Tải bản đầy đủ (.doc) (97 trang)

330 Phát triển dịch vụ ngân hàng tại chi nhánh Ngân hàng Công Thương Đống Đa (CN Tài chính, lưu thông tiền tệ, tín dụng)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (377.06 KB, 97 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
----------

TRẦN THỊ THU NGA

PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG
TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG
CÔNG THƯƠNG ĐỐNG ĐA
Chuyên ngành : Tài chính, lưu thơng tiền tệ và tín dụng
Mã số
: 50209

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS nguyễn văn nam


LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã nhận được nhiều sự giúp đỡ
quý báu của các Thầy, Cô giáo trong Viện Đào tạo Sau đại học, Khoa Ngân
hàng Tài chính - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Ban Lãnh đạo và các
Phòng, Ban Ngân hàng Công thương Việt Nam, Ban lãnh đạo và các Phịng,
Ban Ngân hàng Cơng thương Đống Đa.
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với GS.TS Nguyễn Văn Nam –
Thầy đã tận tình giúp đỡ và trực tiếp hướng dẫn tác giả trong quá trình thực hiện
và hoàn thiện luận văn này.
Xin được cảm ơn sự hợp tác của các bạn đồng nghiệp.
Mặc dù vậy, do khả năng và kinh nghiệm thực tế còn hạn chế, luận văn
khơng thể tránh khỏi những khiếm khuyết, thiếu sót.
Rất mong nhận được sự góp ý của các Thầy giáo, Cơ giáo và các bạn


đồng nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn!

2/97


MỤC LỤC
DANH MỤC

TRANG
Lời cảm ơn
2
Phần mở đầu
7
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG CỦA
10
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1. Khái niệm ngân hàng thương mại
1.1.2. Hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
1.1.2.1. Nhận tiền gửi
1.1.2.2. Cho vay
1.1.2.3. Các hoạt động dịch vụ khác
1.2. DỊCH VỤ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1. Khái niệm
1.2.2. Đặc điểm của dịch vụ Ngân hàng
1.2.3. Các dịch vụ Ngân hàng chủ yếu
1.2.3.1. Dịch vụ thanh toán
1.2.3.2. Dịch vụ bảo lãnh
1.2.3.3. Dịch vụ uỷ thác

1.2.3.4. Dịch vụ tư vấn
1.2.3.5. Dịch vụ bảo hiểm
1.2.3.6. Dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán
1.2.3.7. Dịch vụ đại lý
1.2.3.8. Quản lý ngân quỹ
1.2.3.9. Bảo quản vật có giá
1.2.3.10. Trao đổi ngoại tệ
1.3. PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.3.1. Quan điểm về phát triển dịch vụ ngân hàng thương mại
1.3.2. Sự cần thiết việc phát triển dịch vụ ngân hàng thương mại
1.3.2.1. Từ yêu cầu của nền kinh tế
1.3.2.2. Từ yêu cầu đối với Ngân hàng
1.3.3. Các tiêu thức đánh giá sự phát triển dịch vụ ngân hàng
1.3.3.1. Tính đa dạng trong danh mục dịch vụ ngân hàng
1.3.3.2. Doanh thu từ hoạt động dịch vụ
1.3.3.3. Tỷ lệ thu nhập từ hoạt động dịch vụ trên tổng thu nhập
3/97

10
10
11
11
12
13
14
14
16
18
18
21

21
22
22
22
23
23
23
24
24
24
24
25
26
29
29
30
31


1.3.3.4. Đối tượng khách hàng phục vụ
1.3.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển dịch vụ của ngân hàng

32
32

thương mại
1.3.4.1. Nhóm nhân tố chủ quan
1.3.4.2. Nhóm nhân tố khách quan
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG DỊCH VỤ CỦA NGÂN HÀNG


32
36
41

CÔNG THƯƠNG ĐỐNG ĐA
2.1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG ĐỐNG

41

ĐA
2.1.1. Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển
2.1.2. Chức năng nhiệm vụ và mơ hình tổ chức
2.1.3. Những kết quả đạt được trong hoạt động kinh doanh của Ngân

41
43
44

hàng
2.2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG

49

TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG ĐỐNG ĐA
2.2.1. Dịch vụ thanh toán
2.2.1.1. Dịch vụ thanh toán quốc tế
2.2.1.2. Dịch vụ thanh toán trong nước
2.2.2. Dịch vụ bảo lãnh
2.2.3. Dịch vụ thanh toán thẻ
2.2.4. Dịch vụ kinh doanh ngoại tệ

