Tải bản đầy đủ (.doc) (24 trang)

khai thác hình ảnh trực quan vận dụng vào giảng dạy tiết 3 - bài 4 quyền bình đẳng của công dân trong một số lĩnh vực của đời sống xã hội - gdcd 12 thpt

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.24 MB, 24 trang )

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài.
Giáo dục công dân là một môn khoa học xã hội góp phần đào tạo học sinh
thành những người lao động mới, hình thành những phẩm chất tốt đẹp, tích cực
của người công dân tương lai; có thế giới quan khoa học, nhân sinh quan tiến bộ,
có đạo đức trong sáng, để thực hiện đường lối và nhiệm vụ cách mạng đúng đắn
của Đảng và Nhà nước, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, có ý thức
trách nhiệm đối với Tổ quốc, với nhân dân, với gia đình và với bản thân mình.
Tuy nhiên, bộ môn Giáo dục công dân ở trường THPT hiện nay chưa
được phụ huynh, học sinh và một bộ phận giáo viên nhận thức một cách đúng
đắn. Cho đến nay, quan niệm môn GDCD là môn học bổ trợ, môn học phụ rất
khô khan, trừu tượng, khó học, vẫn còn tồn tại khá nặng nề. Tình trạng học sinh
làm việc riêng, đưa môn khác ra học trong giờ GDCD vẫn còn hoặc học sinh có
học bài nhưng học theo kiểu ngồi “đọc vẹt”, học thuộc lòng còn rất nhiều, vì thế
mà sau khi học xong các em không nhớ được nội dung, mà nếu có nhớ thì cũng
chỉ nhớ theo kiểu thuộc lòng, chứ không hiểu nội dung của bài học. Đặc biệt, đối
với học sinh 12 - các em chỉ biết đề cao và chú tâm những môn học theo khối,
những môn liên quan đến thi tốt nghiệp mà coi thường môn GDCD. Chính vì
vậy, việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, rèn
luyện thói quen và khả năng tự học, tạo hứng thú học tập của học sinh đối với bộ
môn GDCD, giúp học sinh có thể hiểu, nắm vững được kiến thức là vấn đề quan
trọng đang được các cấp quản lí giáo dục và giáo viên hết sức quan tâm.
Có nhiều phương pháp dạy học phát huy được tính tích cực của học sinh,
trong đó việc khai thác hình ảnh trực quan vào giảng dạy môn GDCD là phương
pháp thực sự có hiệu quả. Thông qua hình ảnh trực quan, học sinh không chỉ
hiểu kiến thức lý thuyết trong từng đơn vị kiến thức bài học mà còn nắm được
qui luật phát triển của xã hội, hiểu rõ hơn về những hoạt động thực tiễn cuộc
sống đã, đang và sẽ diễn ra; từ hình ảnh, học sinh sẽ có kĩ năng tư duy, quan sát,
trí tưởng tượng, kĩ năng phân tích, mô tả kiến thức thực tế từ bên ngoài như:
Kdusinxky đã từng nói “Hình ảnh được lưu giữ đặc biệt và vững chắc trong trí
nhớ là những hình ảnh mà chúng ta thu thập được từ bên ngoài” vì trong hình


ảnh, nó sẽ phản ánh đầy đủ, sinh động, thực tế cuộc sống của nhân dân với thành
quả lao động mà người dân đã và đang tạo ra. Từ đó, góp phần tạo cho bài giảng
GDCD trở nên sinh động và hấp dẫn hơn.
Trong chương trình GDCD lớp 12 hiện nay, tôi thấy bài “Quyền bình
đẳng của công dân trong một số lĩnh vực của đời sống xã hội” (tiết 3) là một
bài học hay thiết thực, cung cấp cho học sinh có vốn hiểu biết ban đầu về pháp
luật. Trong đó, tiết 3 - Quyền bình đẳng trong kinh doanh là một tiết học có ý
nghĩa quan trọng để các em hiểu được quyền và nghĩa vụ trong kinh doanh của
bản thân mình, từ đó các em biết tôn trọng, có ý thức bảo vệ và thực hiện đúng
pháp luật trong kinh doanh… Với dung lượng kiến thức như thế, nếu giáo viên
chỉ dạy đơn thuần bằng phương pháp thuyết trình, đàm thoại, vấn đáp thì tiết
1
học sẽ rất nhàm chán, chỉ dừng lại ở việc nhắc lại những kiến thức đã học mà
thôi.
Qua thực tiễn giảng dạy trong nhiều năm của bản thân, tôi đã tiến hành “
khai thác hình ảnh trực quan” sử dụng vào nhiều bài giảng rất có hiệu quả.
Đặc biệt, tôi tiến hành sử dụng máy tính kết nối máy chiếu để trình chiếu hình
ảnh cho học sinh quan sát, sau đó gợi mở một số câu hỏi để học sinh tìm hiểu
kiến thức và đã đem lại hiệu quả cao, gây hứng thú học tập cho học sinh, học
sinh chủ động tìm hiểu kiến thức qua hình ảnh, từ đó góp phần tạo cho giờ học
GDCD sinh động và hấp dẫn hơn. Bởi vậy, tôi chọn đề tài “Khai thác hình ảnh
trực quan vận dụng vào giảng dạy tiết 3 - Bài 4: Quyền bình đẳng của công
dân trong một số lĩnh vực của đời sống xã hội - GDCD 12 THPT ” làm đề tài
sáng kiến kinh nghiệm của mình với mong muốn sẽ góp một phần nhỏ vào việc
đổi mới phương pháp giảng dạy bộ môn GDCD hiện nay.
2. Mục đích nghiên cứu.
Với đề tài này, tôi trình chiếu hình ảnh để học sinh chủ động khai thác
kiến thức. Qua đó, nhằm khắc sâu kiến thức pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh
cho học sinh. Thông qua hình ảnh, ví dụ và bài tập tình huống, học sinh hiểu
khái niệm, nội dung và xác định được trách nhiệm của bản thân mình đối với

