Tải bản đầy đủ (.pdf) (71 trang)

giải pháp nâng cao hiệu quảkinh doanh bảo hiểm phi nhân thọtại công ty cổ phần bảo hiểm nhà rồng (bảo long)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (593.22 KB, 71 trang )



ðẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP. HCM
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH









Khóa luận tốt nghiệp
Ngành: Quản Trị Kinh Doanh




ðỀ TÀI:
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH
BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ TẠI CÔNG TY CỔ
PHẦN BẢO HIỂM NHÀ RỒNG (BẢO LONG)




GVHD: THS TRỊNH ðẶNG KHÁNH TOÀN
SVTH : TRẦN THỊ BÍCH HẠNH
MSSV : 09B4010005
LÔÙP : 09HQT1






TP.HCM, THAÙNG 4 NĂM 2011
GVHD: Ths Trònh Đặng Khánh Toàn SVTH: Trần Thò Bích Hạnh
i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của tôi. Những kết quả và các số liệu
trong khóa luận tốt nghiệp được thực hiện tại Công ty Cổ phần Bảo hiểm Nhà Rồng
(Bảo Long), không sao chép bất kỳ nguồn nào khác. Tôi hoàn toàn chòu trách nhiệm
trước nhà trường về sự cam đoan này.

TP. Hồ Chí Minh, ngày 05 tháng 04 năm 2011
Sinh viên thực hành



TRẦN THỊ BÍCH HẠNH
GVHD: Ths Trònh Đặng Khánh Toàn SVTH: Trần Thò Bích Hạnh
ii

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này em xin chân thành cảm ơn:
• Thạc só Trònh Đặng Khánh Toàn đã tận tình hướng dẫn em trong quá trình
thực hiện khóa luận tốt nghiệp.
• Các anh chò tại phòng Bảo hiểm Bảo Long Bến Thành, đặc biệt là anh

Đặng Bảo Cường Trưởng Phòng Bảo Long Bến Thành đã tận tình hướng
dẫn và cung cấp số liệu trong thời gian em thu thập thông tin tại đơn vò.
Em xin chân thành cảm ơn và xin gởi lời chúc sức khỏe đến Quý Thầy và Quý
anh chò tại phòng bảo hiểm Bảo Long Bến Thành
Chúc Quý Công ty Cổ phần Bảo hiểm Nhà Rồng (Bảo Long) ngày càng phát
triển và nâng cao thò phần của mình trong ngành bảo hiểm

GVHD: Ths Trònh Đặng Khánh Toàn SVTH: Trần Thò Bích Hạnh
iii

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc


NHẬN XÉT
CỦA CÔNG TY CP BẢO HIỂM NHÀ RỒNG

Họ và tên sinh viên: TRẦN THỊ BÍCH HẠNH
MSSV: 09B4010005
Khóa: 09HQT01

Nhận xét:
















CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM NHÀ RỒNG
Trưởng Phòng



ĐẶNG BẢO CƯỜNG
GVHD: Ths Trònh Đặng Khánh Toàn SVTH: Trần Thò Bích Hạnh
iv

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc


NHẬN XÉT
CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Họ và tên sinh viên: TRẦN THỊ BÍCH HẠNH
MSSV: 09B4010005
Khóa: 09HQT01

















THẠC SĨ




TRỊNH ĐẶNG KHÁNH TOÀN
GVHD: Ths Trònh Đặng Khánh Toàn SVTH: Trần Thò Bích Hạnh
v

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Phạm vi nghiên cứu 2
2. Mục đích nghiên cứu 2
3. Phương pháp nghiên cứu 2
4. Kết cấu của chuyên đề 3
PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH VÀ KHÁI QUÁT VỀ
BẢO HIỂM 4
1.1 Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh doanh 4
1.1.1 Các quan điểm cơ bản về hiệu quả 4
1.1.2 Sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh đối với các doanh nghiệp
trong cơ chế thò trường 7
1.1.3 Các nhân tố tác động đến việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh
nghiệp 8
1.2 Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm 8
1.2.1 Sự cần thiết của bảo hiểm 8
1.2.2 Đònh nghóa bảo hiểm 10
1.2.2.1 Chuyển giao rủi ro 10
1.2.2.2 Bảo hiểm là một ngành dòch vụ đặc biệt 10
1.2.3 Quá trình phát triển của bảo hiểm 12
1.2.3.1 Hình thức sơ khai của bảo hiểm 12
1.2.3.2 Bảo hiểm thông qua cho vay lãi suất cao 12
GVHD: Ths Trònh Đặng Khánh Toàn SVTH: Trần Thò Bích Hạnh
vi

1.2.3.3 Hình thức cổ phần 13
1.2.3.4 Hình thức bảo hiểm 13
1.2.4 Ý nghóa, tác dụng của bảo hiểm 14
1.2.4.1 Dàn trải tổn thất 15
1.2.4.2 Bảo vệ 15
1.2.4.3 Đề phòng hạn chế tổn thất 15
1.2.4.4 n đònh đời sống, sx kinh doanh của người tham gia bảo hiểm 16
1.2.4.5 Tạo ra sự an tâm về mặt tinh thần cho người tham gia bảo hiểm 16
1.2.4.6 Đầu tư phát triển kinh tế 17
1.2.4.7 Tạo cơ hội công ăn việc làm cho người lao động 17
1.3 Một số nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ tại thò trường Việt Nam 17

