Tải bản đầy đủ (.doc) (32 trang)

BÀI NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG CẤU TRÚC VỐN CÁC CÔNG TY NGÀNH THÉP TẠI VIỆT NAM

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (408.29 KB, 32 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

BÀI NGHIÊN CỨU
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG CẤU TRÚC VỐN
CÁC CÔNG TY NGÀNH THÉP
TẠI VIỆT NAM
GVHD : TS. Nguyễn Thị Uyên Uyên
Thực hiện : Nhóm 19
Lớp : Cao Học ngày 4
Khóa : K22
TP. Hồ Chí Minh - Năm 2013
31
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CÁC CÔNG TY NGÀNH THÉP VIỆT NAM
DANH SÁCH CÁC THÀNH VIÊN
  
STT Họ tên Ngày tháng năm sinh
1 Võ Hoàng Mẫn 17/09/1988
2 Nguyễn Kim Minh Trâm 24/12/1989
3 Nguyễn Thị Út 16/03/1988
4 Phạm Hoàng Hà 27/10/1988
5 Nguyễn Phạm Nhật Triển 17/10/1987
31
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CÁC CÔNG TY NGÀNH THÉP VIỆT NAM
MỤC LỤC
  
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 4
1.1 Lý do nghiên cứu 4
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.3 Phương pháp nghiên cứu 4
1.4 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 5


1.5 Bố cục 5
CHƯƠNG II: NHỮNG BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TRÊN THẾ GIỚI 6
CHƯƠNG III: MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 14
3.1 Đề xuất mô hình nghiên cứu 14
3.1.1 Xây dựng các giả thuyết 14
3.1.2 Mô hình kinh tế 14
3.2 Mô tả các biến trong mô hình 15
3.2.1 Biến phụ thuộc 15
3.2.2 Biến độc lập 16
3.2.2.1 Tài sản 16
3.2.2.2 Tài sản đảm bảo 16
3.2.2.3 Lợi nhuận 16
3.2.2.4 Quy mô công ty 17
3.2.2.5 Tuổi của doanh nghiệp 17
3.2.2.6 Rủi ro kinh doanh 17
3.2.2.7 Tác động của lá chắn thuế 18
3.2.2.8 Tính linh hoạt 18
3.2.2.9 Tỷ lệ tăng trưởng 18
3.3 Dữ liệu phân tích 21
3.3.1 Thu thập dữ liệu 21
3.3.2 Xử lý dữ liệu 21
31
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CÁC CÔNG TY NGÀNH THÉP VIỆT NAM
CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH 22
4.1 Kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến độc lập 22
4.2 Giải thích kết quả nghiên cứu 25
4.2.1 Kết cấu tài sản 25
4.2.2 Tài sản đảm bảo 25
4.2.3 Lợi nhuận 25
4.2.4 Kích cỡ 26

4.2.5 Tuổi 26
4.2.6 Rủi ro 27
4.2.7 Tác dụng của tấm chắn thuế 27
4.2.8 Tính thanh khoản 27
4.2.9 Cơ hội tăng trưởng 28
CHƯƠNG V: KẾT LUẬN 29
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 30
31
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CÁC CÔNG TY NGÀNH THÉP VIỆT NAM
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1.1 Lý do nghiên cứu
Tối ưu hóa cấu trúc vốn của các Công ty là nhiệm vụ quan trọng của nhà Quản trị tài
chính. Có nhiều lý thuyết hiện đại về cấu trúc vốn công ty để giải thích sự khác biệt trong
việc lựa chọn cấu trúc vốn của các công ty.
Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh tế và môi trường thể chế của Việt Nam đã có những
tác động đến việc lựa chọn cấu trúc vốn tại các công ty. Đề tài này tập trung phân tích cấu
trúc vốn của các công ty ngành thép niêm yết trên các sàn chứng khoán Việt Nam (HOSE
và HNX) , để tìm hiểu và phân tích những nhân tố tác động đến việc lựa chọn nguồn tài trợ
vốn cho công ty một cách tối ưu.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Bài nghiên cứu nhằm tìm hiểu các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của các công ty
ngành thép tại Việt Nam và chiều hướng của sự tác động.
1.3 Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu này thực hiện dựa theo bài nghiên cứu “Các nhân tố chính trong việc
lựa chọn cấu trúc vốn ngành thép: bằng chứng từ ngành công nghiệp sắt và thép Ấn Độ”
của tiến sĩ Sabapriya Ray. Kỹ thuật phân tích hồi quy đa biến với phương pháp bình
phương nhỏ nhất được sử dụng để xác định ảnh hưởng của các biến độc lập như tỷ lệ thành
phần tài sản, giá trị thế chấp tài sản, tỷ lệ thu nhập, kích thước công ty, tuổi, rủi ro, lá chắn
thuế không nợ, tính thanh khoản và cơ hội tăng trưởng đến biến phụ thuộc là đòn bẩy.
Dựa vào các dữ liệu thứ cấp thu thập được từ các báo cáo tài chính đã kiểm toán từ

quý I – 2009 đến quý IV – 2012 của 19 công ty thép Việt Nam, nhóm nghiên cứu tính toán
các biến phụ thuộc và độc lập theo công thức của bài nghiên cứu gốc. Sau đó, nhóm sử
dụng phần mềm EVIEWS 7 để kiểm tra mức độ tương quan giữa các biến độc lập. Nếu hệ
số tương quan ở khoảng giá trị 0.9 hoặc lớn hơn giải thích có vấn đề đa cộng tuyến
(LEWIS – BACK 1993). Do bài nghiên cứu này có sự tự tương quan khá cao giữa các biến
31
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CÁC CÔNG TY NGÀNH THÉP VIỆT NAM
độc lập là tỷ lệ thành phần tài sản, tài sản thế chấp và tấm chắn thuế không nợ nên dữ liệu
thứ cấp được xử lý bằng cách lấy sai phân bậc 1 của biến NDTS và bậc 1 của biến
COLLATERAL. Sau khi loại bỏ được sự tương quan giữa các biến, nhóm sử dụng phần
mềm EVIEWS 7 để chạy ra kết quả kiểm định t và F nhằm kiểm tra mức độ ý nghĩa của
các hệ số hồi quy. Và kết quả kiểm định Durbin-Watson (DW) được dùng để phát hiện bất
kỳ sự tự tương quan.
1.4 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Nghiên cứu nhằm phát hiện đặc điểm cấu trúc vốn, các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc
vốn của các công ty ngành thép niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam. Trên cơ sở đó, đề
xuất các chính sách tài trợ cho các công ty trong ngành.
1.5 Bố cục
Bài nghiên cứu bao gồm 5 chương, cụ thể như sau:
Chương I: Giới thiệu đề tài
Chương II: Những bằng chứng thực nghiệm trên thế giới
Chương III: Mô hình nghiên cứu
Chương IV: Kết quả kiểm định
Chương V: Kết luận
31
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CÁC CÔNG TY NGÀNH THÉP VIỆT NAM
CHƯƠNG II: NHỮNG BẰNG CHỨNG THỰC
NGHIỆM TRÊN THẾ GIỚI
Sự cân bằng tối ưu giữa nợ và vốn chủ sở hữu là vấn đề trọng tâm trong tài chính
doanh nghiệp. Các lý thuyết cho rằng các doanh nghiệp lựa chọn cấu trúc vốn dựa trên các