2.2.5. Dịch vụ thu hộ, chi hộ
2.2.6. Dịch vụ ngân quỹ
2.2.7. Dịch vụ internetbanking
2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG TẠI CHI

51
51
55
56
57
60
62
63
63
63

NHÁNH CÔNG THƯƠNG ĐỐNG ĐA
2.3.1. Kết quả đạt được
2.3.2. Những mặt còn hạn chế
2.3.3. Nguyên nhân
CHƯƠNG III. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ CỦA

63
66
68
74

NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG ĐỐNG ĐA
3.1. CƠ SỞ ĐỂ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ
3.2. MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN CỦA CHI NHÁNH

3.3. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG

74
75
76

4/97


3.3.1. Định hướng phát triển dịch vụ thanh toán
3.3.2. Định hướng phát triển dịch vụ ngoại hối
3.3.3. Định hướng phát triển các loại hình dịch vụ ngân hàng khác
3.4. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ CỦA NGÂN HÀNG

77
78
78
79

CÔNG THƯƠNG ĐỐNG ĐA
3.4.1. Cũng cố và nâng cao tiềm lực tài chính
3.4.2. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
3.4.3. Đổi mới nâng cấp công nghệ hiện đại và phù hợp
3.4.4. Xây dựng chiến lược phát triển dịch vụ ngân hàng dài hạn
3.4.5. Đẩy mạnh công tác Marketing dịch vụ ngân hàng, tăng cường

79
80
82
83

84

tiếp thị khách hàng
3.4.6. Nâng cao chất lượng sản phẩm, chú trọng phát triển sản phẩm

86

mới
3.4.7. Đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ, phát triển các sản phẩm

87

dịch vụ mới trên cơ sở ứng dụng công nghệ hiện đại.
3.4.8. Xây dựng phong cách, văn hoá giao dịch của đội ngũ cán bộ
3.5. KIẾN NGHỊ
3.5.1. Đối với Ngân hàng Nhà nước
3.5.2. Với Nhà nước, Chính phủ
3.5.3. Đối với Ngân hàng Công thương Việt Nam
TÀI LIỆU THAM KHẢO

92
93
93
94
95
98

5/97



PHẦN MỞ ĐẦU
1.

Tính cấp thiết của đề tài

Trong xu thế hội nhập và phát triển, Việt Nam đã chính thức gia nhập Tổ
chức Thương mại Thế giới (WTO) - Tổ chức Thương mại đa phương lớn nhất
toàn cầu. Ngành ngân hàng là một trong những lĩnh vực được mở cửa mạnh mẽ
và phát triển nhất, nó là một kênh trung gian chuyển tải vốn ra thị trường và điều
chỉnh nguồn vốn của thị trường. Đồng nghĩa với đó, thị trường tài chính - tiền tệ
Việt Nam cũng là một sân chơi chung cho các Tổ chức Tín dụng trong và ngồi
nước, và từ đó, các ngân hàng nước ngồi sẽ được thiết lập sự hiện diện thương
mại của mình tại Việt Nam. Một hệ thống cạnh tranh mới về dịch vụ cũng được
khẳng định và chiếm lĩnh, các quan hệ thương mại theo đó sẽ trở nên ngày càng
phát triển và đa dạng. Điều này đã đặt ra những đòi hỏi và thách thức đối với các
ngân hàng thương mại trong nước.
Trong giai đoạn hiện nay, hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Nam
đang từng bước thiết chế cho mình các mạng lưới, đổi mới các hình thức hoạt
động, đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ nhằm nâng cao sức cạnh tranh để có thể
đứng vững trên thị trường. Đối với một ngân hàng hiện đại và phát triển như các
nước ngoài, hoạt động dịch vụ phát triển rất mạnh, nguồn thu từ hoạt động dịch
vụ chiếm tỷ trọng lớn và ảnh hưởng nhất định đến ngân hàng. Trong khi đó, đối
với các ngân hàng thương mại Việt Nam, thu chủ yếu vẫn tập trung vào các hoạt
động truyền thống như cho vay, bảo lãnh, tiền gửi. Nguồn thu từ các dịch vụ
hoặc chưa có, chưa khai thác hết hoặc rất khiêm tốn trong tổng thu của ngân
hàng, trong khi, hoạt động tín dụng và bảo lãnh lại là hoạt động có nhiều rủi ro
và rủi ro cao. Bởi vậy, phát triển dịch vụ ngân hàng tại các ngân hàng thương
mại Việt Nam là một chiến lược đúng đắn và cần thiết.

