Tải bản đầy đủ (.docx) (114 trang)

Thị trường bảo hiểm việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (775.44 KB, 114 trang )

Thị trường bảo hiểm Việt Nam Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F
CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM
I. Sự Ra Đời Và Phát Triển Của Bảo Hiềm.
l. Nguồn gốc ra đời và phát triển của ngành bảo hiểm thế giới.
Bất cứ ngành nghề nào đều ra đời từ nhu cầu đòi hỏi khách quan trong
những điều kiện nhất định.
Cho đến nay, chưa ai có thể xác định chính xác nguồn gốc của bảo
hiểm bắt đầu từ bao giờ, nhưng mọi người công nhận các hoạt động sơ khai,
mang tính bảo hiểm đã có từ rất lâu. Các hoạt động đó đáp ứng nhu cầu bảo
vệ cuộc sống con người ở mọi nơi, mọi lúc trước những rủi ro trong cuộc
sống. Cùng với sự phát triển của xã hội, các nhu cầu trở nên đa dạng và phức
tạp hơn, cả về quy mô, mức độ và thời hạn. Theo đó, các hoạt động để đáp
ứng nhu cầu ấy cũng phát triển một cách tương ứng. Các hoạt động này dần
dần được quy định lại một cách chính thức, hợp pháp theo các tiêu chuẩn
khác nhau và có tên gọi chung là bảo hiểm.
Những nghiên cứu về lịch sử phát triển của hoạt động bảo hiểm cho
thấy hoạt động bảo hiểm trong quá trình phát triển đã trải qua 3 hình thái: dự
trữ thuần túy, cho vay nặng lãi và cuối cùng là hình thức thỏa thuận ràng buộc
trách nhiệm các bên.
1.l. Dự trữ thuần túy.
Những bằng chứng lịch sử cho thấy từ rất xa xưa cho đến nay con
người đã ý thức được việc tự bảo vệ để tồn tại, trong đó vấn đề đầu tiên là dự
trữ thức ăn kiếm được hàng ngày phòng khi đói kém.
Ví dụ: vào những năm 2.500 trước công nguyên (TCN) - hơn 4.000
năm trước đây, ở Ai Cập những người thợ đẽo đá đã biết thiết lập quỹ để giúp
đỡ nạn nhân của các vụ tai nạn.
1
1
Thị trường bảo hiểm Việt Nam Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F
1.2. Cho vay nặng lãi.


Hệ thống cho vay phát triển cùng với sự mở rộng thương mại và buôn
bán giữa các quốc gia, các vùng, các châu lục. Dấu ấn đáng chú ý là: hệ thống
vay mượn lãi suất cao để mua và vận chuyển hàng hóa ở Babylon (khoảng
l.700 năm TCN) và AThen (khoảng 500 năm TCN). Khi hàng hóa bị mất
trong quá trình vận chuyển thì người đi vay sẽ không phải trả khoản tiền đã
vay. Khiếm khuyết của hệ thống này là lãi suất hà khắc, có khi lên đến 40%
và phải trả trước (Nghiên cứu lịch sử phát triển bảo hiểm cho thấy phần lãi
suất cho vay được khấu trừ trước nay là dấu hiệu của phí bảo hiểm ngày nay).
Do vậy, nhà thờ và các hội tôn giáo đã can thiệp bằng các sắc lệnh để chấm
dứt hoạt động cho vay nặng lãi. (Trích: Đại cương về BH và BH nhân thọ -
Tổng công ty BHVN)
Vì nhu cầu cần tiền và cần sự đảm bảo cho chuyến hàng của các nhà
buôn vẫn rất lớn, đặc biệt khi thông thương buôn bán đang phát triển và mang
lại lãi suất rất cao, các hình thức khác đã ra đời.
1.3. Thỏa thuận ràng buộc trách nhiệm và quyền lợi của các bên.
Để giải quyết nhu cầu tiền vốn và nhu cầu giảm các thiệt hại lớn cho
các nhà buôn, có 2 phương pháp khả thi. Đó là:
a. Hình thức cổ phần.
Chuyến hàng được tạo lập bằng sự đóng góp của nhiều người. Mỗi
người góp một phần nào đó (bằng tiền hoặc hàng hóa) vào chuyến hàng và
cùng chịu trách nhiệm theo phần đóng góp đó. Khi chuyến hàng về đến đích,
lợi nhuận sẽ được chia cho mọi người theo tỷ lệ đóng góp cổ phần. Nếu
chuyến hàng chẳng may gặp rui ro thì hậu quả thiệt hại cũng được chia sẻ cho
nhiều người. Hình thức này giảm được gánh nặng tổn thất cho nhiều người
cùng gánh chịu. Nhưng nó vẫn bộc lộ nhiều hạn chế như: kêu gọi cho đủ
người tham gia góp cổ phần sẽ mất nhiều thời gian, phải dàn xếp thỏa thuận
chia sẻ trách nhiệm và quyền lợi
2
2
Thị trường bảo hiểm Việt Nam Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F

b. Hình thức bảo hiểm.
Những thỏa thuận bảo hiểm đầu tiên xuất hiện gắn liền với hoạt động
giao lưu buôn bán hàng hóa bằng đường biển. Những thỏa thuận bảo hiểm
trong lĩnh vực hàng hải có nội dung cơ bản như sau:
Một bên là nhà buôn, chủ tàu chấp nhận trả một khoản tiền nhất định,
nếu hàng hóa, tàu thuyền không đến được nơi giao hàng do một số nguyên
nhân nhất định thì bên thứ hai (Người bảo hiểm) sẽ trả bên thứ nhất một
khoản tiền nhằm bù đắp cho những thiệt hại đã xảy ra. Như vậy, có thể coi bảo
hiểm hàng hải là sự khởi đầu của ngành bảo hiểm. Bản hợp đồng bảo hiểm cổ
nhất còn lưu lại được phát hành tại thành phố cảng Genoa - Italia, vào năm
1347. Sau đó, cùng với cuộc cách mạng thương mại vào thế kỷ 14, 15 thúc đẩy
sự mở rộng vận tải hàng hải, bảo hiểm hàng hải cũng phát triển mạnh mẽ.
Hoạt động bảo hiểm ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của xã
hội xoài người. Hoạt động này đã đáp ứng được những nhu cầu cấp thiết về
an toàn của con người trong cuộc sông và sinh hoạt. Bảo hiểm hàng hải là
loại bảo hiểm đầu tiên, đánh dấu sự ra đời của bảo hiểm. Sau đó, lần lượt là
bảo hiểm hỏa hoạn, bảo hiểm nhân thọ và các loại bảo hiểm khác.[8]
b1. Bảo hiểm hỏa hoạn:
Vụ cháy lớn ở Anh vào năm 1666 đã thiêu hủy trên 13.000 tòa nhà, là thảm
họa lớn nhất từ trước cho đến thời điểm đó. Nhu cầu về cơ chế bảo hiểm cho tài
sản trước rủi ro cháy dẫn tới sự ra đời của các công ty bản hiểm trong lĩnh vực
hỏa hoạn. Năm 1667, công ty bảo hiểm hỏa hoạn đầu tiên đã ra đời ở nước Anh.
[8]
b2. Bảo hiểm nhân thọ:
Công ty bảo hiểm nhân thọ Equitable là công ty bảo hiểm nhân thọ đầu
tiên được thành lập ở Anh vào năm 1762. Có thể nói rằng nước Anh là chiếc
nôi của ngành dịch vụ bảo hiểm thế giới. Cho đến ngày nay, đây vẫn là trung
tâm của các hoạt động bảo hiểm.
b3. Các loại bảo hiểm khác.
3

