Tải bản đầy đủ (.pdf) (100 trang)

nghiên cứu sự phân bố về thành phần loài của lưỡng cư, bò sát trong các môi trường sống ở khu bảo tồn thiên nhiên thần sa - phượng hoàng tỉnh thái nguyên

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (4.53 MB, 100 trang )


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu




ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM





PHẠM ĐÌNH KHÁNH




NGHIÊN CỨU SỰ PHÂN BỐ VỀ THÀNH PHẦN LOÀI
CỦA LƢỠNG CƢ, BÒ SÁT TRONG CÁC MÔI TRƢỜNG SỐNG
Ở KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN THẦN SA- PHƢỢNG HOÀNG
TỈNH THÁI NGUYÊN





LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC








THÁI NGUYÊN - 2014


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu




ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM




PHẠM ĐÌNH KHÁNH



NGHIÊN CỨU SỰ PHÂN BỐ VỀ THÀNH PHẦN LOÀI
CỦA LƢỠNG CƢ, BÒ SÁT TRONG CÁC MÔI TRƢỜNG SỐNG
Ở KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN THẦN SA- PHƢỢNG HOÀNG
TỈNH THÁI NGUYÊN


Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 60.42.01.20



LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC


Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Hoàng Văn Ngọc




THÁI NGUYÊN - 2014

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu




XÁC NHẬN
CỦA KHOA CHUYÊN MÔN

XÁC NHẬN
CỦA NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC




TS. Hoàng Văn Ngọc








Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu, kết quả sử dụng trong luận văn là trung thực, do tôi thu
thập và xử lí. Đồng thời, luận văn này chưa từng được bảo vệ trước bất cứ một hội đồng
nào trước đây.

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2014
Tác giả luận văn




Phạm Đình Khánh

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
ii
LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện luận văn, ngoài nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự
giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi của các thầy cô trong khoa Sinh- Kĩ thuật nông
nghiệp, Phòng Sau Đại học- Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, Ban quản lí và cán
bộ của các trạm kiểm lâm trong Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa- Phượng Hoàng, Ủy
ban nhân dân các xã Thượng Nung, Thần Sa, Sảng Mộc, Nghinh Tường, Vũ Chấn cũng

như nhân dân địa phương trong quá trình thực địa. Tôi cũng nhận được sự góp ý về
chuyên môn của PGS.TS Lê Nguyên Ngật- trường ĐHSP Hà Nội. Tôi vô cùng biết ơn
về sự giúp đỡ quý báu đó. Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo TS.
Hoàng Văn Ngọc đã cung cấp nhiều tư liệu tham khảo giá trị và trực tiếp hướng dẫn tôi
rất tận tình trong quá trình thực hiện đề tài.
Tôi cũng xin cảm ơn sự động viên, ủng hộ nhiệt tình của gia đình và bạn bè.
Do thời gian nghiên cứu còn ngắn cũng như trình độ bản thân của tôi còn hạn chế,
luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Tôi rất mong nhận được sự
góp ý của các thầy, cô giáo; các nhà nghiên cứu và bạn bè để đề tài hoàn chỉnh hơn!
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2014
Tác giả luận văn

Phạm Đình Khánh


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
iii
MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các kí hiệu viết tắt iv
Danh mục các bảng v
Danh mục các hình v
MỞ ĐẦU 6
1. Lý do chọn đề tài 6
2. Mục tiêu 8
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 8

4. Nội dung nghiên cứu 8
Chƣơng 1. TỐNG QUAN TÀI LIỆU 9
1.1. Lịch sử nghiên cứu LC, BS ở vùng Đông Bắc 9
1.2. Tình hình nghiên cứu LC, BS ở khu vực nghiên cứu 16
1.3 Đặc điểm các nhóm sinh thái của LC, BS phân theo nơi ở 17
1.3.1 Đặc điểm các nhóm sinh thái của LC phân theo nơi ở 17
1.3.2 Đặc điểm các nhóm sinh thái của BS phân theo nơi ở 18
Chƣơng 2. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ- XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 20
2.1 Vị trí địa lí, giới hạn 20
2.2 Đặc điểm tự nhiên 20
2.2.1 Địa hình 20
2.2.2 Địa chất, khoáng sản 21
2.2.3 Thổ nhưỡng 23
2.2.4 Khí hậu 23
2.2.5 Thủy văn 24
2.2.6 Sinh vật 25
2.3 Đặc điểm kinh tế- xã hội 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
iv
2.3.1 Các vấn đề xã hội 27
2.3.2 Kinh tế 28
Chƣơng 3. ĐỐI TƢỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
3.1 Đối tượng nghiên cứu 29
3.2 Địa điểm 29
3.3 Thời gian 29
3.4 Thiết bị nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 29
3.4.1 Thiết bị nghiên cứu 29
3.4.2 Phương pháp nghiên cứu 30
3.4.2.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa 30

3.4.2.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm 33
3.4.2.3 Phương pháp kế thừa 35
3.4.2.4 Phương pháp xử lí số liệu 35
Chƣơng 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36
4.1 Thành phần loài lưỡng cư, bò sát ở khu vực nghiên cứu 36
4.2 Nhận xét về thành phần loài 39
4.2.1 Sự đa dạng về thành phần phân loại học 39
4.2.2. So sánh với vùng Đông Bắc và cả nước 41
4.2.3 So sánh với các vùng lân cận 42
4.3 Mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái của các loài LC, BS bổ sung cho KVNC 43
4.4 Sự phân bố LC, BS ở KVNC 50
4.4.1 Phân bố theo nơi ở 50
4.4.2 Phân bố theo hệ sinh thái 54
4.5 Các loài lưỡng cư, bò sát quý hiếm ở khu vực nghiên cứu 60
4.6 Các nhân tố đe dọa khu hệ LC, BS và đề xuất hướng bảo tồn 62
4.6.1 Các nhân tố đe dọa 62
4.6.2 Đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn 63
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
PHỤ LỤC

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
iv

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT
BS
Bò sát
DC
Dân cư
đtg

Đồng tác giả
ĐVHD
Động vật hoang dã
HST
Hệ sinh thái
IUCN2014
Danh lục đỏ IUCN verson 2014.2
KBT
Khu bảo tồn
KBTTN
Khu bảo tồn thiên nhiên
KVNC
Khu vực nghiên cứu
LC
Lưỡng cư
NĐ32
Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 30/03/2006
về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm.
NN
Nông nghiệp
SC
Sinh cảnh
SĐVN
Sách Đỏ Việt Nam, 2007. Phần Động vật.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Các kiểu thảm thực vật trong các phân khu của KBT 26