6/97



Ngân hàng Công thương Việt Nam là một trong những ngân hàng thương
mại hàng đầu ở Việt Nam, quy mô tài sản nợ và tài sản có hàng năm tăng từ
20%-25%. Tuy vậy, hiện nay trước bối cảnh thực hiện lộ trình mở cửa hội nhập
kinh tế quốc tế thì quả thực hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam nói chung
và ngân hàng Cơng thương Việt Nam nói riêng sẽ phải đối mặt với nhiều thách
thức lớn. Năng lực cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh, đặc biệt là các dịch
vụ Ngân hàng hết sức hạn chế. Chính vì vậy, bằng cách nào, biện pháp nào, và
giải pháp nào để nhanh chóng phát triển thị trường tiềm năng này đang là bài
toán lớn mà các ngân hàng thương mại ở Việt Nam nói chung và ngân hàng
Cơng thương Việt Nam nói riêng cần có lời giải.
Là một Chi nhánh của Ngân hàng Công thương Việt Nam, Ngân hàng
Công thương Đống Đa cũng đang trong quá trình tìm kiếm những giải pháp tốt
nhất để có thể phát triển hơn nữa thị trường tiềm năng này.
Xuất phát từ nhận thức nói trên, tôi đã chọn đề tài: “Phát triển dịch vụ
Ngân hàng tại Ngân hàng Cơng thương Đống đa”.
2.

Mục đích nghiên cứu của luận văn

- Làm rõ những vai trò, nội dung cơ bản của các loại hình dịch vụ ngân
hàng tại Ngân hàng thương mại.
- Tiến hành phân tích thực trạng tại Ngân hàng Công thương Đống đa.
- Kiến nghị một số giải pháp nhằm phát triển dịch vụ tại Ngân hàng Công
thương Đống đa trong thời gian tới.
3.

Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của luận văn


- Các loại hình của dịch vụ ngân hàng thương mại
- Hoạt động dịch vụ của Ngân hàng Công thương Đống đa trong những
năm gần đây không bao gồm đến hoạt động nhận gửi, cho vay và đầu tư.
4.

Phương pháp nghiên cứu

7/97


Sử dụng các phương pháp nghiên cứu thống kê, kết hợp giữa lý luận và
tình hình thực tế hoạt động của Ngân hàng. Đồng thời vận dụng phương pháp
duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp tổng hợp số liệu, phương pháp
so sánh, phương pháp đánh giá báo cáo tổng kết để đưa ra nhận định và giải
pháp.
5.

Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, các phụ lục, bảng biểu và các tài liệu tham
khảo, luận văn được trình bày trong 03 chương:
Chương I: Tổng quan về dịch vụ ngân hàng của ngân hàng thương
mại
Chương II: Thực trạng hoạt động dịch vụ của Ngân hàng Công
thương Đống Đa.
Chương III: Giải pháp phát triển dịch vụ của Ngân hàng Công
thương Đống Đa.

8/97



CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 . TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại
Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất đối với nền
kinh tế. Các ngân hàng có thể được định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ hoặc
vai trò mà chúng thực hiện trong nền kinh tế. Tuy nhiên, các yếu tố trên khơng
ngừng thay đổi. Thực tế, có rất nhiều tổ chức tài chính bao gồm có cả các cơng
ty kinh doanh chứng khốn, cơng ty mơi giới chứng khốn, quỹ hỗ trợ và công
ty bảo hiểm hàng đầu đều đang cố gắng cung cấp các dịch vụ của ngân hàng.
Ngược lại, ngân hàng cũng đang mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ liên quan
đến một số dịch vụ như bất động sản, mơi giới chứng khốn, tham gia hoạt động
bảo hiểm và thực hiện nhiều dịch vụ mới khác. Do vậy, để đưa ra định nghĩa
chính xác về ngân hàng thương mại không phải là dễ dàng.
Theo Giáo sư Peter S.Rose trong cuốn “Quản trị ngân hàng thương mại”
thì Ngân hàng là tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính
đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh tốn – và thực hiện
nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong
nền kinh tế.
Còn theo Ngân hàng Thế giới định nghĩa: Ngân hàng là tổ chức tài chính
nhận tiền gửi chủ yếu ở dưới dạng không kỳ hạn hoặc tiền gửi được rút ra với
một thông báo ngắn hạn (tiền gửi khơng kỳ hạn, có kỳ hạn và các khoản tiết
kiệm). Các Ngân hàng gồm có: Ngân hàng thương mại - chỉ tham gia vào các
9/97