3
Thị trường bảo hiểm Việt Nam Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F
Cuối thế kỷ 19, cùng với sự phát triển của nền sản xuất đại công nghiệp
cơ khí, hàng loạt các nghiệp vụ bảo hiểm đã xuất hiện và phát triển rất nhanh:
bảo hiểm ô ô, bảo hiểm máy bay, bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
Ngày nay, bảo hiểm đã xâm nhập vào mọi lĩnh vực đời sống kinh tế -
xã hội. Ngành bảo hiểm thương mại đang giữ một vị trí rất quan trọng trong
nền kinh tế nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước phát triển.
2. Sự phát tiền của ngành bảo hiểm thế giới.
Ngày nay ngành bảo hiểm trên thế giới đã trở thành một ngành rất lớn
mạnh. Các hoạt động bảo hiểm bao trùm lên mọi lĩnh vực đời sống xã hội và
thị trường bảo hiểm rộng lớn cũng tác động mạnh mẽ lên các thị trường
khác.
2.1. Các thị trường bảo hiểm Châu Âu.
Châu Âu là cái nôi của bảo hiểm hiện đại và vẫn là một thị trường chủ
yếu tầm thế giới với tốc độ phát triển nhanh, nhất là ngành bảo hiểm Nhân
thọ và Tiết kiệm.
Dưới ảnh hưởng của ủy ban Châu Âu, các nước thuộc Liên minh Châu
Âu (có 15 nước từ năm 1995) triển khai dần dần một thị trường bảo hiểm
chung, nhưng vẫn chưa thống nhất về mặt pháp lý (hợp đồng, trách nhiệm
dân sự), cũng như vấn đề thuế.Ba thị trường chính của Châu Âu là Đức, Anh
và Pháp. Thị trường bảo hiểm của một số nước Tây Âu khác từ lâu có sự
năng động vượt qua ban giới quốc gia như: Thụy Sĩ, Hà Lan, ý, Thụy điển,
Luxembourg. Thị trường các nước Nam Âu, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, có
tốc độ phát triển nhanh nhất. Các nước Đông Âu, đang trong quá trình chuyển
đổi từ một nền kinh tế nhà nước sang nền kinh tế tự do hơn, có những chuyển
biến sâu sắc, tăng trưởng mạnh và rất sôi động.
4
4
Thị trường bảo hiểm Việt Nam Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F

ủy ban Bảo hiểm Châu Âu công bố các số liệu thống kê về thị trường
của 25 Hiệp hội quốc gia là thành viên của ủy ban này. Năm 2001, các số liệu
tổng thể như sau:
Bảng1: Các chỉ tiêu về Bảo hiểm của 25 quốc gia Châu Âu năm 2001
Doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ 251.577 triệu ECU 51,3%
Doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ 238.669 triệu ECU 48,7%
Tổng doanh thu của hai ngành bảo hiểm trên 490.246 triệu ECU
Số lượng nhân viên của các công ty này 5.303
Phí bảo hiểm nhân thọ theo bình quân đầu người 977.256
Phí bảo hiểm phi nhân thọ theo bình quân đầu người 492 ECU
Tổng phí bảo hiểm phi nhân thọ theo BQ đầu người 659 ECU
Tỉ lệ: phí bảo hiểm/ Tổng sản phẩm quốc dân 6,9%
Đầu tư của các công ty bảo hiểm 2.585.506 triệu ECU
Tỉ lệ: đầu tư tài chính/ Tổng sản phẩm quốc dân 37,05% 37,05%
Phí bảo hiểm bình quân mỗi công ty 92 triệu ECU
Số lượng nhân viên trung bình mỗi công ty 184
(Nguồn: Giáo khoa Quốc tế về Bảo hiểm)
Năm 1999, doanh thu của các doanh nghiệp bảo hiểm Châu Âu tăng
gần 7%, trong đó 5,9% trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ và 7,5% là bảo
hiểm nhân thọ. Mặc dù bị giảm so với những năm trước, nhưng việc này vẫn
khẳng định xu hướng tăng được duy trì từ nhiều năm nay.
- Doanh thu bảo hiểm Châu Âu tăng nhanh hơn Tổng sản phẩm quốc
nội một cách rõ rệt, năm 1980 chiếm 4% GDP (Tổng sản phẩm quốc nội) lên
tới 6,9% năm 1999
5
5
Thị trường bảo hiểm Việt Nam Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F
- Ngành bảo hiểm Nhân thọ tăng nhanh hơn ngành bảo hiểm Thiệt
hại, gán đạt đến sự chín muồi, trừ ở các nước Nam Âu nơi mà nhu cầu còn rất
lớn. Trong 15 năm gần đây, bảo hiểm Nhân thọ đã tăng nhanh hơn GDP 2,5

lần, điều này thể hiện một phần tiết kiệm của các hộ gia đình chuyển hướng
sang sản phẩm bảo hiểm và nỗi lo lắng của một phần công chúng về tương lai
của các chế độ bảo hiểm và hưu trí của Nhà nước.
Phần lớn các tập đoàn bảo hiểm Châu Âu hoạt động mạnh ở nước
ngoài và đã trở thành những công ty đa quốc gia thực sự. Trong vòng 30 năm
gần đây, thị trường bảo hiểm Châu Âu đã có những tiến triển sâu sắc. Không
những chỉ phát triển rất ổn định mà tất cả các luật bảo hiểm quốc gia cũng
biến đổi sâu sắc dưới tác động bền bỉ của giới lãnh đạo Liên minh Châu Âu
(EU). Thậm chí những nước không nằm trong số 15 nước thành viên của EU
cũng hầu như thông qua luật bảo hiểm được soạn thảo dựa trên các nguyên
tắc của ủy ban bảo hiểm Châu Âu liên quan đến thị trường bảo hiểm.
- Thị trường bảo hiểm Anh:
Chúng ta đã thấy các hoạt động bảo hiểm hiện nay được biết đã ra đời
chính tại ý, sau đó là ở các nước thuộc vùng Địa Trung Hải và vịnh Ban Tích.
Tuy nhiên, một điều không thể chối cãi được là các hình thức bảo hiểm hiện
đại lại phát triển chính tại Anh, từ thế kỷ XVII. Sự bành trướng phi thường về
kinh tế và chính trị của Anh vào thế kỷ XIX đã làm cho các doanh nghiệp
Anh quốc, trong đó có các công ty bảo hiểm phát triển rực rỡ trên thế giới và
có ảnh hưởng rất lớn trong một thời gian dài. Rất nhiều ngành bảo hiểm đã
được hình thành bởi những
Công ty bảo hiểm Anh và giữ được vai trò ngự trị lâu dài nhờ vào
năng lực cao, khả năng bảo hiểm và mạng lưới rộng khắp thế giới của các
chuyên gia, công ty tài chính và môi giới bảo hiểm.
Thị trường bảo hiểm Anh có 926 công ty, năm 2001, đạt doanh thu
bảo hiểm trực tiếp là 227904 triệu USD, bằng 5,97% thị trường thế giới. Như
vậy, phí bảo hiểm bình quân đầu người là 2.964,2 USD, trong đó 64% là bảo
6
6
Thị trường bảo hiểm Việt Nam Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F
hiểm nhân thọ. Tỉ trọng bảo hiểm trong GDP đạt l4,33%, cao nhất ở Châu

Âu, sau Thụy Sỹ. [16]
- Các thị trường bảo hiểm Châu á.
ở Châu á, bảo hiểm bành trướng rất nhanh, cùng với sự phát triển kinh
tế của lục địa này và quá trình tự do hóa kinh tế đang diễn ra tại phần lớn các
nước có nền kinh tế tập trung. Trong thập kỷ qua, doanh thu bảo hiểm hàng
năm tăng trung bình 15%.
Bảng 2: Các thị trường bảo hiểm chính ở Châu á năm 1999.
Nước
Doanh thu
bảo hiểm
năm 1999
(tr. USD)
Tỷ trọng
bảo hiểm
nhân thọ
(%)
Phí bảo
hiểm bình
quân đầu
người USD
Tỷ trọng
bảo hiểm
trong GDP
Nhật Bản 637.256 80,1 5.088 12,78
Hàn Quốc 59.989 77,9 1.337 13,16
Đài Loan 14.397 67,7 678 5,53
Trung Quốc (không kể Hồng Kông) 7.368 31,6 6 1,17
ấn Độ 6.026 70,0 6 2,01
Hồng Kông 5.037 60,9 813 3,51
Israel 5.010 45,5 904 5,78