yếu tố xác định các chi phí và lợi ích khác nhau của nợ và vốn cổ phần. Có rất nhiều lý
thuyết khác nhau về cấu trúc vốn.
David Durand (1952) đề xuất phương pháp xác định cơ cấu vốn thông qua thu nhập
ròng theo đó doanh nghiệp có thể làm tăng giá trị hoặc hạ thấp chi phí sử dụng vốn của
mình bằng cách sử dụng vốn vay. Ngược lại với cách tiếp cận này, phương pháp thu nhập
hoạt động ròng cho rằng giá trị của một doanh nghiệp và chi phí vốn là độc lập với cấu trúc
vốn. Vì vậy, doanh nghiệp không thể tăng giá trị của mình bằng cách kết hợp nợ và vốn chủ
sở hữu. Sự xuất hiện của lý thuyết hiện đại về cơ cấu vốn bắt đầu với lý thuyết nổi tiếng
của Modigliani và Miller vào năm 1958, đã tạo ra một cuộc tranh cãi liệu tỷ lệ nợ và vốn
chủ sở hữu trong cơ cấu vốn của doanh nghiệp có ảnh hưởng đến giá trị của doanh nghiệp
hay không. Trong bài nghiên cứu này, tác giả ủng hộ cách tiếp cận thu nhập hoạt động ròng
và bác bỏ lý thuyết truyền thống về cơ cấu vốn. Tác giả cho rằng các quyết định về cơ cấu
vốn là không liên quan đến tập hợp các giả định như không có thuế doanh nghiệp, thị
trường vốn hoàn hảo, không rủi ro hoặc chi phí đại diện, vv. Giá trị của doanh nghiệp
không bị ảnh hưởng bởi cơ cấu vốn và được chứng minh bằng cách vốn hoá lợi nhuận kỳ
vọng ở mức tương thích với mức độ rủi ro. Điều này hợp lý về mặt lý thuyết nhưng được
dựa trên các giả định của thị trường vốn hoàn hảo và không có thuế là không đúng với thực
tế. Do đó, kết hợp với ảnh hưởng của thuế trên giá trị và chi phí vốn của doanh nghiệp, tác
giả cho rằng với sự hiện diện của thuế doanh nghiệp, giá trị doanh nghiệp sẽ khác nhau khi
sử dụng nợ khác nhau do sự tồn tại của lợi ích về thuế trong việc chi trả lãi vay.
Ezra Soloman (1963) giữ quan điểm cho rằng giá trị của doanh nghiệp tăng khi nợ
tăng đến một mức nhất định và sau đó có xu hướng không thay đổi khi việc sử dụng nợ ở
mức trung bình và cuối cùng là giá trị của doanh nghiệp giảm khi nợ tiếp tục tăng. Jensen
và Meckling (1976) đã phát triển lý thuyết cấu trúc vốn dựa trên chi phí đại diện - doanh
31
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CÁC CÔNG TY NGÀNH THÉP VIỆT NAM
nghiệp phải chịu hai loại chi phí đại diện-chi phí liên quan đến các cổ đông bên ngoài và
chi phí có liên quan đến các khoản nợ hiện diện trong cơ cấu vốn. Tổng số chi phí đại diện
lúc đầu giảm và sau một mức vốn chủ sở hữu từ bên ngoài trong cơ cấu vốn nhất định, giá
trị doanh nghiệp tăng trở lại tăng. Tổng chi phí đại diện được tối thiểu ở một tỷ lệ nợ trên

vốn chủ sở hữu nhất định. Tác giả lập luận rằng một cấu trúc vốn tối ưu có thể có được
bằng cách đành đổi giữa việc giảm chi phí đại diện của nợ và các lợi ích của nợ.
Hai lý thuyết về cấu trúc vốn đã được phát triển trong giai đoạn 1970-1980. Ross
(1988) đã phát triển một hệ thống các lý thuyết cấu trúc vốn dựa trên thông tin bất đối
xứng, lý thuyết này giải thích rằng sự lựa chọn cơ cấu vốn của doanh nghiệp đưa ra các tín
hiệu cho nhà đầu tư bên ngoài về thông tin của các thành viên trong nội bộ doanh nghiệp có
đượ. Myers và Majluf (1984) đã phát triển một hệ thống các lý thuyết khác, các lý thuyết
này cho rằng cơ cấu vốn được thiết kế để giảm thiểu sự thiếu hiệu quả trong các quyết định
đầu tư do thông tin bất đối xứng (Harris và Raviv, 1991). Trong lý thuyết trật tự phân hạng
được phát triển bởi Myers (1984), các nhà quản lý ủng hộ mạnh mẽ việc tài trợ mới từ
nguồn nội bộ, thậm chí loại trừ các nguồn bên ngoài, trừ khi có nhu cầu tài trợ không thể
tránh khỏi. Lý thuyết này giải thích các mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa lợi nhuận và tỷ lệ nợ
và cho rằng không có tỷ lệ nợ trên chủ sở hữu mục tiêu. Trong tài chính, đầu tiên, các nhà
quản lý sẽ ưu tiên tài trợ vốn nội bộ và sau đó vay nợ và cuối cùng là vốn cổ phần bên
ngoài (Martin và những người khác, 1988). Do đó, lý thuyết này giải thích các hành vi tài
chính của nhà quản lý.
Ngoài ra, các kết luận rút ra bởi một số các nhà nghiên cứu được ghi lại về chủ đề
này cho đến nay ở Ấn Độ và ở nước ngoài cũng được trình bày ở đây. Chudson (1945)
quan sát thấy rằng có bằng chứng trực tiếp về các doanh nghiệp với tỷ lệ tài sản cố định cao
có xu hướng sử dụng nhiều nợ dài hạn. Gordon (1962) nhận thấy rằng đòn bẩy tài chính
tăng theo quy mô doanh nghiệp, tỷ suất sinh lợi trên vốn đầu tư có quan hệ tỷ lệ nghịch với
tỷ lệ nợ và cũng khẳng định mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa rủi ro hoạt động và tỷ lệ nợ.
Baxter (1967) kết luận rằng đòn bẩy sẽ phụ thuộc vào sự thay đổi của thu nhập hoạt động
thuần và có mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa phương sai của lợi nhuận hoạt động thuần và đòn
bẩy. Bray (1967) báo cáo rằng các doanh nghiệp rủi ro cao có nhiều khả năng có tỷ lệ nợ
31
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CÁC CÔNG TY NGÀNH THÉP VIỆT NAM
thấp hơn và tìm thấy một liên quan tỷ lệ nghịch giữa tổng nợ và tỷ lệ tài sản cố định, giữa
tỷ suất sinh lợi trên vốn đầu tư và tỷ lệ nợ, không có quan hệ tuyến tính giữa quy mô doanh
nghiệp và tỷ lệ nợ. Schwartz và Aronson (1967) kết luận rằng cấu trúc tài chính được đo