hoạt động nhận tiền gửi, cho vay ngắn, trung và dài hạn; Ngân hàng Đầu tư hoạt động buôn bán chứng khoán và bảo lãnh phát hành; Ngân hàng Nhà ở cung cấp tài chính cho lĩnh vực phát triển nhà ở và nhiều loại khác nữa. Tại một

số nước cịn có các ngân hàng tổng hợp kết hợp hoạt động ngân hàng thương
mại với hoạt động ngân hàng đầu tư và đôi khi thực hiện cả dịch vụ bảo hiểm.
Luật pháp nước Mỹ thì cho rằng” “Bất kỳ một tổ chức nào cung cấp tài
khoản tiền gửi cho phép khách hàng gửi tiền theo yêu cầu và cho vay đối với tổ
chức kinh doanh hay cho vay thương mại sẽ được xem là một ngân hàng”.
Còn theo Luật các Tổ chức Tín dụng ở Việt Nam, tại khoản 2 điều 20 quy
định: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện tồn bộ hoạt động
ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”.
Từ những định nghĩa nói trên có thể rút ra Ngân hàng là một trong những
định chế tài chính, mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính, với
nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh tốn.
Ngồi ra, ngân hàng còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu
cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội.
1.1.2 Hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
Ngân hàng là một tổ chức cung cấp các dịch vụ cho công chúng và doanh
nghiệp. Do vậy, việc xác định đúng các dịch vụ mà xã hội có nhu cầu và thực
hiện tốt các dịch vụ đó sẽ góp phần đem lại thành cơng cho hoạt động kinh
doanh của ngân hàng.
Ngân hàng thực hiện rất nhiều các nghiệp vụ khác nhau, trong đó có thể
kể đến một số hoạt động cơ bản như sau:
1.1.2.1 Nhận tiền gửi
Đây là một trong những nghiệp vụ quan trọng nhất đối với hoạt động kinh
doanh của một ngân hàng thương mại. Hoạt động nhận tiền gửi giúp ngân hàng
có được nguồn vốn để từ đó thực hiện các hoạt động kinh doanh khác, đặc biệt
10/97


là nghiệp vụ cho vay. Một trong những nguồn vốn quan trọng là các khoản tiền
gửi tiết kiệm của khách hàng. Khách hàng có những khoản tiền nhàn rỗi tạm
thời chưa có nhu cầu sử dụng có thể gửi vào ngân hàng trong khoảng thời gian

ngắn hoặc dài tuỳ nhu cầu dự kiến sử dụng trong tương lai. Vì đây là nguồn vốn
quan trọng, hơn nữa trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt nên các ngân
hàng đã tìm mọi cách để huy động nguồn vốn này bằng nhiều phương thức khác
nhau đồng thời cố gắng đáp ứng tốt nhất nhu cầu của người gửi tiền.
Một nguồn vốn khác là lượng tiền trên các tài khoản tiền gửi giao dịch mà
ngân hàng có thể sử dụng trong thời gian khách hàng chưa cần dùng đến. Đây là
loại tài khoản tiền gửi cho phép người gửi tiền viết séc thanh toán cho việc mua
hàng hoá, dịch vụ và các nhu cầu cá nhân khác. Ngồi ra, ngân hàng cịn có thể
huy động vốn từ nền kinh tế bằng việc phát hành các chứng khốn nợ trên thị
trường tài chính như: chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu. Để thu hút được nguồn vốn
này, ngân hàng thường phát hành các loại chứng khoán với nhiều loại kỳ hạn,
mức lãi suất khác nhau, có thể ghi danh hoặc khơng ghi danh.
1.1.2.2 Cho vay
 Chiết khấu
Ngay ở thời kỳ đầu, các ngân hàng đã chiết khấu thương phiếu mà thực tế
là cho vay đối với các doanh nhân địa phương thông qua việc mua bán các
khoản nợ của khách hàng (người bán chuyển các khoản phải thu cho ngân hàng
để lấy tiền trước). Ngày nay, không chỉ dừng lại ở chiết khấu thương phiếu, các
ngân hàng thương mại cịn chiết khấu các chứng khốn đang cịn thời hạn thanh
tốn. Qua nghiệp vụ này các ngân hàng thu được lãi suất chiết khấu, còn khách
hàng được đáp ứng nhu cầu về vốn.
 Cho vay thương mại
Thay vì tài trợ gián tiếp dưới hình thức chiết khấu, các ngân hàng còn cho
vay trực tiếp đối với các khách hàng (là người mua) giúp họ có vốn để mở rộng

