Tải bản đầy đủ (.pdf) (11 trang)

một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phạm tội nhiều lần theo luật hình sự việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (593.4 KB, 11 trang )

Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phạm tội
nhiều lần theo Luật Hình sự Việt Nam


Nguyễn Thị Bảo Tâm


Khoa Luật. Đại học Quốc gia Hà Nội
Luận văn ThS. Luật: 60 38 40
Người hướng dẫn : GS.TSKH. Lê Văn Cảm
Năm bảo vệ: 2013
85 tr .

Abstract. Làm sáng tỏ những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo
đức cách mạng, chủ yếu là đạo đức của đội ngũ cán bộ y tế. Chỉ ra và phân tích một số
những vấn đề cơ bản, góp phần phát hiện những yếu tố, điều kiện tác động, chi phối
thực trạng đạo đức của đội ngũ cán bộ y tế ở Việt Nam trong những năm gần đây. Đề
xuất một số quan điểm cơ bản và luận chứng một số giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục
xây dựng đạo đức cho đội ngũ cán bộ y tế ở Việt Nam hiện nay.
Keywords.Luật hình sự; Pháp luật Việt Nam; Phạm tội nhiều lần; Phạm tội
Content.
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phạm tội nhiều lần là một tình tiết thuộc chế định đa tội phạm. Tuy nhiên tình
tiết này vẫn chưa được quy định một cách cụ thể trong Bộ luật Hình sự Việt Nam năm
1999. Trong Bộ luật nó được coi là một tình tiết "tăng nặng trách nhiệm hình sự" hay
có thể là một tình tiết "định khung tăng nặng". Trong các vụ án hình sự đối tượng
phạm tội nhiều lần chiếm tỉ lệ rất lớn.
Về mặt pháp lý, phạm tội nhiều lần chưa được các nhà làm luật định nghĩa một
cách chính thức mà ở mỗi một tội danh cụ thể lại có một quy định riêng. Ví dụ: tại
Thông tư liên tịch số 01/1998/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-BNV ngày 2-01-1998
hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật


Hình sự thì:
Tình tiết "Phạm tội nhiều lần" quy định tại khoản 2 Điều 133, khoản 2
Điều 134a (đối với một số tội phạm có tính chất tham nhũng và tội phạm
liên quan đến tình dục) được hiểu là đã có tất cả từ hai lần phạm tội đó trở
lên (hai lần phạm tội tham ô trở lên, hai lần phạm tội lợi dụng chức vụ,
quyền hạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa trở lên ) mà mỗi lần
phạm tội có đầy đủ yếu tố cấu thành quy định tại khoản 1 điều luật tương
ứng, đồng thời trong các lần phạm tội đó chưa có lần nào bị truy cứu trách
nhiệm hình sự và cũng chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự
[
22].
Về mặt lý luận, dưới góc độ khoa học luật hình sự các nhà nghiên cứu đã đưa
ra khái niệm này như sau: Phạm tội nhiều lần là phạm tội từ hai lần trở lên mà những
tội ấy được quy định tại cùng một điều (hoặc tại cùng một khoản của điều) tương ứng
trong Phần riêng Bộ luật Hình sự, đồng thời với những tội ấy vẫn còn thời hiệu truy
cứu trách nhiệm hình sự và người phạm tội vẫn chưa bị xét xử. Đối với những trường
hợp phạm từ hai tội trở lên mà những tội ấy được quy định tại các điều khác nhau của Bộ
luật này, chỉ khi nào do các điều tương ứng trong phần các tội phạm Bộ luật này quy
định riêng mới bị coi hoặc có thể bị coi là phạm tội nhiều lần. Hay có thể được hiểu là:
Phạm tội nhiều lần là phạm tội từ hai lần trở lên như hai lần trộm cắp, hai
lần lừa đảo chiếm đoạt tài sản, ba lần chứa mại dâm, bốn lần tham ô và
mỗi lần thực hiện hành vi đã cấu thành một tội phạm độc lập nhưng tất cả
các tội phạm đó đều bị xét xử trong cùng một bản án ; Phạm tội nhiều lần
là người phạm tội có nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội, nhưng hành vi
đó chỉ cấu thành một tội, xâm phạm đến cùng một khách thể trực tiếp và
chưa đưa ra truy tố, xét xử [26].
Qua khái niệm trên, chúng ta có thể thấy tình tiết phạm tội nhiều lần bao gồm
năm nội dung sau: (1) Phạm tội nhiều lần là người phạm tội đã thực hiện từ hai hành vi
phạm tội trở lên, tác động đến cùng một đối tượng hoặc nhiều đối tượng khác nhau (ví
dụ: phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối đối với nhiều người - điểm c

