệ thích hợp các DNVVN sẽ trở nên
"nhanh nhạy" hơn, phản ứng kịp thời hơn. Tính hiệu quả của nên kinh tế sẽ được
nâng cao.
1.2.1.3.5. Phát huy và tận dụng các nguồn lực của địa phương, góp phần tăng
trưởng kinh tế
Một đất nước bao giờ cũng có vùng biên giới, vùng sâu, vùng xa. Đó là các
khu vực địa lý hoặc các thị trường có quy mô nhỏ, kém phát triển hoặc xa tuyến

giao thông, kém tài nguyên Các công ty lớn thường bỏ qua các khu vực đó vì họ
cho rằng nguồn lợi thu được từ đó quá nhỏ. Nếu một nền kinh tế chỉ có các doanh
nghiệp lớn thì sẽ dẫn đến một sự phát triển không đồng đểu giữa các vùng, không
tận dụng được hết tài nguyên và giảm hiệu quả của hoạt động kinh tế cũng như gây
ra các thiệt hại tiềm tàng cho nền kinh tế. Tuy nhiên đối với các DNVVN thì chi phí
cơ hội của các vùng này là chấp nhận được, xứng đáng với nguồn lợi thu lại. Vì vậy
họ sẵn sàng đầu tư vào những nơi này và do đó làm cho nó phát triển lên.
1.2.1.3.6. Có khả năng thu hút các nguồn vốn, nguồn lực đầu tư trong dân cư
và sử dụng hiệu quả các nguồn lực của xã hội cho phát triển kinh tế
Việc tạo lập một DNVVN sẽ tạo điều kiện cho đông đảo dân cư có thể huy
động vốn từ bạn bè và người thân. Nên DNVVN được coi là phương tiện hiệu quả
trong việc huy động, sử dụng các khoản tiền nhàn rỗi trong dân và biến nó thành
nguồn vốn phát triển sản xuất kinh doanh quan trọng. Số lượng lớn các DNVVN
cùng với các hình thức huy động vốn đa dạng và linh hoạt, phương thức sử dụng
vốn có hiệu quả đã làm cho các DNVVN góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế
xã hội của đất nước.
1.2.1.3.7. Giữ gìn và phát huy các ngành nghề truyền thống, thể hiện bản sắc dân tộc
Trần Anh Vũ Thị trường chứng khoán 49
12
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh
Huệ
Trong quá trình hiện đại hóa, công nghiệp hóa các ngành nghề truyền thống
đang đứng trước những cạnh tranh khốc liệt giữa chế tạo sản phẩm thủ công với sản
xuất dây chuyền hàng loạt. Một ví dụ như: một người thợ đúng giày có thể đúng
được một đôi giày tương đối tụt nhưng lại mất khá nhiều thời gian và chi phí trong
khi đó các xí nghiệp sản xuất giày thì lại sản xuất được với số lượng lớn, thay đổi
kiểu dáng theo thị hiếu của khách hàng và rẻ hơn so với giày thủ công. Một người
thợ hay vài người thợ cũng không thể đương đầu với các doanh nghiệp lớn đó.
Muốn tồn tại được các thợ thủ công phải tập hợp lại với nhau thành lập một doanh
nghiệp, sau đó quảng cáo xa rộng để tìm kiếm các khách hàng có thị hiếu dựng

hàng thủ công. Trong xã hội luôn tồn tại nhu cầu đối với các sản phẩm truyền
thống, vấn đề là phải làm cho những khách hàng đó biết đến sản phẩm của mình.
Loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể nói là thích hợp cho sản xuất thủ
công. Các ngành nghề truyền thống có thể dựa vào đó để sản xuất, kinh doanh,
quảng cáo. Bên cạnh đó công nghệ tiên tiến cũng sẽ dần tiếp cận vào các ngành
nghề này và đó cũng là một điều cần phải xảy ra đối với thời đại công nghiệp.
2P'&KK)='NN'
1.2.1.4.1. Ưu thế của DNVVN
Doanh nghiệp vừa và nhỏ có những ưu thế rõ ràng, đó là khả năng thừa mãn
nhu cầu có hạn trong những thị trường chuyên môn hóa, khuynh hướng sử dụng
nhiều lao động với trình độ kỹ thuật lao động trung bình thấp, đặc biệt là rất linh
hoạt, có khả năng nhanh chóng thích nghi với những nhu cầu thay đổi của thị
trường. DNVVN có thể bước vào thị trường mới mà không thu hút sự chú ý của các
doanh nghiệp lớn nên sẽ ít bị gây khó dễ khi tham gia vào thị trường, sẵn sàng phục
vụ những nơi xa xôi nhất, những khoảng trống vừa và nhỏ trên thị trường vì các
doanh nghiệp lớn không đáp ứng vì mối quan tâm của họ đặt vào các thị trường có
các nhu cầu lớn. Doanh nghiệp vừa và nhỏ là loại hình sản xuất có địa điểm sản
xuất phân tán, tổ chức chỉ đạo bộ máy gọn nhẹ nên có nhiều điểm mạnh
=QE.F(5R+ST7+5F(U1
+*)DVF,VJC
Doanh nghiệp chỉ cần một số vốn hạn chế, mặt bằng không lớn, các điều kiện
sản xuất đơn giản là đã có thể bắt đầu hoạt động được rồi. Vòng quay sản phẩm
nhanh và quy mô sản xuất không lớn lắm nên có thể sử dụng vốn tự có, hoặc vay
mượn bạn bè, người thân dễ dàng. Bộ máy tổ chức gọn nhẹ, linh hoạt, dễ đưa ra các
quyết đinh khi chỉ có một ít người quản lý. Đồng thời, do tính chất linh hoạt cũng
như quy mô nhỏ của nó doanh nghiệp có thể dễ dàng phát hiện sự thay đổi nhu cầu
của thị trường, nhanh chóng chuyển đổi hướng kinh doanh, phát huy tính năng động
sáng tạo, tự chủ, nhạy bén trong lựa chọn thay đổi mặt hàng. Từ đó doanh nghiệp sẽ
Trần Anh Vũ Thị trường chứng khoán 49
13

Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh
Huệ
tạo ra sự sống động trong phát triển kinh tế.
(='NN'W.+551FX+54..Y
+F+Z@:@,Z1
DNVVN kinh doanh ở mọi ngành nghề,phát triển rộng rãi ở mọi vùng lãnh
thổ,kể cả nông thôn và miền núi,cung cấp hàng hóa dịch vụ cho dân cư địa phương
và các vùng phụ cận,góp phần tạo lập sự phát triển cân bằng giữa các vùng trong cả
nước.Các DNVVN rất có lợi thế trong việc tuyển dụng lao động địa phương và tận
dụng các nguồn tài nguyên,tư liệu sản xuất sẵn có,phát huy hết lợi thế vùng kinh tế
cho sản xuất kinh doanh.Sự đa dạng về loại hình hoạt động,phương thức quản ly
́,sản phẩm của các DNVVN giúp họ đứng vững được trong thị trường.
[\$+/&X1FXW#+5)
Đó là bởi vì các doanh nghiệp loại này có mức vốn đầu tư nhỏ, sử dụng ít lao
động nên có khả năng sẵn sàng mạo hiểm, đi đầu trong các lĩnh vực phát triển mới
có quy mô nhỏ. Trong trường hợp thất bại thì cũng không bị thiệt hại nặng nề như
các doanh nghiệp lớn nên cũng có cơ hội làm lại từ đầu được. Bên cạnh đó các
DNVVN cũng rất khó có thể cạnh tranh với các mặt hàng truyền thống của các
doanh nghiệp lớn nên họ phải tiên phong cũng như sẵn sàng đầu tư vào những lĩnh
vực mới, lĩnh vực có mức độ rủi ro mới có thể có chỗ đứng trong thương trường.
=Q:+*K(DF]1$IJ4@
/DV+*
DNVVN là doanh nghiệp có số vốn khá ít nên việc đầu tư vào tài sản cố định
cũng chiếm một tỷ trọng nhỏ, do đó doanh nghiệp có thể đổi mới trang thiết bị khi
điều kiện cho phép. Với lại DNVVN cũng sử dụng một sơ lượng lớn lao động thay
cho các dây chuyền sản xuât hiện đại. Khi doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong
sản xuât cũng như kinh doanh thì doanh nghiệp có thể cắt giảm số lượng lao động
để giảm bớt chi phí nhằm vượt qua thời kỳ khó khăn. Do việc dễ dàng trong việc
thay đổi trang thiết bị, chuyển hướng sản xuất khi nhu cầu thị trường thay đổi nên
DNVVN có thể linh hoạt hơn, dễ thích ứng với thị trường hơn, đem lại cho nó khả

năng "sinh tồn" trên thị trường.
"='NN',E+$^3>.33.)
Biết được tầm quan trọng của doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với sự phát triển
nền kinh tế của đất nước, Chính phủ đã ban hành nhiều nghị định nhằm hỗ trợ
DNVVN, trong đó có nghị định 56/2009/NĐ-CP. Trong nghị định này Chính phủ
đã tập trung vào trợ giúp tài chính, trợ giúp về mặt bằng sản xuất, trợ giúp về đổi
Trần Anh Vũ Thị trường chứng khoán 49
14
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh
Huệ
mới nâng cao công nghệ kỹ thuật, trợ giúp về việc xúc tiến thị trường, trợ giúp về
thông tin tư vấn, trợ giúp về phát triển nguồn nhân lực.
1.2.1.4.2. Hạn chế của DNVVN.
Các hạn chế của DNVVN xuất phát từ 2 nguyên nhân : nguyên nhân xuất
phát từ khách quan bên ngoài và nguyên nhân từ chính các lợi thế của DNVVN.
=@I73)='NN'OZK
Hạn chế đầu tiên và cũng là hạn chế lớn nhất của doanh nghiệp vừa và nhỏ
đó chính là hạn chế về vốn. Do DNVVN được thành lập dựa trên sơ vốn ban đầu
khá ít nên tình trạng thiếu vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh hay tiến hành đổi
mới công nghệ, từ đó ảnh hưởng đến năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và
tính cạnh tranh trên thị trường.
(_5`,!OZK@UF,:$IJ4OZE
Có nhiều hạn chế trong đào tạo công nhân và chủ doanh nghiệp, thiếu bí
quyết cũng như trình độ kỹ thuật còn yếu kém, không có tính sáng tạo trong công
việc. Điều đó dẫn đến là đội ngũ công nhân không đủ khả năng sản xuất để đáp ứng
với các yêu cầu về chất lượng, khó nâng cao được sản xuất và hiệu quả kinh doanh.
Một thực trạng còn rất nan giải đối với rất nhiều DNVVN hiện nay là thiết bị
công nghệ còn nhiều lạc hậu ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất cũng như chất
lượng sản phẩm. Do đó, sức cạnh tranh của các DNVVN sẽ giảm sút rất nhiều so
với các tập đoàn lớn, những tập đoàn lớn thường có dây chuyền công nghệ hiện đại,