Bảng 2.2 Thành phần ĐV có xương sống ở KBTTN Thần Sa- Phượng Hoàng 26
Bảng 4.1 Danh sách thành phần loài LC, BS ở KVNC 36
Bảng 4.2 Đa dạng bậc phân loại lưỡng cư ở KVNC 40
Bảng 4.3 Đa dạng bậc phân loại bò sát ở KVNC 40
Bảng 4.4 So sánh số lượng của các bậc phân loại LC, BS ở KVNC với vùng Đông Bắc và cả nước 41
Bảng 4.5 So sánh thành phần loài LC, BS một số khu vực trong vùng Đông Bắc 43
Bảng 4.6 Sự phân bố các bậc phân loại của LC, BS theo nơi ở 50
Bảng 4.7 Sự phân bố các bậc phân loại của LC, BS theo HST 54
Bảng 4.8 Danh sách các loài LC, BS quý hiếm ở KVNC 61
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Bàn chân lưỡng cư không đuôi 33
Hình 3.2 Số đo lưỡng cư không đuôi 33
Hình 3.3 Tấm đầu của rắn 34
Hình 3.4 Các loại vảy lưng ở rắn 34
Hình 3.5 Cách đếm số hàng vảy thân 34
Hình 3.6 Vảy bụng, vảy dưới đuôi và tấm hậu môn 34
Hình 3.7. Các tấm trên đầu ở thằn lằn (Mabuya) 35
Hình 3.8. Lỗ tai thằn lằn (theo Bourret R., 1943) 35
Hình 3.9. Mắt thằn lằn (theo Bourret R., 1943) 35
Biểu đồ 4.1 Số lượng của các bậc phân loại LC, BS ở KVNC, Đông Bắc và cả nước 42
Biểu đồ 4.2 Tỉ lệ số loài lưỡng cư, bò sát phân bố ở từng nơi ở trong KVNC (%). 51
Biểu đồ 4.3 Tỉ lệ số loài lưỡng cư, bò sát phân bố ở từng HST trong KVNC (%). 55



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
6
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lưỡng cư, bò sát là những mắt xích quan trọng trong lưới thức ăn của các quần xã,

với số lượng loài rất phong phú và đa dạng, đã góp phần giữ trạng thái cân bằng sinh
học trong các quần xã đó. Chúng còn là vật chỉ thị cho môi trường nước do giai đoạn
nòng nọc của LC cũng như giai đoạn trưởng thành của nhiều loài LC, BS phát triển
trong nước. Những loài có đời sống chui luồn trong đất có tác dụng làm đất tơi, xốp;
tiêu diệt côn trùng và chuột gây hại; trở thành những loài có ích cho nông- lâm nghiệp.
Mặt khác, ở một mức độ nhất định, chúng cũng là động vật gây hại: các loài rắn độc đe
dọa sức khỏe, tính mạng con người và vật nuôi; có thể xâm hại ngành thủy sản do các
loài cá cũng là con mồi tự nhiên của nhiều LC, BS. LC, BS đều là những vật chủ trung
gian của nhiều loài kí sinh. Ngoài giá trị khoa học; LC, BS từ lâu đã được con người sử
dụng làm thực phẩm, dược liệu, vật trang trí- động vật cảnh, trong kĩ nghệ da.
LC, BS đã thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu ngay từ thế kỉ XVII và ngày
càng có những phát hiện mới về chúng. Các nghiên cứu gần đây đãmở rộng đáng kể cả
về phạm vi và nội dung, làm gia tăng những hiểu biết của con người về thế giới động
vật hoang dã, đặc biệt khi nó được tiếp sức của ngành khoa học hiện đại Sinh học phân
tử.Theo thống kê trong Danh lục Đỏ IUCN 2014.2 [75], trên toàn thế giới đã có 6410
loài LC và 4256 loài BS được định tên. Với khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, thích
hợp với LC, BS nên Việt Nam là một trong các quốc gia có đa dạng sinh học LC, BS
cao nhất trên thế giới. Theo Thomas Ziegler và Nguyễn Quảng Trường, tính đến tháng
7/2010, Việt Nam có 181 loài LC và 385 loài BS được mô tả [89]. Trong khi nhiều loài
mới vẫn tiếp tục được công bố, chúng ta cũng chứng kiến sự suy giảm cả về số lượng và
diện phân bố của những loài đã biết do các hoạt động xâm hại của con người như chặt
phá rừng, buôn bán động vật, thay đổi mục đích sử dụng đất lâm nghiệp.
Đặc điểm đáng chú ý của Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa- Phượng Hoàng (huyện
Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên) là thảm thực vật rừng hiện còn khá phong phú, tỉ lệ đất có
rừng là 97,6% diện tích; rừng tự nhiên đặc trưng & có giá trị đa dạng sinh học chiếm
34,7% diện tích KBTTN (2009). Ngoài hệ sinh thái rừng trên núi đất, giá trị bảo tồn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
7
chính của KVNC là SC độc đáo rừng trên núi đá vôi với đa dạng loài của nó, mà ở

nhiều nơi phân bố trên các vách núi dựng đứng, khó khăn để tiếp cận ngay cả với
người dân bản địa, hạn chế cho công tác khảo sát thành phần loài. Tuy mật độ sông
suối khá thưa, nhưng có một số khe nước, nhánh suối nhỏ có nước chảy thường xuyên
trong năm, tạo điều kiện thuận lợi cho sự cư trú của LC, kéo theo phân bố của các BS
săn mồi.
Với ý nghĩa sinh học và sinh thái như vậy, việc bảo tồn loài trong KBTTN Thần Sa-
Phượng Hoàng là hết sức cấp bách trong bối cảnh biến đổi khí hậu và suy giảm đa dạng
sinh học đang diễn ra ở cấp độ toàn cầu. Dù vậy, do công tác bảo vệ rừng ít nhiều còn
hạn chế và do nhu cầu mưu sinh của nhân dân địa phương, trong những năm vừa qua,
tình hình săn bắt động vật hoang dã vẫn diễn ra thường xuyên, tài nguyên thực vật bị
xâm hại dẫn tới phá hủy SC sống của động vật. Trong cả vùng lõi và vùng đệm của
KBT đều có DC sinh sống phân tán nên không thể tránh khỏi tác động tiêu cực. Việc sử
dụng thuốc trừ sâu NN ảnh hưởng tới hệ động vật nói chung, LC, BS nói riêng. DC
sống rải rác tạo ra sự phân mảnh khu sinh thái của động vật. Nạn khai thác vàng nhỏ lẻ
trái phép từng diễn ra, nay tập trung hơn dưới hình thức khai thác cát sỏi xả thải ra môi
trường nhiều hóa chất độc hại. Việc khai thác khoáng sản này nếu không được chấm
dứt chắc chắn làm cấu trúc ổn định của rừng trong KBT từng bước bị phá vỡ, sẽ làm
suy giảm nghiêm trọng những giá trị bảo tồn của khu rừng. Nguy cơ trọc hóa rừng
trên núi đá khi đó là hiện hữu, trong khi việc phục hồi rất khó khăn. Để có những luận
điểm chắc chắn, thuyết phục nhằm kêu gọi đầu tư và đề xuất triển khai các biện pháp
tích cực bảo vệ KBT, cần nhiều hơn nữa các nghiên cứu rà soát khu hệ động, thực vật
trong KBT.
Bên cạnh đó, các khảo sát về LC, BS ở KBTTN Thần Sa- Phượng Hoàng được đề
cập tới nay vẫn còn ít, trong khi một số loài như Trăn đất đang có dấu hiệu biến mất.
Việc nghiên cứu SC, thành phần loài của LC, BS trong các SC và bổ sung các mô tả
hình thái, sinh thái của chúng trở thành yêu cầu cấp thiết, làm cơ sở cho công tác bảo
tồn. Từ đòi hỏi thực tế đó, tôi lựa chọn thực hiện đề tài: "Nghiên cứu sự phân bố về
thành phần loài của lưỡng cư, bò sát trong các môi trường sống ở Khu bảo tồn thiên
nhiên Thần Sa- Phượng Hoàng tỉnh Thái Nguyên".