bằng giá trị sổ sách không khác biệt đáng kể trong cùng một ngành công nghiệp, nhưng
khác nhau giữa các ngành công nghiệp. Gupta (1969) cho rằng tỷ lệ nợ có quan hệ tỷ lệ
thuận với tăng trưởng và tỷ lệ nghịch với quy mô doanh nghiệp. Lev (1969) kết luận rằng
có một mối quan hệ đáng chú ý giữa ngành công nghiệp và tỷ lệ nợ. Hat (1980) tìm thấy
rằng đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp không liên quan đến quy mô và tốc độ tăng trưởng
của doanh nghiệp và tiếp tục kết luận rằng có mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa đòn bẩy tài
chính và khả năng trả nợ cũng như cổ tức chi trả. Ferri và Jones (1979) phát hiện ra rằng
các ngành công nghiệp có liên quan đến đòn bẩy của một doanh nghiệp nhưng không liên
quan trực tiếp hơn như các nghiên cứu khác kết luận và kết luận rằng việc sử dụng nợ của
các doanh nghiệp có liên quan đến quy mô của doanh doanh nghiệp đó. Titman và Wessels
(1988) cho rằng các doanh nghiệp có sản phẩm độc đáo, khác biệt có tỷ lệ nợ tương đối
thấp. Marsh (1982) đã cho thấy rằng các doanh nghiệp bị ảnh hưởng nặng nề bởi các điều
kiện thị trường và lịch sử giá chứng khoán trong việc lựa chọn giữa nợ và vốn cổ phần.
Barclay và Smith (1995) chỉ ra rằng nợ tối ưu của các doanh nghiệp đang suy giảm trong
vai trò là một công cụ tạo thu nhập của doanh nghiệp. Pandey (1985), Mathew (1991),
Taub (1975), Brealey, Hodges và Capron (1976) và nhiều học giả khác đã nêu bật những
yếu tố quyết định khác nhau của cơ cấu vốn trong nghiên cứu thực nghiệm của mình.
Dev, và cộng sự (1997) cho rằng trong điều kiện sự bất ổn đang ngày càng gia tăng
trong môi trường kinh doanh quản lý chiến lược của doanh nghiệp đã trở nên chiếm ưu thế
hơn. Tuy nhiên cho đến nay, mối quan hệ giữa quản lý chiến lược và quản lý tài chính của
doanh nghiệp phần lớn chưa được khám phá. Nghiên cứu này sử dụng hai phương pháp
phân tích khác nhau để xác nhận mối liên hệ giữa cơ cấu vốn và tình hình chiến lược của
doanh nghiệp. Cụ thể, các nhà quản lý đã cơ cấu lại việc lựa chọn các khoản nợ và cường
độ vốn trong sự thống nhất với các mục tiêu chiến lược về kiểm soát rủi ro hệ thống dài
hạn.
31
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CÁC CÔNG TY NGÀNH THÉP VIỆT NAM
Phần lớn các kết quả nghiên cứu bắt nguồn từ kinh nghiệm của các nền kinh tế phát
triển có nhiều điểm tương đồng về thể chế (Hodder và Senbet năm 1990; Rajan và Zingales
năm 1995; Wald, 1999; Ozkan năm 2001; De Miguel và Pindado năm 2001; Bevan và

Danbolt, 2002, 2004). Chỉ là trong những năm gần đây là những vấn đề về các yếu tố
quyết định này mới trở nên quan trọng trong bối cảnh khuôn khổ thể chế thay đổi nhanh
chóng của các nước này. Các nước đang phát triển đã giới thiệu nhiều cải cách theo hướng
thị trường trong lĩnh vực tài chính của họ. Ngoài ra, các cơ cấu tổ chức trong đó các doanh
nghiệp hoạt động đã trải qua những chuyển đổi cơ bản từ giữa thập niên tám mươi và đầu
chín mươi. Dịch chuyển theo hướng tư nhân hóa / thị trường tự do, cùng với việc mở rộng
và đào sâu của các thị trường tài chính bao gồm các thị trường vốn, đã cung cấp phạm vi
cho các lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp để xác định cơ cấu vốn một cách tối ưu. Một
vài nghiên cứu thực nghiệm đã cố gắng làm sáng tỏ về vấn đề cơ cấu vốn trong các đặc tính
thể chế của các nước đang phát triển.
Booth và các cộng sự (2001) là một trong số những người cung cấp các nghiên cứu
thực nghiệm toàn diện đầu tiên để kiểm định mô hình cấu trúc vốn của các nước đang phát
triển. Họ chọn các nước có tổ chức kinh tế theo định hướng thị trường có nhiều tương đồng
với các nước phát triển. Nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu từ 10 quốc gia đang phát triển để
đánh giá lý thuyết liệu cấu trúc vốn có điểm chung giữa các quốc gia có cơ cấu thể chế
khác nhau hay không? Họ khảo sát xem các yếu tố riêng biệt đã được quan sát từ các
nghiên cứu của các nước phát triển, chỉ có thể áp dụng cho những thị trường này hay có thể
áp dụng tổng quát hơn. Kết quả là giả thuyết này có một vài điểm bất thường. Họ đã cung
cấp các bằng chứng cho thấy việc lựa chọn nguồn vốn của doanh nghiệp ở các nước đang
phát triển bị ảnh hưởng bởi các biến tương tự như các nước phát triển. Tuy nhiên sự khác
biệt trong cơ cấu thể chế của các quốc gia chỉ ra rằng yếu tố khác nhau giữa các quốc gia là
việc làm. Phát hiện của họ cho thấy mặc dù một vài hiểu biết của họ từ lý thuyết tài chính
hiện đại được rút ra từ các quốc gia, nhưng vẫn còn nhiều việc phải làm để hiểu được tác
động của tính năng thể chế trong lựa chọn cấu trúc vốn. Gần đây, Deesomsak, Paudyal và
Pescetto (2004) cũng đã điều tra các yếu tố quyết định đến cơ cấu vốn của doanh nghiệp
31
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CÁC CÔNG TY NGÀNH THÉP VIỆT NAM
hoạt động trong khu vực châu Á Thái Bình Dương, tại bốn quốc gia (cụ thể là Thái Lan,
Malaysia, Singapore và Úc) với môi trường pháp lý, tài chính và thể chế khác nhau.
Họ phát hiện ra rằng các quyết định cấu trúc vốn của doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi

môi trường mà doanh nghiệp hoạt động cũng như các yếu tố cụ thể khác của doanh nghiệp
được xác định trong các nghiên cứu hiện có. Trong thực tế có rất ít nghiên cứu được thực
hiện để nâng cao kiến thức của chúng ta về cấu trúc vốn ở các nước đang phát triển có thể
chế khác nhau và không có nghiên cứu nào về phát triển kinh tế đối với các đảo quốc nhỏ.
Với các đặc điểm riêng về thị trường tài chính và kinh tế nói chung của các nước này, cùng
với thực tế là các nước này có thị trường chứng khoán tương đối “trẻ” và trải qua giai đoạn
chuyển đổi trong suốt thập kỷ trước, bằng chứng thực nghiệm sau dự kiến sẽ mang lại
những kiến thức quan trọng trong việc tranh luận và bổ sung cho nghiên cứu hiện có của
Philippe và các các cộng sự (2003) trong bài báo phân tích các yếu tố quyết định cấu trúc
vốn cho một nhóm 106 doanh nghiệp Thụy Sĩ được niêm yết trên thị trường chứng khoán
Thụy Sĩ. Các nghiên cứu tĩnh và động được thực hiện trong giai đoạn 1991-2000. Kết quả
cho thấy quy mô của doanh nghiệp, tầm quan trọng của tài sản hữu hình và rủi ro kinh
doanh hoàn toàn có quan hệ với đòn bẩy, trong khi tốc độ tăng trưởng và lợi nhuận ngược
lại không liên quan tới đòn bẩy. Các dấu hiệu liên quan này cho thấy cả lý thuyết trật tự
phân hạng và lý thuyết đánh đổi đã giải thích cấu trúc vốn của các doanh nghiệp Thụy Sĩ,
mặc dù có nhiều bằng chứng đã có chứng minh lý thuyết sau đó. Phân tích cũng cho thấy
rằng các doanh nghiệp Thụy Sĩ điều chính tỷ lệ nợ mục tiêu nhưng quá trình điều chỉnh
chậm hơn hầu hết các nước khác. Có ý kiến cho rằng các lý do này có thể được tìm thấy
trong bối cảnh thể chế.
Wolfgang & Roger (2003) kiểm tra các dự đoán về đòn bẩy trong mô hình đánh đổi
và trật tự phân hạng bằng dữ liệu của Thụy Sĩ. Ở cấp độ tổng hợp, đòn bẩy của các doanh
nghiệp Thụy Sĩ là tương đối thấp nhưng các kết quả phụ thuộc chủ yếu vào cách xác định
đòn bẩy. Khẳng định mô hình trật tự phân hạng nhưng phủ định mô hình đánh đổi, các
doanh nghiệp có lợi hơn nếu sử dụng đòn bẩy thấp hơn. Các doanh nghiệp có nhiều cơ hội
đầu tư hơn khi đòn bẩy thấp, trong cả mô hình dánh đổi và mô hình trật tự phân hạng phức
tạp. Đòn bẩy cũng liên quan chặt chẽ với tài sản hữu hình và sự biến động lợi nhuận của
31
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CÁC CÔNG TY NGÀNH THÉP VIỆT NAM
doanh nghiệp. Cuối cùng, chạy mô hình, chúng ta thấy rằng các doanh nghiệp Thụy Sĩ có
xu hướng duy trì tỷ lệ đòn bẩy mục tiêu. Kết quả là đòi hỏi các kĩ thuật ước lượng thay thế.

Keshar & Baral (2004) thử tính toán các yếu tố quyết định cấu trúc vốn như quy mô,
rủi ro kinh doanh, tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ thu nhập, chi trả cổ tức, khả năng trả nợ và độ
nghiêng đòn bẩy hoạt động của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán
Nepal ngày 16/07/2003. Mô hình hổi quy 8 biến đã được sử dụng để đánh giá mức độ ảnh
hưởng của các biến giải thích xác định trong cấu trúc vốn. Trong các phân tích sơ bộ đã bao
gồm cả các doanh nghiệp sản xuất, ngân hàng thương mại, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh
nghiệp tài chính. Tuy nhiên, do các dấu hiệu bất thường trong các mục cố định của mô
hình, các doanh nghiệp sản xuất bị loại trừ trong phân tích cuối cùng. Nghiên cứu này cho
thấy quy mô, tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ thu nhập là yếu tố quan trọng để quyết định cấu
trúc vốn của các doanh nghiệp niêm yết.
Faker và các cộng sự (2005) đưa ra các nghiên cứu về lý thuyết cấu trúc vốn liên quan
đến một nước đang phát triển và xem xét tác động của việc thiếu một thị trường vốn thứ
cấp bằng cách phân tích các vấn đề cấu trúc vốn đối với môi trường kinh doanh của Lybia.
Kết quả hổi quy mẫu OLS cho thấy cả hai lý thuyết đánh đổi và lý thuyết chi phí đại đại
diện là lý thuyết thích hợp với cơ cấu vốn của các doanh nghiệp ở Lybia, nơi có rất ít bằng
chứng ủng hộ lý thuyết bất cân xứng thông tin. Việc thiếu một thị trường thứ cấp có thể ảnh
hưởng đến chi phí đại diện, vì những cổ đông không thể dựa vào tỷ lệ nắm giữ cổ phần của
họ để có thể gây áp lực để giới quản lý hành động trên lợi ích của họ.
Nghiên cứu của Joshua (2008) đã so sánh cấu trúc vốn của các doanh nghiệp được
định giá công khai, các doanh nghiệp lớn không được định giá và các doanh nghiệp vừa và
nhỏ ở Ghana. Kết quả không cho thấy sự khác biệt lớn nào giữa các doanh nghiệp được
định giá công khai với các doanh nghiệp lớn không định giá. Kết quả cho thấy rằng nợ
ngắn hạn chiếm tỷ trọng tương đối cao trong trong tổng nợ của các nhóm mẫu. Kết quả hồi
quy chỉ ra rằng tuổi của doanh nghiệp, quy mô của các doanh nghiệp, cơ cấu tài sản, lợi
nhuận, rủi ro và quyền sở hữu quản lý là các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết đinh
cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ở Ghana. Đối với mẫu SME, người ta thấy rằng các yếu
31
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CÁC CÔNG TY NGÀNH THÉP VIỆT NAM
tố như giới tính của chủ doanh nghiệp, tình trạng xuất khẩu, ngành nghề, vị trí của doanh
nghiệp và hình thức kinh doanh cũng rất quan trọng trong việc lựa chọn cấu trúc vốn.