1.3.1 Bảo hiểm tài sản và lắp đặt kỹ thuật 17
1.3.2 Bảo hiểm hàng hải 18
1.3.3 Bảo hiểm phi hàng hải 18

CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH KINH DOANH TẠI CÔNG TY CP BẢO HIỂM NHÀ
RỒNG (BẢO LONG)
2.1 Khái quát về Công ty CP Bảo Hiểm Nhà Rồng 19
2.1.1 Quá trình thành lập 19
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ 21
2.1.2.1 Tầm nhìn – sứ mệnh 21
2.1.2.2 Chiến lược 22
2.1.2.3 Cam kết chất lượng dòch vụ 22
2.1.2.4 Giá trò đối với xã hội 22
2.1.3 Cơ cấu tổ chức 22
GVHD: Ths Trònh Đặng Khánh Toàn SVTH: Trần Thò Bích Hạnh
vii

2.2 Tình hình kinh tế – xã hội, thò trường bảo hiểm phi nhân thọ 24
2.2.1 Tình hình kinh tế – xã hội 24
2.2.2 Thò trường bảo hiểm phi nhân thọ 25
2.2.2.1 Tình hình chung 25
2.2.2.2 Nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới 30
2.2.2.3 Nghiệp vụ bảo hiểm tai nạn và chăm sóc y tế 31
2.2.2.4 Nghiệp vụ bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự của chủ tàu . 31
2.2.2.5 Nghiệp vụ bảo hiểm thiệt hại tài sản 32
2.2.2.6 Nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa vận chuyển 32
2.3 Đánh giá các điểm mạnh, điểm yếu đối với tổ chức hoạt động kinh doanh của
đơn vò 33
2.3.1 Tình hình hoạt động kinh doanh 33
2.3.2 Hệ thống phân phối và mạng lưới phục vụ 39

2.4 Đánh giá các điểm mạnh và điểm yếu của Bảo Long 42
2.4.1 Điểm mạnh 42
2.4.2 Điểm yếu 42
2.5 Những cơ hội và thách thức đối với hoạt động kinh doanh của Bảo Long trong
thời gian tới 43
2.5.1 Đánh giá các cơ hội kinh doanh 43
2.5.2 Những thách thức kinh doanh 45
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH
DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM NHÀ RỒNG (BẢO LONG)
3.1 Mục tiêu và nhiệm vụ của công ty 47
3.1.1 Mục tiêu 47
3.1.2 Nhiệm vụ 47
GVHD: Ths Trònh Đặng Khánh Toàn SVTH: Trần Thò Bích Hạnh
viii

3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh 48
3.2.1 Củng cố hoàn thiện bộ máy tổ chức 48
3.2.2 Về sản phẩm bảo hiểm 48
3.2.3 Giải pháp phát triển về khu vực thò phần, thò trường 50
3.2.4 Giải pháp phát triển kênh phân phối 51
3.2.5 Giải pháp nâng cao trình độ nhân viên 52
3.2.6 Giải pháp phát triển công nghệ thông tin 52
3.2.7 Các giải pháp khác tại ma trận SWOT 53
3.3 Kiến nghò 57
KẾT LUẬN 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
PHỤ LỤC


GVHD: Ths Trònh Đặng Khánh Toàn SVTH: Trần Thò Bích Hạnh

ix

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

UBND: y ban nhân dân
TP.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh
CP: Cổ phần
HĐQT: Hội đồng quản trò
DNBH: Doanh nghiệp bảo hiểm
TNDN: Thu nhập doanh nghiệp
TT: Thông tư
TNDS: Trách nhiệm dân sự
HHBHVN: Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam
WTO: Tổ chức thương mại thế giới
ODA: Hỗ trợ phát triển chính thức
GDP: Tổng sản phẩm quốc nội
SX: Sản xuất


GVHD: Ths Trònh Đặng Khánh Toàn SVTH: Trần Thò Bích Hạnh
1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong đời sống và sản xuất kinh doanh, con người luôn luôn bò các rủi ro đe
dọa gây thiệt hại về sức khỏe, tính mạng, tài sản…. Nếu không may gặp phải những
rủi ro đó con người phải đối mặt với rất nhiều khó khăn trong việc khắc phục những
rủi ro đó để ổn đònh đời sống.
Để hạn chế những thiệt hại có thể xảy ra, con người luôn luôn tìm cách đối
phó với rủi ro. Thay vì bằng các biện pháp: né tránh rủi ro, ngăn chặn rủi ro, chấp

nhận rủi ro thì chúng ta có thể chuyển giao rủi ro bằng cách mua bảo hiểm. Bảo
hiểm đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội hiện nay. Nó góp phần tạo sự
an tâm trong quá trình làm việc, ổn đònh đời sống xã hội.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các nghiệp vụ bảo hiểm ngày càng
được quan tâm, xây dựng và phát triển lớn mạnh tương ứng với vò trí của nó trong thò
trường bảo hiểm phi nhân thọ.
Việc nghiên cứu sâu sát và đưa ra giải pháp nhằm mở rộng hơn nữa thò
trường các loại hình bảo hiểm phi nhân thọ là cần thiết. Vì lý do đó em xin chọn đề
tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ tại Công ty
Cổ phần Bảo hiểm Nhà Rồng (Bảo Long)” cho khóa luận tốt nghiệp của mình.
GVHD: Ths Trònh Đặng Khánh Toàn SVTH: Trần Thò Bích Hạnh
2
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Phạm vi nghiên cứu
Tìm hiểu tình hình kinh doanh tại Công ty Bảo hiểm Nhà Rồng (Bảo
Long)
Tìm hiểu về ngành bảo hiểm phi nhân thọ tại thò trường Việt Nam
Phân tích, đánh giá và đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh tại
Công ty Bảo hiểm Nhà Rồng (Bảo Long)

2. Mục đích nghiên cứu:
Hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Tìm hiểu tình hình kinh doanh của Công ty Bảo hiểm Nhà Rồng (Bảo
Long). Nâng cao khả năng nhận thức về một trong những ngành kinh tế quan
trọng góp phần ổn đònh đời sống xã hội.
Thu thập các số liệu có liên quan, phân tích, nhận xét, đánh giá đồng thời
đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh bảo hiểm phi nhân
thọ tại Công ty Bảo hiểm Nhà Rồng (Bảo Long).