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
8
2. Mục tiêu
Nghiên cứu sự phân bố về thành phần loài của LC, BS trong các môi trường sống
ở KBTTN Thần Sa- Phượng Hoàng, làm cơ sở cho công tác quản lí, bảo tồn và sử dụng
hợp lí nguồn tài nguyên LC, BS.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Ý nghĩa khoa học: Kết quả của đề tài góp phần bổ sung dẫn liệu khoa học về sự
phân bố của các loài LC, BS trong từng môi trường sống của KBTTN Thần Sa- Phượng
Hoàng; những mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái của các loài bổ sung cho KVNC, cập
nhật thêm khu vực phân bố cho các loài LC, BS này.
Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả của đề tài góp phần cung cấp dữ liệu khoa học, làm
cơ sở cho việc quản lí, bảo tồn và phát triển các loài LC, BS ở KVNC; bổ sung mẫu cho
phòng Bảo tàng sinh học khoa Sinh-KTNN trường ĐHSP Thái Nguyên.
4. Nội dung nghiên cứu
- Xác định thành phần loài, đánh giá tính đa dạng sinh học của LC, BS ở KVNC, mô tả
các loài bổ sung cho KVNC.
- Nghiên cứu sự phân bố về thành phần loài LC, BS theo nơi ở và theo sinh cảnh.
- Xác định các loài quý hiếm trong KVNC.
- Điều tra các yếu tố đe dọa làm suy giảm đa dạng LC, BS ở KVNC.
- Đề xuất các kiến nghị quản lí, bảo tồn đa dạng sinh học nói chung; LC, BS nói riêng ở
KVNC.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
9
Chƣơng 1
TỐNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Lịch sử nghiên cứu LC, BS ở vùng Đông Bắc
Theo Nguyen Van Sang et al. (2009), vùng địa lí Đông Bắc của Việt Nam gồm 11

tỉnh: Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai, Yên Bái, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Thái Nguyên,
Lạng Sơn, Phú Thọ, Bắc Giang, Quảng Ninh. Nghiên cứu LC, BS ở các tỉnh Đông Bắc
chia thành 3 hướng chính:
- Nghiên cứu về thành phần loài và phân loại. Đây là hướng nghiên cứu chủ đạo
từ khi những nhà nghiên cứu nước ngoài đầu tiên tới Việt Nam khảo sát LC, BS và vẫn
tiếp tục cho tới nay.
Theo Hoàng Văn Ngọc (2011) [40], tác giả Bourret R. từ 1933 đến 1944 đã viết 4
cuốn chuyên khảo về LC, BS Đông Dương (Việt Nam, Lào và Campuchia), gồm Les
Serpents de l’Indochine (Tome I, II) (1936) có mô tá 105 loài rắn ở miền Bắc Việt
Nam, Les Tortues de l’Indochine (1941) có mô tả 17 loài và phân loài rùa ở miền Bắc
Việt Nam và Les Batraciens de l’Indochine (1942) có mô tả 59 loài và phân loài LC,
Les Lézards de l'Indochine (được xuất bản chính thức năm 2009), gồm 177 loài và
phân loài thằn lằn. Đây được coi là những tài liệu đầy đủ nhất về LC, BS ở giai đoạn
trước 1954 của Đông Dương. Địa điểm khảo sát trong các nghiên cứu của ông tập trung
ở miền Nam, trong khi vùng Đông Bắc chủ yếu ở các khu nghỉ mát (Mẫu Sơn, Tam
Đảo ), các khu đồn trú của lính Pháp (Ngân Sơn ). Các nghiên cứu LC, BS ngay sau
đó bị đình trệ khi cuộc kháng chiến chống Pháp nổ ra ở Việt Nam.
Vào thời kì miền Bắc bắt đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội sau 1954, một số cán bộ
được Nhà nước cử đi đào tạo tại Liên Xô (cũ) trở về công tác tại các cơ quan như Đại
học (ĐH) Tổng hợp Hà Nội, ĐH Sư phạm Hà Nội, Viện Điều tra quy hoạch rừng ;
cùng với các cán bộ được đào tạo trong nước trở thành cán bộ chuyên sâu thực hiện
thống kê tài nguyên về LC, BS của đất nước và các địa phương, phục vụ cho sản xuất
và phát triển kinh tế. Theo Trần Kiên (1981), ở vùng Đông Bắc cũng có một số địa
điểm được nghiên cứu, như: Ghi nhận loài trăn đất (Python molurus) và ba ba gai
(Palea steindachneri) ở Đình Cả (Võ Nhai, Thái Nguyên) của Đào Văn Tiến (1962);
thu mẫu, xác định tổng cộng 74 loài BS và 34 loài LC ở Bắc Thái cũ (nay gồm Thái

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
10
Nguyên và Bắc Kạn) qua các đợt khảo sát của Nguyễn Văn Sáng (1967), Nguyễn Quốc

Thắng (1968), Đỗ Tước (1969), Kim Ngọc Sơn (1970), và một số chuyến hướng dẫn
thực địa sinh viên của trường ĐH Tổng hợp Hà Nội [22].
Nguyễn Văn Sáng và đtg công bố về thành phần loài: Rắn ở miền Bắc Việt Nam
(1981); thống kê được ở vùng núi Yên Tử có 19 loài LC và 36 loài bò sát trong đó có 3
loài LC và 2 loài BS đặc hữu Việt Nam, 2 loài LC và 12 loài BS quý hiếm (2000) [54];
ở Hữu Liên (Lạng Sơn) có 20 loài LC và 28 loài BS (2000) [50]; thống kê LC, BS ở
Văn Bàn- Lào Cai từ 73 loài (bao gồm 34 loài BS và 39 loài LC, trong đó có 16 loài quý
hiếm; bổ sung khu phân bố của Rắn lục mũi hếch Deinakistrodon acutus, Cóc mày phê
Brachytarsophrys feae, Ếch cây chân đỏ Rhacophorus bipunctatus, Ếch vân nam Paa
yunnanensis và loài rất hiếm gặp Rắn đai má Liopeltis frenatus ở đây) vào năm 2004
[49] lên 80 loài (38 loài BS, 42 loài LC) kèm theo phân chia theo dạng SC và độ cao
trong năm 2005 [53].
Lê Nguyên Ngật và đtg đã thống kê có 32 loài ếch nhái ở rừng Tam Đảo (1995)
[31]. Năm 2004, công bố thành phần loài ở Hồ Núi Cốc gồm 18 loài LC, 44 loài BS
trong đó có 13 loài ghi trong Sách Đỏ Việt Nam 2000, 3 loài trong Danh lục Đỏ IUCN
2000 [34], tới 2005 ghi nhận ở vùng này có 22 loài LC, 49 loài BS, xác định được 22
loài quý, hiếm; cùng nghiên cứu ở khu vực Thần Sa- Phượng Hoàng để bổ sung 16 loài
cho danh sách LC, BS ở Thái Nguyên, tổng kết danh sách này có 80 loài [33]. Năm
2007, thống kê ở 3 huyện Chiêm Hóa, Nà Hang, Sơn Dương của Tuyên Quang có 97
loài LC, BS (trong đó 43 loài LC thuộc 8 họ, 3 bộ và 54 loài BS thuộc 14 họ, 2 bộ) với
22 loài quý, hiếm; bổ sung 48 loài so với danh lục 2005 [36]; thống kê Hà Giang có 86
loài, gồm 49 loài LC, 37 loài BS (bổ sung 8 loài LC, 23 loài BS cho Hà Giang so với
danh lục 2005) [37]. Năm 2008, bổ sung Sơn Động (Bắc Giang) thuộc vùng núi Tây
Yên Tử vào khu phân bố đã biết của Thằn lằn cá sấu Shinisaurus crocodilusus là
Quảng Tây (Trung Quốc) và Quảng Ninh [38]. Hoàng Văn Ngọc, Lê Nguyên Ngật và
đtg (2009) đã bổ sung Na Hang (Tuyên Quang) vào khu phân bố của Thằn lằn tốt mã
bốn vạch Plestiodon quadrilineatus và Vị Xuyên (Hà Giang) vào khu phân bố của
Thằn lằn tốt mã tam đảo Plestiodon tamdaoensis [42], ghi nhận vùng phân bố mới của
thạch sùng đuôi dẹp Hemidactylus garnotii ở Hà Giang, Tuyên Quang và Chợ Đồn


