Tải bản đầy đủ (.doc) (19 trang)

Kinh nghiệm xây dựng luật chứng khoán của các nước và bài học thực tiến cho việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (165.39 KB, 19 trang )

THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN CH14AH
CHƯƠNG I
Thực Trạng Luật Chứng khoán Việt Nam
1.1 Tư tượng chủ đạo trong Luật Việt Nam
Thứ nhất: Luật chứng khoán tạo lập khuôn khổ pháp lý cao cho hoạt
động của TTCK, loại bỏ những mâu thuẫn, xung đột với các văn bản pháp luật
khác có liên quan nhằm hoàn thiện mô hình hoạt động của thị trường và thúc
đẩy TTCK phát triển.
Luật Chứng khoán sẽ có phạm vi điều chỉnh rộng hơn cả về thị trường
phát hành cũng như thị trường giao dịch, đồng thời điều chỉnh hoạt động của
các thanh viên thị trường nhằm tạo ra một khuôn khổ pháp lý đầy đủ, đồng
bộ, tạo điều kiện cho thị trường phát triển nhanh và ổn định, bảo vệ lợi Ých
hợp pháp của các tổ chức, cá nhân khi tham gia kinh doanh, đầu tư vào
TTCK.
Về thị trường phát hành: Ngoại trừ việc chào bán trái phiếu chính phủ,
chào bán cổ phiếu ra công chúng của các doanh nghiệp nhà nước chuyển đổi
thành CtyCP, các tổ chức có đủ điều kiện phát hành chứng khoán ra công
chúng phải đăng ký với UBCKNN và phải tuân thủ các quy định về việc chào
bán chứng khoán ra công chúng. Quy định này sẽ tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp trong việc huy động vốn trên TTCK đồng thời cũng tạo ra những
chuẩn mực cần thiết về chất lượng các chứng khoán khi phát hành trên
TTCK.
Về thị trường giao dịch chứng khoán: Nếu như Nghị định 144 chỉ quy
định về thị trường giao dịch chứng khoán tập trung thì Luật Chứng khoán đã
mở rộng phạm vi thị trường, bao gồm TTCK tập trung và TTCK phi tập
trung, theo đó sở Giao dịch Chứng khoán (SGDCK), TTGDCK, các Công ty
Phouvong Viphongsay
1
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN CH14AH
chứng khoán được cấp giấy phép được tổ chức thị trường giao dịch chứng
khoán. Điều này sẽ tạo diều kiện phát triển thị trường giao dịch chứng khoán


có tổ chức đồng thời thu hẹp thị trường tự do, nâng cao tính thống nhất và
đảm bảo nguyên tắc cơ bản của TTCK.
Về các lại hình kinh doanh dịch vị chứng khoán, Luật Chứng khoán đã
bao trùm các hoạt động kinh doanh, dịch vị chứng khoán như: môi giới, tự
doanh, bảo lãnh phát hành, quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, quản lý danh
mục đầu tư, lưu ký chứng khoán… Theo đó, quyền và nghĩa vị của các tổ
chức này đã được quy định rõ ràng, tạo điều kiện cho các tổ chức trung gian
trên TTCK có cơ hội phát triển và chính họ sẽ là người xây dựng và phát triển
TTCK.
Thứ hai: Luật Chứng khoán sẽ tạo cơ sở pháp luật đầy đủ để tăng
cường công tác quản lý thị trường nhằm bảo vệ quyền và lợi Ých hợp pháp
của nhà đầu tư và các tổ chức tham gia thị trường; tạo cơ sở pháp lý để giám
sát, cưỡng chế thực thị, đảm bảo các doanh nghiệp tham gia trên thị trường
phải hoạt động công khai, minh bạch, tự do góp phần làm minh bạch hóa nền
kinh tế.
Hiện nay, theo Nghị định 144, thị trường giao dịch chứng khoán tập
trung được tổ chức dưới hình thức TTGDCK. TTGDCK là đơn vị sự nghiệp
có thu, trực thuộc UBCKNN, kinh phí hoạt động của TTGDCK do ngân sách
Nhà nước cấp. Do vậy, tính độc lập của TTGDCK không cao, đặc biệt là công
tác quản trị điều hành còn mang tinh hành chính, thẩm quyền về giám sát các
hoạt động giao dịch trên Trung tâm còn hạn chế.
Đối với vấn đề giám sát và xử lý vi phạm, Nghị định 144 không bao
trùm hết các hành vi vi phạm và chưa xác định rõ nguyên tắc xử phạt cũng
nh thẩm quyền xử phạt vi phạm trong hoạt động chứng khoán và TTCK. Hạn
Phouvong Viphongsay
2
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN CH14AH
chế này có ảnh hưởng đến sự công khai, minh bạch của khuôn khổ pháp lý
trên cả phương diện quản lý nhà nước cũng nh bảo vệ lợi Ých của nhà đầu tư.
Dự thảo Luật Chứng khoán đã xác định rõ những nguyên tắc hoạt động