Thái Lan 4.076 47,6 67 2,43
Singapor 3.678 67,2 1.190 4,25
Malaixia 3.651 49,3 181 4,28
Indonesia 2.380 38,8 12 1,40
Phillipines 1.123 43,4 16 1,52
A rập xê út 712 3,7 40 0,57
Các tiểu vương quốc ả Rập thống nhất 645 12,7 220 1,69
I ran 507 6,9 7 0,48
Pakistan 478 43,3 4 0,81
Cô oét 188 12,5 111 0,71
Oman 119 17,4 55 0,99
Jordanie 117 19,5 22 1,78
Ba – ranh 101 15,8 180 2,24
7
7
Thị trường bảo hiểm Việt Nam Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F
(Nguồn: Bảo hiểm quốc tế - Trường Quốc gia Bảo hiểm Paris)
2.2. Tình hình thị trường bảo hiểm toàn cầu.
Thị trường bảo hiểm trên thế giới hiện nay đang có những biến đổi
sâu sắc Những người có trên 25 năm thâm niên công tác trong ngành bảo
hiểm đã bình luận rằng, họ chưa từng thấy tình hình thị trường bảo hiểm toàn
cầu như hiện nay:
Khả năng tài chính của thị trường là khổng lồ, cạnh tranh gay gắt và
không lành mạnh mà hậu quả là phí bảo hiểm và điều kiện bảo hiểm xấu đi
một cách ghê gớm. Quan điểm chung hiện nay là các nhà bảo hiểm và các
nhà n.hận tái bảo hiểm không còn bảo hiểm rủi ro nữa mà chỉ đơn thuần là
chạy theo những tỉ lệ phí và những điều kiện bảo hiểm mà người ta cho là
"điên rồ" và "không thể chịu đựng được". Sự thực là khái niệm "định giá
đúng" đã bị lấn át bởi "các lí do thương mại", và ngày nay bảo hiểm giống
như một thị trường hàng hóa thông thường, nơi mà chất lượng phục vụ và giá

trị gia tăng, những nét đặc trưng cơ bản trong hoạt động kinh doanh của bảo
hiểm không còn mấy ý nghĩa so với giá cả (phí bảo hiểm). Đối với một ngành
kinh doanh như ngành bảo hiểm thì đó ít nhất cũng là điều đáng tiếc, đó là
điều cực kỳ nguy hiểm xét về lâu dài đối với cả hai bên: người bán bảo hiểm
và khách hàng của họ.
Mặt khác, tình trạng "thị trường mềm" không phải là mới. Nó đã từng
xảy ra trước đây, nhưng có lẽ không phải với mức độ nghiêm trọng như hiện
nay và với rất ít triển vọng sẽ được cải thiện trong những năm tới. Đương
nhiên, không ai hoài nghi là trong mấy năm qua, các công ty bảo hiểm và tái
bảo hiểm đã thu được khá nhiều lợi nhuận. Xét trên góc độ thị trường bảo
hiểm toàn cầu thì vụ động đất ở Kobe Nhật Bản chỉ là một chấn động nhẹ.
Lloydss of London có vẻ như vừa mới bình phục sau trận ốm "thập tử nhất
sinh" đầu những năm 90 (Mặc dù bản báo cáo đầu tiên mới công bố gần đây
của Equitas, một cơ quan đóng vai trò hết sức quan trọng trong kế hoạch xây
dựng lại và cải cách của Lloyd's, chắc là đã làm chấn động toàn thị trường,
8
8
Thị trường bảo hiểm Việt Nam Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F
bởi lẽ theo báo cáo đó thì những khiếu nại đòi bồi thường sẽ phải giải quyết
trong tương lai tỏ ra khác xa một cách nguy hiểm so với dự kiến ban đầu).
Bảo hiểm thế giới đã được chứng kiến sự tăng lên chưa từng thấy của
các khả năng tài chính mới ở Hoa Kỳ, Bermuda và các nơi khác, đặc biệt là
trong lĩnh vực tái bảo hiểm. Ai nấy đều muốn chia phần và cạnh tranh ác liệt,
hông chỉ làm cho phí bảo hiểm giảm xuống một cách đáng kể, mà còn làm
giảm cả chất lượng sản phẩm bảo hiểm. Trước tình hình đó, tất cả đều buộc
phải tập trung mọi sức lực bảo vệ công việc làm ăn của mình khỏi bị tấn
công, cố gắng đạt được sự tăng trưởng và thực hiện được các mục tiêu chiến
lược về lợi nhuận trước sự hiện diện của một "thị trường mềm", do đó còn
đâu thời gian và cảm hứng để làm những việc như: tập trung nghiên cứu để
cung cấp những sản phẩm mới có chất lượng cao nhằm đáp ứng các nhu cầu

thay đổi hàng ngày, để hành động một cách chủ động sáng tạo chứ không
phải phản ứng một cách thụ động; để ngẩng cao đầu và nhìn về tương lai.
Cũng cần nói thêm rằng ngành bảo hiểm đang trải qua những thay đổi
cực kỳ sâu sắc. Một nhóm các nhà bảo hiểm chuyên nghiệp đang thực hiện
những thay đổi quan trọng về cơ cấu. Việc sáp nhập và mua lại các hãng môi
giới và các công ty bảo hiểm đang diễn ra trên khắp thế giới. Ngày càng có
nhiều công ty tái bảo hiểm được thành lập để cung cấp các giải pháp mới về
bảo hiểm mức vượt trội cho những công ty muốn chọn mức giữ lại cao. Các
giải pháp bảo hiểm trực tiếp không qua trung gian đang trở nên ngày càng
phổ biến.
Cái mà người ta đang tập trung phê phán là ngành bảo hiểm đã tỏ ra
không đủ hiệu quả một cách đáng ngại. Những vấn đề về vai trò tương lai của
môi giới và của tái bảo hiểm vẫn chưa được giải đáp mặc dù ngày càng có
nhiều người muốn bỏ hẳn hoặc giảm bớt khâu trung gian, tiết kiệm chi phí và
đơn giản hóa toàn bộ quá trình dịch chuyển từ người bán đến người mua.
Trong khi đó thì bộ phận còn lại của giới tài chính quốc tế nhảy vào thị
trường, chào bán các giải pháp cung cấp tài chính mà khách hàng có thể lựa
9
9
Thị trường bảo hiểm Việt Nam Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F
chọn để xử lý rủi ro như các phương tiện phòng chống và các sản phẩm phát
sinh vượt ra ngoài phạm vi các phương pháp chuyển giao rủi ro truyền thống
thông qua bảo hiểm. Đối với các nhà bảo hiểm chuyên nghiệp quốc tế thì
cũng chẳng có gì là chắc chắn: chỉ có sự thay đổi là chắc chắn mà thôi.
Còn đối với khách hàng thì trước mắt họ có thể mở tiệc ăn mừng. Họ
giảm được nhiều chi phí để mua những sản phẩm văn hóa có điều kiện hời
hơn, họ cảm thấy họ có được sự lựa chọn tự do hơn. Một số công ty lớn và
công ty siêu quốc gia đã tiến đến giai đoạn mà sự lựa chọn ưa thích của họ là
hạn chế tối đa việc sử dụng thị trường bảo hiểm trong chừng mực có thể. Đó
là cách đáp lại tính không hiệu quả của quá trình bảo hiểm và tái bảo hiểm,