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
11
(Bắc Kạn) [41].
Năm 1998, Amy Lathrop và đtg mô tả loài mới phát hiện cho khoa học Lepolalax
sungi ở Tam Đảo và Leptolalax nahangensis ở Tuyên Quang [76].
Hồ Thu Cúc và đtg (2000) [8] mô tả một vài đặc điểm hình thái, tập tính và phân
bố của 10 loài Rhacophorus trong đó có các loài ở vùng Đông Bắc: Rhacophorus
calcaneus, Rhacophorus rainwardtii (được xác định lại thuộc Rhacophorus kio [83]),
Rhacophorus verrucosus (tên đồng danh của Kurixalus verrucosus). Năm 2001, tái
phát hiện, bổ sung khu phân bố và mô tả một số loài của giống ếch cây sần Theloderma:
Th. gordoni ở K'Bang (Gia Lai), Fansipan (Lào Cai) và núi Tam Đảo, Th. asperum
(Boulenger, 1886) ở Tam Đảo và Sa Pa, Th. bicolor có ở Sa Pa, đổi tên Rhacophorus
leprosus corticalis từng phát hiện ở Mẫu Sơn (Lạng Sơn) thành Th. corticale
(Boulenger, 1903) phát hiện lại ở núi Tam Đảo [7]. Theo Nguyen Van Sang (2009)
[83], bà cũng đã bổ sung nhiều loài mới cho khoa học tại vùng Đông Bắc Việt Nam như
Leptolalax nahangensis, Leptolalax sungi, Odorrana bacboensis, Rhacophorus
hoanglienensis, Sphenomorphus cryptotis, Sphenomorphus devorator.
Đặng Huy Phương và đtg, năm 2004 thống kê ở khu vực núi Tây Côn Lĩnh, Hà
Giang có 18 loài BS, 33 loài LC [47], năm 2009 đã xác định ớ Hà Giang có 73 loài LC,
BS, trong đó có 41 loài LC và 32 loài BS [46].
Raoul H. Bain và đtg, 2004 công bố ở Hà Giang có 36 loài LC, 16 loài BS; so với
nghiên cứu năm 2004 nói trên của Đặng Huy Phương bổ sung thêm 14 loài LC, 8 loài
BS; trong đó mô tả 2 loài mới Rana iriodes và Rana tabaca, đưa ra ghi nhận vùng mới
của 8 loài và phân loài ở Hà Giang và phía đông sông Hồng [71].
Phạm Nhật và đtg (2004) thống kê được 69 loài ớ Ba Bể- Na Hang (dự án PARC) [44].
Wolfgang Böhme và đtg (2005) đã mô tả một loài cá cóc mới cho khoa học
Tylototriton vietnamensis (Urodela: Salamandridae) ở vùng đất thấp Lục Nam (Bắc
Giang), Cao Bằng, Nghệ An đôi lúc xuất hiện trên thị trường buôn bán sinh vật cảnh từ
miền Bắc Việt Nam nhưng chưa từng được mô tả [72].
Trần Thanh Tùng và đtg thống kê ở vùng núi Yên Tử thuộc Bắc Giang có 101 loài

LC, BS (41 loài LC, 60 loài BS) (2006) [61]; lần lượt đưa ra các danh sách loài LC, BS
khác nhau ở khu vực núi Yên Tử theo các năm: 2007 với 123 loài kèm sự phân bố theo

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
12
SC và độ cao [39]; 2008 với 133 loài, trong đó có 37 loài đặc hữu và quý hiếm [62].
Nguyễn Quảng Trường và đtg đã ghi nhận 67 loài LC, BS (trong đó có 35 loài ếch
nhái thuộc 7 họ, 2 bộ và 32 loài BS thuộc 10 họ, 2 bộ), bổ sung 4 loài LC, 6 loài BS so
với trước đó; trong đó có 15 loài ếch nhái và bò sát quý hiếm ở Hà Giang, ghi nhận một
số loài hiếm gặp như: Paramesotriton deloustali ở Đá Đin, huyện Xí Mần, Tylototriton
asperrimus, Bombina microdeladigitora (=B. maxima), Amolops chapaensis, Rhacophorus
hoanglienensis và Ophisaurus harti ở Tây Côn Lĩnh (2006) [67]; ghi nhận vùng phân
bố mới cho loài Ateuchosaurus chinensis ở Vị Xuyên, Hà Giang (2008) [77], phát hiện và
mô tả loài mới cho khoa học Goniurosaurus huulienensis ở Lạng Sơn (2008) [83], mô tả
loài mới Gekko canhi ở Hữu Liên (Lạng Sơn) và Sa Pa [84], Tropidophorus boehmei ở núi
Fansipan, Sa Pa và Văn Bàn (Lào Cai) (2010)[81], Oligodon nagao ở Lạng Sơn, Cao
Bằng, Nam Trung Quốc (Quảng Tây) và Trung Lào (2012)[74], 1 loài mới thuộc nhóm
Gekko japonicus ở Cao Bằng và Quảng Tây (Trung Quốc) (2013)[82].
Lê Xuân Cảnh và đtg, năm 2007 xác định có 47 loài, gồm 17 loài LC và 30 loài
BS, trong đó 1 loài LC, 14 loài BS quý hiếm và đề xuất các khu bảo vệ cấp quốc gia ở
Định Hóa và Võ Nhai, Thái Nguyên [6]. Năm 2013, đã thu thập cơ sở dữ liệu các loài
động vật có nguy cơ bị đe dọa ở Việt Nam năm 2013, trong đó có 169 loài BS (gấp 3,84
lần so với 44 loài năm 2007) và 72 loài LC (gấp 5,54 lần so với 13 loài năm 2007), báo
động về đa dạng sinh học LC, BS ở nước ta nói chung và vùng Đông Bắc nói riêng [5].
Trần Minh Hợi và đtg (2008) đã đưa ra danh lục LC, BS ở VQG Xuân Sơn (Phú
Thọ) gồm 27 loài LC và 44 loài BS (theo Nguyễn Lân Hùng Sơn, 2013 [55]). Trong
công trình của Nguyễn Văn Sáng, Nguyễn Quảng Trường (2009) cập nhật VQG này có
29 loài LC (8 họ, 3 bộ) và 48 loài BS (14 họ, 2 bộ)[52]. Nguyễn Lân Hùng Sơn và đtg
(2013) tiếp tục thu thập mẫu của 32 loài LC, BS để cung cấp cho Bảo tàng thiên nhiên
VQG Xuân Sơn , trong đó có 19 loài LC ( thuộc 5 họ, 1 bộ) và 13 loài BS (thuộc 5 họ,