Boodhoo (2009) đã cho rằng luôn luôn có những tranh cãi giữa các học giả tài chính
khi nói đến chủ đề cấu trúc vốn. Cho đến nay, các nhà nghiên cứu vẫn chưa đạt đến một sự
đồng thuận về cấu trúc vốn tối ưu của doanh nghiệp bên cạnh việc giải quyết một cách
đồng thời vấn đề đại diện. Bài viết này cung cấp một đánh giá ngắn gọn các nghiên cứu và
bằng chứng về mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và cấu trúc sở hữu. Nghiên cứu này cũng hỗ
trợ về mặt lý thuyết các yếu tố (yếu tố quyết định) ảnh hưởng đến cấu trúc vốn.
Mehmet&Eda, (2009) đã kiểm tra liệu mức độ đòn bẩy trung bình của ngành và mức
độ đòn bẩy của doanh nghiệp dẫn đầu ngành có ảnh hưởng đến quyết định cấu trúc vốn của
doanh nghiệp và ngành được liệt kê trong ISE. Họ dựa vào phương pháp tiếp cận hành vi
tài chính (the Approach of Behavioral Finance) như một cách tiếp cận bổ sung của tài chính
truyền thống đối với cấu trúc vốn. Đối với ảnh hưởng của nó trên mức độ đòn bẩy của các
hãng trên bốn lĩnh vực họ đã đề cập đến trong giai đoạn 1999-2006 (Hàng tiêu dùng lâu bền
và điện tử, ngân hàng, xi măng, giấy và đóng gói), trong khi mức trung bình ngành có ảnh
hưởng đối với lĩnh vực hàng tiêu dùng, người ta thấy nó ảnh hưởng đến độ bẩy của doanh
nghiệp dẫn đầu ngành. Trong nghiên cứu, người ta thấy cả trung bình ngành và doanh
nghiệp dẫn đầu ngành đều cho thấy mối quan hệ tích cực với mức độ đòn bẩy của doanh
nghiệp với mức ý nghĩa 10%.
B.Nimalathasan & ValeriuBrabete (2010) đã chỉ ra cấu trúc vốn và tác động của nó
với lợi nhuận trong nghiên cứu về các doanh nghiệp sản xuất ở Sri Lanka. Phân tích các
doanh nghiệp sản xuất cho thấy rằng tỷ lệ vốn cổ phần liên quan mật thiết đến tỷ suất lợi
nhuận (lợi nhuận gộp, lợi nhuận hoạt động và lợi nhuận thuần)
Puwanenthiren Pratheepkanth (2011) phân tích cấu trúc vốn và tác động của nó đến
khả năng sử dụng vốn trong thời gian từ năm 2005 đến 2009 (5 năm) của các doanh nghiệp
ở Srilanka. Kết quả chỉ ra rằng, ở Sri Lanka, mối quan hệ giữa cấu trúc cốn và khả năng sử
dụng vốn có mối quan hệ ngược ngược chiều. Các doanh nghiệp hầu hết dựa vào vốn nợ,
và vì vậy họ phải trả nhiều tiền lãi.
31
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CÁC CÔNG TY NGÀNH THÉP VIỆT NAM
Các lý thuyết, như đã chỉ ra ở trên, đã đươc phát triển trong hai thập niêngần đây để
giải thích sự khác nhau trong tỷ lệ nợ trên vốn của các doanh nghiệp. Mặc dù còn những

tranh cãi chưa đi đến kết luận về sự liên quan giữa quyết định tài chính và giá trị của doanh
nghiệ, nhưng vẫn có những bằng chứng theo kinh nghiệm về việc các doanh nghiệp lựa
chọn giữa các công cụ tài chính tại một thời điểm như thế nào. Trên hết, những lý thuyết đã
phát triển ở các nước phát triển cần được kiểm chứng lại về tính phù hợp của nó ở các nước
đang phát triển như Ấn Độ trong thời gian gần đây, đặc biệt là trong trường hợp mở rộng
thương mại. Ngoài những đóng góp hữu ích của nó được xác định bởi những kinh nghiệm
từ các doanh nghiệp của Mỹ và những nước phát triển khác, nhưng câu hỏi đặt ra cho các
nhà quản trị Ấn Độ là nên phát hành nợ hay cổ phần.
Chính phủ Ấn Độ bắt đầu chính sách mở rộng kinh tế vào năm 1991. Trước năm
1991, thay đổi trong lĩnh vực công nghiệp của quốc gia này là hạn chế đến mức tối thiểu.
Lĩnh vực này chiếm 1/5 trong tổng các hoạt động kinh tế của quốc gia này. Cấu trúc ngành
của lĩnh vực công nghiệp đang thay đổi từng bước một. Hầu hết khu vực công nghiệp được
nắm giữ bởi các hộ kinh doanh mang tính chất chi phối lâu dài. Sau 1991, việc tái cấu trúc
diễn ra với sự nổi lên của nhiều ngành kĩ thuật tiến bộ trong các doanh nghiệp công nghiệp.
Ngày nay, các xí nhiệp quy mô vừa và nhỏ góp phần quan trọng trong nền kinh tế. Giữa
thập niên 90, vốn tư nhân vượt qua vốn xã hội. Hệ thống quản lý thay đổi từ hệ thống dựa
trên gia đình truyền thống sang hệ thống có các nhà quản lý chuyên nghiệp và có trình độ.
Dựa trên quan điểm của các tài liệu nghiên cứu trên, mục tiêu của bài này là nhằm
nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc tài chính của doanh nghiệp và các yếu tố quyết định.
Mục tiêu cơ bản của nghiên cứu này là để kiểm tra mô hình (nợ - vốn) tài trợ cho tài sản
của các doanh nghiệp sắt thép Ấn Độ trong giai đoạn 1991 -92 đến 2009 – 10. Một thử
nghiệm được thực hiện để kiểm tra tác động của các nhân tố ảnh hưởng tới quyết định cấu
trúc vốn. Cụ thể hơn, nghiên cứu tập trung vào phân tích và giải thích tác động của cơ cấu
tài sản, tác động của rủi ro kinh doanh, tác động tăng trưởng, tác động lợi nhuân, giá trị tài
sản đảm bảo, tác động vòng đời, quy mô doanh nghiệp, lĩnh vực kinh doanh và cơ cấu chủ
sở hữu đến tỉ số nợ/vốn.
31
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CÁC CÔNG TY NGÀNH THÉP VIỆT NAM
CHƯƠNG III: MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
3.1 Đề xuất mô hình nghiên cứu