một quá trình dẫn đến trên 40% phí bảo hiểm được dùng để chi trả cho quá
nhiều bên tham gia vào một thương vụ bình thường, đặc biệt là dưới hình
thức phụ phí và hoa hồng, chỉ có phần không lớn còn lại được chi cho chức
năng bảo vệ thực sự của bảo hiểm. Đối với một số công ty lớn thì đó cũng là
sự đáp lại nguyện vọng của họ muốn kiểm soát số phận của chính mình và
muốn được ăn chia một phần thành quả tài chính mà ngành bảo hiểm giành
được. Có mấy cách để họ thực hiện nguyện vọng đó. Đó là thành lập các
công ty bảo hiểm "trong nhà" hay các công ty bảo hiểm nội bộ; săn tìm các
giải pháp tài chính mới mà họ có thể lựa chọn để khắc phục rủi ro; lập ra các
nhóm giữ lại rủi ro và các quỹ điều hòa. Tất cả những cái đó làm giảm quy
mô của thị trường bảo hiểm và góp phần làm cho cạnh tranh ác liệt hơn.
II. Khái niệm và đặc điểm của thị trường bảo hiểm.
1. Các khái niệm cơ bản về bảo hiểm - tái bảo hiểm.
1.1. Bảo hiểm.
1.1.1. Khái niệm:
Hiện nay có rất nhiều khái niệm về bảo hiểm:
- Theo giáo trình bảo hiểm trường Đại học Kế toán Hà Nội: Hoạt động
bảo hiểm là việc người bảo hiểm nhận trách nhiệm trước rủi ro, trên cơ sở
10
10
Thị trường bảo hiểm Việt Nam Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F
người tham gia bảo hiểm ký kết hợp đồng, đóng phí bảo hiểm để người bảo
hiểm bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm theo luật thống kê[9]. Khái niệm này
mới chỉ nói lên được quy trình bảo hiểm, mà chưa nói lên được bản chất của
bảo hiểm.
- Giai đoạn ban đầu phát triển của bảo hiểm thì bảo hiểm đã được định
nghĩa là : "Bảo hiểm là tổ chức hợp lý một nhóm người có cùng chung một
loại rủi ro có thể xảy ra. Các khoản đóng góp về tài chính của họ cho phép
bồi thường những thiệt hại mà một số người trong nhóm phải gánh chịu khi
tổn thất xảy ra [5]. Khái niệm trên chưa đầy đủ, không phải bất cứ thiệt hại

nào cũng được bồi thường, mà chỉ một số những tổn thất đã được thoả thuận
gây ra.
Nữ hoàng Anh Elisabeth đệ nhất đã từng khẳng định: Nhờ có bảo hiểm
"tổn thất sẽ nhẹ đi nếu được chia sẻ cho nhiều người và sẽ rất nặng nếu để
một ít người gánh chịu" [16]. Những người có nhà cửa, khi mua bảo hiểm
hoả hoạn, hàng năm đều phải trả một khoản tiền nhỏ (tương đương 0,5%o giá
trị ngôi nhà) để những người bất hạnh trong số họ, bị mất nơi ở do cháy, nhận
được một khoản tiền bồi thường cho phép tái thiết lại nhà cửa.
- Còn trong giáo trình bảo hiểm - Trường Đại học Ngoại thương: Bảo
hiểm là một sự cam kết bồi thường của Người bảo hiểm đối với Người được
bảo hiểm về những thiệt hại, mất mát của đối tượng bảo hiểm do một số rủi
ro đã thoả thuận gây ra, với điều kiện người được bảo hiểm đã thuê bảo hiểm
cho đối tượng bảo hiểm đó và nộp một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm. Khái
niệm này khá đầy đủ nhưng chưa đề cập đến bản chất của hoạt động bảo
hiểm. [7]
- Định nghĩa về bảo hiểm do giáo sư Hémard (Pháp) đưa ra có tính
pháp lý hơn và đầy đủ hơn cả: ''Bảo hiểm là một nghiệp vụ, qua đó, một bên
là người được bảo hiểm chấp nhận trả một khoản tiền (phí bản hiểm hay đóng
góp bảo hiểm) cho chính mình hoặc cho một người thứ ba khác để trong
trường hợp rủi ro xảy ra sẽ được trả một khoản bồi thường từ một bên khác là
11
11
Thị trường bảo hiểm Việt Nam Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F
người bảo hiểm, người trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro, đền bù những thiệt
hại theo Luật thống kê [16].
1.1.2. Các nguyên tắc bảo hiểm cơ bản của bảo hiểm :
a) Bảo hiểm một rủi ro chứ không bảo hiểm một sự chắc chắn.
b) Nguyên tắc trung thực tuyệt đối.
c) Nguyên tắc lợi ích bảo hiểm.
d) Nguyên tắc bồi thường.

e) Nguyên tắc thế quyền. [7]
1.1.3. Phương pháp phân tán rủi ro của các công ty bảo hiểm.
Rủi ro không chỉ xảy ra đối với những khách hàng mua bản hiểm mà
còn xảy ra cả đối với các công ty bảo hiểm. Khi xảy ra những rủi ro tổn thất
quá lớn thì cộng ty bảo hiểm cũng không đủ khả năng chi trả bồi thường và sẽ
rơi vào tình trạng phá sản. Do vậy đối với những rủi ro quá lớn các nhà bảo
hiểm sẽ tìm cách phân tán rủi ro để đảm bảo khả năng tài chính và ổn định
hoạt động kinh doanh của chính mình. Từ khi bảo hiểm ra đời rất nhiều các
phương pháp đã được áp dụng để phân chia rủi ro và phân tán các rủi ro cho
nhiều nhà bảo hiểm để trong trường hợp tổn thất xảy ra, cam kết tối đa của
mỗi một nhà bảo hiểm tương ứng với khả năng tài chính của họ và không làm
phương hại đến khả năng thanh toán của họ.
Hiện nay có 3 phương pháp chính được áp dụng để phân chia rủi ro.
Đó là: Đồng bảo hiểm, ký kết bảo hiểm theo lớp, tái bảo hiểm.
- Đồng bảo hiểm là sự phân chia theo tỉ lệ cùng một rủi ro giữa nhiều
nhà bảo hiểm, những người được gọi là các nhà đồng bản hiểm. Mỗi một nhà
đồng bảo hiểm trong số đó chấp nhận một tỉ lệ nào đó của rủi ro tùy thuộc
vào mức chấp nhận riêng của anh ta và sẽ nhận được một tỉ lệ tương ứng như
vậy về phí bảo hiểm do người được bảo hiểm và trong trường hợp tổn thất
xảy ra toàn bộ hay từng phán thì anh ta sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường
theo chính tỉ lệ đó. Thị trường thường xuyên áp dụng hình thức bảo hiểm này
là thị trường Luân Đôn.
12
12
Thị trường bảo hiểm Việt Nam Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F
- Phân chia rủi ro theo lớp:
Khi một nhà bảo hiểm có khả năng bảo hiểm ở mức thấp hơn so với
toàn bộ số tiền phải bảo hiểm, anh ta có thể đề nghị bảo hiểm cho rủi ro đầu
tiên tương ứng với mức chấp nhận của anh ta và đề nghị một nhà bảo hiểm
khác bảo hiểm mức còn lại của lớp đầu tiên này. Đối với các tập đoàn có tầm

cỡ quốc tế, có thể quyết định bảo hiểm các lớp thấp ở các nhà bảo hiểm của
nước nơi mà tập đoàn đó hoạt động (điều đó là một quy định bắt buộc của
pháp luật) và có thể quyết định bảo hiểm các tổn thất thảm họa hoặc bảo hiểm
các khoản tiền lớn nhất ờ các nhà bảo hiểm quốc tế được chấp nhận hoạt
động tại nước mà tập đoàn này đặt trụ sở, đôi khi người ta gọi hợp đồng cuối
cùng này là một hợp đồng ''cái ô'' (Umbrella Cover).
- Tái bảo hiểm:
Tái bảo hiểm là phương pháp thứ ba được áp dụng để phân tán các rủi
ro và phân chia tốt hơn các rủi ro giữa các nhà bảo hiểm theo khả năng tài
chính sẵn có của họ để bảo hiểm cho các rủi ro đó.
Người ta có thể nói người tái bảo hiểm là người bản hiểm của các nhà
bảo hiểm. Thật vậy, tái bảo hiểm là một hợp đồng mà qua đó người bảo hiểm
gốc trút bỏ tất cả hoặc một phần các rủi ro mà anh ta đã chấp nhận bảo hiểm
sang một người khác, đó là người tái bảo hiểm.
Công ty bảo hiểm nhượng tái bảo hiểm, nhượng lại một phần các rủi ro
đã chấp nhận và các khoản phí tương ứng. Chính vì vậy, trong một hợp đồng
tái bảo hiểm, người bảo hiểm gốc được gọi là công ty nhượng, hoặc ngắn gọn
hơn ''bên nhượng'' và người tái bảo hiểm được gọi là ''bên được nhượng''.
Như vậy trong đồng bảo hiểm, có một mối quan hệ hợp đồng trực tiếp giữa
người được bảo hiểm với mỗi một nhà đồng bảo hiểm, người được bảo hiểm
không hề có một mối quan hệ nào với các nhà tái bảo hiểm. Ngay cả sau khi
đã ký một hợp đồng tái bảo hiểm, người bảo hiểm gốc vẫn giữ toàn bộ các rủi
ro mà người đó đã chấp nhận bảo hiểm. Trong trường hợp tổn thất xảy ra,
chính người bảo hiểm sẽ bồi thường trực tiếp cho người được bảo hiểm và
13
13
Thị trường bảo hiểm Việt Nam Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F
sau đó sẽ thu về phần mà nhà tái bảo hiểm phải trả cho mình (trên thực tế
chúng ta sẽ thấy là trong trường hợp tổn thất xảy ra nghiêm trọng thì nhà tái
bảo hiểm có thể ứng trước cho người bảo hiểm số tiền cần thiết để bồi thường