1 bộ), bổ sung cho các kết quả trước đó 11 loài LC và 6 loài BS, nâng tổng số loài LC,
BS xác định được lên thành 94 loài (40 loài LC, 54 loài BS). Nghiên cứu năm 2013 này
cũng mở rộng vùng phân bố của loài cóc mày Leptolalax firthi lần đầu tiên được phát
hiện trong rừng thường xanh trên núi ở Kon Tum và Quảng Nam năm 2012 của Jodi J.
L. Rowley và đtg [55 ], [85].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
13
Vũ Tiến Thịnh (2013) xác định được 11 loài BS quý hiếm ở KBT loài và SC Nam
Xuân Lạc (Bắc Kạn) gồm: Tắc kè Gekko gecko, Kỳ đà hoa Varanus salvator, Rắn ráo
thường Ptyas korros, Rắn hổ mang Naja atra, Rắn cạp nong Bungarus fasciatus, Rắn
cạp nia bắc Bungarus multicinctus, Rùa đất spengle Geoemyda spengleri và đặc biệt
quý hiếm là Trăn đất Python molorus, Rắn hổ mang chúa Ophiophagus hannah, Rùa
đầu to Platystemon megacephalum, Rùa sa nhân Cuora mouhoti [66].
Đặng Huy Huỳnh, Nguyễn Hữu Thắng (2013) đã khảo sát và tổng hợp tài liệu,
xác định ở khu vực Phia Oắc- Phia Đén (Cao Bằng) có 32 loài LC và 49 loài BS, trong
đó có 14 loài LC, BS quý hiếm [18].
Tóm lại, các tỉnh trong vùng Đông Bắc đều đã được khảo sát về thành phần loài
LC, BS với một loạt các ghi nhận mới về loài và khu phân bố loài qua các năm, tuy một
số tỉnh còn ít được điều tra như Yên Bái, Quảng Ninh. Trong cuốn "Herpetofauna of
Vietnam" (2009) đã thống kê ở 11 tỉnh Đông Bắc có 110 loài LC và 161 loài BS đã
được mô tả (không tính 3 loài LC, 13 loài BS ở Tam Đảo nhưng không đề cập cụ thể có
ở 11 tỉnh nêu trên), trong đó Thái Nguyên có 13 loài LC và 51 loài BS. Trong một bài
báo bổ sung cho cuốn sách này, Thomas Ziegler và đtg (2010) đã thống kê ở vùng
Đông Bắc có thêm 2 loài LC mới cho khoa học Odorrana geminata (Bain et al., 2009),
Theloderma lateriticum (Bain et al., 2009); 4 loài BS mới Protobothrops trungkhanhensis
(Orlov et al., 2009), Gekko canhi (Rösler et al., 2010), Scincella apraefrontalis
(Nguyen et al., 2010), Tropidophorus boehmei (Nguyen et al., 2010) được mô tả (trong
tổng số 566 loài của cả nước) và đề cập ghi nhận quốc gia mới của 1 loài LC
(Leptobrachium promustache), 2 loài BS (Scincella monticola và Amphiesmoides

ornaticeps) ở đây [89].
Trên cơ sở lập danh sách và bố sung loài mới ở các vùng trên toàn quốc các
nghiên cứu này còn phục vụ việc xuất bản các sách phục vụ cho nghiên cứu LC, BS,
góp phần xây dựng luận chứng kĩ thuật trong các hoạt động bảo tồn ở các KBTTN,
VQG và đánh giá tác động môi trường trong các dự án kinh tế liên quan.
- Hướng thứ hai về sinh học, sinh thái học, kí sinh trùng và chăn nuôi một số loài
kinh tế. Theo Nguyễn Văn Sáng và đtg (2009) [51], trong thập niên 80-90 của thế kỷ
trước có các nghiên cứu về một số loài có giá trị, như: khả năng nuôi tắc kè của Nguyễn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
14
Văn Sáng (1988); cơ sở sinh học và sinh thái học của nghề rắn (rắn hổ mang, cạp nong,
cạp nia) của Hoàng Nguyễn Bình (1991); sinh thái học của rắn hổ mang non nuôi trong
lồng của Trần Kiên, Lê Nguyên Ngật (1991); đặc điểm sinh học, sinh thái của rắn ráo
Ptyas korros trưởng thành của Đinh Thị Phương Anh (1994); kĩ thuật nuôi ba ba trơn
của Hoàng Ngọc Quý (1996), một số đặc điểm sinh thái của ếch đồng trong điều kiện
nuôi của Nguyễn Kim Tiến (1999). Trần Kiên, Lê Nguyên Ngật (1992) [20] công bố
nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của rắn hổ mang (Naja naja) non nuôi trong lồng.
Tanya L. Trépanier và đtg (1999) phân tích âm thanh tiếng kêu tán tỉnh và đánh dấu
lãnh thổ của Rhacophorus leucomystax (=Polypedates leucomystax) [86].
Sau đó, đối tượng nuôi và nghiên cứu được mở rộng hơn: Đặc điểm lột xác và
dinh dưỡng của tắc kè Gekko gecko trong điều kiện nuôi của Trần Kiên và Viêng Xay
(2000) [23]. Đặc điểm hình thái và sinh học của thằn lằn cá sấu (Shinisaurus crocodilusus
Ahl, 1930) tại vùng núi Yên Tử ở Bắc Giang trong điều kiện nuôi (2008)[38] của Lê
Nguyên Ngật và đtg. Mùa sinh sản của thạch sùng đuôi sần ở Vĩnh Phúc (2007) [26],
đặc điểm dinh dưỡng của rùa núi vàng và rùa sa nhân trong điều kiện nuôi bán tự nhiên
(2013) [27] của Ngô Thái Lan. Sinh trưởng và phát triển của Chẫu chàng xanh đốm
[25] của Lê Vũ khôi và đtg (2009). Quy trình nuôi Rồng đất của Ngô Đắc Chứng
(2009) [11]. Đặc điểm sinh học của thạch sùng đuôi dẹp ở vùng Đông Bắc [41]; một số
đặc điểm sinh thái, sinh học và khóa định loại 3 loài ếch Quasipaa ở Hà Giang [43] của

Hoàng Văn Ngọc và đtg (2009). Hình thái và tiếng kêu của loài Cóc mắt bên Xenophrys
major (Boulenger, 1908) ở VQG Tam Đảo của Nguyễn Thị Thanh Hương và đtg
(2013) [19]. Thử nghiệm nuôi, cho giao phối và sinh sản thành công ở thằn lằn cá sấu
(mẫu ở KBTTN Tây Yên Tử) của Trần Đại Thắng và đtg (2013)[65].
Các đề tài về kí sinh trùng trên LC, BS cũng mới được quan tâm trong những năm
gần đây là cơ sở cho công tác phòng chống, giảm thiểu bệnh tật trên LC, BS chăn nuôi
và phòng bệnh truyền nhiễm ở người: Nguyễn Thị Lê và đtg nghiên cứu định loại được
12 loài kí sinh ở thạch sùng đuôi sần, 5 loài ở thằn lằn bóng đuôi dài tại Hà Nội, Yên
Bái, Tuyên Quang, Bắc Kạn (2005) [28]; sau đó tổng hợp tỉ lệ nhiễm và danh sách loài
sán lá gồm 21 loài kí sinh (KS) trên 9 loài LC và 28 loài KS trên 15 loài BS ở các tỉnh
phía bắc, trong đó vùng Đông Bắc có 15 loài KS trên LC và 27 loài KS trên BS, đồng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
15
thời 3 loài sán lá được mô tả là loài mới cho khoa học: Batrachotrema vietmamensis,
Pleurogenes longivitellaris Singhiatrema vietnamensis (2009) [29]. Định loại được 4
loài sán dây thuộc giống Oochoristica kí sinh ở thạch sùng đuôi sần Hemidactylus
frenatus của Trần Thị Bính và đtg (2005)[4]. Phát hiện tỉ lệ nhiễm giun tròn
(Nematoda) khá cao ở ở một số loài ếch nhái tại Vườn quốc gia Tam Đảo và Xuân Sơn
(VD: chẫu 85%, cóc nhà 75%, ngóe 70%) và mô tả 2 loài kí sinh mới Aplectana
asiatica, Amplicaecum brumpti cho khu hệ giun tròn Việt Nam của Nguyễn Văn Đức
và đtg (2005) [16]. Lần đầu tiên phát hiện, mô tả 2 loài sán lá đơn chủ kí sinh trên ba ba
trơn và rùa núi vàng ở Việt Nam, trong đó có một loài Polystomoides nghi ngờ là loài
mới cho khoa học của Phạm Ngọc Doanh (2007) [12]. Phát hiện, mô tả 3 loài giun tròn
kí sinh ở thạch sùng đuôi sần và 3 loài giun tròn ở thằn lằn bóng đuôi dài, trong đó mỗi
loài thằn lằn có 1 loài kí sinh Physaloptera nghi ngờ là loài mới của Nguyễn Thị Minh
và đtg (2007) [30]. Bài báo tổng hợp xác định tỉ lệ nhiễm và danh sách 45 loài giun tròn
và 4 loài giun đầu gai kí sinh trên 16 loài bò sát phổ biến ở Việt Nam, trong đó mô tả 3
loài giun tròn mới bổ sung cho khoa học: Pharyngodon duci, Spauligodon vietnamenis
và Thelandros vietnamenis của Bùi Thị Dung và đtg (2009) [13].