sản phẩm chất lượng và bám sát vào thị hiếu của người tiêu dùng.
='NN'K,F +5CIB+ZV(DK
Trong thời đại ngày nay, công nghệ thông tin ngày càng phát triển, đây là một
lợi thế lớn để cho các doanh nghiệp quảng bá sản phấm của mình và tìm kiếm
khách hàng một cách hiệu quả nhất. Các doanh nghiệp lớn thường có bộ máy quản
lý hiện đại, kiến thức của nhà quản lý sâu rộng nên có thể điều hành tốt mọi hoạt
động, cũng như tìm kiếm thông tin, quảng cáo sản phẩm, duy trì và phát triển
thương hiệu công ty. Còn đối với DNVVN,khó có thể cạnh tranh thu hút những
người quản lý và lao động giỏi so với những doanh nghiệp lớn, do vậy những cán
bộ quản lý này thường là những người thân quen trong công ty, trình độ quản lý còn
nhiều yếu kém. Đây cũng là một khó khăn mà DNVVN phải đối mặt trong nền kinh
Trần Anh Vũ Thị trường chứng khoán 49
15
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh
Huệ
tế thị trường đầy biến động như ngày nay.
6+5)='NN'K3&a
Mặc dù DNVVN dễ dàng thành lập, bộ máy quản lý nhẹ, năng động và nhạy
bén đối với những thay đổi của thị trường nhưng do khả năng tài chính hạn chế nên
khi thị trường biến động, nếu không bắt kịp được thì lại rất dễ bị phá sản. Hơn nữa,
trong quá trình phát triển của mình, không ít các DNVVN còn nảy sinh một số tiêu
cực ảnh hưởng không tốt đến đời sống kinh tế xã hội như hiện tượng trốn thuế, hiện
tượng chạy theo lợi nhuận quá mức mà không chú ý đến hậu quả xã hội phải gánh
chịu, kể cả một các hành vi phạm pháp như làm dối, làm ẩu không đảm bảo chất
lượng, làm hàng giả, gây ô nhiễm môi trường xung quanh gây phản cảm cho người
dân sinh sống gần khu vực sản xuất
1.2.2. Cho vay đối với DNVVN
229:
Cho vay là một hoạt động chủ chốt và quan trọng đối với các ngân hàng
thương mại vì nó tạo ra lợi nhuận lớn nhất trong các hoạt động. Nhận thức được

điều đó, nhà nước đã ban hành các luật liên quan đến hoạt động cho vay của ngân
hàng thương mại đối với khách hàng.
“6+5)!+H1@5
C:Z$I-ZL$I0&(-'6b0(+F
+W(]$I(+$cd5V4
+D"?EF+GV(+W:I,+Z@:H
HA(@+K.”
222.#+H1='NN'
Việc tạo ra các phương thức cho vay khác nhau của ngân hàng là một việc hêt
sức cần thiết. Việc này sẽ làm cho doanh nghiệp có thể vay ngân hàng theo từng
phương thức khác nhau sao cho phù hợp với tình hình tài chính, môi trường sản
xuất của doanh nghiệp minh, từ đó tạo ra thuận lợi trong việc huy động vốn của
doanh nghiệp. Nó cũng làm cho mối quan hệ giữa doanh nghiệp và ngân hàng ngày
càng phát triển hơn, tạo ra những khách hàng bền vững cho khách hàng. Nếu đa
dạng hóa được các phương thức cho vay thì sẽ thu hút được rất nhiều khách hàng
tiềm năng cho ngân hàng. Hiện nay các ngân hàng thương mại thực hiện các hình
thức cho vay sau:
Trần Anh Vũ Thị trường chứng khoán 49
16
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh
Huệ
22a"W
Cho vay ngắn hạn theo món là hình thức cấp tín dụng của ngân hàng thương
mại mà theo đó làm một bộ hồ sơ vay một lần nhất định với mức tín dụng ngân
hàng và khách hàng thừa thuận.
Người vay phải làm hồ sơ vay vốn cho từng lần vay với lãi suất, thời hạn trả
tiền và số tiền nhất định. Ưu điểm của phương thức này là thủ tục rõ ràng, ngân
hàng chủ động trong việc cho vay. Phương thức này cũng khá phổ biến ở Việt Nam
do doanh nghiệp không cần vốn thường thường xuyên, trong khi ngân hàng với
nghiệp vụ chưa cao nên cho vay theo hình thức này ít rủi ro hơn. Nhược điểm của