cho người được bảo hiểm).
Như vậy, các hợp đồng tái bảo hiểm luôn luôn do các công ty bảo hiểm
chuyên nghiệp ký. Các hợp đồng tái bảo hiểm không bị sự kiểm tra chặt chẽ
của các cơ quan Nhà nước như sự kiểm tra đối với các hợp đồng bảo hiểm
nhằm bảo vệ những người được bảo hiểm. Vì vậy, nếu bắt buộc phải có các
thủ tục chấp nhận đối với các nhà tái bảo hiểm thì thủ tục đó thường đơn giản
hơn rất nhiều so với thủ tục của các nhà bảo hiểm gốc.
Tóm lại. Tái bảo hiểm là một loại nghiệp vụ mà người bảo hiểm sử
dụng để chuyển một phần trách nhiệm đã chấp nhận với người được bảo hiểm
cho người bảo hiểm khác, trên cơ sở nhượng lại cho người bảo hiểm đó một
phần phí bảo hiểm thông qua hợp đồng tái bảo hiểm. Nếu như bảo hiểm là
hình thức dàn trải tổn thất của một ít người cho nhiều người cùng chịu thì tái
bảo hiểm là hình thức dàn trải một lần nữa những tổn thất mà các công ty bảo
hiểm phải gánh chịu. Nói một cách ngắn gọn: tái bảo hiểm là bảo hiểm cho
các nhà bảo hiểm.
Ưu nhược điểm của tái bảo hiểm
+ Ưu điểm: Tạo tâm lý an toàn cho các công ty bảo hiểm bằng các dịch
vụ bảo hiểm, mở rộng phạm vi bảo hiểm, đảm bảo tài chính cho các công ty
bản hiểm.
+ Nhưng nhược điểm là: Tái bảo hiểm có thể làm tăng hoặc giảm một
cách đáng kể các chi tiêu tài chính của công ty bảo hiểm.
2. Thị trường bảo hiểm
2.l - Khái niệm về thị trường bảo hiểm
Thị trường là một phạm trù kinh tế gắn liền với nền sản xuất hàng hóa.
Có rất nhiều quan điểm về thị trường và cũng đã có nhiều tài liệu bàn về thị
trường. Có thể nói quan điểm chung nhất về thị trường là ''thị trường bao gồm
14
14
Thị trường bảo hiểm Việt Nam Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F
toàn bộ các hoạt động trao đổi hàng hóa được diễn ra trong sự thống nhất hữu

cơ với các mối quan hệ do chúng phát sinh gắn liền với một không gian nhất
định''. [3]
Theo thuật ngữ bảo hiểm, thì trường bảo hiểm là nơi mua và bán các
sản phẩm bảo hiểm. Sản phẩm bảo hiểm là loại sản phẩm dịch vụ đặc biệt; là
loại sản phẩm vô hình không thể cảm nhận được hình dáng, kích thước, màu
sắc v.v sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm không được bảo hộ bản quyền, là
sản phẩm mà người mua không mong đợi sự kiện bảo hiểm xảy ra đối với
mình để được bồi thường hay trả tiền bảo hiểm (trừ bảo hiểm hưu trí, bảo
hiểm nhân thọ )
2.2. Các yếu tố cấu thành nên thị trường bảo hiểm.
2.2. l. Chủ thể của thị trường bảo hiểm.
Người mua hay khách hàng là những cá nhân hay tổ chức có tài sản,
trách nhiệm dân sự trước pháp luật, tính mạng hoặc thân thể gặp rủi ro cần
bảo hiểm thì mua các dịch vụ ( sản phẩm ) bảo hiểm hoặc trực tiếp hoặc
thông qua các tổ chức trung gian. Khách hàng bao gồm khách hàng hiện tại
và khách hàng tiềm năng của một loại sản phẩm. Khách hàng bao gồm khách
hàng hiện tại và khách hàng tiềm năng của một loại sản phẩm. Khách hàng
hiện tại là khách hàng đang tham gia quá trình mua và sử dụng sản phẩm đó,
khách hàng tiềm năng là khách hàng có thể tham gia vào quá trình mua và sử
dụng sản phẩm đó trong tương lai.
Mục tiêu của các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp bảo hiểm
nói riêng là lợi nhuận. Muốn vậy phải tiêu thụ được sản phẩm của mình qua
các kênh phân phối sản phẩm. Do đặc điểm hoạt động kinh doanh, các doanh
nghiệp bảo hiểm thường sử dụng kênh phân phối là đại lý và môi giới bảo
hiểm.
Theo thuật ngữ Bảo hiểm, Đại lý bảo hiểm là người làm việc cho
doanh nghiệp bảo hiểm thay mặt doanh nghiệp bán các sản phẩm bảo hiểm
cho người mua. Còn Luật kinh doanh bảo hiểm Việt Nam: ''Đại lý bảo hiểm
15
15

Thị trường bảo hiểm Việt Nam Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F
là tổ chức, cá nhân được ủy quyền trên cơ sở hợp đồng đại lý bảo hiểm để
thực hiện hoạt động bảo hiểm và các quy định khác của pháp luật có liên
quan".(Điều 84, chương IV). Như vậy Đại lý Bảo hiểm là những người hoặc
tổ chức trung gian giữa và người tham gia bảo hiểm, đại diện cho doanh
nghiệp và hoạt động vì quyền lợi của doanh nghiệp bảo hiểm. Đại lý có thể là
các tổ chức ngân hàng hay luật sư. Những người này làm Đại lý bảo hiểm rất
thuận lợi do có sự tiếp xúc và hiểu biết nhiều khách hàng Trung gian phổ biến
trên thị trường bảo hiểm nhân thọ là Đại lý bảo hiểm thường là các cá nhân
chuyên hoạt động đại lý. Họ hoạt động tại văn phòng hoặc đi đến từng nhà,
từng doanh nghiệp để bán bảo hiểm, thu phí bảo hiểm và đàm phán những
thay đổi về nhu cầu bảo hiểm của khách hàng thực tế và tiềm năng.
Cũng là một trong 2 kênh phân phối qua trung gian, nhưng môi giới
bảo hiểm lại là hình thức phổ biến của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ. Môi
giới bảo hiểm là người trung gian giữa DNBH với khách hàng. Môi giới bảo
hiểm khác với đại lý bảo hiểm một cách cơ bản là nếu Đại lý bảo hiểm đứng
về phía quyền lợi của công ty bảo hiểm thì ngược lại môi giới bảo hiểm lại
đứng về phía quyền lợi của khách hàng. Họ có nhiệm vụ tham mưu, tư vân,
thu xẹp các hợp đồng bảo hiểm cho khách hàng. Môi giới là người được
khách hàng ủy quyền và luôn luôn hành động vì lợi ích của khách hàng.
Môi giới bảo hiểm thường nắm rất vững về kỹ thuật nghiệp vụ, đặc biệt
là những thông tin về thị trường. Về lý thuyết, người môi giới sau khi đáp
ứng nhu cầu của khách hàng sẽ tìm kiếm DNBH có thể đáp ứng nhu cầu tốt
nhất với chi phí thấp nhất. Thực tế, môi giới thường lựa chọn trên thị trường
một doanh nghiệp bảo hiểm có nhiều ưu đãi, sau đó giới thiệu cho khách
hàng. Môi giới bảo hiểm làm cho cung và cầu về sản phẩm bảo hiểm được
chắp nối với nhau, đồng thời góp phần làm tăng uy tín của sản phẩm và
doanh nghiệp bảo hiểm. Ngày nay kênh phân phối bằng môi giới được sử
dụng nhiều đặc biệt trong nghiệp vụ bảo hiểm dầu khí, bảo hiểm hàng hóa
XNK