của TTCK, xác định các hành vi bị cấm nh gian lận và lừa đảo, giao dịch nội
gián thị trường. Các nguyên tắc và các hành vi bị cấm này lựa trên cơ sở kinh
nghiệm của các nước có hoạt động TTCK. Bên cạnh đó Luật đã quy định rõ
ràng về quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân bên ngoài, quy định về
hạn chế phòng ngừa xung đột lợi Ých, vấn đề thanh tra, xử lý vi phạm kha rõ
ràng.
Luật Chứng khoán đã xác định cơ quan trục tiếp quan lý TTCK là
UBGDCK và có một điều riêng quy định về nhiệm vị, quyền hạn của cơ quan
nay. Ngoại các chức năng hiệm vụ của UBCKNN nh hiện nay. Dự thảo Luật
đã đề cập đến chức năng diều tra của UBCKNN trong việc thu thập các chứng
cứ đÓ kết luận vụ việc vi phạm về chứng khoán và TTCK, đồng thời quy định
về thanh tra xử lý vi phạm. Thanh tra chứng khoán là thanh tra chuyên ngành
thuộc bộ máy của UBCK, thanh tra có thẩm quyển xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực chứng khoán. Nội dung các hình thức xử phạt đã được
chi tiết hơn trong Dự thảo luật Chứng khoán lần thứ 10 để đảm bảo tính thức
thi của pháp luật cũng như đề cao vai trò quản lý nhà nước và phòng ngừa rủi
ro.
Ngoài vai trò của cơ quan quản lý nhà nước, Luật Chứng khoán đã đề
cao vai trò của các tổ chức tự quản nh SGDCK, TTGDCK. Theo đó, SGDCK,
TTGDCK là các đơn vị tổ chức độc lập có nghĩa vị, quyền hạn riêng, có tổ
chức bộ máy cũng nh diều lệ hoạt động riêng, nhằm phát huy vai trò của tổ
chức tự quản theo thông lệ quốc tế. SGDCK, TTGDCK có quyền ban hành
các quy chế hoạt đọng của mình sau khi được cơ quan có thẩm quyền phê
chuẩn, đồng thời có vai trò giám sát các thành viên, giám sát cá hoạt đọng
Phouvong Viphongsay
3
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN CH14AH
giao dịch trên SGDCK, TTGDCK theo mô hình hệ thống giám sát 2 cấp (cấp
sở và cấp UBCK) như các nước khác.
Để bảo vệ quyền và lợi Ých hợp pháp của các nhà đầu tư, đồng thời để

đảm bảo cho thị trường hoạt động công khai minh bạch, Dự thoả luật Chứng
khoán đã có những quy định cụ thể về nghĩa vụ báo cáo cà công bố thông tin
của công ty đại chúng. Các công ty đại chúng có nghĩa vụ phải thực hiện công
bố thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác tới các cấp quản lý và ra công chúng
đầu tư theo các loại hình như công bố thông tin bất thường và công bố thông
tin theo yêu cầu.
Thứ ba: Luật Chứng khoán được xây dựng phù hợp vơdi luật pháp,
thông lệ quốc tế nhằm tạo diều kiện cho TTCK Việt Nam có khả năng hội
nhập với các thị trường vốn quốc tế và khu vực, đặc biệt là đáp ứng được lộ
trình thực hiện các cam kết trong Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ
và gia nhập Tổ chức thương mại thế giới.
Cùng với xu thế hội nhập của nền kinh tế đất nước, vấn đề hội nhập của
TTCK cũng được đặt ra. Tuy nhiên về khả năng phát triển thị trường và hội
nhập, hiện nay, Nghị định 144 có những quy định chưa được rõ ràng và chuẩn
mực theo nguyên tắc thị trường, vì vậy sẽ co khó khăn khi thị trường phát
triển ở trình độ cao và khi Việt Nam hội nhập với thị trường vốn quốc tế.
Vì vậy, Luật Chứng khoán đã được xây dựng với những quy định mới
đề đáp ứng được các yêu cầu về hội nhập quốc tế. Điều nay được thể hiện ở
những quy định về đối tượng áp dụng trong Luật là Luật không có sư phân
biệt đối xử giữa các nhà đầu tư là các tổ chức, cá nhân trong nước và nước
ngoài tham gia đầu tư và hoạt động trên TTCK Việt Nam. Tuy nhiên, Luật có
quy định trường hợp. Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã thành viên có quy
định khác vố quy định của Luật thì áp dụng điều ước quèc tế đó Chính phủ.
Phouvong Viphongsay
4
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN CH14AH
Quy định cụ thể về thực hiện điều ước quốc tế phù hợp với lộ trình hội
nhập và cam kết quốc tế.
Theo Luật Đầu tư vừa được Quốc hội thông qua, hoạt động đầu tư gián
tiếp (mua,bán cổ phiếu, cổ phiếu trái phiếu và các giấy tờ có giá khác hoặc