3.1.1 Xây dựng các giả thuyết
Giữ trong xem các kết quả của các nghiên cứu liên quan khác nhau về cơ cấu vốn như
đã đề cập và tương ứng với các mục tiêu của nghiên cứu này, các giả thuyết sau đây đã
được xây dựng và thử nghiệm.
Giả thuyết:
H0: tỷ lệ nợ-vốn cổ phần của các công ty không bị ảnh hưởng bởi các biến số tài
chính.
H1: tỷ lệ nợ-vốn cổ phần của các công ty bị ảnh hưởng (tích cực / tiêu cực) bởi các
biến tài chính nêu trên.
Giả thuyết H1 có thể được chia nhỏ hơn nữa thành các loại sau.
H01: Tỷ lệ vốn nợ được ảnh hưởng tích cực của các thành phần tài sản.
H02: Tỷ lệ vốn nợ được ảnh hưởng tích cực của giá trị tài sản thế chấp.
H03: Tỷ lệ vốn nợ bị ảnh hưởng tiêu cực bởi thu nhập tỷ lệ.
H04: Tỷ lệ vốn nợ được ảnh hưởng tích cực bởi kích thước của công ty.
H05: Tỷ lệ vốn nợ bị ảnh hưởng tiêu cực bởi độ tuổi của công ty.
H06: Tỷ lệ vốn nợ bị ảnh hưởng tiêu cực bởi các rủi ro kinh doanh.
H07: Tỷ lệ phần là tích cực liên quan đến lá chắn thuế không nợ.
H08: Tỷ lệ phần là tiêu cực liên quan đến tính linh hoạt.
H09: Tỷ lệ phần là tiêu cực liên quan đến cơ hội tăng trưởng.
3.1.2 Mô hình kinh tế
Nghiên cứu thực nghiệm trước đó đã được xem xét để xác định mô hình kinh tế trên
các yếu tố quyết định cơ cấu vốn. Do đó chúng tôi thừa nhận rằng đòn bẩy có thể được giải
thích bởi yếu tố quyết định sau đây:
LEVERAGE= f (Phần tài sản, tài sản thế chấp tài sản, lợi nhuận, kích cỡ, Tuổi, rủi ro
kinh doanh, lá chắn thuế không nợ, linh hoạt, cơ hội tăng trưởng) (1)
31
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CÁC CÔNG TY NGÀNH THÉP VIỆT NAM
Mô hình kinh tế của phương trình (1) được quy định và mở rộng như sau:
LEVERAGE= α + β
1

ASSET + β
2
COLLATERAL + β
3
PROF1 + β
4
PROF2+ β
5
SIZE +
β
6
AGE +β
7
VOLA
1

8
VOLA
2

9
NDTS + β
10
FLEX+β
11
GROWTH
1

12
GROWTH

2
+ ε(2)
ε là sai số, đại diện cho sai số đo lường trong các biến độc lập và bất kỳ biến giải thích
khác đã được bỏ qua, và các biến khác như định nghĩa ở trên.
Các biến độc lập là sử dụng proxy cho các yếu tố quyết định. Thứ nhất, chúng tôi sử
dụng cuốn sách Tỷ lệ tổng nợ phải trả (DE) và điều này được định nghĩa là tổng nợ phải trả
chia cho tổng số nợ cộng với giá trị sổ sách của cổ phần (giá trị thực).
DE được sử dụng như một thước đo đòn bẩy cho nghiên cứu này vì sự hỗ trợ lý thuyết
mạnh mẽ trong bối cảnh thực tế. Trong thực tế, khi một công ty muốn được thêm nợ, các
chủ nợ không chỉ xem xét nợ dài hạn của công ty là bao nhiêu, mà còn xem xét nợ hiện tại
của công ty và tổng nợ phải trả là bao nhiêu. Vì vậy, một phần của khoản nợ khác cũng ảnh
hưởng đến khả năng vay nợ của một công ty.
3.2 Mô tả các biến trong mô hình
3.2.1 Biến phụ thuộc
Đòn bẩy: Là tỷ lệ tài sản được tài trợ bằng nợ.
Trong khi đo lường mức độ đòn bẩy, các nhà nghiên cứu dựa trên hai phương pháp
tiếp cận. Một là phương pháp của Titman và Wessels (1988). Trong phương pháp này, họ
tính toán đòn bẩy bằng tỷ số giá trị sổ sách của nợ trên giá trị sổ sách của nợ cộng với giá
trị thị trường của vốn cổ phần. Rajan và Zingales (1995), Shah và Hijazi (2006) đã sử dụng
phương pháp thứ hai. Họ sử dụng tỷ số giá trị sổ sách của nợ trên giá trị sổ sách của nợ
cộng với giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu. Frank và Goyal (2003) cho rằng sự khác biệt
giữa tỷ lệ nợ dựa trên giá trị thị trường và tỷ lệ nợ dựa trên giá trị sổ sách ở chỗ tỷ lệ nợ dựa
trên giá trị thị trường phản ánh tình hình tương lai của công ty trong khi tỷ lệ nợ dựa trên
giá trị sổ sách phản ánh tình hình vừa qua.Trong mô hình này, chúng ta áp dụng giá trị sổ
sách của tổng tài sản và giá trị sổ sách của các khoản nợ để tính đòn bẩy
31
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CÁC CÔNG TY NGÀNH THÉP VIỆT NAM
3.2.2 Biến độc lập
3.2.2.1 Tài sản
Phần tài sản được cho là có quan quan hệ tỉ lệ thuận với tỷ lệ nợ trên vốn chủ sợ hữu

của một công ty vì các chủ nợ mong muốn đảm bảo cho các khoản cho vay được đảm bảo
bởi một số tài sản cố định thế chấp.
3.2.2.2 Tài sản đảm bảo
Biger, Nguyễn, và Hoàng (2008) chỉ ra rằng cơ cấu tài sản của công ty ảnh hưởng đến
đòn bẩy của nó theo những cách tích cực và cả tiêu cực. Biger, Nguyễn, Hoàng lập luận
rằng công ty có tỷ lệ tài sản có thể sử dụng để thế chấp cao có xu hướng sử dụng nợ nhiều
hơn phát hành vốn cổ phần mới vì chi phí liên quan đến việc phát hành vốn cổ phần tăng do
sự bất đối xứng thông tin giữa người trong và ngoài công ty, do đó, giữa tỷ lệ nợ và tài sản
thế chấp của công ty có mối quan hệ tỷ lệ thuận.
3.2.2.3 Lợi nhuận
Lý thuyết đánh đổi giải thích cho tỷ lệ nợ của các công ty có rủi ro cao (Myers 1984).
Lợi nhuận cao hơn của các công ty ngụ ý rằng các công ty này có khả năng vay nợ cao và ít
rủi ro hơn cho chủ nợ. Vì vậy, theo lý thuyết này, cơ cấu vốn và lợi nhuận có quan hệ tỷ lệ
thuận.
Nhưng lý thuyết trật tự phân hạng lại cho thấy rằng mối quan hệ này là tỷ lệ nghịch.
Hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm ủng hộ giả thuyết trật tự phân hạng như các nghiên
cứu của Titman và Wessels (1988), Kester (1986), bạn bè và Hasbrouck (1989), bạn bè và
Lang (1988), Gonedes và những người khác (1988), các nghiên cứu của Ấn Độ và Nepal
cũng cho thấy những bằng chứng về mối quan hệ tỷ lệ nghịch này (Baral 1996).
31
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CÁC CÔNG TY NGÀNH THÉP VIỆT NAM
3.2.2.4 Quy mô công ty
Lý thuyết chi phí phá sản giải thích mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa cơ cấu vốn và quy
mô của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp lớn có có mức độ đa dạng hoá cao hơn sẽ ít bị phá
sản hơn (Rajan và Zingales, 1995). Họ cũng sẽ phát sinh chi phí thấp hơn trong việc phát
hành nợ hoặc vốn chủ sở hữu. Vì vậy, các công ty lớn thường sẽ sử dụng nhiều vốn vay
trong cơ cấu vốn của họ hơn so với các công ty nhỏ. Ngoài ra, nghiên cứu của Titman và
Wessels, 1988; Michaelas và cộng sự năm 1999 lập luận rằng các công ty nhỏ hơn có xu
hướng có ít nợ dài hạn hơn vì xung đột giữa cổ đông – chủ nợ.
Các nghiên cứu cũng ủng hộ mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa quy mô công ty và tỷ lệ nợ