3. Phương pháp nghiên cứu
Tham khảo tài liệu từ Internet, các giáo trình bảo hiểm phi nhân thọ của
Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam, các quy tắc lưu hành nội bộ của Công ty Cổ phần
bảo hiểm Nhà Rồng (Bảo Long), các giáo trình bảo hiểm của trường Đại học
Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, một số sách báo, tạp chí và một số giáo trình
khác có liên quan…
Số liệu của luận văn chủ yếu được thu thập từ Công ty Cổ phần bảo hiểm
Nhà Rồng (Bảo Long), số liệu thò trường của Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam và
GVHD: Ths Trònh Đặng Khánh Toàn SVTH: Trần Thò Bích Hạnh
3
các trang Web: webbaohiem.net, webbaohiem.pro.vn, vinare.com.vn và một số
trang web khác có liên quan.
Tổng hợp và phân tích số liệu, nhận đònh và đánh giá vấn đề

4. Kết cấu của khóa luận
Chuyên đề tốt nghiệp gồm 03 phần: Phần mở đầu, Phần nội dung và Phần
kết luận.
Phần nội dung gồm 03 chương:
• Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh doanh và khái quát về
bảo hiểm
• Chương 2: Tình hình kinh doanh tại Công ty Cổ phần bảo hiểm Nhà
Rồng (Bảo Long)
• Chương 3: Giải pháp, kiến nghò nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh
tại Công ty Cổ phần bảo hiểm Nhà Rồng (Bảo Long)

GVHD: Ths Trònh Đặng Khánh Toàn SVTH: Trần Thò Bích Hạnh
4

PHẦN NỘI DUNG


CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH VÀ KHÁI
QUÁT VỀ BẢO HIỂM

1.1 Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh doanh
1.1.1 Các quan điểm cơ bản về hiệu quả
Ngày nay, khi đề cập đến vấn đề hiệu quả thì người ta vẫn chưa có một khái
niệm thống nhất. Bởi ở mỗi lónh vực khác nhau, xem xét trên các góc độ khác nhau
thì người ta có những cách nhìn nhận khác nhau về vấn đề hiệu quả. Như vậy, ở mỗi
lónh vực khác nhau thì người ta có những khái niệm khác nhau về hiệu quả, và thông
thường khi nói đến hiệu quả của một lónh vực nào đó thì người ta gắn ngay tên của
lónh vực đó liền ngay sau hiệu quả. Để hiểu rõ hơn về vấn đề hiệu quả thì chúng ta
xem xét các vấn đề hiệu quả ở trên các lónh vực kinh tế, chính trò và xã hội. Tương
ứng với các lónh vực này là 3 phạm trù hiệu quả: hiệu quả kinh tế, hiệu quả chính trò
và hiệu quả xã hội.

* Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được các mục
tiêu kinh tế của một thời kỳ nào đó. Nếu đứng trên phạm vi từng yếu tố riêng lẻ thì
chúng ta có phạm trù hiệu quả kinh tế, và xem xét vấn đề hiệu quả trong phạm vi
các doanh nghiệp thì hiệu quả kinh tế chính là hiệu quả kinh doanh của một doanh
nghiệp. Hiểu theo mục đích cuối cùng thì hiệu quả kinh tế là hệ số giữa kết quả thu
về và chi phí bỏ ra để đạt được hiệu quả đó. Trong đó kết quả thu về chỉ là kết quả
phản ảnh những kết quả kinh tế tổng hợp như là: doanh thu, lợi nhuận, giá trò sản
lượng công nghiệp nếu ta xét theo từng yếu tố riêng lẻ thì hiệu quả kinh tế là thể
hiện trình độ và sử dụng các yếu tố đó trong quá trình sản xuất kinh doanh, nó phản
GVHD: Ths Trònh Đặng Khánh Toàn SVTH: Trần Thò Bích Hạnh
5
ảnh kết quả kinh tế thu được từ việc sử dụng các yếu tố tham gia vào quá trình kinh
doanh.
Cũng giống như một số chi tiết khác hiệu quả là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp

phản ánh trình độ lợi dụng các yếu tố trong quá trình sản xuất, đồng thời là một
phạm trù kinh tế gắn liền với nền sản xuất hàng hoá. Sản xuất hàng hoá có phát
triển hay không là nhờ đạt hiệu quả cao hay thấp. Nói một cách khác, chỉ tiêu hiệu
quả kinh tế phản ánh về mặt đònh lượng và đònh tính trong sự phát triển kinh tế.
Nhìn ở tầm vi mô của từng doanh nghiệp riêng lẻ hiệu quả kinh tế được biểu
hiện qua phạm trù hiệu quả kinh doanh. Hiệu quả kinh doanh là một chỉ tiêu phản
ánh đầy đủ các mặt của cả một quá trình kinh doanh của một doanh nghiệp. Cụ thể
là:
Hiệu quả kinh doanh là phạm trù kinh tế phản ánh những lợi ích đạt được từ các
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trên cơ sở so sánh lợi ích thu được với chi
phí bỏ ra trong suốt qúa trình kinh doanh của doanh nghiệp. Dưới giác độ này thì
chúng ta có thể xác đònh hiệu quả kinh doanh một cách cụ thể bằng các phương
pháp đònh lượng thành các chỉ tiêu hiệu quả cụ thể và từ đó có thể tính toán so sánh
được, lúc này phạm trù hiệu quả kinh doanh là một phạm trù cụ thể nó đồng nhất và
là biểu hiện trực tiếp của lợi nhuận, doanh thu Ngoài ra nó còn biểu hiện mức độ
phát triển doanh nghiệp theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực
trong quá trình sản xuất nhằm thực hiện được mục tiêu kinh doanh. Lúc này thì
phạm trù hiệu quả kinh doanh là một phạm trù trừu tượng và nó phải được đònh tính
thành mức độ quan trọng hoặc vai trò của nó trong lónh vực sản xuất kinh doanh. Nói
một cách khác, ta có thể hiểu hiệu quả kinh doanh là chỉ tiêu phản ánh trình độ và
khả năng quản lý của doanh nghiệp. Lúc này hiệu quả kinh doanh thống nhất với
hiệu quả quản lý doanh nghiệp. Dưới góc độ này thì hiệu quả kinh doanh phản ánh
trình độ và khả năng kết hợp các yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất.
Trong thực tế hiệu quả kinh doanh trong các doanh nghiệp đạt được trong các
trường hợp sau:
- Kết quả tăng, chi phí giảm
GVHD: Ths Trònh Đặng Khánh Toàn SVTH: Trần Thò Bích Hạnh
6
- Kết qủa tăng, chi phí giảm nhưng tốc độ tăng của chi phí nhỏ hơn tốc độ tăng
của kết quả.

Nói tóm lại ở tầm vó mô hiệu qủa kinh doanh phản ánh đồng thời các mặt của
quá trình sản xuất kinh doanh như: kết quả kinh doanh, trình độ sản xuất tổ chức sản
xuất và quản lý, trình độ sử dụng của yếu tố đầu vào đồng thời nó yêu cầu sự phát
triển của doanh nghiệp theo chiều sâu. Nó là thước đo ngày càng trở nên quan trọng
của sự tăng trưởng kinh tế và là chỗ dựa cơ bản để đánh giá việc thực hiện mục tiêu
kinh tế của doanh nghiệp trong thời kỳ. Sự phát triển tất yếu đó đòi hỏi các doanh
nghiệp phải nâng cao hiệu quả kinh doanh, đây là mục tiêu cơ bản nhất của doanh
nghiệp.

* Hiệu quả xã hội và hiệu quả chính trò
Hiệu quả xã hội là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất
xã hội nhằm đạt được các mục tiêu xã hội nhất đònh. Nếu đứng trên phạm vi toàn xã
hội và nền kinh tế quốc dân thì hiệu qủa xã hội và hiệu quả chính trò là chỉ tiêu phản
ánh ảnh hưởng của hoạt động kinh doanh đối với việc giải quyết những yêu cầu và
mục tiêu chung của toàn bộ nền kinh tế xã hội. Bởi vậy hai loại hiệu quả này đều có
vò trí quan trọng trong việc phát triển đầu nước một cách toàn diện và bền vững.
Đây là chỉ tiêu đánh giá trình độ phát triển của nền kinh tế xã hội ở các mặt: trình
độ tổ chức sản xuất, trình độ quản lý, mức sống bình quân thực tế ở các nước tư
bản chủ nghóa đã cho thấy các doanh nghiệp tư bản chỉ chạy theo hiệu quả kinh tế
mà không đặt vấn đề hiệu quả chính trò xã hội đi kèm và dẫn đến tình trạng: thất
nghiệp, khủng hoảng có tính chu kỳ, ô nhiễm môi trường, chênh lệch giàu nghèo
quá lớn Chính vì vậy Đảng và Nhà nước ta đã có những đường lối, chính sách cụ
thể để đồng thời tăng hiệu quả kinh tế kèm với tăng hiệu quả chính trò xã hội. Tuy
nhiên, chúng ta không thể chú trọng một cách thái quá đến hiệu quả chính trò và
hiệu quả xã hội một bài học rất lớn từ thời kỳ chế độ bao cấp để lại đã cho chúng ta
thấy rõ được điều đó.

GVHD: Ths Trònh Đặng Khánh Toàn SVTH: Trần Thò Bích Hạnh
7
1.1.2 Sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh đối với các