phương thức này là thủ tục rườm ra, doanh nghiệp không linh động trong việc sử
dụng vốn do phải lập hồ sơ từng lần, chỉ thích hợp với những doanh nghiệp có nhu
cầu vốn không định kỳ
22P"#3d
Cho vay theoo hạn mức tín dụng là hình thức cấp tín dụng của ngân hàng
thương mại mà theo đó, khách hàng chỉ việc làm 1 bộ hồ sơ để vay trong một kỳ
nhất định với mức tín dụng mà khách hàng và ngân hàng đã thừa thuận. Người
vay chỉ lập hồ sơ 1 lần cho nhiều khoản vay, ngân hàng cấp cho khách hàng một
hạn mức, chỉ giới hạn dư nợ, không giới hạn doanh số, ví dụ như: Vay hạn mức 50
triệu một tháng, bạn có thể vay tối đa 50 triệu, nếu trả 30 triệu trong tháng có thể
vay tiếp 30 triệu nữa, có thể giải ngân làm nhiều lần theo nhu cầu vay vốn của mình
miễn sao số dư cuối tháng không vượt quá 50 triệu. Đây là hình thức vay tiên tiến,
có nhiều ưu điểm và đem lại lợi ích cho doanh nghiệp như chủ động vốn, thủ tục
đơn giản. Phương thức này chỉ áp dụng cho doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn
thường xuyên, mục đích sử dụng vốn rõ ràng và có tín nhiệm đối với ngân hàng ( có
khả năng tài chính, sản xuất kinh doanh ổn định, có lãi )
22e"+/
Ngân hàng cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển
sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống.Trường hợp
trong thời gian chưa vay được vốn ngân hàng, khách hàng đã dựng nguồn vốn huy
động tạm thời khác để chi phí theo dự án được duyệt thì ngân hàng có thể xem xét
cho vay bù đắp nguồn vốn đó trên cơ sở phẩi có chứng từ pháp lý chứng minh rõ
nguồn vốn đã sử dụng trước.Trường hợp hết thời gian giải ngân theo lịch đã thoả
thuận ban đầu mà khách hàng chưa sử dụng hết mức vốn vay ghi trong hợp đồng tín
dụng, nếu khách hàng đề nghị thì ngân hàng xem xét có thể thoả thuận và ký kết bổ
Trần Anh Vũ Thị trường chứng khoán 49
17
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh
Huệ
sung hợp đồng tín dụng tiếp tục phát tiền vay phù hợp với tiến độ thi công cụ thể.

22f"#4
NHTM cung cấp cho khách hàng một hạn mức thấu chi,qua đó khách hàng có
thể chi vượt số tiền trên tài khoản của khách hàng tại NHTM đó trong một khoảng
thời gian nhất định hình thức cho vay này tạo điều kiện thuận lợi cho DN trong quá
trình thanh toán,chủ động,kịp thời.
Thấu chi là hình thức cho vay ngắn hạn,linh hoạt,thủ tục đơn giản,phần lớn là
không có tài sản đảm bảo,có thể thế chấp cho cả DN lẫn cá nhân vài ngày,tháng trong
năm,dùng để trả lương,chi các khoản phải nộp,mua hàng Hình thức này nhìn chung
chỉ sử dụng đối với DN có độ tin cậy cao,thu nhập đều đặn và kỳ thu nhập ngắn .
22gK@4#>W
Chiết khấu chứng từ có giá là một nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn do các tổ chức
tín dụng nhận được các chứng từ có giá chưa đến hạn thanh toán của các doanh
nghiệp và trả cho một số tiền bằng số tiền ghi trên chứng từ có giá trị trừ đi phần lợi
tức ngân hàng được hưởng. Tỉ lệ phần trăm giữa phần lợi tức ngân hàng được
hưởng so với số tiền ghi trên chứng từ có giá gọi là lợi suất chiết khấu.
Chứng từ có giá được nhận chiết khấu bao gồm các loại thương phiếu có kỳ
hạn như lệnh phiếu, hối phiếu, trái phiếu ngắn hạn…do các đơn vị được phép phát
hành hợp pháp, còn thời hạn thanh toán và được bảo toàn mệnh giá.
Khi chiết khấu chứng từ có giá các doanh nghiệp phải theo các quy định sau đây:
1, Làm đơn xin chiết khấuvà nộp bảng kê có kèm theo các bản gốc của những
chứng từ xin chiết khấu.
2,Tổ cức tín dụng xem xét và tính toán trong ngày làm việc và chọn các chứng từ
có giá có thể chấp nhận chiết khấu và báo cho doanh nghiệp biết mức tiền chiết khấu.
3, Khi chiết khấu, tổ chức tín dụng khấu trừ ngay phần lợi tức được hưởng
theo chiết khấu từ 80-120% mức sinh lợi của chứng từ xin chiết khấu, số tiền còn
lại xin chuyển vào tài khoản tiền gửi của doanh nghiệp xin chiết khấu hoặc trả tiền
mặt hay ngân phiếu. Trường hợp chứng từ có giá không ghi rõ lợi suất chiết khấu
thì tổ chức tín dụng tính suất chiết khấu bằng lãi suất cho vay.
4,Thời hạn chiết khấu tối đa bằng thời hạn có hiệu lực của chứng từ chiết khấu
nhưng không quá 3 tháng.