trong cơ cấu vốn của doanh nghiệp Kester, 1986; Lasfer năm 1999; Rajan và Zingales năm
1995; Barclay và cộng sự, 1995; Booth và cộng sự 2001
3.2.2.5 Tuổi của doanh nghiệp
Theo Petersen và Rajan (1994) doanh nghiệp có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với đòn bẩy
do các doanh nghiệp càng lâu đời có khả năng tiết kiệm tài chính càng cao và do đó tránh
dùng đến nợ. Các công ty mới thành lập có xu hướng sử dụng tài trợ từ bên ngoài trong khi
các doanh nghiệp thành lập lâu có xu hướng tích lũy lợi nhuận giữ lại.
3.2.2.6 Rủi ro kinh doanh
σ EBIT: là độ lệch chuẩn EBIT trong 4 quý của 1 năm quan sát. Nhóm sử dụng công
thức STDEV trong excel để tính toán số liệu.
μ EBIT: là trung bình quý của EBIT trong 1 năm quan sát. Nhóm sử dụng hàm
AVERAGE trong Excel để tính toán.
Cả hai lý thuyết chi phí đại diện và chi phí phá sản cho thấy mối quan hệ tỷ lệ nghịch
giữa cơ cấu vốn và rủi ro kinh doanh.
31
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CÁC CÔNG TY NGÀNH THÉP VIỆT NAM
Lý thuyết chi phí phá sản cho rằng doanh thu của các doanh nghiệp càng kém ổn định,
thì khả năng phá sản của doanh nghiệp càng cao và tỷ trọng chi phí phá sản trong các quyết
định tài chính của doanh nghiệp càng lớn. Tương tự như vậy, khi khả năng phá sản tăng,
chi phí đại diện liên quan đến nợ cũng sẽ tăng. Do đó, lý thuyết này cho rằng khi rủi ro kinh
doanh tăng, tỷ lệ nợ trong cơ cấu vốn của doanh nghiệp sẽ giảm (Taggart 1985).
Nghiên cứu của Martin và những người khác 1988, Sharma (1983) và Chamoli (1985)
lại cho thấy các bằng chứng về mối quan hệ tỷ lệ thuận.
3.2.2.7 Tác động của lá chắn thuế
3.2.2.8 Tính linh hoạt
Theo lý thuyệt trật tự phân hạng, đòn bẩy và tính linh hoạt sẽ có quan hệ tỷ lệ nghịch.
3.2.2.9 Tỷ lệ tăng trưởng
Lý thuyết chi phí đại diện cho thấy rằng các công ty có tỷ lệ vốn chủ sở hữu chiếm tỷ
lệ kiểm soát có xu hướng đầu tư phụ tối ưu để tận dụng vốn từ phát hành trái phiếu của
doanh nghiệp. Chi phí đại diện có thể cao hơn cho các doanh nghiệp trong các ngành công

nghiệp đang phát triển, những ngành công nghiệp này có sự linh hoạt hơn trong sự lựa chọn
đầu tư trong tương lai. Do đó, tốc độ tăng trưởng tỷ lệ nghịch với tỷ lệ nợ dài hạn (Jensen
và Meckling 1976). Kết luận của lý thuyết này củng cố bởi các nghiên cứu thực nghiệm
được thực hiện bởi Kim và Sorensen (1986), và Titman và Wessels (1988).
31
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CÁC CÔNG TY NGÀNH THÉP VIỆT NAM
Lý thuyết trật tự phân hạng, trái ngược với lý thuyết chi phí đại diện, cho thấy mối
quan hệ tỷ lệ thuận giữa tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ nợ của các doanh nghiệp. Điều này
được dựa trên lập luận rằng, trong trường hợp các yếu tố khác không đổi, tốc độ tăng
trưởng cao hơn hàm ý một nhu cầu cao hơn đối với tài trợ, doanh nghiệp sẽ dựa nhiều hơn
vào tài chính bên ngoài thông qua nợ (Sinha 1992). Do đó, theo lý thuyết trật tự phân hạng,
các nhà quản lý ưu tiên tài trợ nội bộ hơn tài trợ từ bên ngoài và ưu tiên chứng khoán nợ
hơn nếu phát hành cổ phiếu (Myers 1984).
31
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CÁC CÔNG TY NGÀNH THÉP VIỆT NAM
Yếu tố
quyết định
(Viết tắt)
Định nghĩa
Dự đoán
dấu hiệu
Các nghiên cứu thực nghiệm
liên quan
Thành
phần tài
sản
(ASSET)
Tài sản cố định
ròng chia cho
tổng tài sản

+
Bradley et al., 1984; Kremp et al., 1999; Frank
and Goyal, 2002;Marsh (1982), Friend and
Lang (1988), Harris and Raviv (1990), Rajan
and Zingales, 1995; Wiwattanakantang, 1999;
Hirota, 1999; Wald, 1999; Booth et al. (2001),
Bevan and Danbolt (2002), Deesomsak,
Paudyal and Pescetto (2004), Chen (2004);
Tài sản
thế chấp
Tài sản cố định
ròng cộng với
hàng tồn kho
cộng với khoản
phải thu chia cho
tổng tài sản.
+
Grossman and Hart (1982); Biger, Nguyen, and
Hoang(2008), Jensen M, Meckling W,
(1976)&Myers,SC, (1977)
Lợi nhuận
(ROA)
Tỷ lệ phần trăm
của lợi nhuận
trước thuế chia
cho tổng tài sản
-
Kester (1986) Friend and Lang (1988), Titman
and Wessels (1988), Rajan and
Zingales(1995),Wald(1999),Wiwattanakantang

(1999), Booth et al. (2001) Deesomsak,
Paudyal and Pescetto (2004)
Quy mô
(SALE)
Logarit tự nhiên
của bán hàng
+
Marsh (1982), Kester (1986), Rajan and
Zingales (1995), Wald (1999), Booth et al.
(2001). Homaifar et al., 1994; Michaleas et
al., 1999; Ozkan, 2001; Sogorb Mira, 2002;
Cassar & Holmes, 2003; Panno, 2003;
Deesomsak 2004; Akhtar, 2005; Fattouh et al.,
2005; Gaud et al., 2005; Song, 2005
Tuổi
Số năm kể từ khi
thành lập
-
Petersen and Rajan, (1994); Michaleas,
(1999); Berger &Udell, 1998; Coleman &
Carski, 1999; Romano et al. 2000
Rủi ro kinh
doanh/biến
động
(RISK)
Giá trị tuyệt đối
của sự thay đổi
trong ROA
-
Marsh (1982), Bradley, Jarell and Kim (1984),