Những nghiên cứu này mang tính ứng dụng, góp phần hỗ trợ công tác bảo tồn
nguồn gen, bảo tồn loài theo SC, vệ sinh dịch tễ, phát triển dược phẩm và sinh kế cho
người dân.
- Hướng thứ ba: nghiên cứu về sinh học phân tử. Đây là hướng nghiên cứu hiện
đại giúp phân tích sự sai khác di truyền nhằm xác định tên loài, thay đối taxon, sự tiến
hóa phân tử và mối quan hệ phát sinh chủng loại. Do chủ yếu có sự phân tích di truyền
giữa các quần thể có nhiều sai khác về hình thái hơn là về phân bố địa lí, các nghiên cứu
theo hướng này có tính khái quát trên phạm vi cả nước: Nguyễn Văn Cường và đtg
(1992) phân đoạn và xác định tính chất của các tiểu phần protein của nọc rắn hổ mang
[9]; Ngô Thị Kim, Đặng Tất Thế (2004) phân tích di truyền Rắn hổ mang (HM) vàng-
HM đen- HM núi [24]; Vogel Gernot (2006) sửa đổi tên quần thể rắn Xenochrophis chỉ
có ở Campuchia, Việt Nam, Tây Malaysia thuộc tổ hợp loài Xenochrophis piscator
thành loài Xenochrophis flavipunctatus [88]; Andre Ngo et al. (2006) nghiên cứu quan
hệ phát sinh loài của các loài ếch vùng thác nước ở Trung Quốc và Việt Nam thuộc chi

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
16
Amolops dựa vào hệ gen ti thể và đề xuất đặt Amolops chapaensis và Huia nasica vào
chi Odorrana [78]; Hoàng Văn Ngọc và đtg (2009) nghiên cứu đa dạng di truyền của
thạch sùng đuôi dẹp [41]; Nguyễn Quảng Trường và đtg nghiên cứu mối quan hệ di
truyền và định loại các loài thuộc Họ cá cóc (2009) [68], sau đó khảo sát và công bố
loài thằn lằn mới Hemiphyllodactylus zugi (Reptilia:
G
e
kk
o
nidae
) ở Hạ Lang, Cao
Bằng (2013) [80], Oreolalax sterlingae ở Sa Pa (2013)- đại diện đầu tiên của chi
Oreolalax ở Việt Nam [79] dựa trên kết quả phân tích phân tử và so sánh hình thái.

Ngoài những hướng trên, còn có các nghiên cứu về ứng dụng LC, BS trong y học:
Năm 1891, Albert Calmette nghiên cứu và chế tạo huyết thanh từ Rắn hổ mang đề phát
triển vaccine thích hợp trong môi trường nhiệt đới ớ Viện Pasteur tại Sài Gòn [83],
Trần Kiên, Nguyễn Quốc Thắng (1980) mô tà 31 loài rắn độc Việt Nam và hướng dẫn
cách điều trị và phòng tránh rắn độc cắn [21]. Nguyễn Hữu Đảng (2004) thống kê một
số loài cóc, ếch, ba ba, đồi mồi dùng làm thuốc [15].
1.2. Tình hình nghiên cứu LC, BS ở khu vực nghiên cứu
Năm 1962, Đào Văn Tiến khảo sát ở Đình Cả đã công bố 2 loài: Trăn đất (Python
molurus) và Ba ba gai (Trionyx steindachaneri).
Năm 2005, Lê Nguyên Ngật, Đoàn Văn Kiên và Hoàng Văn Ngọc nghiên cứu
thành phần loài LC, BS khu vực Thần Sa- Phượng Hoàng (phạm vi 2 xã Phú Thượng và
Thần Sa) lần đầu tiên đưa ra danh sách 31 loài LC, BS cho khu vực này gồm 7 loài LC
và 24 loài BS (6 loài thằn lằn, 13 loài rắn, 5 loài rùa), trong đó có 16 loài LC, BS quý
hiếm [33].
Báo cáo của BQL KBTTN Thần Sa- Phượng Hoàng gứi Phòng bảo tồn thiên
nhiên (Cục bảo vệ môi trường) (2008) đề cập khu hệ LC, BS ở KBTTN gồm 47 loài
thuộc 13 họ, 3 bộ [1].
Đỗ Tước, Đặng Thanh Long (2009) trong dự án xác lập lại KBTTN này ghi nhận
ở Thần Sa- Phượng Hoàng có 11 loài LC, 28 loài BS, trong đó có 11 loài BS ghi trong
Sách Đỏ Việt Nam 2007, 6 loài BS trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP, chưa ghi nhận
loài LC quý hiếm hay đặc hữu nào [10].
Như vậy đến năm 2009, qua danh sách thành phần loài của các tài liệu đã ghi nhận
được xác thực bằng công tác thực địa, phân tích mẫu vật; KVNC có 49 loài LC, BS,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
17
gồm 13 loài LC, 36 loài BS. Những công bố trên chủ yếu là lập danh sách loài, xác định
những loài quý hiếm làm cơ sở cho việc xây dựng KBTTN. Những nghiên cứu về thành
phần loài, hình thái, phân bố và các nhân tố đe dọa đến các loài LC và BS vẫn chưa thật
đầy đủ, cần bổ sung thêm qua công tác thực địa.