thông qua Quỹ đầu tư chứng khoán) của nhà ĐTNN trên TTCK Việt Nam
được thực hiện theo quy định của pháp luật về chứng khoán.
Điều này cho thấy, bản thân Luật Chứng khoán và các văn bản hướng
dẫn cần quy định rõ hơn về điều tra gián tiếp, trong đó có nội dung tham gia
của các nhà ĐTNN vào Việt Nam cũng như đầu tư từ Việt Nam ra nước
ngoài. Về việc tham gia của các nhà ĐTNN vào TTCK Việt Nam thể hiện
trên 2 giác độ chính sau:
Một là, các nhà ĐTNN có thể liên kết với các đối tác trong nước thành
lập Công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ liên doanh; thành lập doanh
nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc chi nhánh Công ty chứng khoán, công ty
quản lý quỹ nước ngoài tại Việt Nam thực hiện theo lộ trình hội nhập.
Hai là, các nhà ĐTNN mua cổ phần của các doanh nghiệp trên TTCK
Việt Nam phù hợp với lộ trình hội nhập. Hiện nay, các nhà ĐTNN dược sở
hữu tối đa 49% cổ phiếu của Công ty Cổ phần niêm yết trên TTCK. Việc mở
rộng tỷ lệ nắm giữ của các nhà ĐTNN sẽ thực hiện theo cam kết của hội nhập.
Những nội dung này do Chính phủ quy định đảm bảo nguyên tắc và
cam kết phù hợp với quá trình hội nhập.
Với những tư tưởng chủ dạo đó. Luật Chứng khoán cũng nh những bộ
luật khác đã được xây dựng với một tinh thần nghiêm túc và cẩn trọnh. Hơn
nữa, Luật Chứng khoán lại là mịit luật rất chuyên ngành và chuyên sâu về
nghiệp vụ. Trong điều kiện nền kinh tế phát triển với tốc độ cao, nhu cầu vốn
cho đầu tư phát triển lớn, đòi hỏi phải phát triển TTCK để trở thành kênh huy
độnh vốn quan trọng cho phát triển. Qua những kết quả ban đầu từ hoạt động
Phouvong Viphongsay
5
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN CH14AH
của 2 TTGDCK Tp. Hồ Chí Minh và Hà Nội cho thấy, nếu có sự quản lý tốt
và hoạt độnh suôn sẻ, ổn định thì TTCK sẽ góp phần hữu hiệu vào công cuộc
phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
1.2 Những kết quả đạt được của Luật Chứng khoán

Với mục tiêu đảm bảo tính linh hoạt cần thiết đối với hệ thống pháp lý
trong giai đoạn khởi đầu của TTCK và có tính đến các bước phát triển đồng
bộ, ngày 11/7/1998, UBCKNN đã trình Chính phủ ban hành Nghị định
48/1998/NĐ-CP về chứng khoán và TTCK (Nghị định 48) và các văn bản
hướng dẫn thi hành như : Thông tư về phát hành phiếu, trái phiếu ra công
chúng; Quy chế thành viên, niêm yết, công bố thông tin và giao dịch chứng
khoán : Quy chế đăng ký, lưu ký và thanh toán bù trừ; Quy chế tổ chức và
hoạt động của Công ty chứng khoán; Quy chế về tổ chức và hoạt động của
quỹ đầu tư chứng khoán (Quỹ ĐTCK) và công ty quản lý quỹ (Công ty QLQ)
… Ngoài ra , UBCKNN cũng đã phối hợp với các Bộ, ngành liên quan ban
hành các chính sách ưu đại về thuế, chế độ thu phí, lệ phí, chế độ quản lý tài
chính, kế toán, chế độ quản lý ngoại hối đối với hoạt động trong lĩnh vực
chứng khoán. Tuy nhiên, sau 3 năm thi hành Nghị định 48 đã bộc lộ nhiều bất
cập và hạn chế. Nghị định được soạn thảo và ban hành TTCK Việt Nam chưa
đi vào hoạt động , các quy định mang tính nguyên tắc cho vận hành của thị
trường được xây dựng chủ yếu dựa trên khung pháp luật kinh tế của Việt Nam
vào thời điểm ban hành và tham khảo pháp luật về TTCKcủa các nước trên
thế giới, đặc biệt là các thị trường mới nổi của các quốc gia trong khu vực,
chưa có cơ sở thực tiễn nên trong quá trình vận dụng nhiều quy định đã tá ra
thiếu tính khả thi. Mặt khác, phạm vi điều chỉnh của Nghị định còn rất hẹp
chỉ giới hạn trong các công ty phát hành ra công chúng để niêm yết trên
TTCK.
Phouvong Viphongsay
6
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN CH14AH
Với mục tiêu hoàn thiện khuôn khổ pháp luật để TTCK phát triển ổn
định, an toàn và hiệu quả, ngày 28/11/2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định
số 144/2003/NĐ-CP về chứng khoán và TTCK (Nghị định 144) thay thế Nghị
định 48. Nghị định 144 được ban hành đã đánh dấu một bước phát triển mới
trong một quá trình hoàn thiện khung pháp lý cho TTCK Việt Nam. Trên cơ