việc thực hiện quyền bình đẳng trong kinh doanh. Từ đó góp phần giáo dục và
định hướng cho việc lựa chọn nghề nghiệp tương lai của học sinh sau này. Quá
trình thực hiện đề tài, tôi mong muốn giờ học GDCD thực sự là một giờ học hấp
dẫn, có ý nghĩa giáo dục và thực sự tạo được hứng thú học tập cho học sinh.
3. Phạm vi nghiên cứu.
Trong phạm vi của đề tài, tôi chỉ tập trung đưa ra những hình ảnh, ví dụ
và bài tập tình huống về hoạt động kinh doanh có liên quan đến phần khái niệm,
nội dung để vận dụng vào dạy Bài 4 - tiết 3: Quyền bình đẳng trong kinh
doanh, từ đó yêu cầu học sinh xác định trách nhiệm của bản thân để góp phần
thực hiện tốt quyền bình đẳng trong kinh doanh.
4. Thời gian nghiên cứu.
Tôi đã tiến hành sử dụng hình ảnh trực quan vào giảng dạy bộ môn trong
nhiều năm nay, với đề tài này, tôi đã tập trung thực hiện trong thời gian học kỳ
II, năm học 2011 -2012 và tiếp tục nghiên cứu, bổ sung thực hiện và hoàn thành
trong năm học 2012 - 2013 ở trường THPT Bá Thước - Thanh hóa
5. Phương pháp nghiên cứu.
Trên cơ sở phương pháp luận triết học Mác - Lênin, đề tài được thực hiện
dựa trên phương pháp nghiên cứu chính là phương pháp tư duy - lôgic, phương
pháp phân tích - tổng hợp. Ngoài ra đề tài còn được thực hiện dựa trên các
phương pháp: Qua thực tiễn giảng dạy và học tập trên lớp (quan sát, điều tra
thực tế), qua các kênh thông tin: Mạng internet, sách, báo, các tài liệu chuyên
ngành có liên quan, qua kinh nghiệm của các đồng nghiệp, đặc biệt là các đồng
nghiệp trực tiếp giảng dạy môn Giáo dục công dân.
6. Khách thể và đối tượng nghiên cứu:
- Khách thể: Chương trình SGK GDCD lớp 12 (Đã sửa đổi).
2
- Đối tượng nghiên cứu: Học sinh lớp 12 trường THPT Bá Thước.
PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
CHƯƠNG 1: PHƯƠNG PHÁP KHAI THÁC HÌNH ẢNH TRỰC QUAN TRONG
VIỆC GIẢNG DẠY BỘ MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN

1.1.Cơ sở lí luận của khai thác hình ảnh trực quan trong việc giảng
dạy môn giáo dục công dân:
Để khai thác hình ảnh trực quan phù hợp với nội dung của mỗi bài dạy,
giáo viên cần phải xác định kiến thức cơ bản và trọng tâm của bài, sau đó vận
dụng khai thác hình ảnh vào bài dạy linh hoạt, hợp lý. Như vậy, để khai thác
hình ảnh trực quan, đòi hỏi giáo viên phải có sự chuẩn bị chu đáo về mặt kiến
thức, thời gian, lựa chọn, phân loại tranh ảnh phù hợp với nội dung, hình thức tổ
chức dạy học của từng bài, từng tiết, từng phần. Đặc biệt, giáo viên phải biết sử
dụng máy tính, máy chiếu thành thạo để soạn thảo và trình chiếu hình ảnh là yêu
cầu hết sức quan trọng, quyết định sự thành công của mỗi tiết học.
1.2. Yêu cầu của tranh ảnh trực quan.
Mỗi hình ảnh trực quan phải có mục đích rõ ràng, phải có nội dung muốn
chuyển tải, phải đảm bảo kích cỡ, độ nét tương ứng.
Để đưa lại hiệu quả cao, khi khai thác hình ảnh, giáo viên cần kết hợp với
miêu tả, phân tích, đánh giá nôi dung trên hình ảnh.
Sau khi quan sát kĩ hình ảnh, học sinh sẽ có kĩ năng tư duy khái quát,
phân tích, tổng hợp để đưa ra kết luận của mình về nội dung mà hình ảnh muốn
chuyển tải.
1.3. Nguồn tranh ảnh.
Tiết học “Quyền bình đẳng trong kinh doanh” là tiết học có nguồn tư liệu
rất phong phú nên giáo viên phải biết cách lựa chọn hình ảnh chuẩn xác, gần gũi
với học sinh và sát với nội dung kiến thức chuyển tải.Sử dụng các loại tranh tải
từ mạng Intenet,Các loại tranh sưu tầm từ các tập san, báo chí hay giáo viên
dùng máy chụp hình ghi lại những hình ảnh cần thiết, sau đó phóng theo kích cỡ
qui định áp dụng vào bài dạy.
1.4. Sử dụng máy vi tính, máy chiếu.
Để khai thác hình ảnh có hiệu quả, yêu cầu giáo viên phải có kĩ năng sử
dụng máy tính kết nối máy chiếu. Trong quá trình sắp xếp hình ảnh để trình
chiếu, có nhiều cách sắp xếp hình ảnh:
- Sắp xếp hình ảnh cùng một nôi dung trên nhiều Slides khác nhau

- Sắp xếp hình ảnh cùng một nội dung kiến thức trên cùng một Slides
Sau đó, giáo viên cần chọn hiệu ứng phù hợp (nên chọn hiệu ứng Fade)
- Tránh chiếu nhiều hình ảnh chỉ chuyển tải một nội dung kiến thức trên
nhiều Slides và nhiều loại hiệu ứng khác nhau, như thế sẽ không khắc sâu trí
nhớ cho học sinh, vả lại khiến người quan sát sẽ có cảm nhận giờ học “rối”,
“lướt nhanh” quá nhiều hình ảnh.
CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY VÀ HỌC MÔN GDCD NGÀY NAY
3
Theo quan niệm của nhiều giáo viên cũng như học sinh cho rằng, giảng
dạy và học tập môn GDCD là một môn học khô khan, trừu tượng và khó tiếp thu
vì: kiến thức của môn học là kiến thức về triết học, về đường lối chính sách của
Đảng và pháp luật của Nhà nước Chính vì thề mà nhiều giáo viên và học sinh
thường chán nản. Trên thực tế, bên cạnh những giáo viên tích cực đổi mới
phương pháp dạy học thì vẫn có nhiều giáo viên không muốn đổi mới hoặc cũng
dạy theo hướng đổi mới nhưng còn mang nặng tính hình thức, đối phó Thậm
chí nhiều giáo viên cho rằng: Việc phát huy tính tích cực của học sinh ở môn
GDCD còn hạn chế là do vị trí của bộ môn ở trường THPT nói chung, ở trường
THPT Bá Thước nói riêng bị xem nhẹ, không phải là môn thi tốt nghiệp, do vậy
học sinh không chịu học…
Xuất phát từ thực tiễn dạy học như vậy và từ chính kinh nghiệm giảng dạy
ở trường THPT Bá Thước của bản thân, tôi nhận thấy rằng với sự phát triển như
vũ bão của KHCN hiện nay cần đào tạo con người một cách toàn diện. Muốn
vậy,các em phải hứng thú say mê trong học tập. Để làm được điều đó, bản thân
giáo viên phải kích thích năng lực tư duy sáng tạo của học sinh qua các bài học
bằng các phương pháp mới. Chính vì vậy, tôi đã chọn phương pháp giảng dạy
này làm đề tài nghiên cứu của mình.
CHƯƠNG 3: KHAI THÁC HÌNH ẢNH TRỰC QUAN VẬN DỤNG VÀO GIẢNG
DẠY BÀI 4: QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA CÔNG DÂN TRONG MỘT SỐ LĨNH VỰC
CỦA ĐỜI SỖNG XÃ HỘI – TIẾT 3: QUYỀN BÌNH ĐẲNG TRONG KINH DOANH
3.1. Mục tiêu bài học.