16
16
Thị trường bảo hiểm Việt Nam Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F
Thông thường trên thị trường bảo hiểm có 2 loại môi giới bảo hiểm. Đó
là môi giới bảo hiểm gốc và môi giới tái bảo hiểm. Môi giới bảo hiểm gốc sẽ
giúp những người cần mua bảo hiểm nhưng không biết phải mua như thế nào
và mua ở đâu tìm và kí được hợp đồng bảo hiểm phù hợp. Khách hàng có thể
trực tiếp hoặc qua môi giới để mua bảo hiểm. Nhưng trong những trường hợp
tái bảo hiểm thì môi giới tái bảo hiểm lại đặc biệt quan trọng, là người không
thể thiếu khi tái bảo hiểm. Hầu hết các DNBH trên thế giới đều yêu cầu môi
giới tái bảo hiểm tư vấn, giúp đỡ khi các rủi ro được bảo hiểm quá lớn so với
khả năng tài chính của họ trong việc thanh toán bồi thường tổn thất nếu rủi ro
xảy ra. Đối với các rủi ro tiềm ẩn lớn, môi giới tái bảo hiểm sẽ giúp DNBH
phân tích phạm vi rủi ro để thu xếp tái bảo hiểm khi cần thiết. Thông qua môi
giới tái bảo hiểm, các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ có được sự an toàn về tài
chính, do đó sẽ có khả năng bảo vệ khách hàng lớn hơn và đem lại sự ổn định
cao hơn cho xã hội.
2.2.2. Khách thể của thị trường bảo hiểm.
Khách thể của thị trường bản hiểm chính là sản phẩm bảo hiểm. Từ các
góc độ khác nhau, có thể đưa ra các định nghĩa khác nhau về sản phẩm bảo
hiểm. Xét trên góc độ những thứ cơ bản nhất mà khách hàng nhận được khi
mua sản phẩm thì sản phẩm bảo hiểm có thể được định nghĩa là: Sự cam kết
của DNBH đối với bên mua bảo hiểm về việc bồi thường hay trả tiền bảo
hiểm khi có các sự kiện bảo hiểm xảy ra. Định nghĩa này xuất phát từ việc
khi mua bảo hiểm, bằng việc trả một khoản tiền nhất định - nộp phí bảo hiểm,
bên mua bảo hiểm (các tổ chức, các cá nhân sẽ được DNBH cấp cho Hợp
đồng bảo hiểm (giấy chứng nhận bảo hiểm) xác nhận rằng DNBH sẽ bồi
thường hoặc trả tiền bảo hiểm cho họ khi xảy ra các sự kiện như đã thỏa
thuận. Thông thường khi nói tới ''Sản phẩm bảo hiểm", người ta thường đồng
nghĩa với nghĩa với ''nghiệp vụ bảo hiểm". Cách nói này thường được sử

dụng khi phân loại DNBH theo sản phẩm mà doanh nghiệp cung cấp.
Đặc điểm của sản phẩm bảo hiểm:
17
17
Thị trường bảo hiểm Việt Nam Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F
Bảo hiểm là một loại hình dịch vụ, do đó sản phẩm bảo hiểm cũng có
các đặc điểm chung của các sản phẩm dịch vụ như tính vô hình, tính không
thể tách rời và không thể cất trữ được, tính không đồng nhất với tính không
được bảo hộ bản quyền. Ngoài ra, sản phẩm bảo hiểm còn có các đặc điểm
riêng đó là: Sản phẩm ''không mong đợi", sản phẩm của "chu trình kinh
doanh đảo ngược'' và sản phẩm có hiệu quả ''xê dịch''. Chính vì có những đặc
điểm chung và đặc điểm riêng này nên sản phẩm bảo hiểm được xếp vào loại
sản phẩm dịch vụ ''đặc biệt''
a) Đặc điểm chung:
Bảo hiểm là sản phẩm vô hình. Khi mua bảo hiểm, mặc dù khách hàng
nhận được các yếu tố hữu hình đó là những tờ giấy trên đó có in biểu tượng
của doanh nghiệp, in tên gọi của sản phẩm, in những nội dung thỏa thuận
Nhưng khách hàng không thể chỉ ra được màu sắc, kích thước, hình dáng hay
mùi vị của sản phẩm. Nói một cách khác, sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm ''vô
hình!" người mua không thể cảm nhận được sản phẩm bảo hiểm thông qua
các giác quan của mình.
Tính vô hình của sản phẩm bảo hiểm làm cho việc giới thiệu, chào bán
sản phẩm trở nên khó khăn hơn. Khi mua sản phẩm bảo hiểm, người mua chỉ
nhận được những lời hứa, lời cam kết về những đảm bảo vật chất trước các rủi
ro.
Sản phẩm bảo hiểm không thể tách rời - tức là việc tạo ra sản phẩm
dịch vụ bảo hiểm trùng với việc tiêu dùng sản phẩm đó (quá trình cung ứng
và quá trình tiêu thụ là một thể thống nhất). Thêm vào đó, sản phẩm bảo hiểm
cũng không thể cất trữ được - có nghĩa là khả năng thực hiện dịch vụ bảo
hiểm vào một thời điểm nào đó sẽ không thể cất vào kho dự trữ để sử dụng

vào một thời điểm khác trong tương lai. Điều này hoàn toàn khác biệt với sản
phẩm hữu hình.
18
18
Thị trường bảo hiểm Việt Nam Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F
Đa số các sản phẩm hữu hình có thể được sản xuất với số lượng lớn sau
đó được lưu trữ trong kho bán dần. Còn các sản phẩm dịch vụ thì không thể
cất trữ được.
Các nhân viên của doanh nghiệp cũng như các đại lý bảo hiểm chỉ có
một số giờ nhất định trong một ngày để gặp gỡ khách hàng và số giờ sẵn có
trong ngày không thể mang sang ngày khác. Doanh nghiệp bảo hiểm cũng
không thể "sản xuất'' trước một lượng lớn các cuộc kiểm tra các khiếu nại hay
các dịch vụ khách hàng khác và gửi chúng cho các khách hàng có yêu cầu.
Tính không đồng nhất của dịch vụ bảo hiểm, cũng như các dịch vụ
khác, chủ yếu được thực hiện bởi con người. Nhưng cho dù là người có kỹ
năng đến đâu đi chăng nữa thì dịch vụ họ thực hiện không phải lúc nào cũng
nhất quán. Ví dụ, các địa lý khi bán sản phẩm có thể quên các chi tiết, có thể
chậm trễ hoặc mất kiên nhẫn Nhìn chung chất lượng phục vụ của một cá
nhân nào đó tại các thời điểm khác nhau, với các khách hàng khác nhau là
khác nhau. Chất lượng phục vụ này phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe, các
yếu tố xung quanh. Ngoài ra, giữa các cá nhân khác nhau, chất lượng phục vụ
cũng khác nhau.
b) Đặc điểm riêng của sản phẩm bảo hiểm
Sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm ''không mong đợi". Một trong những
đặc điểm riêng của sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm không mong đợi. Điều
này thể hiện ở chỗ, đối với các sản phẩm mang tính bảo hiểm thuần túy, mặc
dù đã mua sản phẩm - nhưng khách hàng đều không mong muốn rủi ro xảy ra
để được doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường hay trả tiền bảo hiểm. Bởi vì rủi
ro một khi đã xảy ra thì đồng nghĩa với thương tích, thiệt hại thậm chí là mất
mát, do đó số tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường, chi trả khó có thể