sở đó, Bộ Tài chính đã ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành và bước đầu
đã đáp ứng được yêu cầu quản lý cũng như tạo ra một hệ thống pháp lý tương
đối đồng bộ, tạo điều kiện để TTCK phát triển lành mạnh. Hệ thông pháp luật
nói trên đã thể chế hoá kịp thời những chủ trương của Đảng và Nhà nước về
phát triển TTCK . Thực tế cho thấy hệ thông pháp luật về chứng khoán đã là
một trong những nhân tố quan trọng góp phần vào việc đạt được những kết
quả ban đầu của TTCK Việt Nam , cụ thể như sau :
Một là : pháp luật về chứng khoán và TTCK đã tạo cơ sở pháp lý cho sù ra
đời của Trung tâm Giao dịchChứng khoán (TTGDCK), hình thành nên TTCK
theo mô hình tập trung với vai trò là kênh huy động vốn quan trọng cho nền
kinh tế, góp phần cải thiện cơ cấu hệ thống tài chính, làm cho nền kinh tế bớt
phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng.
Hai là : pháp luật về chứng khoán tạo ra cơ sở pháp lý xây dựng hệ
thống các tổ chức trung gian hoạt động trên TTCK bao gồm các Công ty
chứng khoán và Công tyQLQ, các tổ chức lưu ký và các ngân hàng chỉ định
thanh toán nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các hoật động kinh doanh, giao
dịch chứng khoán.
Ba là :pháp luật về chứng khoán và TTCK quy định và bảo vệ lợi Ých của
nhà đầu tư , từ đó thu hút các nhà đầu tư đặc biệt là các nhà đầu tư có tổ chức
và nhà đầu tư nước ngoài (ĐTNN) tham gia thị trường.
Bốn là : pháp luật chứng khoán đã tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh
cho các doanh nghiệp, nâng cao tính minh bạch, thực hiện kiểm toán, và bước
Phouvong Viphongsay
7
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN CH14AH
đầu đã thực hiện nguyên tắc quản trị công ty. Trong điều kiện các doanh
nghiệp Việt Nam không phải thực hiện nghĩa vụ kiểm toán, không phải công
bố thông tin thì đây có thể coi là một nét nổi bật đối với các doanh nghiệp
niêm yết trên TTCK.
Năm là : pháp luật về chứng khoán tạo ra hành lang pháp lý để cơ quan

quản lý nhà nước thực hiện chức năng quản lý, giám sát TTCK. Ngày từ khi
thị trường mới đi vào hoạt động việc quản lý, giám sát TTCK đã được
UBCKNN coi trọng, và thực hiện một cách nghiêm túc nhằm đảm bảo cho thị
trường hoạt động an toàn và ổn định.
1.3 Những khó khăn, vướng mắc trong công tác thi hành pháp
luật về chứng khoán và TTCK
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, trong thời gian qua, công tác
thi hành pháp luật về chứng khoán và TTCK còn gặp nhiều khó khăn, vướng
mắc cụ thể nh sau :
- Trong hoạt động quản lý nhà nước về chứng khoán và TTCK :
Thứ nhất : về cơ cầu , tổ chức : theo Quyết định số 127/1998/QT-TTg
ngày 11/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Trung tâm Giao
dịch Chứng khoán (TTGDCK), TTGDCK Tp. Hồ Chí Minh là một đơn vị sự
nghiệp có thu trực thuéc UBCKNN, có tư cách pháp nhân, có trụ sỏ, con dấu
và tài khoản riêng, kinh phí hoạt động do ngân sách nhà nước cấp. Thực tế
trong thời gian qua cho thấy việc đặt TTGDCK TP. HCM trong bộ máy của
UBCKNN đã cho phép tận dụng tối đá bộ máy của UBCKNN trong việc
chuẩn bị các điều kiện về pháp lý, cơ sở vật chất, kỹ thuật và con người cho
việc đưa TTGDCK TP. HCM đi vào hoạt động. Mặt khác , với tư cách là một
đơn vị sự nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước, TTGDCK TP. HCM đã có được sự
hỗ trợ ban đầu to lớn của Nhà nước về kinh phí xây dựng cơ sở hạ tầng, về
Phouvong Viphongsay
8
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN CH14AH
đào tạo nhân lực và đặc biệt là với vị thế này của TTGDCK đã tạo dựng sự
yên tâm, tin tưỏng cho công chúng khi tham gia vào thị trường mới mẻ này.
Tuy nhiên qua thực tế hoạt động, mô hình này hiện nay cũng có nhiều điểm
hạn chế. Tính chủ động của TTGDCK trong các hoạt động niêm yết, thành
viên, nâng cấp hệ thống giám sát còn chưa cao. Trong khi đó, quy định về
chức năng, nhiệm vụ của TTGDCK và UHCKNN tại các văn bản pháp luật

về chứng khoán hiện còn có điểm chưa rõ ràng và trùng lặp, gây nhiều khó
khăn trong quá trình thực hiện, đòi hỏi cần phải chỉnh sửa nhằm nâng cao tính
độc lập, tự chủ của TTGDCK trong việc điều hành, quản lý thị trường.
Thứ hai : về nội dung và phạp vi quản lý nhà nước về chứng khoán
và TTCK: Nghị định 144 hiện nay mới chỉ điều chỉnh việc phát hành chứng
khoán trên TTCK tập trung , chưa điều chỉnh hoạt động của thị trường phi
tâpl trung, do vậy một mặt đã làm thị trường thứ cấp chậm phát triển; mặt
khác , các hoạt động giao dịch chứng khoán hiện nay đang diễn ra khá sôi
động trên thị trường tự do mà không có sự quản lý của Nhà nước.
Trong khi đó, riêng về lĩnh vực phát hành chứng khoán ra công chúng
hiênh đang chịu điều chỉnh của nhiều văn bản pháp luật khác nhau : Luật
Doanh nghiệp Nhà nước, Luật Các tổ chức tín dụng Nghị định 167/2004/NĐ-
CP về chuyển đổi DNNN sang hoạt động theo hình thức Công ty cổ phần và
Nghị định 144. Nh vậy, trên thực tế, ngoài UBCKNN còn có một số cơ quan
khác cũng quản lý đối với hoạt động phát hành chứng khoán ra công chúng.
Điều này, một mặt gây khó khăn, lúng túng cho các doanh nghiêp khi muốn
phát hành chúng khoán ra công chúng do không biết phải báo cáo những cơ
quan nào và phải đáp ứng những điều kiện, thủ tục ra sao; mặt khác không
đảm bảo được hiệu quả của công tác quản lý nhà nước đối với việc phát hành
chúng khoán ra công chúng, đồng thời cũng sẽ gây khó khăn và tạo ra một
Phouvong Viphongsay
9
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN CH14AH
môi trường không bình đẳng khi giải quyết các vấn đề liên quan tới một thị
trường tỏng thể.
Trong hệ thống pháp luật về chứng khoán và TTCK
Đến nay, sau hơn 5 năm TTCK đi vào hoạt động, hệ thống pháp luật về
chúng khoán và TTCK đã dần bộc lộ những điểm hạn chế nhất định. Văn bản
pháp luật cao nhất của TTCK mới ở cấp Nghị định của Chính phủ, hiệu lực
pháp lý không cao, do vậy khi phát sinh những mâu thuẫn, xung đột với các