Học xong tiết học này học sinh cần nắm được những những yêu cầu sau:
3.1.1. Về kiến thức:
- Hiểu khái niệm kinh doanh, bình đẳng trong kinh doanh,
- Nội dung quyền bình đẳng trong kinh doanh.
- Từ đó thấy được vai trò của bình đẳng trong kinh doanh với việc xây dựng
nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
- Trách nhiệm của công dân trong việc đảm bảo và thực hiện quyền bình đẳng
trong kinh doanh.
3.1.2. Về kỹ năng:
- Biết thực hiện và nhận xét việc thực hiện quyền bình đẳng trong kinh doanh.
3.1.3. Về thái độ:
- Có ý thức tôn trọng quyền bình đẳng của công dân trong kinh doanh.
- Phê phán những hành vi vi phạm quyền bình đẳng trong kinh doanh.
3.2. Tài liệu, phương tiện và các kĩ năng sống.
3.2.1. Tài liệu.
- Sách giáo khoa GDCD lớp 12, sách chuẩn kiến thức kỹ năng GDCD 12
- Sách bài tập tình huống GDCD 12
- Hiến pháp 1992, Luật doanh nghiệp, Luật sỡ hữu trí tuệ
3.2.2. Phương tiện.
- Máy tính kết nối máy chiếu
4
- Phiếu học tập in sẵn bài tập tình huống để phát cho học sinh
- Tranh ảnh có liên quan đến từng đơn vị kiến thức.
3.2.3. Các kĩ năng sống.
- Giáo dục kĩ năng tìm kiếm và xử lí thông tin về sự bình đẳng quyền và nghĩa
vụ trong kinh doanh
- Giáo dục kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng ra quyết định trong xử lí tình
huống
- Giáo dục kĩ năng hợp tác tìm hiểu nội dung quyền bình đẳng trong kinh
doanh

- Giáo dục kĩ năng tư duy phê phán những trường hợp vi phạm quyền bình
đẳng trong kinh doanh.
3.3. Tiến trình lên lớp.
3.3.1. Ổn định tổ chức:
Kiểm tra sĩ số lớp.
3.3.2. Kiểm tra bài cũ:
Thế nào là bình đẳng trong lao động? Là học sinh em cần phải làm gì để
góp phần thực hiện tốt quyền bình đẳng của công dân trong lao động?
3.3.3.Giảng bài mới:
BÀI 4: QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA CÔNG DÂN TRONG MỘT SỐ LĨNH VỰC CỦA
ĐỜI SỐNG XÃ HỘI (TIẾT 3) - PPCT: TIẾT 11 GDCD 12 THPT.
Hoạt động của giáo viên và học sinh Nội dung chính cần đạt
Hoạt động1: Tìm hiểu khái niệm kinh
doanh, khái niệm bình đẳng trong kinh
doanh.
(Hoạt động này nhằm giáo dục học sinh kĩ
năng tìm kiếm và xử lí thông tin, kĩ năng
giải quyết vấn đề/ra quyết định trong xử lí
tình huống để tìm hiểu quyền bình đẳng
trong kinh doanh)
- Giáo viên: trình chiếu một số hình ảnh về
hoạt động kinh doanh và phân tích nội dung
hình ảnh để học sinh thấy được trong nền
kinh tế thị trường, các hình thức tổ chức
kinh doanh đa dạng, phong phú, tham gia
tích cực vào cạnh tranh (mọi người được tự
do kinh doanh theo pháp luật); “mọi công
dân đều bình đẳng trước pháp luật”.
3. Bình đẳng trong kinh doanh.
a. Thế nào là bình đẳng trong

kinh doanh?
5
Sau đó GV hỏi:
1. Những hình ảnh trên miêu tả hoạt
động gì? Em hãy cho biết mục đích của
hoạt động đó?
HS trả lời: Những hình ảnh trên miêu tả
hoạt động kinh doanh và mục đích của
hoạt động đó là nhằm đem lại lợi nhuận.
GV: Phân tích hình ảnh để HS thấy được
đó là một quá trình thực hiện liên tục từ
sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm trên thị
trường nhằm đưa lại lợi nhuận => kinh
doanh.
2. Vậy em hiểu kinh doanh là gì?
HS trả lời.
GV nhận xét cho HS lĩnh hội khái niệm:
3. Động lực nào để thúc đẩy quá trình
kinh doanh phát triển?
HS trả lời: Để thúc đẩy kinh doanh phát
triển, chúng ta phải tạo ra một môi trường
kinh doanh tự do, bình đẳng trên cơ sở của
pháp luật.
Sau khi học sinh trả lời động lực để thúc
đẩy kinh doanh phát triển thì GV chuyển
- Kinh doanh là việc thực hiên liên
tục một, một số hoặc tất cả các
công đoạn của quá trình đầu tư từ
sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm
hoặc cung ứng dịch vụ trên thị