bù đắp được. Đặc tính này cũng làm cho việc giới thiệu, chào bán sản phẩm
trở nên vô cùng khó khăn, sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm của ''chu trình
kinh doanh đảo ngược''.
19
19
Thị trường bảo hiểm Việt Nam Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F
Nếu như trong các lĩnh vực kinh doanh khác, giá cả sản phẩm được xác
định trên cơ sở chi phí thực tế phát sinh thì trong lĩnh vực bản hiểm, phí bảo
hiểm - giá cả của sản phẩm bản hiểm được xác định dựa trên những số liệu
ước tính về các chi phí có thể phát sinh trong tương lai như chi bồi thường
(trả tiền bảo hiểm), chi hoa hồng, chi tái bảo hiểm Trong đó, khoản chi
chiếm tỉ trọng lớn nhất là chi bồi thường (trả tiền bảo hiểm). Khoản chi này
được xác định chủ yếu dựa trên số liệu thống kê quá khứ và các ước tính
tương lai về tần suất và quy mô tổn thất.
Trong hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp bảo hiểm có quyền thu
phí của người tham gia bảo hiểm hình thành nên quỹ bảo hiểm; sau đó nếu có
các sự kiện bảo hiểm xảy ra, doanh nghiệp bảo hiểm mới phải thực hiện
nghĩa vụ bồi thường hay chi trả. Do vậy, với việc thu phí trước, nếu không có
hoặc có ít rủi ro xảy ra, doanh nghiệp sẽ thu được lợi nhuận lớn hơn dự kiến.
Ngược lại, nếu rủi ro xảy ra với tần suất hoặc với quy mô lớn hơn dự kiến,
doanh nghiệp bảo hiểm có thể thua lỗ.
Về phía khách hàng, hiệu quả từ việc mua sản phẩm cũng mang tính
''xê dịch'' - không xác định. Điều này xuất phát từ việc không phải khách
hàng nào tham gia bảo hiểm cũng '' được nhận" một số tiền chi trả của doanh
nghiệp bảo hiểm (trừ trường hợp mua các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ mang
tính tiết kiệm).
Người bán là các doanh nghiệp bảo hiểm. Theo tính chất sở hữu, doanh
nghiệp bảo hiểm có thể chia ra: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp cổ
phần, công ty liên doanh v.v Theo quy mô tổ chức có thể chia ra tổng công
ty, công ty chia theo loại hình kinh doanh thì có công ty bảo hiểm nhân thọ

hoặc phi nhân thọ; bán hàng trực tiếp cho khách hàng hoặc thông qua các tổ
chức trung gian.
2.2.3 Các qui định pháp luật
Bất kì một thị trường nào hoạt động cũng đều phải tuân thủ theo hệ
thống pháp luật của mỗi quốc gia.Thị trường bảo hiểm cũng không nằm ngoài
20
20
Thị trường bảo hiểm Việt Nam Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F
qui luật đó ở những nước có thị trường bảo hiểm phát triển như các nước
Châu Âu, hệ thống pháp luật thị trường bảo hiểm rất đầy đủ và chặt chẽ. Đối
với thị trường bảo hiểm Việt Nam, gần đây luật kinh danh bảo hiểm đã ra đời
giúp cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm được thuận lợi hơn. Ngoài luật kinh
doanh bảo hiểm, rất nhiều luật khác ảnh hưởng như luật Dân sự , luật Đầu tư
nước ngoài.v.v.
2.3. Những đặc trưng cơ bản của thị trường bảo hiểm
Thị trường bảo hiểm cũng như các thị trường khác đều có những đặc
trưng chung là:
2.3.1. Cung - cầu về bảo hiểm luôn luôn biến động
Cung về bảo hiểm do các doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện. Các doanh
nghiệp ngày một nhiều và luôn đưa ra thị trường những sản phẩm mới thích
ứng với thị trường. Sản phẩm bảo hiểm ngày một nhiều và luôn gắn liền với
sự phát triển của khoa học kĩ thuật của nền kinh tế, của quá trình hội nhập và
toàn cầu hóa. Điều đó chứng tỏ sản phẩm bảo hiểm không dừng lại ở con số
ban đầu mà luôn được cải tiến, hoàn thiện và sáng chế, phát minh ra cái mới.
Cầu về bản hiểm của dân cư, của các tổ chức xã hội, của doanh nghiệp
cũng không ngừng tăng lên. Khi nền kinh tế phát triển thì các tổ chức kinh tế
cũng phát triển theo, đời sống vật chất tinh thần của dân cư cũng được cải thiện.
Do đó, nhu cầu về đa dạng về các dịch vụ bảo hiểm cũng tăng lên. Với
thời kỳ khởi nguyên của bảo hiểm và thị trường bảo hiểm còn nhỏ bé, các
lĩnh vực bảo hiểm cũng hạn chế.Bạn đầu chỉ xuất hiện bảo hiểm hàng hải vì

đây là lĩnh vực thường xuyên xảy ra rủi ro và tổn thất lại vô cùng lớn. Rồi sau
đó đến bảo hiểm cháy vì nó mang tính chất thảm họa tổn thất lớn. Còn bây
giờ bảo hiểm đã quá quen thuộc với mọi người từ bảo hiểm cho những tài sản
công trình lớn cho đến ô tô xe máy. Thậm chí chúng ta có thể mua bản hiểm
cho đôi chân, cho khuôn mặt, cho đôi mắt của chính mình nếu chúng ta
muốn. Rất nhiều diễn viên, người mẫu, ca sĩ đã mua những sản phẩm bảo
hiểm mà chúng ta tưởng như không thể có như bảo hiểm giọng hát. v.v
21
21
Thị trường bảo hiểm Việt Nam Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F
Những năm đầu thế kỉ XX, dịch vụ bảo hiểm chỉ có trên dưới vài chục
sản phẩm nhưng đến nay đã tăng lên hàng trăm, hàng nghìn loại.
Cung và cầu về sản phẩm bảo hiểm phát triển song hành. Cầu tăng thì
cung tăng và ngược lại.
2.3.2 - Giá bảo hiểm phụ thuộc nhiều nhân tố.
Trong thị trường hàng hóa, chúng ta đã quá quen với khái niệm giá cả
của hàng hóa. Đó là giá mà hai bên mua và bán đồng ý để trao đổi giữa hàng
và tiền hoặc một thứ khác (tùy vào mục đích trao đổi). Và thông thường nó
dựa trên quy luật ngang bằng về giá trị. Quy luật ngang bằng về giá trị do hao
phí lao động bình quân xã hội quyết định. Khi một người mua bỏ ra một số
tiền X để mua hàng Y thì có nghĩa là giá cả của Y là X. Thế nhưng trong thị
trường bảo hiểm, người ta không hoặc rất hiếm khi sử dụng giá cả bảo hiểm
mặc dù về bản chất nó hoàn toàn giống nhau.
Phí bảo hiểm là số tiền mà người mua - khách hàng phải trả cho doanh
nghiệp bảo hiểm trên cơ sở thỏa thuận giữa người mua và người bán về một
dịch vụ bảo hiểm nào đó. Phí bảo hiểm được thỏa thuận giữa người mua và
người bán cũng có thể xem đó là giá chấp nhận của thị trường về dịch vụ (hay
sản phẩm) bảo hiểm.
Phí bảo hiểm bao gồm: phí thuần và phụ phí (hoặc phí hoạt động trong
bảo hiểm nhân thọ). Phí bảo hiểm được tính toán trên cơ sở số tiền bảo hiểm