5, Khi hết hạn chiết khấu, tổ chức tín dụng trích tài khoản tiền gửi của doanh
Trần Anh Vũ Thị trường chứng khoán 49
18
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh
Huệ
nghiệp để thu hồi số tiền đó nhận chiết khấu và hoàn trả chứng từ đó nhận chiết
khấu. Nếu doanh nghiệp không có khả năng trả nợ sẽ chuyển sang nợ quá hạn và xử
lý như đối với từng trường hợp cho vay nợ quá hạn.
22hb5$H.#@
Ngân hàng thực hiện một số phương thức cho vay khác phù hợp và nằm
trong luật ngân hàng nhà nước Việt Nam.
1.2.3. Đặc điểm cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Như ta đã biết, doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò quan trọng trong nền kinh
tế và cũng chiếm hơn 95% số lượng doanh nghiệp tại Việt Nam. DNVVN ngày
càng phát triển về quy mô lẫn chất lượng, để có thể mở rộng phát triển được thì
DNVVN cần phải huy động được mốt số lượng vốn nhất định và đây cũng là những
khách hàng tiềm năng trong tương lai của các Ngân hàng. Nhận thấy được điều này,
ngân hàng đã cố gắng phát triển các dịch vụ cho nhóm đối tượng khách hàng là
DNVVN. Các đặc điểm của hoạt động cho vay đối với DNVVN được hiểu như sau:
2=:..I:+/+)@K1!
Doanh nghiệp phải cam kết đảm bảo thực hiện đúng nguyên tắc của hoạt động
cho vay là hoàn trả vốn gốc và lãi với thời gian xác định và sử dụng vốn vay đúng
mục đích theo thỏa thuận đã kí kết trong hợp đồng tín dụng. Các khoản cho vay của
NH chủ yếu có nguồn gốc từ các khoản tiền gửi,tiền vay của các đối tượng khác
trong nền kinh tế nên phải có nghĩa vụ hoàn trả cả gốc lẫn lãi cho các khoản vay đó.
Các khoản vay phải đúng mục đích sử dụng đã thỏa thuận nhằm đảm bảo phương
châm hoạt động của NHTM và mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước. Có như thế,
ngân hàng mới đảm bảo an toàn cho quyết định cho vay của mình.
226/K:..IW$I+I(I
Trong hầu hết các trường hợp, ngân hàng thường yêu cầu các doanh nghiệp

phải có tài sản đảm bảo. Lý do cho điều này là các doanh nghiệp thường gặp rủi ro
trong kinh doanh, khả năng thanh toán nợ gốc và lãi bị ảnh hưởng hoặc không thể
trả được. Những biến cố không mong đợi này thường gây ảnh hưởng lớn cho ngân
hàng vì bị mất đi một phần vốn của mình. Chính vì vậy, trừ những doanh nghiệp có
uy tín cao thì hầu hết các doanh nghiệp còn lại phải có tài sản đảm bảo khi nhận tín
dụng của ngân hàng. Đặt điều kiện phải có tài sản đảm bảo để các ngân hàng có thể
Trần Anh Vũ Thị trường chứng khoán 49
19
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh
Huệ
thu hồi nguồn trả nợ thứ hai khi nguồn trả nợ thứ nhất không thể thực hiện được.
2)d4.3d='NN'OEFV
Vì DNVVN thường là những DN mới thành lập chưa có nhiều uy tín,chưa
được minh bạch về tài chính và cũng chưa có nhiều thông tin đối với ngân hàng nên
quá trình đánh giá,thẩm định thường khắt khe,chặt chẽ hơn nhăm giảm thiểu rủi ro
trong hoạt động cho vay đối với các DN lớn làm ăn lâu năm. Do vậy nên việc cấp
tín dụng cho DNVVN còn có nhiều thủ tục rườm rà, mât nhiều thời gian cho doanh
nghiệp cũng như làm mất đi cơ hội trong kinh doanh của DNVVN.
2P:3$A$4+H1='NN'
Có đến 41% kêu gọi hỗ trợ từ phía Chính phủ nhằm cắt giảm lãi suất vay vốn,
giảm bớt gánh nặng tài chính, vì hiện tại một số ngân hàng vẫn áp dụng mức lãi suất
đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên 14% một năm. Mức này vượt khả năng
chịu đựng của doanh nghiệp. Trong khi đó, 23% cho rằng họ cần hỗ trợ tài chính để
nâng cấp công nghệ và trang thiết bị, 19% mong muốn Chính phủ sẽ có chính sách
hỗ trợ thương hiệu Việt. Do vậy trên cơ sở lãi suất cơ bản từng thời kỳ,áp dụng cơ
chế lãi suất ưu đãi đối với các DNVVN,đảm bảo mức lãi suất cho vay đối với các
DNVVN thấp hơn từ 0,5% - 1%/năm so với mức cho vay thông thường.
1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay đối với DNVVN của
ngân hàng thương mại.
2P'!H)C