trường nhằm mục đích sinh lời.
6
Buôn Bán mũ bảo hiểm
SX dệt may
Buôn bán hoa quả
Buôn bán bánh kẹo
hoạt động bằng việc tổ chức cho HS thảo
luận bài tập tình huống qua phiếu học tập
sau:
Bài tập tình huống: Tốt nghiệp THPT, đã
18 tuổi, Hoàng quyết định bắt đầu sự
nghiệp bằng nghề kinh doanh. Sau khi
tham dự khóa đào tạo ngắn hạn về kinh
doanh, Hoàng thưa chuyện với bố mẹ để
xin cấp vốn và đã được bố mẹ đồng ý.
Công việc đầu tiên mà Hoàng phải làm là
nộp bộ hồ sơ đăng ký kinh doanh lên Ủy
ban nhân dân huyện. Thế nhưng, anh cán
bộ tiếp nhận hồ sơ thì lại giải thích rằng,
Hoàng không thể được cấp Giấy chứng
nhận Đăng ký kinh doanh vì mới tốt
nghiệp THPT, vừa mới qua tuổi vị thành
niên. Hoàng suy nghĩ: Pháp luật đâu có
quy định người đã thành niên nhưng vừa
mới tốt nghiêp THPT không được đăng ký
kinh doanh?
Câu hỏi bài tập:
1. Lời giải thích của anh cán bộ tiếp
nhận hồ sơ có đúng pháp luật không?
2. Hoàng có quyền bình đẳng như mọi

người đã thành niên khác trong việc
được cấp Giấy chứng nhận đăng kí kinh
doanh không? Vì sao?
HS: Thảo luận câu hỏi
GV: kết luận: Lời giải thích của anh cán
bộ tiếp nhận hồ sơ là không đúng pháp
luật. Hoàng có quyền bình đẳng như mọi
người đã thành niên khác trong việc được
cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh,
vì vừa mới tốt nghiệp nhưng Hoàng đã
tham dự khóa đào tạo ngắn hạn(có trình
độ), được bố mẹ đồng ý và cấp vốn và đã
đủ tuổi thành niên.
3. Từ bài tập tình huống trên em hiểu
bình đẳng trong kinh doanh là gì?
HS: Trả lời khái niệm.
GV Cho HS lĩnh hội khái niệm:
- Bình đẳng trong kinh doanh có
nghĩa là mọi cá nhân, tổ chức khi
tham gia vào quan hệ kinh tế, từ
việc lựa chọn ngành nghề, địa
7
GV: trình chiếu hình ảnh
điểm, hình thức tổ chức kinh doanh
đến việc thực hiện quyền và nghĩa
vụ trong quá trình sản xuất kinh
doanh đều bình đẳng theo quy định
của pháp luật.
GV: Phân tích những hình ảnh trên cho HS
thấy mọi cá nhân, tổ chức đều có quyền

bình đẳng trong việc lựa chọn ngành, nghề,
địa điểm, hình thức kinh doanh trong
khuôn khổ của pháp luật (nói đến quyền
bình đẳng của công dân trước pháp luật về
kinh doanh).
- GV trình chiếu hình ảnh: Hiến pháp
1992, luật doanh nghiệp để khẳng định
cho học sinh tính pháp lí cao của quyền
bình đẳng trong kinh doanh trong xã hội
XHCN.
=> Quyền này đã được ghi nhận bằng
các văn bản pháp luật (Điều 57 - Hiến
pháp 1992; Điều 7 - Luật doanh nghiệp)
và được đảm bảo thực hiện bằng sức
mạnh của Nhà nước.
GV hỏi:
1.Theo em, quyền bình đẳng trong kinh
8
SXKD hàng gia dụng
SXKD máy tính
SXKD quần áo
SXKD dầu ăn
doanh được thực hiện theo nguyên tắc
nào?
HS trả lời: Nguyên tắc tự do, bình đẳng,
cùng có lợi và cùng chịu trách nhiệm về
hoạt động của mình trước pháp luật
2. Thực hiện tốt các nguyên tắc trên có
ý nghĩa gì?
HS: Tạo cơ sở pháp lí cho các chủ thể

kinh tế khi tham gia hoạt động kinh
doanh và thúc đẩy hoạt động kinh doanh
phát triển.
GV phân tích: Chúng ta biết rằng, nền
kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN cho nên các
cá nhân, tổ chức khi tham gia vào các
quan hệ kinh tế phải bình đẳng và đảm
bảo đúng định hướng XHCN.
Vậy quyền bình đẳng trong kinh doanh
bao gồm những nội dung cơ bản nào?
Hoạt động 2: Tìm hiểu nội dung quyền
bình đẳng trong kinh doanh.
(Hoạt động này nhằm giáo dục học sinh
kĩ năng hợp tác, kĩ năng phân tích, kĩ
năng tự nhận thức trên hình ảnh để xác
định từng nội dung quyền bình đẳng
trong kinh doanh)
GV đưa ví dụ sau lên bảng phụ:
Nam 18 tuổi, có vốn và có sở thích là
kinh doanh Dược phẩm nên quyết định
mở quầy Dược để bán.
Câu hỏi:
1. Theo em An có được phép thực hiện
ý định đó không ? Vì sao?
HS trả lời: An sẽ không được thực hiện
ý định đó, vì đủ tuổi, có sở thích nhưng
chưa đủ những điều kiện kinh doanh
khác theo quy định của pháp luật.
2. Vậy, điều kiện để An được tiến hành

kinh doanh Dược phẩm là gì?
HS: Ngoài đủ tuổi, An còn phải đủ điều
kiện về tài sản, trình độ chuyên môn(có
bằng cấp Y dược), có người đỡ đầu, điều
kiện về tinh thần
b. Nội dung quyền bình đẳng trong
kinh doanh.
9
GV kết luận:
=> Những điều kiện trên của An cũng
chính là điều kiện để mọi công dân được
tiến hành kinh doanh.
GV hỏi: Vậy em hãy cho biết nội dung
thứ nhất về quyền bình đẳng trong
kinh doanh?
HS trả lời nội dung thứ nhất:
GV phân tích: Ở nội dung này, quyền tự
do lựa chọn hình thức tổ chức kinh
doanh của công dân trên cơ sở tùy theo
“khả năng”, “sở thích”, “có đủ điều
kiện”. Điều đó có nghĩa là không phải
bất kì ai cũng có thể tham gia vào quá
trình kinh doanh mà chỉ những cá nhân
và tổ chức có đủ điều kiện về tài sản,
chuyên môn, …mới có thể được Nhà
nước cho phép hoạt động kinh doanh.
GV: trình chiếu hình ảnh cho HS quan
sát để tìm hiểu nội dung thứ hai về
quyền bình đẳng trong kinh doanh.
GV nói rõ: Mỗi mặt hàng (gạch men