Luật khác có liên quan như Luật Doanh nghiệp, Bộ Luật Dân sự, Bộ Luật
Hình sự, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật phá sản… Các văn bản
pháp luật về chứng khoán không được ưu tiên áp dụng để giả quyết những
điểm mâu thuẫn đó, tạo ra nhiều khó khăn trong việc thi hành, áp dụng pháp
luật.
Văn bản pháp luật về chứng khoán và TTCK, cho đến nay mới chỉ
bao gồm Nghị định và một số văn bản hướng dẫn thi hành, thiếu về số lượng
và hạn chế về chất lượng nên độ tin cậy của thị trường không cao. Phạm vi
bao quát của Nghị định còn hẹp, chỉ điều chỉnh các hoạt động phát hành, niêm
yết, kinh doanh, giao dịch chứng khoán và cả hoạt động dịch vụ về chứng
khoán trên lãnh thô Việt Nam, chưa điều chỉnh đến việc phát hành, niêm yết
trên TTCK nước ngoài. Nghị định 144 cũng chưa đặt ra cơ sở pháp lý để điều
chỉnh về tổ chức và hoạt động các điều kiện giao dịch chứng khoán trên thị
trường giao dịch chứng khoán chưa niêm yết, trên sở giao dịch chứng
khoán… Một số quy định pháp luật còn chưa rõ ràng nên khi thực hiện phát
sinh vướng mặc. Một số quy định lại không phù hợp với điều kiện thực tế của
thị trường cũng nh định hướng , chiến lược phát triển TTCK nói chung.
Phouvong Viphongsay
10
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN CH14AH
CHƯƠNG II
Kinh nghiệm xây dựng luật chứng khoán của các nước và
bài học thực tiến cho Việt Nam
2.1 Kinh nghiệm xây dựng luật chứng khoán của các nước
Thị trường chứng khoán (TTCK) Hàn Quốc chủ yếu điều chỉnh bởi
Luật Giao dịch và Chứng koán. Luật này cũng điều chỉnh việc gián sát tất cả
các tổ chức có liên quan đến chứng koán. Mục đích chính của Luật này là:
đảm bảo rằng các hoạt động phát hành và giao dịch chứng khoán được thực
hiện một cách công bằng; thạo điều kiện cho việc giao dịch chứng khoán
được dễ dàng hơn; bảo vệ các nhà đầu tư; và thúc đẩy sự phát triển của nên

kinh tế quốc gia, Luật này liên quan đến các lĩnh vực như: bảo vệ nhà đầu tư,
công bố thông tin một cách kịp thời , việc đăng ký của các tổ chức phát hành,
phát hành ra công chúng, phân phối tại thị trường thứ cấp, chào mua chứng
khoán, giao dịch nội gián và quản lý các công ty chứng khoán (CtyCK) và các
nhà tư vấn đầu tư.
Vào tháng 1/1962, Nghị viện Hàn Quốc đã thông qua Luật Giao dịch
và Chứng khoán (Luật), là một tập hợp toàn diên đầu tiên tất cả những quy
định của Hàn Quốc về ngành chứng khoán. Luật bắt đầu được thực hiện bằng
cách tổ chức lại Sở giao gịch chứng khoán (SGDCK) Daehan thành một công
ty cổ phần (CtyCP). Tuy nhiên, việc tổ chức lại SGDCK và việc quản lý chưa
đầy đủ đã dẫn đến những xung đột trên thị trường. Tiếp sau đó, Luật đã được
sửa đổi vào tháng 4/1963, nhằm áp dụng các quy định chặt chẽ hơn đối với
hoạt độnh của TTCK và cải tổ SGDCK thành một công ty hoạt động theo
hình thức phi lợi nhuận do Chính phủ sở hữu với tên gọi mới là “Sở Giao dịch
Phouvong Viphongsay
11
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN CH14AH
Chứng khoán Hàn Quốc” (KSE). KSE cuối cùng đã được tư nhân hóa thành
một công ty hoạt đông theo mô hình thành viên, phi lợi nhuận vào năm 1988.
Kể từ khi được thông qua vào tháng 1/1962, Luật Chứng khoán đã có
một số lần sửa đổi cơ bản. Những thay đổi này được thực hiện nhằm mục đích
bảo vệ nhà đầu tư tốt hơn, mở rộng phạm vi điều chỉnh và tăng cường sự giám
sát hiệu quả TTCK. Các sửa đối bắt đầu vào những năm 1970 khi sự tăng
trưởng nhanh của nền kinh tế kéo theo sự phát triển của TTCK. Trước khi có
sự sửa đổi Luật vào năm 1976, Bộ Tài chính (MoF), tiền thân của Bộ Kinh tế
và Tài chính (MOFE), là cơ quan có quyền hành cao nhất đối với những vấn
đề liên quan đến TTCK. Nhưng khi thị trường ngay càng phát triển nhanh,
Chính phủ nhận thấy rằng hệ thống quản lý thị trừơng hiện hành không thể
hoạt động cũng nh quản lý thị trường một cách hiệu quả. Vào tháng
2/1977,tiếp sau những sửa đổi đối với Luật , Uỷ ban Giao dịch và Chứng