K@)!
Như ta đã biết : iK@5@K3
*]5+53*Cj]@G
+]++d+Z)!+I(I$..1$+*
),Vi
Chiến lược kinh doanh có vai trò quan trọng trong hoạt động của các ngân
hàng ngày nay. Nó xác định phương hướng hoạt động dài hạn cho ngân hàng, cung
cấp cho các nhà quản trị ngân hàng bộ khung nhằm hướng dẫn tư duy và hành động
của họ trong cả dài hạn và ngắn hạn ( tiền đề cho việc thực hiện các chức năng cơ
bản của mỗi cấp quản trị ), tạo ra những căn cứ vững chắc cho việc đề ra các chính
Trần Anh Vũ Thị trường chứng khoán 49
20
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh
Huệ
sách, các quyết định trong kinh doanh.
Để phù hợp với xu thế kinh tế hiện nay thì các NHTM đang ngày càng quan
tâm hơn đến các DNVVN và đang thúc đẩy việc thiết lập chiến lược kinh doanh
hướng vào đối tượng này. Chính điều này đã có ảnh hưởng rất nhiều đến họat động
cho vay nói chung, doanh số cho vay cũng như chất lượng cho vay đối với DNVVN
nói riêng trong mỗi một ngân hàng.
(3$3d!
Đất nước đang chuyển mình với những bước đi đúng hướng, những thành tựu
mới trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Xu hướng toàn cầu hoá trên
thế giới cùng với việc Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO đã mở ra
nhiều cơ hội mới cho mọi nhà, mọi doanh nghiệp, mọi lĩnh vực trong đó không thể
không nói tới ngân hàng - một lĩnh vực hết sức nhạy cảm ở Việt Nam. Chúng ta
đang bắt đầu thực hiện các cam kết mở cửa, khiến cho các doanh nghiệp đứng trước
sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt, cơ hội nhiều nhưng thách thức cũng không nhỏ.
Điều này tạo ra những ảnh hưởng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp, vì thế ảnh hưởng đến hoạt động của các ngân hàng thương mại

(NHTM) nói chung và hoạt động tín dụng ngân hàng nói riêng.
Thấy được tầm quan trọng của hoạt động tín dụng ngân hàng thương mại nên
các ngân hàng đã đưa ra những chính sách tín dụng khác nhau nhằm tìm kiếm
khách hàng, tăng lợi nhuận từ hoạt động chủ chốt này. Hoạt động tín dụng của mỗi
NHTM đều căn cứ, tuân thủ và xuất phát từ chính sách tín dụng của ngân hàng.
Chính sách tín dụng, có thể coi như một cương lĩnh tài trợ của một NHTM, bao
gồm các quan điểm, chủ trương, định hướng, quy định chỉ đạo hoạt động tín dụng
và đầu tư của NHTM. Chính sách tín dụng tạo sự thống nhất chung trong hoạt động
tín dụng, tạo đường hướng, chỉ dẫn cho cán bộ tín dụng. Để có thể đảm bảo mục
tiêu nâng cao hiệu quả, kiểm soát rủi ro, phát triển bền vững hoạt động tín dụng,
nhất thiết phải xây dựng một chính sách tín dụng nhất quán và hợp lý, thích ứng với
môi trường kinh doanh, phù hợp với đặc điểm của NHTM, phát huy được các thế
mạnh, khắc phục và hạn chế được các điểm yếu nhằm mục tiêu an toàn và sinh lợi.
Trong giai đoạn bắt đầu thực hiện các cam kết mở cửa thị trường ngân hàng, trước
sự cạnh tranh của các ngân hàng đối thủ nước ngoài, nguy cơ thị phần tín dụng của
NHTM bị co hẹp ngày một gần hơn thì việc nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng
đảm bảo an toàn, phát triển cần bắt đầu ngay từ việc cải cách chính sách tín dụng.
Hiện tại các NHTM đã bước đầu xây dựng chính sách tín dụng, nhưng vẫn chưa
Trần Anh Vũ Thị trường chứng khoán 49
21
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh
Huệ
phù hợp với thông lệ và chuẩn mực quốc tế, chưa thực sự phát huy hiệu quả quản lý
ở Trụ sở chính và thực thi thông suốt ở các đơn vị trực thuộc và ở mỗi cán bộ tín
dụng. Có thể nêu cụ thể một số việc như: xác định ngành hàng chiến lược, khách
hàng chiến lược vẫn còn lúng túng; tăng trưởng tín dụng chưa đi kèm với quản lý
rủi ro tín dụng; chính sách lãi suất cho vay còn cứng nhắc, mức lãi suất cho vay hầu
như giống nhau đối với với tất cả các khoản vay; một số NHTM đã thực hiện tách
các chức năng quan hệ khách hàng, thẩm định rủi ro, quyết định tín dụng, quản lý
nợ nhưng mới chỉ về mặt hình thức tổ chức, thiếu tính độc lập, khách quan. Một