Tunit, giày thể thao Adidas ) đều có
quyền tự chủ đăng kí nhãn mác, thương
hiệu trên thị trường theo qui định của
pháp luật.
- Thứ nhất, mọi công dân đều có
quyền chọn hình thức tổ chức kinh
doanh tùy theo khả năng, sở thích nếu
có đủ điều kiện.
10

GV hỏi:1. Những hình ảnh trên cho em
biết nội dung nào về quyền bình đẳng
trong kinh doanh?
HS trả lời nội dung thứ 2:
2. Việc doanh nghiệp tự chủ đăng ký
kinh doanh trong khuôn khổ của pháp
luật có tác dụng gì?
HS: ND này nhằm đảm bảo sự bình đẳng,
an toàn nằm trong sự kiểm soát của Nhà
nước để mọi doanh nghiệp đều có quyền
tự chủ đăng kí kinh doanh. Từ đó, họ sẽ
yên tâm sản xuất và góp phần tạo nên một
xã hội trật tự lành mạnh, bình đẳng.
GV: trình chiếu hình ảnh tiếp theo:
- Thứ hai, mọi doanh nghiệp đều
có quyền tự chủ đăng ký kinh
doanh trong những ngành, nghề mà
pháp luật không cấm khi có đủ
điều kiện theo qui định của pháp
luật.

11
Sản xuất quần áo
SX ô tôSX gạch menSX quần áo
SX giày
thể thao
KD sữa
KD xe
máy
GV: Dù là Công ty xăng dầu của tư nhân
hay của Nhà nước thì giá bán trên thị
trường phải như nhau, bình đẳng với
nhau…có như thế mới đảm bảo quyền
kinh doanh lâu dài cho doanh nghiệp.
Để thực hiện quyền bình đẳng trên thị
trường nhằm đưa ra khung giá, bình ổn
giá, tạo ra môi trường pháp lí công khai,
minh bạch, Bộ tài chính đã tổ chức Hội
nghị dự thảo luật quản lí giá cả cho các
doanh nghiệp trong phạm vi cả nước.
GV hỏi: Những hình ảnh vừa quan sát
cho các em biết nội dung nào về quyền
bình đẳng trong kinh doanh?
HS trả lời nội dung thứ 3.
GV: Ví dụ: Để đảm bảo việc kinh doanh
lâu dài, hiện nay ở Thanh Hóa nói riêng
và cả nước nói chung, tất cả các mặt hàng
kinh doanh đều phải được niêm yết bảng
giá công khai theo qui định của pháp luật.
GV: Nhà nước ta khuyến khích mở rộng
sản xuất, kinh doanh dù ở bất kỳ ngành,

- Thứ ba, mọi doanh nghiệp thuộc
các thành phần kinh tế khác nhau
đều được bình đẳng trong việc
khuyến khích phát triển lâu dài.
Niêm yết bảng giá quần áo
12
Dự thảo luật quản lí giá cảGiá xăng bình đẳng
nghề nào. Tuy nhiên, trong sản xuất, kinh
doanh không thể tránh khỏi cạnh tranh
trên thị trường nhưng vấn đề là cạnh
tranh phải diễn ra một cách lành mạnh,
không được vi phạm pháp luật mới đảm
bảo sự bình đẳng trong kinh doanh.
GV hỏi: Em hãy lấy ví dụ về các việc
làm vi phạm pháp luật của một số cá
nhân, doanh nghiệp… mà em biết?
HS: việc làm hàng giả, hàng nhái kém
chất lượng, tình trạng buôn bán phụ nữ
và trẻ em, kinh doanh mặt hàng không rõ
nguồn gốc xuất xứ, tình trạng đầu cơ tích
trữ (xăng dầu, gạo…ở TPHCM).
GV: trình chiếu hình ảnh để minh họa về
việc kinh doanh trái pháp luật trên địa
bàn Thanh hóa nói riêng, trong phạm vi
cả nước nói chung và đã bị xử lí theo qui
định của pháp luật.

13
Buôn bán ngà voi
Hồ Viết Hiển - Nghệ An

- SX 300kg mì chính giả
Buôn bán rượu giả
Xét xử các đối tượng đã buôn bán phụ
nữ và trẻ em tại Hà Giang
Niêm yết giá rau củ quả.
GV :Ở hình ảnh dưới là anh Hồ Viết
Hiển, sinh năm 1956 tại Nghệ An đã cho
sản xuất và tiêu thụ 300kg mì chính giả
lấy nhãn hiệu Azinomoto và Miwuon. Với
vai trò của mình, đội quản lý thị trường đã
cho tịch thu toàn bộ mặt hàng của anh
Hiển, đồng thời tiến hành bắt tạm giam để
tiếp tục điều tra sự việc.
Còn ở hình ảnh bên cạnh là việc đã xẩy ra
tại Hà Giang - Tình trạng buôn bán phụ
nữ và trẻ em bị đưa ra xét xử.
=> Điều đó khẳng định vai trò quan trọng
của pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh
hiện nay.
GV: chiếu hình ảnh mở rộng qui mô kinh
doanh.
Vídụ: Ở Bá Thước có nhiều doanh
nghiệp, trong đó có doanh nghiệp Hon đa
Cường Nhung. Doanh nghiệp này đã tự
chủ đăng kí kinh doanh để nâng cao hiệu
quả và khả năng cạnh tranh của mình
bằng cách: phục vụ khách hàng tận tình,
đảm bảo chất lượng, giá cả phù hợp, mẫu
mã, hình thức đẹp, bền, giữ uy tín lâu dài
cho khách hàng…