khoán (SEC) được thành lập nh một cơ quan quản lý độc lập để giám sát hoạt
động thị trường hàng ngày và các công ty có liên quan. SEC ban hành các quy
định và văn bản hướng dẫn có liên quan đến hoạt đọng của thị trường. Là một
cơ quan thuộc MoF, nhiệm vụ của cơ quan này là quản lý toàn bộ việc phát
hành chứng khoán, duy trì một thị trường công bằng, bao gồm cả việc giám
sát các tổ chức kinh doanh có liên quan đến chứng khoán và nhân sự của họ.
Vào những năm 1990, nhiều thay đổi diễn ra sau khi MOFE công bổ kế
hoạch chi tiết tự do hoấ TTCK, Luật đã được sửa đổi một só lần để thích ứng
một cách hiệu quả hơn với môi trường thay đổi của thị trường vốn và những
thách thức liên quan đến thính cạnh tranh quốc tế. Những thay đổi đó là: đưa
ra quy định các cổ đông không đồng ý với các quyết định của công ty được
quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phiếu của họ, cho phép các công ty niên yết
(CtyNY) được mua cổ phiếu quỹ, quy định cơ sở pháp lý cho việc giới thiệu
thị trường các lợp đồng tương lai chỉ số chứng khoán…
Phouvong Viphongsay
12
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN CH14AH
Những sửa đổi sau cuộc khủng hoảng tập trung vào việc tự do hoá thị
trường và thúc đẩy việc tái cơ cấu các công ty và lĩnh vực tài chính. Một sửa
đổi vào tháng 2/1998 đã giải thể SEC và chuyển quyền hành quản lý sang Uỷ
ban Giám sát tài chính (FSC). Để cố gắng giảm sự xáo trên do việc chuyển
giao quyền lực, các cơ quan giám sát hiện hành của các ngành ngân hàng,
chứng khoán và bảo hiểm, cùng với Quỹ Quản lý Tín dụng, tiếp tục trách
nhiệm của mình dưới sự quản lý của FSC. Vào tháng 1/1999, bốn tổ chức này
đã được hợp nhất thành Cục Giám sát Tài chính (FSS), cơ quan thừa hành của
FSC. FSC là cơ quan giám sát tài chính hợp nhất đối với các lĩnh vực khác
nhau liên quan đến chứng khoán, ngân hàng, bảo hiểm và các quỹ quản lý tín
dụng. FSC chịu trách nhiệm thực hiện và sửa đổi các tổ chức tài chính tại Hàn
Quốc. Bên cạnh đó, ủy ban Hợp đồng tương lai và Chứng khoán được thành
lập thuộc FSC để giám sát TTCK và thị trường các hợp đồng tương lai.

Kinh nghiệp xây dựng Luật chứng khoán của Thái Lan
Mặc dù SGDCK Thái Lan (SET) được thành lập theo Luật Giao dịch
chứng khoán Thái Lan năm 1974, rất nhiều các quy định tại các văn bản pháp
luật khác đã làm cho hoạt động của SET không phát triển được trong một số
năm đầu hoạt động. Chẳng hạn nh Luật Công ty đại chúng và những sửa đổi
đối với Luật Thương mại và Dân sự năm 1973 không cho phép các công ty
phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO). Các công ty đại chúng cũng
không được pháp phát hành trái phiếu không có bảo đảm ra công chúng. Các
cổ phiếu mới trước hết phải được phát hành cho các cổ đông hiện hành. Các
liều khoản này đã cản trở rất nhiều việc huy động vốn ở thị trường sơ cấp và
cũng ảnh hưởng xấu đến thị trường thứ cấp. Bên cạnh đó, Luật Giao dịch
Chứng khoán Thái Lan năm 1974 được ban hành chủ yếu là để quản lý giao
dịch chứng khoán tại thị trường thứ cấp hơn là thị trường sơ cấp. Trong thực
Phouvong Viphongsay
13
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN CH14AH
tế, không có khuôn khổ pháp lý nào gíam sát thị trường sơ cấp và có quá
nhiều cơ quan giám sát các lĩnh vực khác nhau của ngành chứng khoán.
Chính vì vậy Luật Giao dịch và Chứng khoán Thái Lan đã được sửa đổi
thành Luật Giao dịch và Chứng khoán (Luật SEC) và được Nghị viện thông
qua vào tháng 3/1992. Luật này không chỉ giúp làm sáng tỏ những rắc rối về
mặt luật pháp và sửa đổi những mặt hạn chế của luật cũ, mà còn giáp tiếp
thêm sinh lực cho thị trường vốn trong nước, sao cho không phải dựa quá
nhiều vào thị trường tiền tệ. Nói cách khác, Luật SEC khuyến khích TTCK
trở thành một phương tiện tăng cường tính cạnh tranh trên thị trường tài
chính. Việc ban hành Luật SEC đã dẫn đến nhiều thay đổi tại các thị trường
sơ cấp và thứ casp, việc giám sát các thị trường này và việc phát triển các tổ
chức kinh doanh chứng khoán. Những mục tiêu chính của việc ban hành Luật
SEC là phát triển các công cụ tài chính mới, tăng cường sự bảo vệ các nhà
đầu tư, tăng cường sự giám sát thị trường vốn và phát triển các tổ chức kinh