doanh nghiệp trong cơ chế thò trường
Trong quá trình kinh doanh các doanh nghiệp phải luôn gắn mình với thò trường,
nhất là trong cơ chế thò trường hiện nay đặt các doanh nghiệp trong sự cạnh tranh
gay gắt lẫn nhau. Do đó để tồn tại được trong cơ chế thò trường cạnh tranh hiện nay
đòi hỏi các doanh nghiệp phải hoạt động một cách có hiệu quả hơn.
Trong cơ chế thò trường việc nâng cao hiệu quả kinh doanh vô cùng quan trọng,
nó được thông qua:
Thứ nhất: nâng cao hiệu quả kinh doanh là cơ sở cơ bản để đảm bảo sự tồn tại và
phát triển của doanh nghiệp. Sự tồn tại của doanh nghiệp được xác đònh bởi sự có
mặt của doanh nghiệp trên thò trường, mà hiệu quả kinh doanh lại là nhân tố trực
tiếp đảm bảo sự tồn tại này, đồng thời mục tiêu của doanh nghiệp là luôn tồn tại và
phát triển một cách vững chắc. Do đó việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là một đòi
hỏi tất yếu khách quan đối với tất cả các doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thò
trường hiện nay.
Thứ hai, nâng cao hiệu quả kinh doanh là nhân tố thúc đẩy sự cạnh tranh và tiến
bộ trong kinh doanh. Chính việc thúc đẩy cạnh tranh yêu cầu các doanh nghiệp phải
tự tìm tòi, đầu tư tạo nên sự tiến bộ trong kinh doanh. Chấp nhận cơ chế thò trường là
chấp nhận sự cạnh tranh
Thứ ba, mục tiêu bao trùm, lâu dài của doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận. Để
thực hiện mục tiêu này, doanh nghiệp phải tiến hành mọi hoạt động sản xuất kinh
doanh để tạo ra sản phẩm cung cấp cho thò trường. Muốn vậy, doanh nghiệp phải sử
dụng các nguồn lực sản xuất xã hội nhất đònh. Doanh nghiệp càng tiết kiệm sử dụng
các nguồn lực này bao nhiêu sẽ càng có cơ hội để thu được nhiều lợi nhuận bấy
nhiêu. Hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh tính tương đối của việc sử dụng
tiết kiệm các nguồn lực xã hội nên là đIều kiện để thực hiện mục tiêu bao trùm, lâu
dài của doanh nghiệp. Hiệu quả kinh doanh càng cao càng phản ánh doanh nghiệp
đã sử dụng tiết kiệm các nguồn lực sản xuất.Vì vậy, nâng cao hiệu quả kinh doanh
là đòi hỏi khách quan để doanh nghiệp thực hiện mục tiêu bao trùm, lâu dài là tối đa
GVHD: Ths Trònh Đặng Khánh Toàn SVTH: Trần Thò Bích Hạnh
8

hoá lợi nhuận. Chính sự nâng cao hiệu quả kinh doanh là con đường nâng cao sức
cạnh tranh và khả năng tồn tại, phát triển của mỗi doanh nghiệp.

1.1.3 Các nhân tố tác động đến việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của
các doanh nghiệp:
Nâng cao hiệu quả kinh doanh trong các doanh nghiệp là yêu cầu quan trọng và
là mục tiêu hàng đầu trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Chính vì
vậy nâng cao hiệu quả kinh doanh chính là việc nâng cao hiệu quả của tất cả các
hoạt động trong qúa trình kinh doanh. Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chòu
sự tác động của rất nhiều các nhân tố ảnh hưởng khác nhau. Để đạt được hiệu qủa
nâng cao đòi hỏi phải có các quyết đònh chiến lược và quyết sách đúng trong qúa
trình lựa chọn các cơ hội hấp dẫn cũng như tổ chức, quản lý và điều khiển hoạt động
kinh doanh cần phải nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống các yếu tố ảnh
hưởng đến việc nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh có thể được chia thành hai
nhóm đó là nhóm các nhân tố ảnh hưởng bên ngoài doanh nghiệp và nhóm các nhân
tố ảnh hưởng bên trong doanh nghiệp. Mục tiêu của quá trình nghiên cứu các nhân
tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh nhằm mục đích lựa chọn mục đích các
phương án kinh doanh phù hợp. Tuy nhiên việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng
đến hiệu quả kinh doanh cần phải được thực hiện liên tục trong suốt qúa trình hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp trên thò trường.

1.2 Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm
1.2.1 Sự cần thiết của bảo hiểm
Trong đời sống và sản xuất kinh doanh, con người luôn luôn bò các rủi ro đe dọa
gây thiệt hại về sức khỏe, tính mạng, tài sản. Các rủi ro này bao gồm:
- Thiên tai: Bão lụt, hạn hán, động đất, núi lửa phun và các hiện tượng tự nhiên
khác thường khác.
GVHD: Ths Trònh Đặng Khánh Toàn SVTH: Trần Thò Bích Hạnh
9

- Tai nạn: Cháy nổ, tàu mắc cạn, chìm đắm, đâm va…
- Sự cố bất ngờ: Bò chết vào thời điểm không lường trước được trong khi còn
nhiều nghóa vụ đang thực hiện dang dỡ như nuôi con, trả nợ…
Để hạn chế những thiệt hại có thể xảy ra, con người luôn luôn tìm cách đối phó
với rủi ro. Có nhiều biện pháp đối phó rủi ro có thể lựa chọn:
- Né tránh rủi ro là biện pháp tránh khả năng làm xuất hiện rủi ro. Ví dụ người ta
tránh khả năng rủi ro hàng không bằng cách không đi máy bay mà dùng phương tiện
khác. Hoặc tránh lụt bão bằng cách chuyển đến sinh sống tại vùng không có lụt bão.
Nhưng điều kiện để né tránh rủi ro là rất hạn chế. Trong cuộc đời mình, người ta thế
nào cũng phải đi đây đi đó, nếu không đi máy bay thì buộc phải đi bằng ô tô hay tàu
hỏa. Nếu tránh được rủi ro hàng không thì lại gặp phải rủi ro đường bộ, đường sắt.
Hoặc không phải ai cũng có điều kiện chọn nơi cư trú không có bão lụt. Như vậy con
người không có cách nào né tránh hoàn toàn được mọi rủi ro.
- Ngăn chặn rủi ro là tìm cách ngăn chặn hoặc giảm bớt tần suất xuất hiện rủi
ro và mức độ khốc liệt của rủi ro. Ví dụ, như người ta đắp đê chống lụt, làm thêm
đường lánh nạn trên các con đường đèo dốc cao hiểm trở. Khoa học kỹ thuật ngày
càng phát triển thì càng có điều kiện ngăn chặn rủi ro, song khả năng con người
không phải là vô hạn, không có cách nào ngăn chặn được hết mọi rủi ro.
- Chấp nhận rủi ro là sẵn sàng đón chờ rủi ro, đương đầu với rủi ro bằng cách
trích lập quỹ tài chính riêng của mình để đối phó. Người ta cũng có thể chạy vạy vay
mượn tiền của ngân hàng, của người thân hoặc bạn bè để khắc phục hậu quả thiên
tai và tai nạn bất ngờ. Đây cũng chính là hình thức tự bảo hiểm. Cách làm này chỉ
phát huy tác dụng đối với những rủi ro có tần suất xuất hiện thấp và ít nghiêm trọng.
Nếu phát sinh tổn thất lớn thì với những biện pháp nói trên không thể khắc phục
được nhanh chóng hậu quả.
- Chuyển giao rủi ro hay còn gọi là bảo hiểm, mua bảo hiểm. Đây là biện pháp
đối phó với rủi ro hiệu quả nhất, nó khắc phục được nhược điểm của tất cả các biện
pháp nói trên.
GVHD: Ths Trònh Đặng Khánh Toàn SVTH: Trần Thò Bích Hạnh
10