14
Mở rộng quy mô
KD xe máy
Câu hỏi: Thông qua ví dụ và hình ảnh
trên, em hãy cho biết nội dung thứ 4 về
quyền bình đẳng trong kinh doanh?
HS trả lời nội dung thứ 4.
GV hỏi: Tương tự, các em hãy cho ví dụ
chứng tỏ việc mở rộng qui mô sản xuất
kinh doanh những ngành nghề khác
trên địa bàn Thanh Hóa mà em biết?
GV: trình chiếu hình ảnh và chỉ rõ để HS
biết được ở Thanh Hóa có những làng
nghề truyền thống như nghề đúc đồng ở
huyện Thiệu Hóa, nghề dệt chiếu ở huyện
Nga Sơn…đã mở rộng cơ sở sản xuất
kinh doanh trong khuôn khổ của pháp
luật. Hiện nay, những làng nghề này đang
phát triển mạnh và có uy tín trong tỉnh nói
riêng và trong phạm vi cả nước nói
chung.
- Thứ tư, mọi doanh nghiệp đều
bình đẳng về quyền tự chủ kinh
doanh để nâng cao hiệu quả và khả
năng cạnh tranh.
15
Mở rộng quy mô
KD thủy hải sản
Xuất khẩu

GV hỏi: Em hãy nêu nội dung thứ 5
của, quyền bình đẳng trong kinh
doanh?
HS trả lời nội dung thứ 5
GV giảng giải: Bất kỳ một người kinh
doanh nào ở bất kỳ một ngành nghề nào
đều bình đẳng về nghĩa vụ như nhau trong
quá trình sản xuất kinh doanh.
GV hỏi:
1. Theo em, trong quá trình hoạt động
sản xuất kinh doanh, mọi doanh nghiệp
đều bình đẳng về những nghĩa vụ gì?
HS: Trong quá trình hoạt động kinh
doanh, mọi doanh nghiệp đều bình đẳng
về những nghĩa vụ: kinh doanh đúng
ngành nghề đã đăng ký, nộp thuế, khai
báo tài chính, bảo vệ môi trường, bảo đảm
quốc phòng an ninh
2. Thực hiện tốt những nghĩa vụ trên có
tác dụng như thế nào?
HS: Thực hiện tốt những nghĩa vụ trên sẽ
đảm bảo quyền bình đẳng cho công dân
trong xã hội, xã hội ổn định, phát triển
bền vững, góp phần xây dựng nền kinh tế
thị trường định hướng XHCN ở Việt
Nam.
GV: tiếp tục trình chiếu hình ảnh:
- Thứ năm, mọi doanh nghiệp đều
bình đẳng về nghĩa vụ trong quá
trình hoạt động kinh doanh.

16
Nghề đúc đồng Thiệu Hóa Nghề dệt chiếu Nga Sơn
Câu hỏi: Quan sát hình ảnh trên cho
các em biết điều gì?
HS: đó là hình ảnh Công ty VEDAN và
dòng sông Thị Vải.
GV giải thích: Công ty này trong quá
trình sản xuất kinh doanh đã vi phạm
pháp luật về bảo vệ môi trường, xã nước
thải ước tính mỗi ngày 4000m
3
xuống
dòng sông Thị Vải. Vì vậy cùng với đợt
thực hiện cuộc vận động “người Việt
Nam dùng hàng Việt Nam” người dân 3
tỉnh: Vũng Tàu, Đồng Nai, TPHCM có
một thời gian đã cho “tẩy chay” mặt hàng
của công ty VEDAN để nhằm cảnh cáo sự
vi phạm môi trường của công ty Sau đó,
để lấy lại uy tín, thương hiệu cho công ty,
Tổng Giám đốc công ty buộc phải xin lỗi
và hứa sẽ bồi thường những thiệt hại mà
công ty đã gây ra cho người dân.
=>Hình ảnh và thông tin trên cũng muốn
nhắc nhở mọi cá nhân, doanh nghiệp
khi tham gia hoạt động sản xuất kinh
doanh phải thực hiện đúng nghĩa vụ theo
quy định của pháp luật trong lĩnh vực
kinh doanh.
17

Để khắc sâu kiến thức trọng tâm cho HS,
GV trình chiếu sơ đồ tóm tắt nội dung
quyền bình đẳng trong kinh doanh :
Sau khi tổng kết mục bằng sơ đồ kiến
thức trên
GV hỏi: Em hãy cho biết vai trò bình
đẳng trong kinh doanh với việc xây
dựng nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN ở Việt Nam?
HS trả lời
GV nhận xét, kết luận:
Để khắc sâu tính thực tiễn của bài, GV
nêu câu hỏi liên hệ: Cho biết tình hình
hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa
bàn huyện Bá Thước -Thanh Hóa diễn
ra như thế nào? Đã đảm bảo quyền bình
đẳng trong kinh doanh cho mọi công
dân và mọi doanh nghiệp hay chưa?
=> Thực hiện quyền bình đẳng
trong kinh doanh sẽ tạo điều kiện
kinh tế phát triển lâu dài, ổn định;
tạo sự cạnh tranh lành mạnh; góp
phần xây dựng môi trường kinh
doanh bình đẳng trong xã hội, đưa
nền kinh tế thị trường phát triển
mạnh mẽ, đảm bảo đúng định
hướng XHCN.
18
NỘI
DUNG

QUYỀN
BÌNH
ĐẲNG
TRONG
KINH
DOANH
- Mọi DN đều có quyền tự chủ đăng kí KD trong những
ngành, nghề mà pháp luật không cấm khi có đủ điều kiện
theo qui định của pháp luật.
- Mọi công dân đều có quyền chọn hình thức tổ chức kinh
doanh tùy theo khả năng, sở thích nếu có đủ điều kiện.
- Mọi DN đều bình đẳng về nghĩa vụ trong quá trình hoạt
động kinh doanh .
- Mọi DN thuộc các thành phần kinh tế khác nhau đều được
bình đẳng trong việc khuyến khích phát triển lâu dài.
- Mọi DN đều bình đẳng về quyền tự chủ kinh doanh để
nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh.
HS tự suy nghĩ trả lời.
GV chuyển ý: Để đảm bảo quyền bình
đẳng trong kinh doanh cho cá nhân,
doanh nghiệp…Nhà nước ta phải có trách
nhiệm gì? (GV nói rõ phần này đã giảm
tải theo qui định của Bộ Giáo dục nên GV
chỉ hướng dẫn HS tìm hiểu, đọc thêm ở
nhà ).
GV chuyển ý: Để góp phần thực hiện tốt
quyền bình đẳng trong kinh doanh, công
dân - học sinh cần phải làm gì?
Hoạt động 3: Tìm hiểu trách nhiệm của
công dân - học sinh.