doanh và hoạt độnh của SET.
Trước khi ban hành Luật SEC, hoạt đọnh giám sát các thị trường sơ cấp
và thứ cấp và các tổ chức kinh doanh chứng khoán được phân chia một cách
chồng chéo giữa các cơ quan khác nhau bao gồm SET, Bộ Tài chính (MoF),
Ngân hàng Trung ương Tháoi Lan (BoT) và bộ Thương Mại (MoC). Theo
Luật SEC, tất cả mọi quyền hạn tập trung vào một cơ quan duy nhất là SEC.
Đây là cơ quan giám sát duy nhất đối với các hoạt động phát hành và chào
bán chứng khoán ra công chúng, thị trường vốn, các tổ chức kinh doanh
chứng khoán và các dịch vụ liên quan, mua chứng khoán để thâu tóm doanh
nghiệp và các hoạt động giao dịch không công bằng (giao dịch nội gián và
thao túng thị trường). SEC có quyền hành cao nhất đối với việc giám sát,
cưỡng chê thực thi, hoạch định chính sách và ban hành các quy định và quy
Phouvong Viphongsay
14
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN CH14AH
tắc. Hơ nữa, SEC có quyền phê chuẩn các quy định ban hành bởi các tổ chức
tự quản (SROs) được thành lập theo Luật SEC.
Ngoài SEC, Luật thành lập một cơ quan khác là Văn phòng của Uỷ ban
Giao dịnh Chứng khoán (Văn phòng). Văn phòng đóng vai tro nh là một văn
phòng thư ký và chịu trách nhiệm thực hiện các chính sách và biện pháp của
SEC. Đây là một cơ quan độc lập với vị thế pháp lý riêng. Thành viên của
SEC là Bộ trường Bộ Tài chính (đồng thời là Chủ tịch của SEC), Thống đốc
của BoT, Thư ký thường trực của các Bộ Tài chính và Thương mại, Tổng thư
ký của Văn phòng và từ 4 đến 6 người có trình độ chuyên môn cao do Hội
đồng Nội các bổ nhiệm. SEC hoạt động nh là một Ban Giám đốc và họp
thường xuyên. Tuy nhiên, các thành viên của SEC làm việc theo chế độ bán
thời gian khác với Văn phòng ngoại trừ Tổng thư ký.
Theo Luật SEC, các Công ty cổ phần được chào bán cả chứng khoán
vốn và chứng khoán nợ ra công chúng. Các công ty trách nhiệm hữu hạn chế
được phát hành chứng khoán nợ (không chuyển đổi). Các quy định này đã

khắc phục được những hạn chế của quy định trước đây cấm các công ty phát
hành chứng khoán nợ. Luật SEC cũng tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc
chào bán liên tục các chứng khoán nợ ngắn hạn: các công ty không cần thiết
phải nộp báo cáo đăng ký mới và bản cáo bạch mỗi lần chào bán chứng khoán
mới, thay vào đó họ chỉ cần thông báo cho Văn phòng nếu có sự thay đổi đối
với những thông tin của hồ sơ lần trước.

2.2 Bài học thực tiến cho Việt Nam
Thứ nhất, về xử lý hành chính
Xuất phát từ thực tế hoạt động của thị trường và tham khảo kinh nghiệm
của một số nước, Luật Chứng khoán Việt Nam có lẽ là một trong những Luật
Phouvong Viphongsay
15
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN CH14AH
đầu tiên đi tiên phong đưa các chế tài hành chính vào ngay trong Luật, cách
quy định này phần nào đã đáp ứng được yêu cầu của thị trường và có tác dụng
tích cực trong việc ngăn ngừa vi phạm. Mức phạt đã có những thay đổi và ở
một góc độ nào đó có thể vượt mức phạt tối đa mà Pháp lệnh xử lý vi phạm
hành chính đã quy định. Ví dụ: Trong hoạt động phát hành, Luật quy định
phạt từ 1% đến 5% tổng số tiền đã huy đọng trái pháp luật, hay các vi phạm
về tổ chức giao dịch thị trường thì mức phạt là từ 1 đến 5 lần khoản thu phi
pháp…
Thứ hai, về xử lý hình sự
Theo quy định của pháp luật hiện hành và truyền thống lập pháp Việt Nam
khó có thể đưa chế tài hình sự vào luật chuyên ngành vi vậy đặt ra yêu cầu
phải sửa đổi bổ sung Bộ luật Hình sự:
- Với hoạt động phát hành chứng khoán ra công chúng, khó có thể áp dịng
loại tội kinh doanh trái phép để xử lý hình sự với các hành vi phát hfnh ra
công chúng mà không đăn ký với UBCKNN, mặc dù hành vi này xét ở
một mức độ nhất định là gây ảnh hưởng lớn tới thị trường và ảnh hưởng