1.2.2 Đònh nghóa bảo hiểm
Bảo hiểm là một khái niệm rất rộng, khó có được một đònh nghóa chung để áp
dụng với cả bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ vì bản chất của hai loại
hình bảo hiểm này hoàn toàn khác nhau. Ở đây, chúng ta chỉ bàn về bảo hiểm phi
nhân thọ. Vì vậy được đònh nghóa như sau:
Bảo hiểm là biện pháp chia sẻ rủi ro của một người hay của số ít người cho cả
cộng đồng những người có khả năng gặp rủi ro cùng loại, bằng cách mỗi người
trong cộng đồng góp một số tiền nhất đònh vào một quỹ chung và từ quỹ chung đó bù
đắp thiệt hại cho những thành viên trong cộng đồng không may bò thiệt hại do những
rủi ro đó gây ra.
Để có thể chia sẻ rủi ro thì việc đầu tiên phải làm là chuyển giao rủi ro

1.2.2.1 Chuyển giao rủi ro
Bảo hiểm có nghóa là chuyển giao rủi ro. Chuyển giao rủi ro ở đây thực chất là
chuyển giao hậu quả tài chính của rủi ro. Người chuyển giao rủi ro có thể là một cá
nhân hoặc một tổ chức. Chuyển giao rủi ro cũng có nghóa là cá nhân hoặc tổ chức đó
đổi cái không chắc chắn của mình (cái có khả năng xảy ra thiệt hại) lấy cái chắc
chắn (là không bò thiệt hại khi rủi ro xảy ra) hay nói cách khác, chấp nhận một tổn
thất nhỏ chắc chắn xảy ra (phí bảo hiểm) để tránh một tổn thất lớn hơn nhiều có thể
xảy ra (thiệt hại tài chính do rủi ro gây ra)

1.2.2.2 Bảo hiểm là một ngành dòch vụ đặc biệt
Bảo hiểm giống các ngành dòch vụ khác là tạo ra sản phẩm vô hình. Mục đích
của bảo hiểm là đem lại sự an tâm, sự an toàn về mặt tài chính cho người tham gia
bảo hiểm trước những rủi ro có thể xảy ra. Sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm trừu
tượng nên không thể nhìn thấy được và không dễ gì nhận biết được lợi ích cơ bản,
đặc tính, công dụng của sản phẩm.
GVHD: Ths Trònh Đặng Khánh Toàn SVTH: Trần Thò Bích Hạnh
11

Bảo hiểm khác với ngành dòch vụ khác ở chỗ các ngành dòch vụ khác đều có tiêu
hao vật chất, như để vận chuyển hàng hóa cần có phương tiện vận chuyển, để cung
cấp dòch vụ, ăn uống cần có lương thực, thực phẩm và dụng cụ nhà ăn, nhà bếp…
Dòch vụ bảo hiểm không có tiêu hao vật chất, ngoại trừ một ít giấy tờ để làm thủ tục
bảo hiểm.
Sản phẩm của bảo hiểm là lời hứa, là sự cam kết của doanh nghiệp bảo hiểm: sẽ
bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm cho khách hàng khi có tổn thất xảy ra. Chất lượng
và uy tín của sự đảm bảo này thể hiện ở hai khía cạnh:
Thứ nhất là sự đảm bảo đó có đáp ứng được mong muốn của khách hàng không?
Và có thực sự đem lại sự bình yên cho khách hàng khi tổn thất xảy ra không? Hay
nói một cách khác, nếu tổn thất xảy ra thì số tiền bổi thường của doanh nghiệp bảo
hiểm có thực sự bù đắp được thiệt hại hay không? Điều này phụ thuộc vào cả hai
phía: người bảo hiểm và người được bảo hiểm. Người bảo hiểm có cung cấp được
những sản phẩm đáp ứng được yêu cầu của khách hàng không? Khách hàng có sẵn
sàng bỏ tiền ra mua sản phẩm đó không?
Thứ hai là cam kết hay lời hứa của doanh nghiệp bảo hiểm có thực sự được
khách hàng tin tưởng hay không? Hay nói một cách khác, khi xảy ra tổn thất khách
hàng có chắc chắn nhận được tiền bồi thường đúng như doanh nghiệp bảo hiểm đã
cam kết hay không? Điều này có thể giải thích tại sao khách hàng thường lựa chọn
những doanh nghiệp bảo hiểm có uy tín để tham gia. Mặt khác, muốn kinh doanh
bảo hiểm thành công thì các doanh nghiệp bảo hiểm cần biết giữ chữ tín của mình.
Chữ tín gắn liền với thương hiệu của doanh nghiệp bảo hiểm. Doanh nghiệp nào có
uy tín, có bề dày lòch sử, có công nghệ hiện đại, có phong cách phục vụ khách hàng
chu đáo thì doanh nghiệp đó sẽ thu hút được đông đảo khách hàng tham gia bảo
hiểm.