(Hoạt động này nhằm giáo dục HS kĩ
năng tự nhận thức ý thức, trách nhiệm
của mình và kĩ năng hợp tác để thảo luận
trách nhiệm của công dân - học sinh)
GV: Phát phiếu học tập số 2 cho HS thảo
luận chung cả lớp bằng câu hỏi:
Là công dân - HS, em cần phải làm gì
để góp phần thực hiện tốt quyền bình
đẳng trong kinh doanh hiện nay?
HS: thảo luận xác định trách nhiệm của
mình.
c, Trách nhiệm của công dân -
học sinh.
+ Tích cực nâng cao chất lượng
học tập.
+ Năng động, sáng tạo trong lao
động.
+ Nắm bắt khoa học tiên tiến, hiện
đại.
+ Tham gia giúp đỡ gia đình làm
kinh tế.
+ Tìm hiểu và có ý thức thực hiện
pháp luật.
+ Tham gia sản xuất kinh doanh
trong bất kỳ thành phần kinh tế
nào.
+ Không vi phạm quyền và lợi ích
của doanh nghiệp và người tiêu
dùng…
4. Cũng cố, luyện tập:

GV đưa các dạng bài tập để cũng cố bài.
5.Dặn dò:
- Về nhà học bài cũ và làm các bài tập trong SGK.
- Đọc trước bài 5: Quyền bình đẳng giữa các dân tộc ,tôn giáo.
- Đọc tư liệu tham khảo: Điều 16 Hiến pháp 1992, điều 5 luật Doanh
nghiệp,điều 7 luật Bình đẳng giới.
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM
19
Từ thực trạng giảng dạy môn GDCD ở trường THPT Bá Thước, sau khi
tìm hiểu sở thích, tâm lý của học sinh, chúng tôi đã mạnh dạn vận dụng một số
phương pháp mới trong đó có Phương pháp khai thác hình ảnh trực quan vận
dụng vào giảng dạy tiết 3 - Bài 4: Quyền bình đẳng của công dân trong một số
lĩnh vực của đời sống xã hội ở một số lớp 12. Cụ thể, năm học 2011 - 2012 tôi
đã chọn lớp 12A5 và lớp 12A7 (hai lớp có trình độ tương đương nhau) để làm
thực nghiệm, năm học 2012 - 2013, qua đúc rút kinh nghiệm của năm học trước,
kì I của năm học này, tôi tiếp tục thực nghiệm ở hai lớp 12A6 và 12A8.
- Lớp 12A5 và lớp 12A6 tôi tiến hành dạy bằng phương pháp thuyết
trình, đàm thoại, vấn đáp.
- Lớp 12A7 và lớp 12A8 tôi tiến hành dạy bằng phương pháp khai thác
hình ảnh trực quan kết hợp với các phương pháp dạy học khác.
Qua điều tra, tôi đã thu được kết quả như sau:
4.1. Về phía giáo viên
- Đại đa số giáo viên trong tổ, nhóm dự giờ đều ủng hộ và khích lệ tôi sử
dụng phương pháp này.
- Kết quả giờ dạy: Tất cả các giáo viên trong tổ, nhóm đều đồng ý xếp
giờ dạy loại giỏi (17 -> 19điểm)
4.2. Về phía học sinh.
Đối với lớp 12A5 và lớp 12A6, lớp học trầm, tinh thần hợp tác xây dựng
bài của học sinh chưa sôi nổi, một số học sinh cảm thấy nặng nề, mệt mỏi, nhàm
chán, khó tiếp nhận kiến thức.

Đối với lớp 12A7 và lớp 12A8, học sinh làm việc tích cực, xây dựng bài
sôi nổi, học sinh không cảm thấy nhàm chán. Đại đa số học sinh tiếp nhận kiến
thức tốt, biết thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trong kinh doanh, biết liên
hệ thực tiễn và biết xác định trách nhiệm của bản thân để góp phần thực hiện tốt
quyền bình đẳng trong kinh doanh.
Sau khi học xong, tôi đã tiến hành kiểm tra kiến thức của học sinh ở cả 4
lớp 12A5, 12A6 và 12A7, 12A8 với hình thức là kiểm tra viết trong (15 phút).
Câu hỏi: Sau khi tốt nghiệp THPT, nếu em có ý định thành lập doanh
nghiệp tư nhân thì em có quyền thực hiện ý định đó không? Vì sao?
Kết quả kiểm tra lớp 12A5 và 12A7 năm học 2011 - 2012 như sau:
Năm học Đối tượng
Kiểm tra
Giỏi Khá Trung
bình
Yếu
2011 - 2012
12A5 (35 HS) 0
(0%)
10
(29%)
21
(60%)
4
(11%)
12A7 (38 HS) 4
(10%)
22
(59%)
11
(29%)

1
(3%)
Kết quả kiểm tra lớp 12A6 và 12A8 năm học 2012 - 2013 như sau:
Năm học Đối tượng
Kiểm tra
Giỏi Khá Trung
bình
Yếu
20
2012 - 2013
12A6 (40 HS) 1
(3%)
15
(37%)
21`
(52%)
3
(8%)
12A8 (35 HS) 6
(17%)
20
(57%)
9
(26%)
0
(0%)
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
1. Kết luận:
Đề tài được nghiên cứu từ thực tiễn và kinh nghiệm giảng dạy của bản
thân ở trường THPT Bá thước, thực sự đem lại cho học sinh kết quả cao trong