nhiều đến lợi Ých của nhà đầu tư, vì vậy theo chúng tôi nên bổ sung loại
tội này vào Bộ luật Hình sự:
- Với hoạt đọng kinh doanh chứng khoán, việc áp dụng loại tội kinh doanh
trái phép để xử lý trong lĩnh vực chứng khoán đòi hỏi phải mở rộng các
yếu tố cấu thành tội phạm. Về mặt khách thể, cần quy định cả những quan
hệ xã hội xuất phát từ hoạt động môi giới, hoạt động tư vấn để thu lời. Về
mặt khách quan, cần quy định các yếu tố nh: gây hậu quả nh thế nào thì có
thể xử lý về mặt hình sự…
- Với các vi phạm liên quan đến hoạt đọng giao dịch, bên cạnh đề xuất
phải bổ sung vào Bộ luật Hình sự các loại tội danh đặc thù của ngành
chứng khoán như giao dịch nội gián, lũng đoạn thị trường… thì một số tội
Phouvong Viphongsay
16
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN CH14AH
danh khác theo chúng tôi cũng nên xem lại, nhất là trong điều kiện của nền
kinh tế thị trường hiện nay thì những loại tội này không còn phù ợp nữa
đặc biệt là trong hoạt động trên TTCK như tội “đầu cơ”.
Nh vậy, vấn đề quy định về xử lý vi phạm trong hoạt động chứng khoán đã có
những bước đột phá trong cách thức quy định.Nhiều chế tài hành chính đã
được quy định ngay trong luật chuyên ngành. Tuy nhiên, vấn đề xử lý trách
nhiệm hình sự đã đặt ra yêu cầu phải nhanh chónh sửa đối, bổ sung Bộ luật
Hình sự để đáp ứng yêu cầu của thị trường. Mặt khác, chsng ta cũng có thể
nghiên cứu kinh nghiệm luật pháp của nhiều nước, quy định ngay chế tài phạt
tủ vào luật chuyên ngành. Còn các quy định chung vẫn áp Bộ luật Hinh sù.
Phouvong Viphongsay
17
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN CH14AH
CHƯƠNG III
Các giải pháp nhằm hoàn thiện luật chứng khoán tại Việt Nam
Để pháp luật về chứng khoán và TTCK đi vào cuộc sống, thực thi có

hiệu quả thì đòi hỏi không chỉ hoàn thiện và các vấn đề pháp lý đơn thuần.
Như ở phần trên đã để cập thực tiễn thi hành pháp luật về chứng khoán trong
thời gian qua cho thấy, bên cạnh nguyên nhân hạn chế về pháp lý, thì các
nguyên nhân về mặt nhận thức, tâm lý, cơ chế cũng là những nguyên nhân
không kém phần quan trọng làm hạn chế tính hiệu quả của pháp luật về chứng
khoán. Vì vậy, để nâng cao hiệu quả trong việc thi hành pháp luật về chứng
khoán, cần chú trọng thực hiện một số giải pháp sau đây
Một là, hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về chứng khoán và TTCK:
khuôn khổ pháp lý về TTCK cần quán triệt nguyên tắc quản lý thị trường mà
tổ chức quốc tế Các Uỷ ban chứng khoán (ISOCO) đã khuyến nghị, đồng thời
phải phù hợp với đặc điểm tình hình của Việt Nam theo xu hướng phát triển
và hội nhập.
Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội và Uỷ ban Thương vụ Quốc hội,
Bộ Tài chính đã nỗ lực xây dựng, hoàn chỉnh dự thảo Luật Chứng khoán để
trình Quốc hội ban hành theo đúng tiến độ. Đây sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng
cho hoạt động của thị trường, khắc phục những khó khăn mà ở tầm pháp lý
hiện nay Nghị định 144 và các văn bản hướng dẫn chưa thể giải quyết được,
Hai là, cần chú trọng công tác đào tạo, nâng cao năng lực, trình độ của
cán bộ quản lý, cán bộ hoạch định chính sách, các nhân viên hành nghề để đáp
ứng được với yêu cầu phát triển lâu dài của thị trường.
Ba là, tăng cường nhận thức pháp luật về chứng khoán và TTCK :
Trong thời gian tới , để đẩy mạnh công tác phổ biến, tuyên truyền giáo dục
Phouvong Viphongsay
18
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN CH14AH
pháp luật về chứng khoán ra TTCK, UBCKNN sẽ phối hợp với các sở, ban,
ngành tổ chức các khoá học phổ cập kiến thức về chứng khoán và TTCK miễn
phí cho các cán bộ thuộc các sở, ban, ngành và các doanh nghiệp thuộc các
tỉnh : đào tạo phổ cập kiến thức cho công chúng dưới các hình thức khác
nhau, làm cho các công chúng đầu tư, các doanh nghiệp hiểu được các nội

dung của TTCK, các nghiệp vụ liên quan, thậm chí cần trang bị các kiến thức
về đầu tư, về rủi ro và biện pháp phong ngừa cũng như khả năng phân tích dự
báo tình hình biến động của TTCk. Đây là giải pháp lâu dài đối với sự phát
triển của TTCK trong tương lai.
Bốn là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát thị trường xây dựng một
cơ chế kiểm tra, giám sát doanh nghiệp niêm yết một cách hợp lý, hiệu quả
nhất là về tài chính, kế toán và công bố thông tin để đảm bảo bảo vệ được các
nhà đầu tư.
Phouvong Viphongsay
19

×