11/97


sản xuất kinh doanh. Hình thức cho vay thương mại có thể là cho vay ngắn hạn
dự trữ hàng tồn kho, hoặc cho vay trung, dài hạn để đầu tư cho việc mua máy

móc, thiết bị, nhà xưởng.v.v…
 Cho vay tiêu dùng
Trong giai đoạn đầu, các ngân hàng không nhiệt tình cho vay với các cá
nhân và hộ gia đình do có mức sinh lời khơng cao và nhiều rủi ro. Song sự gia
tăng thu nhập của người tiêu dùng và sự cạnh tranh trong cho vay đã hướng các
ngân hàng tới người tiêu dùng như là những khách hàng tiềm năng. Từ sau chiến
tranh thế giới thứ II, tín dụng tiêu dùng đã trở thành một trong những loại hình
tín dụng có mức tăng trưởng nhanh nhất.
 Cho vay tài trợ dự án
Các ngân hàng ngày càng trở nên năng động trong việc tài trợ cho chi phí
xây dựng nhà máy mới đặc biệt là trong ngành công nghệ cao. Do rủi ro trong
loại hình này nói chung là cao nên chúng thường được thực hiện qua một công
ty đầu tư cùng vlới sự tham gia của các nhà đầu tư khác để chia sẽ rủi ro.
 Cho thuê thiết bị trung và dài hạn (leasing)
Hiện nay, rất nhiều ngân hàng cho khách hàng kinh doanh quyền lựa chọn
mua các thiết bị, máy móc, thơng qua hợp đồng th mua, trong đó ngân hàng
mua thiết bị và cho khách hàng thuê. Các ngân hàng phát triển nghiệp vụ này để
phục vụ cho những khách hàng không đủ điều kiện vay như một biện pháp bảo
đảm an toàn vốn do tài sản trong thời gian thuê vẫn thuộc sở hữu của ngân hàng.
 Tài trợ các hoạt động của chính phủ
Vào những năm đầu của cuộc cách mạng công nghiệp, khả năng huy động
vốn và cho vay với khối lượng lớn của ngân hàng đã trở thành tâm điểm chú ý
của các Chính phủ. Do vậy, thơng thường ngân hàng được cấp giấy phép thành
lập với điều kiện phải mua trái phiếu Chính phủ theo một tỷ lệ nhất định trên
tổng lượng tiền gửi mà ngân hàng huy động được. Đây chính là hình thức tài trợ
12/97


cho khoản bội chi ngân sách (đặc biệt trong thời kỳ chiến tranh thế giới hay
khủng hoảng kinh tế).

1.1.2.3 Các hoạt động dịch vụ khác
Bên cạnh nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng thương mại là cho vay và nhận
tiền gửi nhằm đem lại nguồn thu nhập cho ngân hàng từ chênh lệch lãi suất giữa
lãi suất cho vay thu được và lãi suất đầu vào phải trả thì các ngân hàng còn thực
hiện nhiều hoạt động dịch vụ khác. Đó là các cơng việc trung gian về tiền tệ
nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng về sinh lời, đầu tư, giữ hộ hay đảm bảo
an toàn tài sản…nhằm đem lại nguồn thu cho ngân hàng thơng qua phí dịch vụ.
Các dịch vụ ở đây bao gồm các dịch vụ truyền thống nhu thu đổi ngoại tệ,
dịch vụ thanh toán trong nước và thanh toán quốc tế, dịch vụ bảo quản vật có
giá, cung cấp các tài khoản giao dịch, dịch vụ uỷ thác…Các dịch vụ mới phát
triển theo xu hướng ngân hàng hiện đại như tư vấn tài chính, quản lý ngân quỹ,
bảo lãnh…Các loại dịch vụ mới như giao dịch qua internet và thẻ thông minh
(Smart), dịch vụ bảo hiểm và kinh doanh chứng khoán cũng đang được mở rộng.
Nhìn chung, danh mục các dịch vụ do ngân hàng cung cấp tạo ra một sự thuận
lợi rất lớn cho khách hàng. Khách hàng có thể hồn tồn thoả mãn tất cả các nhu
cầu dịch vụ tài chính của mình thơng qua một ngân hàng và tại một địa điểm.
1.2 DỊCH VỤ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1 Khái niệm
Khái niệm "dịch vụ ngân hàng" cho đến nay vẫn chưa có sự minh định rõ
ràng và cịn nhiều cách hiểu khác nhau. Có ý kiến cho rằng ngành ngân hàng
không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất hoặc tinh thần cho xã hội nên được
xếp là ngành dịch vụ. Do vậy, tất cả các hoạt động của ngân hàng phục vụ cho
doanh nghiệp và công chúng đều được coi là dịch vụ ngân hàng.
Song, cũng lại có quan điểm cho rằng dịch vụ ngân hàng không thuộc
phạm vi kinh doanh tiền tệ và các hoạt động nghiệp vụ ngân hàng theo chức
13/97