Titman and Wessels (1988), Chaplinsky and
Niehaus (1993), Jung, Kim and Stultz (1996),
Booth et al (2001), Cassar and Holmes (2003),
Wald (1999), Chen (2004).
Tác dụng
của tấm
chắn thuế
(NDTS)
Lợi nhuận trước
thuế ít hơn (thanh
toán thuế doanh
nghiệp chia cho
tỷ lệ thuế doanh
+
Bardley, Jarrel and Kim (1984); Harris and
Raviv (1990); Chaplinsky and Niehaus (1993)
Wald (1999); Hirota (1999).
31
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CÁC CÔNG TY NGÀNH THÉP VIỆT NAM
Bảng 3.1 Các biến độc lập, định nghĩa và dấu hiệu dự đoán
3.3 Dữ liệu phân tích
3.3.1 Thu thập dữ liệu
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp trong giai đoạn từ quý I - 2009 đến quý IV –
2012 để phân tích mô hình hành vi của các yếu tố quyết định cấu trúc vốn của các công ty
thép ở Việt Nam. Các dữ liệu tài chính được sử dụng cho mục đích của nghiên cứu này
được thu thập từ các website www.cafef.vn, www.cophieu68.vn … đã được sử dụng để thu
thập dữ liệu cần thiết cho nghiên cứu. Nghiên cứu này được dựa trên các dữ liệu thu thập từ
các công ty ngành thép được niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam (HOSE và HNX)
trong giai đoạn 2009 – 2012. Sau khi sàng lọc các công ty với các dữ liệu không đầy đủ,
chúng tôi đã lọc ra 19 công ty được sử dụng trong nghiên cứu.

3.3.2 Xử lý dữ liệu
Dựa vào dữ liệu thứ cấp lấy được từ các báo cáo tài chính của các công ty ngành thép
Việt Nam và các công thức ở trên, nhóm tính toán được các dữ liệu để kiểm định mô hình
đề nghị (Dữ liệu thứ cấp được đính kèm trong phụ lục 1). Tuy nhiên trước khi kiểm định
mô hình hồi quy, nhóm tiến hành kiểm tra vấn đề đa cộng tuyến giữa các biến độc lập.
31
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CÁC CÔNG TY NGÀNH THÉP VIỆT NAM
CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH
4.1 Kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến độc lập
Trong mô hình hồi quy bội, nếu hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến độc lập xảy ra
thì sai số chuẩn sẽ lớn và do đó làm cho giá trị t nhỏ đi. Kết quả làm tăng khả năng chấp
nhận giả thiết H0. Do vậy trước khi chạy mô hình hồi quy, nhóm tiến hành kiểm định hiện
tượng đa cộng tuyến giữa các biến giải thích. Bảng dưới đây trình bày sự tương quan giữa
các biến bằng phần mềm Eview7:
Do hệ số tương quan giữa Asset và Collateral; Asset và NDTS; Collateral và NDTS
lần lượt là 0.982079; 0.989886; 0.9689415 là rất cao nên đã xảy ra có hiện tượng đa cộng
tuyến giữa các biến trên.
Để khắc phục hiện tượng này, nhóm tiến hành lấy sai phân cấp 1 lần lượt của các biến
trên và tiếp tục kiểm tra sự tương quan giữa các biến. Sai phân cấp 1 của các biến được lấy
theo công thức sau: D(X)=Xt-Xt-1(với X là biến cần lấy sai phân). Sử dụng phần mềm
Eview 7, nhập câu lệnh Genr Asset1=D(asset), Genr Collateral1=D(Collateral); Genr
NDTS1=D(NDTS) ta được các biến mới Asset1, Collateral1, NDTS1 là sai phân cấp 1 của
các biến trên. Tuy nhiên, việc lấy sai phân cấp 1 sẽ làm mất giá trị quan sát của quý 1 năm
2010 nên số lượng quan sát giảm 19 quan sát, từ 228 xuống còn 209. Sau khi tính toán
31
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CÁC CÔNG TY NGÀNH THÉP VIỆT NAM
được các dữ liệu sai phân cấp 1, nhóm tiếp tục kiểm tra lại vấn đề đa cộng tuyến giữa các
biến trên. Kết hợp lần lượt ASSET1, COLLATERAL1; ASSET1, NDTS1; NDTS1,
COLLATERAL1, ta có 3 bảng tương quan, 3 bảng hồi quy khác nhau. Sau đó, nhóm so
sánh mức độ giải thích các biến của 3 kết hợp trên và quyết định chọn kết hợp nào có mức

độ giải thích các biến cao nhất. Kết hợp COLLATERAL1, NDTS1 được chọn vì có thể giải
thích được 7 biến có mối quan hệ với đòn bẩy.
Trường hợp sai phân bậc 1 của NDTS và bậc 1 của Collaterall, bảng tương quan giữa
các biến như sau:
Với bảng tương quan trên, ta thấy không biến nào có hệ số tương quan cao hơn 0.9.
Do vậy, không có hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến trên. Nhóm tiếp tục chạy hồi quy
sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất bằng phần mềm EVIEW 7 để kiểm định mức
độ ảnh hưởng của các biến giải thích lên đòn bẩy nợ. Bảng dưới đây thể hiện kết quả hồi
quy:
31
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CÁC CÔNG TY NGÀNH THÉP VIỆT NAM
Hệ số xác định
2
R
là 0.96658 và hệ số xác định điều chỉnh
2
R
là 0.985841, khá cao
nên mức độ giải thích mô hình tốt. Mô hình giải thích khoảng hơn 98% mức độ ảnh hưởng
của biến giải thích lên biến phụ thuộc. Kiểm định Durbin Watson bằng 1.219684 giải thích
rằng mô hình không có hiện tượng tự tương quan. Do vậy, mô hình hồi quy trên hoàn toàn
phù hợp để giải thích tác động của các biến tài sản, tài sản đảm bảo, lợi nhuận, kích cỡ,
tuổi, rủi ro, tấm chắn thuế không nợ, tính thanh khoản và cơ hội tăng trưởng lên đòn bẩy tài
chính của doanh nghiệp. Kết quả hồi quy cho ta thấy rằng với mức ý nghịa 5% thì 6 biến là
tài sản, tài sản đảm bảo, lợi nhuận, tuổi, rủi ro, và tính thanh khoản có ý nghĩa thống kê tác
động đến đòn bẩy tài chính. Kết quả trên cũng thể hiện rằng thành phần tài sản, tài sản đảm

×