(số tiền người mua chấp nhận với người bán - người bảo hiểm đưa ra) với tỉ
lệ phí bác hiểm (R).
Các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến giá cả sản phẩm bảo hiểm.
* Mục tiêu định giá của từng doanh nghiệp: Khi doanh nghiệp đưa ra
những mức giá cho sản phẩm, thì những mức giá đó nhằm giúp doanh nghiệp
đại được những mục tiêu nhất định. Nói một cách khác, mục tiêu định giá
chính là cơ sở cho các quyết định liên quan đến giá cả. Và mục tiêu định giá
phải đưa (xác định dựa trên những mục tiêu chung của doanh nghiệp. Ví dụ,
khi mục tiêu chung của doanh nghiệp là duy trì chất lượng dịch vụ hàng đầu
22
22
Thị trường bảo hiểm Việt Nam Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F
vượt hẳn đối thủ cạnh tranh thì doanh nghiệp sẽ đặt giá cao hơn hẳn đối thủ
cạnh tranh nhằm trang trải được các chi phí cao hơn phát sinh do cung cấp
dịch vụ với chất lượng cao hơn. Ngoài ra các mục tiêu định giá của doanh
nghiệp cũng phải phù hợp với các mục tiêu marketing cụ thể của doanh
nghiệp.
- Các mục tiêu hướng theo lợi nhuận.
- Mục tiêu hướng theo số lượng hợp đồng khai thác.
- Mục tiêu hướng theo cạnh tranh.
Quá trình định phí có thể được gọi là quá trình dự đoán tổn thất và chi
phí trong tương lai, phân bổ các chi phí này giữa những người tham gia bảo
hiểm. ở các quốc gia có ngành bảo hiểm phát triển, trong các doanh nghiệp
bảo hiểm nhân thọ, việc định phí được thực hiện bởi bộ phận định phí hoặc
đối với các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ quy mô nhỏ hơn thì việc định
phí do các công ty tư vấn định phí thực hiện. Còn trong lĩnh vực bảo hiểm tài
sản và trách nhiệm, giá cả sản phẩm bảo hiểm được xác định dựa trên số liệu
thống kê về khuynh hướng tổn thất do các tổ chức tư vấn cung cấp hoặc do
từng doanh nghiệp bảo hiểm tự thu thập.
* Cầu về sản phẩm của khách hàng là nhân tố quyết định giới hạn trên

của giá cả sản phẩm. Kinh nghiệm marketing thực tế đều cho thấy, cầu của
hầu hết các sản phẩm (trong đó có sản phẩm bảo hiểm) có quan hệ tỉ lệ
nghịch với giá cả của sản phẩm (với điều kiện là các nhân tố khác - điều kiện
kinh tế nói chung, sự sẵn có của sản phẩm, khả năng mua của khách hàng
không thay đổi). Khi phân tích cầu về sản phẩm phải xác định sự thay đổi của
nó khi giá cả sản phẩm thay đổi. Để đo lường mức độ thay đổi này (tỉ lệ %
thay đổi trong lượng cầu khi có tỉ lệ % thay đổi trong giá cả), kinh tế học vi
mô đã đưa ra khái niệm ''độ co dãn của cầu theo giá''.
2.3.3. Canh tranh và liên kết diễn ra liên tục
Thị trường bảo hiểm cũng như các thị trường khác, sự cạnh tranh giữa
các doanh nghiệp để tranh giành khách hàng, để thu nhiều lợi nhuận diễn ra
23
23
Thị trường bảo hiểm Việt Nam Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F
liên tục, gay go, quyết liệt. Cạnh tranh diễn ra trên nhiều khía cạnh, thủ thuật.
Do đặc điểm của sản phẩm bảo hiểm là dễ bắt chước, không bảo hộ bản
quyền, nên các doanh nghiệp bảo hiểm "đổ xô'' vào những sản phẩm được thị
trường chấp nhận (ngoài việc tung vào thị trường những sản phẩm mới) bằng
cách cải tiến để hoàn thiện sản phẩm đó hơn các doanh nghiệp khác; bằng
cách tuyên truyền quảng cáo sâu rộng, hấp dẫn để thu hút khách hàng và đặc
biệt giảm phí và tăng tỉ lệ hoa hồng để giành giật khách hàng, chiếm lĩnh thị
trường v.v Thực tế sôi động đó đã được chứng minh khi thị trường bảo hiểm
Việt Nam có nhiều doanh nghiệp của các thành phần kinh tế tham gia
Cùng với cạnh tranh là liên kết. Cạnh tranh càng mạnh thì liên kết càng
phát triển. Liên kết thường diễn ra giữa các doanh nghiệp mới, còn yếu về
tiềm lực để tạo ra sức mạnh cạnh tranh; liên kết giữa các doanh nghiệp có thế
mạnh để hòa hoãn, cùng phát triển tránh gây thiệt hại cho nhau v.v liên kết
còn diễn ra giữa các doanh nghiệp nhỏ với doanh nghiệp lớn để tăng sức
mạnh doanh nghiệp nhỏ đảm bảo an toàn trong cạnh tranh và cũng để tăng
thêm đồng minh cho doanh nghiệp lớn.

Liên kết còn là nhu cầu của thị trường bản hiểm mới hình thành và phát
triển trong điều kiện'thị trường thế giới đã ổn định, có tiềm lực. Liên kết cũng
là xu hướng chung của hội nhập và toàn cầu hóa.
Thị trường bảo hiểm Việt Nam tuy mới hình thành và phát triển, nhưng
cạnh tranh cũng diễn ra gay gắt giữa các doanh nghiệp với đủ thủ thuật và
mánh khóe. Cạnh tranh cũng gây thiệt hại đáng kể cho một số doanh nghiệp,
nhưng cũng mang lại thành công cho các doanh nghiệp có lợi thế, v.v Để
đảm bảo quyền lợi của các doanh nghiệp trước sự cạnh tranh gay gắt các
doanh nghiệp liên kết lại trong tổ chức '' Hiệp hội bảo hiểm" để điều hòa và
giữ thế cân bằng trong kinh doanh trước hiện tượng giảm phí và tăng tỉ lệ hoa
hồng tùy tiện; đồng thời tiến hành liên kết dưới hình thức liên doanh với các
doanh nghiệp nước ngoài để tăng tiềm lực kinh tế và kinh nghiệm kinh doanh
để mở rộng thị trường v.v
24
24
Thị trường bảo hiểm Việt Nam Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F
2.3.4 - Thành phần các doanh nghiệp bảo hiểm luôn thay đổi
Thị phần bảo hiểm là tỉ lệ phần trăm (%) của mỗi doanh nghiệp bảo
hiểm chiếm trong thị trường bảo hiểm. Thị phần càng lớn chứng tỏ vị thế của
doanh nghiệp càng cao; kết quả kinh doanh của doanh nghiệp càng phát triển.
Nói đến thị phần là nói đến thị trường phát triển không còn mang tính
độc quyền. ở đây, các doanh nghiệp bảo hiểm có cơ hội như nhau; song
doanh nghiệp nào dành được thị phần nhiều hơn là doanh nghiệp đó làm tốt
công tác quảng cáo, tiếp thị; do chất lượng phục vụ tốt hơn, phí bảo hiểm có
thể thấp hơn v.v
Như vậy, thị phần của các doanh nghiệp bảo hiểm luôn thay đổi do số
lượng doanh nghiệp tham gia vào thị trường thay đổi; do chiến lược
maketing, chiến lược sản phẩm, chiến lược giá cả v.v của các doanh nghiệp
thay đổi không những giữ được thị phần của mình mà còn giành giật được thị
phần của các doanh nghiệp khác.

Ngoài việc cạnh tranh để giành giật thị trường của nhau, các doanh
nghiệp phải có chiến lược kinh doanh hợp lý để thu hút bộ phận khách hàng
tiềm năng. Đây là bộ phận dân cư có nhu cầu bảo hiểm, nhưng chưa có thông
tin chính xác về dịch vụ bảo hiểm trên thị trường. Doanh nghiệp nào có chiến
lược tuyên truyền, quảng cáo, phục vụ tốt sẽ thu hút thêm khách hàng ở bộ
phận này góp phần tăng thị trường doanh nghiệp. Mặt khác, các doanh nghiệp
bảo hiểm cũng phải tung ra thị trường những sản phẩm mới để thu hút dân cư
trong bộ phận không tiêu dùng tuyệt đối bộ phận không có nhu cầu tuyệt đối
với dịch vụ bảo hiểm có trên thị trường.
Ngoài ra, thị trường bảo hiểm còn có những đặc điểm riêng như:
- Thị trường bảo hiểm có đối tượng khách hàng rất rộng vì đối tượng
bảo hiểm đa dạng, bao gồm tài sản, trách nhiệm dân sự, con người.
- Thị trường bảo hiểm là thị trường tài chính, do đó chịu sự kiểm tra,
kiểm soát rất chặt chẽ của Nhà nước. Nhà nước có thể can thiệp khá sâu vào
hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm. Nhà nước không những xét duyệt
25
25

×