năng của một trung gian tài chính (nhận tiền gửi và cho vay) mà chỉ những hoạt
động không thuộc trung gian nói trên mới gọi là dịch vụ ngân hàng (như chuyển

tiền, mơi giới kinh doanh chứng khốn, thu đổi ngoại tệ, quản lý tiền mặt…).
Để hiểu về dịch vụ ngân hàng, trước hết cần làm rõ thuật ngữ dịch vụ:
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, dịch vụ là các hoạt động nhằm thoả
mãn những nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt. Còn trong cuốn "Lựa
chọn bước đi và giải pháp để Việt Nam mở cửa về dịch vụ thương mại" thì khái
niệm về dịch vụ lại được hiểu là các hoạt động của con người được kết tinh
trong giá trị của kết quả trong giá trị của các loại sản phẩm vơ hình và khơng thể
cầm nắm được.
Vậy, ta có thể thấy hai đặc trưng cơ bản của dịch vụ:
Thứ nhất, Dịch vụ là một sản phẩm.
Thứ hai, Dịch vụ là vơ hình (phi vật chất) khác với hàng hố là hữu hình.
Ngân hàng là một tổ chức tài chính, vậy thế nào là dịch vụ tài chính? Dịch
vụ tài chính là thuật ngữ được dùng để chỉ hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực
ngân hàng, bảo hiểm và chứng khoán. Theo WTO, dịch vụ tài chính là bất kỳ
dịch vụ nào có tính chất tài chính được một nhà cung cấp dịch vụ tài chính cung
cấp. Dịch vụ tài chính bao gồm mọi dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan tới
bảo hiểm, mọi dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác (ngoại trừ bảo
hiểm). Như vậy, dịch vụ ngân hàng được đặt trong nội hàm của dịch vụ tài
chính. Trong cuốn sách "Phát triển thị trường tài chính Việt Nam trong tiến trình
hội nhập" của Phó Giáo Sư - Tiến sỹ Thái Bá Cẩn và Tiến sỹ Trần Nguyên Nam
cho rằng: Dịch vụ ngân hàng gồm 11 loại hình: Nhận tiền gửi, cung cấp các tài
khoản giao dịch, quản lý tiền mặt, trao đổi ngoại tệ (dịch vụ kiều hối), dịch vụ
về tín dụng (chiếu khấu thương phiếu, cho vay tài trợ dự án, cho vay tiêu dùng),
dịch vụ uỷ thác, cho thuê tài chính, tư vấn tài chính, dịch vụ quỹ tương hỗ và trợ
cấp.