1.2.3 Quá trình phát triển của bảo hiểm
GVHD: Ths Trònh Đặng Khánh Toàn SVTH: Trần Thò Bích Hạnh
12
Cũng như các ngành khác, bảo hiểm ra đời do nhu cầu khách quan của đời sống

kinh tế xã hội đòi hỏi. Đó là nhu cầu được bảo vệ , được giúp đỡ, được chia sẻ hoạn
nạn khi rủi ro, tổn thất xảy ra.
Để đi tới hoàn thiện và phát triển như ngày nay, bảo hiểm đã trải qua các giai
đoạn phát triển từ thấp đến cao.

1.2.3.1 Hình thức sơ khai của bảo hiểm
Thời nguyên thủy, loài người sống bằng nghề săn bắt, hái lượm. Ngay lúc đó, họ
đã biết cách dự trữ những con vật săn bắt được. Đến một giai đoạn phát triển khá
hơn, con người biết chăn nuôi, rồi trồng trọt. Tuy vậy sản xuất nông nghiệp rất bấp
bênh, phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên. Nhà nông đã biết dự trữ lương thực
phòng khi mất mùa. Đây là hình thức sơ khai của bảo hiểm.
Với việc tìm ra một số châu lục và vùng đất mới, thương mại hàng hải giữa các
châu lục và các vùng đất mới phát triển nhanh chóng. Cùng với nó, bảo hiểm, nhất
là bảo hiểm hàng hải cũng phát triển theo.

1.2.3.2 Bảo hiểm thông qua cho vay lãi suất cao
Nhóm người có tiền cho các thương nhân vay vốn để mua hàng và tàu, thương
nhân phải trả trước một lãi suất khá cao. Nếu thuận buồm xui gió, tàu đi đến nơi về
đến chốn thì người vay phải hoàn trả tiền gốc đã vay. Ngược lại, nếu con thuyền gặp
nạn, không trở về được thì người cho vay không thu hồi được số tiền đã cho vay vì
người vay không hoàn trả tiền vay. Nhờ cách làm này mà thương nhân yên tâm,
không sợ bò mất trắng khi tổn thất xảy ra với thuyền và hàng. Họ chỉ cần bán được
hàng theo giá bán cao hơn giá gốc công với lãi suất tiền vay là có lãi. Mặt khác, họ
không phải lo dành dụm tiền sau mỗi chuyến buôn có lãi để lập quỹ dự phòng tổn
thất. Có thể nói lãi suất cao này chính là một hình thức phí bảo hiểm, còn người đi
vay là người tham gia bảo hiểm, người cho vay là người bảo hiểm.

GVHD: Ths Trònh Đặng Khánh Toàn SVTH: Trần Thò Bích Hạnh
13
1.2.3.3 Hình thức cổ phần

Nếu như trước đây mỗi thương nhân chở toàn bộ hàng hóa của mình trên một con
thuyền thì nay họ phân tán trên nhiều con thuyền của những thương nhân khác
nhau., mỗi thương nhân đều có một phần vốn (cổ phần) của mình trên mỗi con
thuyền. Những con thuyền đó được xuất phát vào các thời điểm khác nhau. Đó chính
là hình thức phân tán rủi ro. Với cách làm này, nếu một con thuyền nào đó gặp tai
nạn, thì tổn thất được chia nhỏ ra cho các thương nhân, tổn thất được chia nhỏ ra cho
nhiều người. Nhờ đó mà ổn đònh được tài chính và kinh doanh của các nhà buôn.
Đây cũng là thủ pháp “Không nên dồn hết trứng vào một giỏ” (phân tán rủi ro là
một trong những chức năng của bảo hiểm) để tránh rủi ro dẫn đến tổn thất toàn bộ.
Tuy nhiên, hình thức cổ phần vẫn chưa thực sự làm cho các nhà buôn yên tâm. Nếu
chẳng may nhiều chiếc thuyền chở hàng của họ cùng bò tai nạn thì họ vẫn phải chòu
tổn thất không phải là nhỏ, làm cho họ gặp khó khăn về tài chính.

1.2.3.4 Hình thức bảo hiểm
Để khắc phục nhược điểm của các hình thức “bảo hiểm” nói trên, hình thức bảo
hiểm thực sự đã ra đời.
Nhà buôn hoặc các chủ tàu thuyền chấp nhận trả một khoản tiền nhất đònh cho
một cá nhân hay tổ chức chuyên trách nào đó để được cá nhân hoặc tổ chức đó bảo
đảm rằng nếu hàng hóa hoặc tàu thuyền của họ bò tổn thất do một nguyên nhân nhất
đònh nào đó thì họ sẽ được trả một khoản tiền để bù đắp thiệt hại xảy ra.
Có thể nói bảo hiểm hàng hải là đứa con đầu lòng của ngành bảo hiểm. Hiện
nay, người ta còn lưu giữ được bản hợp đồng bảo hiềm phát hành tại Genoa - Italia
năm 1347. Đến khi tàu chạy bằng hơi nước, rồi đến động cơ diezen ra đời, năng lực
vận tải tăng vọt lên, làm cho giao lưu thương mại giữa các nước thế giới phát triển
mạnh mẽ, tạo cơ hội cho bảo hiểm hàng hải và các nghiệp vụ bảo hiểm khác phát
triển.
GVHD: Ths Trònh Đặng Khánh Toàn SVTH: Trần Thò Bích Hạnh
14
Bảo hiểm hỏa hoạn ra đời ngay sau bảo hiểm hàng hải (thế kỷ 17). Vào thời kỳ
đó, ở các thành phố Châu u, nhà cửa đều được xây dựng bằng gỗ và người ta dùng