số vấn đề liên quan tới hiệu quả tín dụng còn phải kể đến việc tổ chức hạch toán,
phân loại nợ, thống kê thông tin tín dụng chưa đảm bảo tính chính xác, minh bạch
để làm cơ sở cho việc quản lý tín dụng có hiệu quả; việc tổ chức hệ thống thông tin
phục vụ hoạt động tín dụng còn thiếu và yếu, chưa đồng bộ và độ tin cậy không cao,
chất lượng cán bộ tín dụng còn hạn chế, kỹ năng giao tiếp, chăm sóc khách hàng
làm chưa bài bản, chuyên nghiệp
2P2'!H@C
9I73):.>?
Với ưu thế tạo lập dể dàng do chỉ cần một lượng vốn ít, các Doanh nghiệp vừa
và nhỏ gặp phải hạn chế là năng lực tài chính thấp, từ đó dẫn đến một loạt bất lợi
cho DNVVN trong sản xuất kinh doanh cũng như việc huy động vốn.
Trước hết, vốn chủ sở hữu ít nên khả năng vay vốn vủa DNVVN rất hạn chế.
Các DNVVN thường thiếu tài sản thế chấp cho khoản tiền dự định vay. Tiếp đến,
do khả năng tài chính hạn chế, quy mô kinh doanh không lớn, cũng rất khó khăn và
ít có khả năng huy động được vốn trên thị trường. Chính vì thế, các DNVVN luôn ở
trong tình trạng thiếu vốn. Điều đó khiến cho khả năng thu lợi nhuận của DNVVN
bị giới hạn ngay cả khi có cơ hội kinh doanh và có yêu cầu mở rộng sản xuất. Với
tình trạng đó, khả năng tự tích lũy của các DNVVN cũng bị hạn chế.
(_+#@):.>?
Đây là một trong những yếu tố quyết định đến khả năng tiếp cận vốn ngân
hàng của DNVVN và đây chính là thiện chí trả nợ của chủ DNVVN đối với các
khoản nợ mà mình đã vay. Đạo đức kinh doanh của DNVVN thể hiện ở việc doanh
nghiệp trung thực, sử dụng vốn đúng mục đích, quản lý tốt, báo cáo thật, đảm bảo
hoạt động kinh doanh được lành mạnh, đảm bảo trả nợ được cho ngân hàng, từ đó
tạo ra được uy tín cho ngân hàng. Do vậy có thể tiếp cận nguồn vốn một cách dễ
dàng hơn.
Trần Anh Vũ Thị trường chứng khoán 49
22
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh
Huệ

Các DNVVN luôn muốn có thể tiếp cận được nhiều hơn tới nguồn vốn của
ngân hàng. Nếu các DNVVN báo cáo một cách đầy đủ, minh bạch, sử dụng vốn
đúng mục đích kinh doan, thực hiện vay và trả tốt thì có thể tiếp cận được nhiều hơn
đối với nguồn vốn đó. Tuy nhiên, nếu các DNVVN cố tình báo cáo sai lệch các
thông tin, sử dụng vốn sai mục đích thì sẽ không thể tiếp cận được với nguồn vốn
của ngân hàng. Các ngân hàng sẽ mất dần niềm tin đối với các DNVVN từ đó sẽ
thắt chặt các biện pháp đảm bảo tiền vay. Như vậy thì sẽ càng hạn chế khả năng tiếp
cận vốn của các DNVVN.
3$.]@K)+41
Chính sách phát triển kinh tế ảnh hưởng rất lớn và trực tiếp đến việc mở rộng
tín dụng của ngân hàng đối với DNVVN. Sự thay đổi các chính sách vĩ mô của nhà
nước sẽ gây nên những biến động lớn đối với hoạt động tín dụng của ngân hàng đối
với nền kinh tế nói chung và đối với DNVVN nói riêng.
Dựa trên cơ sở các đường lối, chủ trương, chính sách phát triển của Đảng và
Nhà nước thì các DNVVN sẽ xác định được các mục tiêu kinh doanh của mình, cân
đối tài chính để xác định nhu cầu vay vốn ngân hàng. Đồng thời, các ngân hàng
thương mại sẽ căn cứ vào các đường lối, chủ trương, chính sách này này nhằm xác
định cơ cấu tín dụng của mình một cách có hiệu quả nhất.
Hiện nay, các chủ trương chính sách vĩ mô của nhà nước thay đổi nhanh
chóng đã gây ảnh hưởng rât lớn đến khả năng trả nợ của các doanh nghiệp, trong đó
có các DNVVN. Sự thay đổi cơ cấu kinh tế, chính sách xuất nhập khẩu cũng tác
động một cách mạnh mẽ đến quy trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và
ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng cũng như chất lượng tín dụng của ngân
hàng đối với doanh nghiệp.
b,V..B
Như ta đã biết, hoạt động của các ngân hàng có vai trò và ảnh hưởng rất lớn
đến nền kinh tế của trong nước. Khi các ngân hàng bị ảnh hưởng thì hoạt động chu
chuyển vốn trong nền kinh tế cũng bị ảnh hưởng theo, mà các doanh nghiệp cần
thiết nhất vẫn là vấn đề về vốn, do đó ảnh hưởng dây chuyền đến các doanh nghiệp
và người dân. Thấy được sự quan trọng và tầm ảnh hưởng của các ngân hàng như