14/97


Tuy nhiên, dịch vụ ngân hàng cần được hiểu theo hai khía cạnh: Rộng và

hẹp.
Theo nghĩa rộng: Dịch vụ ngân hàng là tồn bộ hoạt động tiền tệ, tín
dụng, thanh toán, ngoại hối…của hệ thống ngân hàng đối với doanh nghiệp và
công chúng. Quan niệm theo nghĩa rộng này được sử dụng để xem xét lĩnh vực
dịch vụ ngân hàng trong cơ cấu kinh tế của nền kinh tế quốc dân của một quốc
gia. Quan niệm này phù hợp với cách phân ngành dịch vụ ngân hàng trong dịch
vụ tài chính của WTO và Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ cũng như
nhiều nước phát triển.
Theo nghĩa hẹp: Dịch vụ ngân hàng chỉ bao gồm những hoạt động ngồi
chức năng trun thống của định chế tài chính trung gian (nhận tiền gửi và cho
vay). Quan niệm này nên dùng trong phạm vi hẹp khi xem xét hoạt động của
một ngân hàng cụ thể để xem xét các dịch vụ mới phát triển như thế nào, cơ cấu
của chúng trong tồn bộ hoạt động của mình.
Trong bài này, dịch vụ ngân hàng được xem xét theo nghĩa hẹp, không
bao hàm hoạt động truyền thống của ngân hàng thương mại như huy động vốn
và cho vay. Các dịch vụ ngân hàng được đề cập ở đây là các hoạt động gắn liền
với việc thu phí, hưởng hoa hồng do các ngân hàng thương mại thực hiện thông
qua việc phục vụ các doanh nghiệp, các tổ chức, các cá nhân nhằm tăng nguồn
thu cho ngân hàng.
1.2.2 Đặc điểm của dịch vụ Ngân hàng
Dịch vụ ngân hàng trước hết mang những đặc điểm chung của hoạt động
dịch vụ như: dịch vụ là vơ hình (phi vật chất). Tính vơ hình là đặc điểm để phân
biệt sản phẩm dịch vụ với các sản phẩm của ngành sản xuất vật chất khác trong
các ngành kinh tế. Bởi vơ hình nên sản xuất và cung ứng dịch vụ diễn ra đồng
thời nhưng không thể sản xuất hàng loạt và lưu giữ trong kho để sau đó tiêu
dùng.

15/97



Ngồi ra, dịch vụ ngân hàng có những đặc điểm nổi bật sau:
Một là, hoạt động dịch vụ khơng địi hỏi các ngân hàng thương mại phải
sử dụng nguồn vốn của mình. Đây là một thuận lợi lớn cho các ngân hàng
thương mại có vốn tự có hạn hẹp như các ngân hàng thương mại Việt Nam. Do
vậy, việc mở rộng hoạt động dịch vụ các loại trở thành lĩnh vực rất cần được các
ngân hàng thương mại quan tâm triển khai.
Hai là, hoạt động dịch vụ của ngân hàng thương mại trực tiếp hoặc gián
tiếp làm tăng thu nhập của ngân hàng thơng qua việc thu phí, chênh lệch giá, hoa
hồng…
Nếu hoạt động tín dụng đem lại nguồn thu nhập từ chênh lệch lãi suất cho
vay thu được và lãi suất đầu vào phải trả thì đối với các hoạt động dịch vụ thu
nhập được hình thành từ phí dịch vụ, chênh lệch giá, hoa hồng… (gọi chung là
phí dịch vụ).
Một số dịch vụ không đem lại nguồn thu trực tiếp cho ngân hàng nhưng
lại nhằm thúc đẩy sự phát triển dịch vụ khác hoặc tăng sức cạnh tranh của ngân
hàng nhằm lôi kéo khách hàng.
Hoạt động dịch vụ đem lại lợi nhuận cao cho ngân hàng thương mại do
chi phí ban đầu thường thấp. Đây được coi là một lĩnh vực kinh doanh hiệu quả
thu hút các ngân hàng thương mại hiện đại trên thế giới.
Ba là, hoạt động dịch vụ được xếp vào những lĩnh vực kinh doanh tương
đối an tồn, có rủi ro thấp. Vì thế, mở rộng hoạt động dịch vụ sẽ giúp ngân hàng
hạn chế những rủi ro như rủi ro lãi suất, đặc biệt là những rủi ro tín dụng do tính
chất thơng tin bất cân xứng của thị trường tài chính đem lại.
Bốn là, hoạt động dịch vụ ngân hàng đòi hỏi cơ sở hạ tầng tương xứng.
Các ngân hàng thương mại không thể triển khai hoạt động dịch vụ phục vụ
khách hàng cá nhân cũng như doanh nghiệp nếu cơ sở vật chất nghèo nàn,lạc
hậu. Hoạt động này gắn liền với sự phát triển của công nghệ hiện đại trong lĩnh
16/97