quá trình học tập, học sinh không chỉ nắm vững kiến thức lý thuyết mà còn biết
thực hiện tốt pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh, biết tuyên truyền, phổ biến
pháp luật về kinh doanh và biết đấu tranh phê phán những hoạt động kinh doanh
trái pháp luật của một số cá nhân, doanh nghiệp…trong xã hội.
Khai thác hình ảnh trực quan vận dụng vào giảng dạy tiết 3 - bài 4 lớp12
là một phương pháp quan trọng và mang lại hiệu quả cao trong giờ dạy. Việc
vận dụng phương pháp này làm cho học sinh dễ hiểu, học tập tích cực, ghi nhớ
kiến thức lâu hơn, làm cho giờ dạy GDCD trở nên gần gũi, sinh động, lôi cuốn
các em vào bài giảng, giúp các em tìm hiểu khái niệm, nội dung quyền bình
đẳng của công dân trong lĩnh vực kinh doanh trong đời sống xã hội. Quan trọng
hơn là giáo dục ý thức trách nhiệm công dân - học sinh trong việc thực hiện
pháp luật trong kinh doanh. Bản thân các em không những thực hiện tốt mà còn
góp phần vào việc tuyên truyền cho những người khác cùng thực hiện. Đồng
thời, bài học cũng là hành trang để học sinh bước vào cuộc sống tương lai sau
này.
2. Kiến nghị, đề xuất:
Giáo dục công dân là một bộ môn rất quan trọng bởi nó góp phần không
nhỏ trong việc giáo dục tư tưởng, đạo đức cho học sinh; giáo dục ý thức thực
hiện chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, tạo nên những phẩm chất của
một công dân trong chế độ XHCN. Nhưng thực tế bộ môn này chưa thực sự
được coi trọng theo đúng nghĩa của nó. Tài liệu để phục vụ cho giảng dạy và
học tập rất nghèo nàn, do đó giáo viên mất rất nhiều thời gian để thu thập thông
tin, xử lí và sắp xếp hình ảnh. Điều chúng tôi mong muốn là có nguồn thông tin
tư liệu chính xác, cập nhật từ những kênh chính thức của nghành giáo dục.
Chúng tôi cũng đề nghị Sở Giáo dục và đào tạo Thanh Hóa thường xuyên mở
các lớp bồi dưỡng để chúng tôi được tiếp nhận những thông tin thời sự mới,
chính sách mới, văn bản mới để giáo viên không bị lạc hậu và giảng dạy tốt hơn
nữa.
Đề nghị các cấp lãnh đạo, tạo điều kiện hơn nữa về cơ sở vật chất, các
phương tiện dạy học như: Phòng học bộ môn, máy chiếu kết nối máy tính để có

thể thiết kế sơ đồ kiến thức trên phần mềm Power Point, các loại băng hình,
tranh ảnh…để giáo viên có thể thực hiện tốt việc đổi mới phương pháp dạy học
bộ môn GDCD tích cực và có hiệu quả hơn.
21
Để có một giờ dạy thành công, giáo viên phải đầu tư nhiều về thời gian,
công sức và sự say mê nghề nghiệp, tích cực sưu tầm và biết lựa chọn tranh ảnh
tiêu biểu phù hợp với từng bài dạy. Giáo viên phải không ngừng rèn luyện, học
tập, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao chất lượng giờ dạy.
Khi sử dụng tranh ảnh trực quan trên máy chiếu, yêu cầu giáo viên phải
hết sức linh hoạt, biết sử dụng máy tính kết nối máy chiếu thành thạo, phân bố
thời gian hợp lý cho các đơn vị kiến thức, tránh tình trạng tốn nhiều thời gian
dẫn đến “cháy giáo án”.
Phương pháp khai thác hình ảnh trực quan là phương pháp giảng dạy
đem lại hiệu quả cao trong dạy học GDCD, đó là điều không thể phủ nhận. Tuy
nhiên, chúng ta không tuyệt đối hoá bất kì một phương pháp dạy học nào. Trong
quá trình giảng dạy, người giáo viên phải kết hợp các phương pháp truyền thống
và hiện đại vào bài giảng một cách linh hoạt để đem lại niềm say mê, hứng thú
học tập cho học sinh.
Đề tài được nghiên cứu từ thực tiễn giảng dạy tại trường THPT Bá Thước và
kinh nghiệm của bản thân. Rất mong được sự đóng góp ý kiến của các đồng
nghiệp, để tôi tiếp tục nghiên cứu, thiết kế và áp dụng phương pháp khai thác
hình ảnh trực quan vào giảng dạy bộ môn GDCD ngày càng có hiệu quả hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Bá Thước, ngày 30 tháng 3 năm 2013
Tôi xin cam đoan đây là SKKN
của mình viết, không sao chép nội
dung của người khác.
NGƯỜI VIẾT
Bùi Thị Yến

PHẦN IV: TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hiến pháp 1992- Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
2. Luật doanh nghiệp - Nhà xuất bản Lao động
22
3. Luật sỡ hữu trí tuệ - Nhà xuất bản Tư pháp
4. Sách giáo viên môn GDCD lớp 12- Nhà xuất bản giáo dục
5. Sách giáo khoa GDCD lớp 12- Nhà xuất bản giáo dục
6. Sách bài tập tình huống môn GDCD lớp 12- Nhà xuất bản giáo dục
7. Sách dạy học theo chuẩn kiến thức kỹ năng môn GDCD lớp12 – Nhà xuất
bản Đại học sư phạm
MỤC LỤC
PHẦN NỘI DUNG
SỐ
TRANG
I
ĐẶT VẤN ĐỀ: 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu: 2
3. Phạm vi nghiên cứu 2
23
4. Thời gian nghiên cứu. 2
5. Phương pháp nghiên cứu. 2
6. Khách thể và đối tượng nghiên cứu: 2
II
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 3
CHƯƠNG 1: PHƯƠNG PHÁP KHAI THÁC HÌNH ẢNH TRỰC
QUAN TRONG VIỆC GIẢNG DẠY BỘ MÔN GIÁO DỤC CÔNG
DÂN
3
1.1.Cơ sở lí luận của khai thác hình ảnh trực quan trong

việc giảng dạy môn giáo dục công dân:
3
1.2. Yêu cầu của tranh ảnh trực quan 3
1.3. Nguồn tranh ảnh. 3
1.4. Sử dụng máy vi tính, máy chiếu. 3
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY VÀ HỌC MÔN
GDCD NGÀY NAY
3
CHƯƠNG 3: KHAI THÁC HÌNH ẢNH TRỰC QUAN VÀO
GIẢNG DẠY BÀI 4: QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA CÔNG DÂN
TRONG MỘT SỐ LĨNH VỰC CỦA ĐỜI SỖNG XÃ HỘI – TIẾT 3:
QUYỀN BÌNH ĐẢNG TRONG KINH DOANH
4
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM
18
III
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 19
1. Kết luận 19
2. Kiến nghị, đề xuất 19
IV TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
24

×