vậy nên nhà nước đã ban hành các chính sách cũng như các công cụ pháp luật để
quản lý ngân hàng. Đây chính là môi trường pháp lý cho hoạt động của các ngân
hàng. Môi trường pháp lý chính là một hệ thống văn bản pháp quy liên quan đến
toàn bộ các hoạt động của ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng.
Trần Anh Vũ Thị trường chứng khoán 49
23
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh
Huệ
Khi một hệ thống pháp luật đồng bộ thì sẽ tạo ra được một hành lang an toàn cho
hoạt động của các doanh nghiệp nói chung và hoạt động của các ngân hàng nói
riêng. Trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước, pháp luật có một
vai trò cực kỳ quan trọng, nó như là một hành lang pháp lý tạo môi trường kinh
doanh thuận lợi, bình đẳng, an toàn, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các chủ thể kinh
tế và có tính chất bắt buộc đối với tất cả các chủ thể kinh tế đó. Khi mà hệ thống
pháp luật gặp rắc rối, không đồng bộ thì sẽ gây ra những khó khăn cho ngân hàng
trong việc thực hiện các hợp đồng tín dụng và sẽ ảnh hưởng đến khả năng mở rộng
cho vay đối với các thành phần kinh tế nói chung và các DNVVN nói riêng.
"b,V3DJA5
Đây là một nhân tố hết sức quan trọng trong việc đưa ra quyết định đối với các
nhà đầu tư. Khi nền chính trị ổn định thì nó sẽ tạo ra được sự tin tưởng lớn cho các
nhà đầu tư đặc biệt là các đầu tư dài hạn. Khi đầu tư tăng lên, các doanh nghiệp sẽ
có cơ hội để mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh từ đó hoạt động tín dụng của
ngân hàng sẽ được thúc đẩy một cách mạnh mẽ.
Những biến động bất ổn về chính trị- xã hội không những sẽ làm hạn chế nhu
cầu đầu tư, hạn chế các khoản vay mới mà còn tác động tiêu cực đến những khoản
vay cũ thông qua những ảnh hưởng bất lợi của nó đối với hoạt động của các
DNVVN và của ngân hàng.
Bên cạnh đó, các quan niệm xã hội về sự ưa thích cá nhân, về các ngành nghề
lĩnh vực kinh doanh cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp, sự biến
động của môi trường có thể làm thay đổi các triển vọng kinh doanh của doanh

nghiệp. Chính vì thế nó sẽ ảnh hưởng đến họat động tín dụng của doanh nghiệp đó.
Thái độ của các cơ quan chính quyền cũng có ảnh hưởng rất lớn đến họat
động của các DNVVN. Nó được biểu hiện qua cách xử sự cũng như tinh thần phục
vụ và hỗ trợ cho các DNVVN. Thái độ của các phương tiện thông tin đại chúng
cũng đóng góp tích cực vào sự chuyển biến thái độ tâm lý xã hội đối với các
DNVVN.
Như vậy, khả năng tiếp cận nguồn vốn ngân hàng của các DNVVN chịu ảnh
hưởng của rất nhiều yếu tố, không chỉ từ phía ngân hàng, từ phía DNVVN mà còn các
yếu tố như môi trường kinh tế, môi trường pháp lý, chính trị, xã hội…chính vì vậy, để
có thể tăng khả năng tiếp cận vốn ngân hàng của các DNVVN thì cần phải có sự phối
hợp một cách nhuần nhuyễn và chặt chẽ giữa tất cả các phía trong tổng thể này.
Trần Anh Vũ Thị trường chứng khoán 49
24
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Minh
Huệ
1.2.5. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả cho vay đối với DNVVN của ngân
hàng thương mại
2e=$H+H1='NN'
Doanh số cho vay trong kỳ là tổng số tiền mà ngân hàng đã cho vay trong kỳ
đó. Nó là chỉ tiêu phản ánh chính xác giá trị tuyệt đối về hoạt động cho vay đối với
các DNVVN của ngân hàng trong một thời kỳ nhất định.
Nếu chỉ tiêu này cao chứng tỏ ngân hàng họat động tốt và ngân hàng đang mở
rộng hoạt động cho vay của mình còn ngược lại, nếu chỉ tiêu này thấp thì chứng tỏ
ngân hàng đang hạn chế hoạt động cho vay. Điều đó có thể bắt nguồn từ nhiều
nguyên nhân khác nhau như khả năng họat động của ngân hàng hay là sự thay đổi
trong chiến lược hoạt động của ngân hàng…
Trong một số trường hợp thì chỉ tiêu này cao cũng không hẳn đã tốt, nó còn
phụ thuộc vào cơ cấu dư nợ cho vay nằm trong nhóm nợ nào. Nếu dư nợ cho vay
nằm trong nhóm nợ không thể thu hồi được vốn thì chỉ tiêu này cao cũng càng làm
ngân hàng mất đi nguồn vốn.

2e2=+H1='NN'
Là số tiền mà ngân hàng hiện đang còn cho vay vào thời điểm cuối kỳ. Nó
phản ánh quy mô cấp tín dụng của ngân hàng cho nền kinh tế nói chung và cho
DNVVN nói riêng.
Thông qua đây, ta có thể biết được tăng trưởng dư nợ cho vay của DNVVN
qua các năm. Mặt khác ta còn tính được tỷ trọng dư nợ cho vay đối với DNVVN.
Tỷ trọng dư nợ cho vay đối với
DNVVN
=
dư nợ cho vay DNVVN
tổng dư nợ cho vay của ngân hàng
Nó sẽ phản ánh quy mô tín dụng đối với DNVVN trong hoạt động tín dụng
của ngân hàng. So sánh chỉ tiêu này qua các năm cho ta thấy sự thay đổi cơ cấu tín
dụng đối với DNVVN trong tổng dư nợ của ngân hàng. Mặt khác, tỷ lệ này sẽ được
khống chế tại một mức nào đó có thể chấp nhận được theo từng giai đoạn của từng
hệ thống ngân hàng.
2ek:J4C
'C
Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ số dư nợ gốc và/hoặc lãi
đã quá hạn cho phép.
Trần Anh Vũ Thị trường chứng khoán 49
25

×