lửa để thắp sáng, sưởi ấm và nấu ăn trong các ngôi nhà đó. Vì vậy, nguy cơ xảy ra
cháy rất cao. Vụ cháy lớn nhất nước Anh vào năm 1666 thiêu hủy trên 13.000 ngôi
nhà là một thảm họa rất lớn trong lòch sử. Đó cũng là sự cảnh báo cho mọi người về
nguy cơ hỏa hoạn và làm nảy sinh nhu cầu bảo hiểm hỏa hoạn. Năm 1667, công tuy
bảo hiểm hỏa hoạn đầu tiên ra đời tại nước Anh.
Từ cuối thế kỷ 19, cuộc đại cách mạng khoa học kỹ thuật trên toàn thế giới diễn
ra sôi động, mang lại nhiều thành tựu, làm xuất hiện nhiều ngành nghề kinh doanh
mới. Song dù khoa học kỹ thuật có phát triển đến đâu đi chăng nữa, tạo ra được
nhiều biện pháp đề phòng hạn chế tổn thất hữu hiệu thì rủi ro vẫn cứ tồn tại và luôn
luôn đe dọa đời sống kinh tế xã hội của con người, chính vì vậy mà hàng loạt loại
hình bảo hiểm ra đời: bảo hiểm ôtô, máy bay, công trình xây dựng…
Tóm lại: bảo hiểm ra đời và phát triển là do nhu cầu khách quan đòi hỏi. Cuộc
sống đòi hỏi phải có quỹ tài chính đủ lớn để bù đắp đầy đủ, kòp thời các thiệt hại do
các sự cố bất ngờ gây ra, giúp người bò hại có thể nhanh chóng khôi phục lại cuộc
sống và sản xuất kinh doanh.

1.2.4 Ý nghóa, tác dụng của bảo hiểm
Như chúng ta đã thấy, bảo hiểm đã có lòch sử phát triển hàng trăm năm, các
nghiệp vụ bảo hiểm lần lượt ra đời, sản phẩm bảo hiểm ngày càng đa dạng, phong
phú. Số lượng doanh nghiệp bảo hiểm ngày càng tăng, tầm hoạt động không ngừng
được mở rộng, đã vượt ra khỏi lãnh thổ của các quốc gia. Điều này chứng tỏ bảo
hiểm đóng một vai trò to lớn trong sản xuất và đời sống, sản phẩm bảo hiểm đáp
ứng nhu cầu của xã hội, ngành bảo hiểm đã và đang góp phần phát triển kinh tế xã
hội của mỗi nước.
Ý nghóa tác dụng của bảo hiểm được thể hiện như sau:

GVHD: Ths Trònh Đặng Khánh Toàn SVTH: Trần Thò Bích Hạnh
15
1.2.4.1 Dàn trải tổn thất (phân tán rủi ro):
Nếu không có bảo hiểm thì tổn thất xảy ra với ai, người đó phải gánh chòu. Nhờ

có bảo hiểm, tổn thất, kể cả những tổn thất lớn, đều được dàn trải, chia nhỏ ra cho
cộng đồng những người tham gia bảo hiểm. Nhờ đó mà một tổn thất lẽ ra đã không
chòu đựng được với một người, thì nay trở nên chòu đựng được một cách dễ dàng nhờ
có sự chia sẻ của toàn cộng đồng. Điều này có nghóa là, quỹ bảo hiểm được hình
thành từ phí bảo hiểm do nhiều người tham gia bảo hiểm đóng góp, được sử dụng để
bồi thường, chi trả quyền lợi bảo hiểm cho những người gặp rủi ro, tổn thất. Hay nói
một cách khác, số đông người tham gia bảo hiểm đã góp phí bảo hiểm để hỗ trợ cho
số ít người không may mắn gặp rủi ro, tổn thất.

1.2.4.2 Bảo vệ
Một trong những chức năng quan trọng của bảo hiểm là bảo vệ. Các cá nhân hay
tổ chức có thể mua bảo hiểm cho tài sản của mình, và tài sản đó được bảo vệ, thể
hiện ở chỗ nếu tài sản đó bò thiệt hại do thiên tai, tai nạn bất ngờ, chủ sỡ hữu tài sản
sẽ được cung cấp tài chính để sửa chữa, khôi phục hoặc thay thế tài sản bò tổn thất,
đưa nó trở về trạng thái ban đầu như khi chưa có tổn thất xảy ra.

1.2.4.3 Đề phòng hạn chế tổn thất
Rủi ro là tiền đề của bảo hiểm, không có rủi ro thì cũng không có bảo hiểm.
Song không phải vì vậy mà doanh nghiệp bảo hiểm không quan tâm đến việc đề
phòng, hạn chế tổn thất. Ngược lại, qua công tác giám đònh, xử lý tai nạn và giải
quyết bồi thường, doanh nghiệp bảo hiểm có thể biết được đâu là những nguyên
nhân chính dẫn đến tai nạn, từ đó đề ra các biện pháp đề phòng hạn chế tổn thất.
Các biện pháp này làm giảm nguy cơ xuất hiện rủi ro, tổn thất, nhờ đó mà giảm
được số tiền bồi thường doanh nghiệp bảo hiểm phải chi trả, tiết kiệm của cải xã
hội, làm tăng hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm và từ đó có điều kiện
để giảm phí bảo hiểm.

×