khoản 1 Điều 104 Bộ luật Hình sự, nhiều lần trộm cắp, nhiều lần hiếp dâm ). (2) Nếu
tách ra từng hành vi phạm tội riêng lẻ thì mỗi hành vi ấy đã đủ các yếu tố cấu thành
một tội phạm độc lập. (3) Tất cả các hành vi phạm tội đó đều được quy định tại một
điều luật cụ thể trong phần riêng Bộ luật Hình sự (cùng là tội trộm cắp, hiếp dâm ), có
thể cùng một khoản, có thể phạm tội ở các khoản khác nhau của cùng một điều luật.
(4) Các hành vi phạm tội đó chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa bị
các cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật (như đình chỉ điều tra,
đình chỉ vụ án ) và cùng bị đưa ra xét xử một lần trong cùng một vụ án (được tuyên
trong một bản án). (5) Nếu điều luật có quy định về giá trị tài sản hoặc thiệt hại về tài
sản thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng giá trị tài sản của các lần
phạm tội cộng lại [22].
Như vậy, có thể thấy việc hiểu về tình tiết phạm tội nhiều lần khá phức tạp.
Mặt khác để hiểu đúng về tình tiết phạm tội nhiều lần chúng ta cần phải phân biệt nó
với các tình tiết khác thuộc chế định đa tội phạm: phạm nhiều tội, tội liên tục, phạm tội
có tính chất chuyên nghiệp, tái phạm, tái phạm nguy hiểm. Đây là những tình tiết có
nhiều dấu hiệu giống nhau, nếu không phân biệt được sẽ dẫn đến việc hiểu sai và áp
dụng sai.
Từ những lý do trên đây chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài "Một số vấn đề
lý luận và thực tiễn về phạm tội nhiều lần theo luật hình sự Việt Nam" làm luận văn
thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Phạm tội nhiều lần là một tình tiết được đề cập đến trong luật hình sự Việt
Nam với yếu tố là tình tiết tăng nặng định khung của rất nhiều loại tội và là tình tiết
tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tình tiết này đã được đề cập đến trong Bộ luật Hình sự
năm 1985 và tiếp tục được kế thừa trong Bộ luật Hình sự 1999. Vấn đề này cũng được
đề cập trong một số giáo trình, sách tham khảo do các tác giả khác nhau biên soạn như:
1) Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung). Tập thể tác giả do TSKH.PGS. Lê
Cảm chủ biên, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2003 (tái bản); 2) Giáo trình
Luật hình sự Việt Nam, Tập I, Tập thể tác giả do GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên,
Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2007; 3) Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Tập thể

tác giả do GS.TS. Võ Khánh Vinh chủ biên, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2005; 4)
Giáo trình Luật hình sự Việt Nam - Phần chung, Trường Đại học Cảnh sát nhân dân,
Hà Nội, 1995; 5) Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự (Phần chung), Tác giả Đinh Văn
Quế, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2000; 6) Chế định nhiều tội phạm - những vấn đề
lý luận và thực tiễn, Tác giả TS. Lê Văn Đệ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003
v.v
Một số nhà khoa học - luật gia hình sự Việt Nam đã dành không ít công sức
cho việc nghiên cứu về đề tài này, đáng chú ý là các công trình nghiên cứu của
TSKH.PGS. Lê Cảm: 1) Chế định đa tội phạm trong Sách chuyên khảo sau đại học:
Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung), Nxb Đại học Quốc
gia Hà Nội, 2005; 2) Chế định đa (nhiều) tội phạm và mô hình lý luận của nó trong
luật hình sự Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 6/2001; 3) Lê Cảm, Trịnh
Quốc Toản, Định tội danh: lý luận hướng dẫn mẫu và 350 bài thực hành, Nxb Đại học
Quốc gia Hà Nội, 2004; 4) Các nghiên cứu chuyên khảo về Phần chung luật hình sự,
Tập IV, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2002.
Ngoài ra, còn có một số bài đăng trên tạp chí khoa học pháp lý như: 1) Bàn về
tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "Phạm tội nhiều lần" quy định trong Luật Hình
sự Việt Nam, của ThS. Lê Văn Luật (Tạp chí Khoa học pháp lý, số 4/2006; 2) Thực tiễn
áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong giải quyết hình phạt - tồn tại và giải
pháp, của Vũ Hồng Thiêm (Tạp chí Tòa án nhân dân, số 10, tháng 5/2008); 3) Về việc
áp dụng tình tiết phạm tội nhiều lần, phạm tội đối với nhiều người trong một số tội
phạm của Bộ luật Hình sự năm 1999, của Nguyễn Hải Dũng (Tạp chí Kiểm sát, số
2/2005; 4) Áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về tình tiết tăng nặng
phạm tội có tổ chức và phạm tội nhiều lần, của Vũ Thành Long (Tạp chí Kiểm sát, số
21/2006); 5) Bàn về phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần, của Đỗ Thanh Huyền
(Tạp chí Tòa án nhân dân, số 8/2007); 6) Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách
nhiệm hình sự theo Bộ luật Hình sự năm 1999, của Dương Tuyết Miên (Tạp chí Tòa án
nhân dân, số 1/2003); 7) Cần hiểu chính xác về tình tiết tăng nặng chung và tình tiết
tăng nặng định khung trong Bộ luật Hình sự, của Trinh Đình Thể (Tạp chí Tòa án nhân
dân, số 8/1998); 8) Một số vấn đề cần chú ý khi áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm

nhẹ trách nhiệm hình sự, của Đinh Văn Quế (Tạp chí Tòa án nhân dân, số 4/2010); 9)
Những hạn chế trong các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về các tình tiết giảm
nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và hướng khắc phục, của Hồ Sĩ Sơn (Tạp chí Tòa
án nhân dân, số 16/2008); 10) Việc áp dụng các tình tiết tăng nặng, của Mai Bộ (Tạp
chí Tòa án nhân dân, số 1/1999) v.v
Các công trình nghiên cứu nói trên đã đề cập đến vấn đề phạm tội nhiều lần
nhưng chỉ dừng lại ở một khía cạnh nào đó hoặc chừng mực xem xét qua các trường
hợp phạm tội cụ thể hay kiến nghị sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, về
phương diện nghiên cứu lý luận chuyên sâu và có hệ thống vấn đề phạm tội nhiều lần
vẫn chưa được quan tâm một cách đúng mức. Do vậy, nhiều vấn đề lý luận và thực
tiễn xung quanh vấn đề phạm tội nhiều lần cần phải được tiếp tục nghiên cứu một cách
toàn diện, đầy đủ và sâu sắc hơn.
3. Phạm vi nghiên cứu
Phạm tội nhiều lần là một vấn đề tương đối hẹp và phức tạp. Nghiên cứu về
vấn đề này đã có nhiều nghiên cứu chung mà ít có nghiên cứu chuyên sâu. Do đó,
phạm vi nghiên cứu của luận văn sẽ xem xét và giải quyết một số vấn đề cơ bản xung
quanh vấn đề phạm tội nhiều lần như: 1) Khái niệm và đặc điểm của phạm tội nhiều
lần; 2) Phân biệt phạm tội nhiều lần và một số tình tiết khác thuộc chế định đa tội
phạm như phạm nhiều tội, phạm tội liên tục, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, tái
phạm, tái phạm nguy hiểm; 3) Những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về
"Phạm tội nhiều lần". Trên cơ sở nghiên cứu những nội dung cơ bản của phạm tội
nhiều lần, luận văn đi sâu nghiên cứu tình tiết này trên phương diện lập pháp và việc
áp dụng chế định này trong thực tiễn xét xử để từ đó đưa ra các kiến nghị.
4. Đối tượng và mục đích nghiên cứu
Luận văn có đối tượng nghiên cứu đúng như tên gọi của nó là vấn đề phạm tội
nhiều lần trong luật hình sự Việt Nam.
Trên cơ sở này, mục đính nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu những vấn đề
lý luận về phạm tội nhiều lần theo luật hình sự Việt Nam. Đồng thời luận văn còn phân
tích và đánh giá những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng những quy định của pháp
luật hình sự về phạm tội nhiều lần để từ đó, đưa ra những kiến nghị để việc áp dụng