1.3 Đặc điểm các nhóm sinh thái của LC, BS phân theo nơi ở
1.3.1 Đặc điểm các nhóm sinh thái của LC phân theo nơi ở
Do có sự thích nghi riêng với các yếu tố của môi trường mà người ta chia LC
thành 3 nhóm sinh thái. Tuy vậy sự phân chia này chỉ mang tính tương đối, vì trong
thực tế có nhiều loài sống được trong 2 hay cả 3 nơi ở [32]:
- Nhóm LC ở nước: chủ yếu thuộc bộ LC Có đuôi (Caudata) và một số loài LC
Không đuôi (Anura). Tuy nhiên, mức độ quan hệ với nước ở từng loài có khác nhau.
Thường xuyên ở nước là các loài cá cóc, chúng bơi được nhờ cử động của chiếc
đuôi dài và rộng trong khi 4 chi nhỏ được ép vào dọc thân. Sống ở nơi nước chảy,
chúng có đuôi lớn (Cá cóc khổng lồ- Megalobatrachus) hoặc chi có vuốt để bám vào
giá thể. Cá cóc có vuốt (Onichodactylus) ở suối nước chảy mạnh, nồng độ oxi cao chỉ
hô hấp bằng da do chúng không có phổi.
LC Không đuôi (Anura) thường xuyên sống trong nước có thể kể đến là Cóc nước
(Occidozyga lima), Nhái bám đá (Amolop ricketti) cũng ít khi lên cạn, chân sau của
chúng thường có màng bơi rộng hoặc đầu ngón chân có đĩa bám để bám vào đáy nước.
Một số loài khác ít khi đi xa khỏi khu vực nước như Ếch suối (Rana nigrovittata), Ếch
xanh (Rana virida), Ếch vạch (Chaparana delacouri), Ếch nhẽo (Limnonectes kuhlii).
Đa số loài chỉ xuống nước sinh đẻ hoặc tránh kẻ thù.
- Nhóm LC sống ở đất, hang hốc tự nhiên và trên mặt đất: bao gồm hầu hết các
loài LC. Mối quan hệ của chúng đối với đất cũng khác nhau. LC Có đuôi chủ yếu ở
nước, thỉnh thoảng mới lên cạn, mặc dù có loài đi xa nguồn nước hàng trăm mét, lại có
loài đến mùa khô hạn lại ở trong cỏ lá hoặc gốc cây nhiều tháng chờ mưa. Đa số LC
Không đuôi tạm trú trong những hang hốc có sẵn, một số loài biết đào hang như Cóc
bùn (Pelobatidae) dùng chân sau ngắn đạp và ép phần sau thân vào đất mềm. LC không
chân chuyên đào hang trong đất nhờ chiếc đầu rắn chắc.
- Nhóm LC ở cây: chủ yếu ở bộ LC Không đuôi. Riêng họ Ếch cây (Rhacophoridae)

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
18
và họ Nhái bén (Hylidae) có tới 90% số loài ở cây, chúng có đầu ngón chân mở rộng

thành đĩa kiểu giác bám, có tuyến dính, có sụn trung gian giữa 2 đốt đầu tiên của ngón
chân giúp chúng bám chặt vào cây, lá. Một số loài có màng da rộng giữa các ngón chân
trước và chân sau, có tác dụng như một chiếc ô đỡ khi chúng nhảy từ cành này sang
cành khác hoặc từ cây xuống mặt đất.
1.3.2 Đặc điểm các nhóm sinh thái của BS phân theo nơi ở
BS có thể sống ở nước, trong hang, trên mặt đất, trên cây và vùng cát, sa mạc khô
nóng. Tuy nhiên, ứng với mỗi loại môi trường chỉ có một số loài sinh sống. Mỗi loài BS
chỉ có thể tồn tại trong những điều kiện nhất định của môi trường. Tùy theo nơi ở và
cách di chuyển, người ta chia BS thành 4 nhóm sinh thái [32]:
- Nhóm sống trên mặt đất: phần lớn BS có những đặc điểm thích nghi với việc di
chuyển và sống trên mặt đất như thân thuôn dài, chân khỏe và cân đối, đuôi dài và nhỏ
giúp chúng chạy nhanh trên mặt đất (các nhóm thằn lằn Lacerta, Amaga, Eumeces,
Eremias, Mabuya). BS chạy nhanh trên mặt đất nhờ giảm được ma sát bằng cách thu
nhỏ diện tích cơ thể tiếp xúc với đất, điều chỉnh khối lượng cơ thể đều trên 4 chân, bàn
chân hướng ra ngoài và hướng về phía trước, đầu gối ép sát thân, cơ thể dựa lên phần
trong của bàn chân nhiều hơn so với phần ngoài. Do vậy, một số loài có ngón ngoài tiêu
giảm. BS thuộc đại Trung sinh có xu hướng chạy bằng 2 chi sau thì có 2 chi trước nhỏ
hoặc tiêu giảm. BS thuộc bộ Có vảy sống ở vùng cây cỏ rậm rạp có chi tiêu giảm hoặc
có kích thước nhỏ bé, số ngón giảm, một số thiếu hẳn chi (như Thằn lằn rắn
(Anguidae), Thằn lằn giun (Dibamidae) và rõ ràng nhất là Rắn (Serpentes), tuy một số
loài rắn còn di tích của chi sau).
Các loài thằn lằn chạy nhanh như rồng đất, nhông xanh thường có chi khỏe, đuôi
dài vừa phải. Khi gặp nguy hiểm, rồng đất chạy bằng cách tựa 2 chi sau vào đuôi để giữ
thăng bằng, 2 chi trước áp sát vào thân. Một vài loài BS nhảy bằng cách duỗi đồng thời
2 chi sau hất thân lên khỏi mặt đất.
Các loài rùa sống hoàn toàn trên cạn (rùa núi vàng, rùa núi viền) có mai cứng,
chân hình trụ phủ vảy lớn, bàn chân chắc và khỏe, không có màng da nối các ngón.
- Sống ở trên cây: Để leo nhanh lên cây, nhiều loài nhông, thằn lằn có chi khỏe,
ngón dài, có vuốt sắc giúp chúng bám chắc vào thân và cành cây. Tắc kè hoa có đuôi


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
19
dài quấn được vào cây, chi dài và mảnh, có 2 nhóm ngón đối nhau để cầm nắm. Ở họ
Tắc kè, mặt dưới ngón chân nở rộng, có nhiều nếp gấp da tạo thành những giác bám.
Nhông cánh (hay Thằn lằn bay) có màng da ở 2 bên thân, giúp chúng bay từ trên xuống
trong khoảng cách xa hàng chục mét.
Nhiều loài rắn ở trên cây có thân nhỏ và dài, đuôi rất dài để quấn quanh cành cây
rồi quăng mình từ trên xuống, lúc đó xương sườn ở hai bên thân bạnh ra, bụng thót nhỏ
lại, vảy hai bên sườn nâng lên làm tăng sức cản của không khí, rắn lướt đi trong một
khoảng xa trong không khí.
- Nhóm sống trong đất: Số loài có khả năng đào hang không nhiều. Những loài
chuyên hóa thường có các gờ da cứng tạo thành góc cạnh, 2 mí mắt thường gắn với
nhau hoặc có gai trên mí, lỗ tai nhỏ có vảy che để ngăn đất lọt vào. Thằn lằn chân ngắn
có chi mảnh và ngắn. Thằn lằn giun thiếu chi, hình dạng giống giun đất, đuôi có gai
cứng giúp chúng tì vào giá thể để đẩy thân lên phía trước.
- Nhóm sống trong nước: Khác với LC, BS không chỉ sống trong các môi trường
nước có độ muối giới hạn (sông suối, ao hồ ) mà nhiều loài còn sống trong các biển và
đại dương (rùa biển, rắn biển, cá sấu nước mặn). Đây là hiện tượng thích nghi thứ sinh.
Tuy sống trong nước, chúng vẫn phải thở bằng phổi. Lỗ mũi ở phía trước hay mặt trên
của mõm nên chỉ cần nhô một chút đầu lên khỏi mặt nước là vẫn thở được bình thường
(nhóm rắn bồng). Ở cá sấu, ba ba, rắn bồng, các loài rắn biển ; mắt cũng chuyển lên
phía trên đầu. Rắn biển, cá sấu, kì đà có thể bơi nhanh trong nước bằng cách quẫy đuôi;
đuôi dẹp hai bên dạng mái chèo, mút đuôi tù; khi bơi thì chân áp sát vào thân. Các loài
rùa nước ngọt (ba ba) có chân dẹp, có màng bơi giữa các ngón, số vuốt chân giảm,
thường là 3. Một số rùa biển như vích, đồi mồi, rùa da có chi trước dài và rộng hơn chi
sau, hình mái chèo, thiếu vuốt; có loài bơi xa hàng nghìn km. Tất cả các loài rùa nước
đều có xương mai tiêu giảm một phần làm nhẹ cơ thể.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