được thống nhất, tránh tình trạng hiểu sai về tình tiết này.
5. Các phương pháp nghiên cứu của luận văn
Để hoàn thành khóa luận, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:
phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, nghiên cứu bản án điển hình để tổng hợp
các tri thức khoa học và luận chứng các vấn đề đã được nêu ra trong luận văn. Cụ thể
đó là:
- Phương pháp phân tích: Luận văn đã phân tích chi tiết các vấn đề có liên
quan đến vấn đề phạm tội nhiều lần, từ đó có thể đánh giá được thực tiễn áp dụng. Các
nội dung cần phân tích bao gồm: Phân tích các vấn đề lý luận về phạm tội nhiều lần,
phân tích các thông số về tình hình phạm tội, người phạm tội, phân tích thực tiễn áp
dụng các quy định của pháp luật hình sự về phạm tội nhiều lần
- Phương pháp so sánh: Là việc so sánh các vấn đề có liên quan đến vấn đề
phạm tội nhiều lần, từ đó có thể rút ra các kết luận mang tính đánh giá. Các nội dung
so sánh bao gồm: so sánh giữa phạm tội nhiều lần và phạm nhiều tội; phạm tội liên tục;
phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, tái phạm; tái phạm nguy hiểm.
- Phương pháp tổng hợp: Đó là việc khái quát hóa toàn bộ các nhận định độc
lập sau khi phân tích, so sánh từng nội dung, từng tiêu chí cụ thể. Phương pháp tổng
hợp giúp cho quá trình đánh giá tránh khỏi sự phân tán, rời rạc và thiếu trọng tâm. Các
nội dung tổng hợp được đặt trong một hệ thống cấu trúc có mối liên hệ qua lại, trong
đó xác định những nội dung cơ bản chi phối nhận định chung.
- Nghiên cứu các vụ án điển hình: Đây là một phương pháp nghiên cứu quan
trọng của luận văn. Đó là những thực tiễn để chứng minh và làm sáng tỏ các vấn đề lý
luận mà tác giả đã đưa ra.
6. Cơ sở khoa học và thực tiễn của luận văn
Cơ sở khoa học của luận văn là các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về
phạm tội nhiều lần và các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Hình sự năm 1999, cũng
như các công trình khoa học, sách báo pháp lý của các tác giả trong và ngoài nước có liên
quan đến vấn đề này.
Bên cạnh đó, cơ sở thực tiễn của luận văn là thực tiễn áp dụng các quy định về
phạm tội nhiều lần theo luật hình sự Việt Nam và qua nghiên cứu các bản án của Tòa

án nhân dân các cấp, những vụ án hình sự do cơ quan công an điều tra, khởi tố để rút
ra những nhận xét, đánh giá.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng của luận văn là ở chỗ tác giả đã làm rõ
khái niệm, đặc điểm của vấn đề phạm tội nhiều lần, bản chất pháp lý của nó. Đồng thời
trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn áp dụng để đưa ra các kiến nghị phù hợp.
Ngoài ra, luận văn còn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo lý luận cần thiết cho
các nhà khoa học - luật gia, cán bộ thực tiễn và các sinh viên, học viên cao học và
nghiên cứu sinh chuyên ngành tư pháp hình sự, cũng như phục vụ cho công tác lập pháp
và hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự trong việc đấu tranh phòng và chống
tội phạm, cũng như công tác giáo dục, cải tạo người phạm tội hiện nay ở nước ta.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về "Phạm tội nhiều lần" trong pháp luật hình
sự Việt Nam.
Chương 2: Những quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về "Phạm tội
nhiều lần" và thực tiễn áp dụng.
Chương 3: Những phương hướng cơ bản của việc tiếp tục hoàn thiện các quy
định của pháp luật hình sự Việt Nam về "Phạm tội nhiều lần".
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Mai Bộ (1999), "Việc áp dụng các tình tiết tăng nặng", Tòa án nhân dân, (1).
2. Bộ Công an - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao - Bộ Tư
pháp (2007), Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC- TANDTC-BTP
ngày 24/12 hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII "Các tội phạm
về ma túy" của Bộ luật Hình sự năm 1999, Hà Nội.
3. Lê Cảm (2000), Các nghiên cứu chuyên khảo về Phần chung Luật hình sự, Tập III,
Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
4. Lê Cảm (Chủ biên) (2001), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Nxb
Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