20
Chƣơng 2
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ- XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
2.1 Vị trí địa lí, giới hạn
KBTTN Thần Sa - Phượng Hoàng được thành lập theo Quyết đinh số 3841/QĐ-UB
ngày 01/12/1999 [10], được xác lập lại theo Quyết định số 1604/QĐ-UBND, ngày
8/7/2009 của UBND tỉnh Thái Nguyên [2] nhằm phù hợp với quy chế quản lí rừng.
KBTTN này nằm ở phía bắc của huyện Võ Nhai, cách thành phố Thái Nguyên 40 km
về phía Đông Bẳc, có toạ độ địa lý: từ 21
o
45
'
12
''
đến 21
o
56
'
30
''
Bắc, từ 105
o
51
'
05" đến
106
o
08'38" Đông. Phía Tây giáp huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Phía Đông giáp
huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Phía Bắc giáp huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn. Phía Nam
giáp các xã còn lại cùa huyện Võ Nhai (Cúc Đường, La Hiên, Lâu Thượng ) [2].

KBTTN bao gồm phần diện tích rừng có giá trị bảo tồn loài và SC nằm trên địa
bàn 6 xã phía Bắc và 01 thị trấn của huyện Võ Nhai, gồm hai khu: Khu I (khu Thần Sa)
nằm trong địa bản 5 xã: Thần Sa, Thượng Nung, Sảng Mộc, Nghinh Tường và Vũ
Chấn. Khu II (khu Phượng Hoàng): nằm trong địa bàn các xã Vũ Chấn, Phú Thượng và
thị trấn Đình Cả [10]. Qua nhiều lần quy hoạch, xác lập, phê duyệt số liệu giao rừng; tổng
diện tích tự nhiên hiện nay trong quản lí của KBTTN này là 48.913,66 ha. Đất quy hoạch
cho rừng đặc dụng (vùng lõi) là 17.477,37 ha (theo Quyết định 93/QĐ-UBND ngày
13/01/2011 của UBND tỉnh Thái Nguyên). Phần rừng đặc dụng này chủ yếu tập trung ở xã
Thần Sa với 5.972,6ha và ít nhất là trên địa bàn xã Sảng Mộc với 1.783,2ha. [2]
2.2 Đặc điểm tự nhiên
2.2.1 Địa hình
Địa hình của KBTTN này khá phức tạp, chủ yếu là đồi núi (núi đá chiếm gần 87 %
diện tích) [2], hình thành 2 vùng rõ rệt [69]:
- Vùng cao (vùng núi), gồm 6 xã: Nghinh Tường, Sảng Mộc, Thượng Nung, Cúc
Đường, Thần Sa, Vũ Chấn; địa hình chia cắt hiểm trở, đất rừng đa dạng với thành phần
cây, con phong phú. Nơi đây có khối núi đá vôi Thượng Nung đồ sộ nhất tỉnh Thái
Nguyên, rộng tới 300 km
2
, nhiều đỉnh có độ cao tuyệt đối từ 500 đến 600 mét, kéo

dài
từ Thần Sa qua Nghinh Tường, đến Liêm Thuỷ (Na Rì, Bắc Kạn). Trong đó đỉnh núi
Khao Nao ở vị trí giáp ranh giữa Sảng Mộc và Nghinh Tường có độ cao tuyệt đối

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
21
886m. Khối núi này chạy theo hướng Đông Bắc- Tây Nam, thuộc phần phía nam của
cánh cung núi Ngân Sơn mà tận cùng là núi Lang Hít (Đồng Hỷ, Thái Nguyên). Dọc
phía bắc của quốc lộ 1B đoạn qua các địa phương La Hiên, Lâu Thượng, Đình Cả, Phú
Thượng có một dải địa hình karst với độ cao tuyệt đối phổ biến 200- 400m có liên hệ

với phần núi đá vôi tuổi Carbon- Permi phía nam cánh cung Bắc Sơn, trong đó một số
đỉnh núi dốc như Khao Keo (829m), Đình Cả (775m) [87]. Xen kẽ có những đồi đất
hình bát úp hoặc các sông, khe suối.
- Vùng thấp, gồm xã Phú Thượng và thị trấn Đình Cả; với địa hình thung lũng
tương đối bằng phẳng chạy dọc theo quốc lộ 1B, phía nam là một số khối karst thấp (độ
cao tuyệt đối trên 400m) [87] và đồi bát úp.
Như vậy, sự chênh lệch đai độ cao trong KVNC không quá lớn nên sự phân hóa
động vật theo đai độ cao không rõ nét. Tuy nhiên, một số núi có địa hình hiểm trở có thể
trở thành địa điểm lí tưởng trong việc bảo tồn loài đặc hữu hoặc quý hiếm.
2.2.2 Địa chất, khoáng sản
Địa tầng [64] cổ nhất ở khu vực là hệ tầng Thần Sa. Hệ tầng này phân bố ở hai
vùng, làm thành nhân của phức nếp lồi Bắc Thái- Hạ Lang. Mặt cắt chuẩn
(Lectotratotyp) của hệ tầng này dựa theo nhánh suối cạn phía bắc Bản Chấu (xã Sảng
Mộc), vùng Thần Sa, Thái Nguyên (x = 21
o
49’, y= 105
o
57’). Hệ tầng này chủ yếu gồm
trầm tích lục nguyên ít nhiều có dạng nhịp, có lẫn carbonat và xen ít lớp cát kết hạt nhỏ,
đặc trưng cho khu vực Đông Bắc Việt Nam (Bắc Thái, Cao Bằng) chứa Bọ ba thùy mà
Phạm Kim Ngân gọi là hệ động vật Thần Sa để phân biệt với hệ động vật Chang Pung
cùng tuổi. Phần lớn hoá thạch Bọ ba thùy của hệ tầng Thần Sa không thuộc nhóm bám
đáy, kích thước nhỏ của bộ Miomera, điều này cùng với thành phần đá lục nguyên hạt
mịn chứng tỏ hệ tầng Thần Sa thuộc tướng biển sâu hơn so với hệ tầng Chang Phung.
Tại Thái Nguyên và Bắc Kạn, hệ tầng này phân bố ở tây nam Na Rì (Bắc Kạn) qua suối
Mỏ Đồng, Bản Rịa, Sảng Mộc, Khuổi Mèo (xóm Khuổi Mèo, xã Sảng Mộc) thành một
dải gần liên tục và ở thung lũng Thần Sa, Bồ Cu (Thái Nguyên). Tại Cao Bằng hệ tầng
lộ chủ yếu ở nếp lồi Bồng Sơn, ở Trà Lĩnh, Phục Hoà. Hệ tầng có thể được chia thành 2
phần dựa trên thành phần đá và hóa thạch:

×