5. Lê Cảm (2001), "Chế định đa (nhiều) tội phạm và mô hình lý luận của nó trong
luật hình sự Việt Nam", Dân chủ và pháp luật, (6).
6. Lê Cảm (2002), Các nghiên cứu chuyên khảo về Phần chung luật hình sự, Tập IV,
Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
7. Lê Cảm (2005), Sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa
học luật hình sự (Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
8. Lê Cảm, Trịnh Quốc Toản (2004), Định tội danh: lý luận hướng dẫn mẫu và 350
bài thực hành, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
9. Nguyễn Hải Dũng (2005), "Về việc áp dụng tình tiết phạm tội nhiều lần, phạm tội
đối với nhiều người trong một số tội phạm của Bộ luật Hình sự năm 1999", Kiểm
sát, (Số Tết).
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/ của Bộ
Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà
Nội.
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5 của Bộ
Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến
năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội.
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6 của Bộ
Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội.
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIi,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
14. Lê Văn Đệ (2003), Chế định nhiều tội phạm - những vấn đề lý luận và thực tiễn,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
15. Nguyễn Hữu Hậu (2004), "Phân biệt các khái niệm "Phạm nhiều tội, Phạm tội
nhiều lần, Tái phạm, Tái phạm nguy hiểm" trong chế định nhiều tội phạm", Kiểm
sát, (7).
16. Hệ thống hóa các văn bản pháp luật về hình sự, tố tụng hình sự (1994), Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội.
17. Đinh Xuân Hiền (2002), "Bàn về tình tiết phạm tội nhiều lần", Kiểm sát, (4).
18. Đỗ Thanh Huyền (2007), "Bàn về phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần", Tòa

án nhân dân, (4).
19. Nguyễn Ngọc Hòa, Lê Thị Sơn (2006), Từ điển Pháp luật hình sự, Nxb Tư pháp, Hà
Nội.
20. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (1998), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam
(Phần chung), Hà Nội.
21. Vũ Thành Long (2006), "Áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về
tình tiết tăng nặng "Phạm tội có tổ chức" và "Phạm tội nhiều lần"", Kiểm sát, (21).
22. Lê Văn Luật (2006), "Bàn về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "Phạm tội
nhiều lần" quy định trong Luật hình sự Việt Nam", Khoa học pháp lý, (4).
23. Uông Chu Lưu (2004), Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999,
Tập I (Phần chung), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
24. Dương Tuyết Miên (2003), "Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự
theo Bộ luật Hình sự năm 1999", Tòa án nhân dân, (1).
25. Đỗ Ngọc Quang, Trịnh Quốc Toản, Nguyễn Ngọc Hòa (1997), Giáo trình Luật
Hình sự Việt Nam (Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
26. Đinh Văn Quế (2000), Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự (Phần chung), Nxb
Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh.
27. Đinh Văn Quế (2010), "Một số vấn đề cần chú ý khi áp dụng các tình tiết tăng
nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự", Tòa án nhân dân, (4).
28. Quốc hội (1985), Bộ luật Hình sự, Hà Nội.
29. Quốc hội (1997), Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung), Hà Nội.
30. Quốc hội (1999), Bộ luật Hình sự, Hà Nội.
31. Quốc hội (2009), Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung), Hà Nội.
32. Tập thể tác giả (2001), Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999,
Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
33. Phạm Văn Thiệu (2007), "Về tình tiết "Phạm tội nhiều lần" quy định tại Điều 104
Bộ luật Hình sự", Tòa án nhân dân, (3).
34. Kiều Đình Thụ (1998), Tìm hiểu Luật Hình sự Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí
Minh, Thành phố Hồ Chí Minh.
35. Tòa án nhân dân tối cao (2003), Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4 của

Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định
của Bộ luật Hình sự, Hà Nội.
36. Tòa án nhân dân tối cao (2005), Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 15/6 của
Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn cụ thể việc áp dụng các
trường hợp xét xử bị cáo theo các khoản khác nhau của Điều 104, Hà Nội.
37. Tòa án nhân dân tối cao (2006), Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5 của
Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định
của Bộ luật Hình sự, Hà Nội.
38. Tòa án nhân dân tối cao (2011) Báo cáo tổng kết công tác năm 2011, phương
hướng nhiệm vụ công tác năm 2012 của ngành Tòa án nhân dân, Hà Nội.
39. Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Công an (1998),
Thông tư liên tịch số 02/1998/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA ngày 5/8 hướng
dẫn áp dụng một số quy định tại chương VII A "các tội phạm về ma tuý" của Bộ
luật Hình sự, Hà Nội
40. Trường Đại học Cảnh sát nhân dân (1995), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam
(Phần chung), Hà Nội.
41. Trường Đại học Luật Hà Nội (2000), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần
chung), Hà Nội.
42. Đào Trí Úc (2000), Luật Hình sự Việt Nam (Quyển I) - Những vấn đề chung, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội.
43. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (1981), Pháp lệnh trừng trị tội hối lộ, Hà Nội.
44. Võ Khánh Vinh (Chủ biên) (2001), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần
chung), Nxb Giáo dục, Hà Nội.
45. Võ Khánh Vinh, Phạm Thư (1997), "Định tội danh trong trường hợp "phạm tội
nhiều lần, tái phạm - tái phạm nguy hiểm"", Kiểm sát, (10).

×