vực ngân hàng. Hơn nữa, đội ngũ cán bộ năng động, nhiệt tình và thành thạo
trong các hoạt động nghiệp vụ cũng là đòi hỏi của hoạt động dịch vụ ngân hàng.
Năm là, Các dịch vụ ngân hàng mang tính hỗ trợ cao, có mối liên kết chặt
chẽ với nhau. Sự ra đời và phát triển dịch vụ này là tiền đề cho sự ra đời và phát
triển của dịch vụ khác. Ví dụ: Dịch vụ thanh tốn quốc tế phát triển đã đẩy mạnh
sự phát triển của dịch vụ mua bán ngoại tệ.v.v…
Nhờ đó, đã tạo nên sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các dịch vụ trong sự phát triển
dịch vụ ngân hàng. Ngân hàng có thể cung cấp những dịch vụ trọn gói cho
khách hàng.
1.2.3 Các dịch vụ Ngân hàng chủ yếu
1.2.3.1 Dịch vụ thanh toán
Dịch vụ này tạo điều kiện cho cho các khách hàng thực hiện các khoản
thanh tốn mà khơng phải mang đi mang lại một lượng lớn tiền mặt, mở đầu cho
hoạt động thanh tốn khơng dùng tiền mặt. Thanh tốn khơng dùng tiền mặt là
thanh toán qua ngân hàng, là tổng hợp các mối quan hệ chi trả tiền tệ được thực
hiện bằng cách trích chuyển từ tài khoản của người này sang tài khoản của
người khác với sự kiểm soát của ngân hàng mà không cần dùng tiền mặt.
Trong mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng, ngồi những nghiệp vụ
tín dụng, nghiệp vụ thanh tốn khơng dùng tiền mặt đóng vai trò cực kỳ quan
trọng. Khối lượng và chất lượng của nghiệp vụ thanh toán của ngân hàng thương
mại về phương diện vi mơ, nó tác động đến sự tăng giảm nguồn tài nguyên khả
dụng của ngân hàng và sự khai thác của nguồn tài nguyên đó. Do vậy, ngân
hàng cần phải sử dụng các cơng cụ thanh tốn một cách thuận tiện, hữu hiệu và
chính xác.
Các cơng cụ thanh toán qua ngân hàng bao gồm:
 Séc

17/97



Séc là một tờ mênh lệnh vô điều kiện của người chủ tài khoản, ra lệnh cho
ngân hàng trích từ tài khoản của mình để trả cho người có tên trong séc, hoặc
theo lệnh của ngời ấy hoặc trả cho người cầm séc một số tiền nhất định bằng tiền
mặt hay bằng chuyển khoản.
Séc bao gồm nhiều loại: Séc ký danh, séc vô danh, séc tiền mặt, séc
chuyển khoản, séc bảo chi, séc định mức, séc du lịch…
 Thanh toán chuyển tiền
Thanh toán chuyển tiền là phương thức thanh toán cho phép một người dù
có hay khơng có tài khoản tại ngân hàng có thể trả tiền vào tài khoản của người
khác. Phương tiện này đặc biệt có ích trong việc thanh toán các hoá đơn tiền
điện, cước điện thoại…
 Uỷ nhiệm thu
Uỷ nhiệm thu là nghiệp vụ thu tiền mà trong đó người bán uỷ thác cho
ngân hàng thu một khoản tiền của người mua theo hợp đồng mua bán mà người
mua và người bán ký. Uỷ nhiệm thu là một văn thư do khách hàng lập để yêu
cầu ngân hàng thu một khoản tiền ở người mua trong trường hợp bên mua và
bên bán có tài khoản ở hai ngân hàng khác nhau.
Đây là thể thức thanh toán phức tạp, chậm, rườm rà, không phù hợp với
hoạt động của ngân hàng trong nền kinh tế thị trường, chỉ phù hợp với kho bạc
Nhà nước hoặc là thủ tục áp dụng trong việc mua bán với nước ngoài.
 Uỷ nhiệm chi
Uỷ nhiệm chi là lệnh chi tiền của chủ tài khoản được lập theo mẫu in sẵn
của ngân hàng, u cầu ngân hàng phục vụ mình trích tài khoản của mình để trả
cho người thụ hưởng.
 Thanh tốn bằng thẻ

18/97


Hoạt động nghiệp vụ thẻ thanh toán qua ngân hàng trên thế giới ra đời từ

năm 1946. Nhưng nó chỉ thực sự trở thành bước ngoặt trong ngành dịch vụ tài
chính – ngân hàng khi vào năm 1949, Frak McNamara, một chủ doanh nghiệp
người Mỹ phát minh ra tấm thẻ thanh toán mang tên Dinner’s Club. Với tấm thẻ
này, chủ thẻ có thể thanh tốn tiền mua hàng hố, chi trả tiền dịch vụ qua máy
đọc thẻ POS hoặc rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động ATM. Cơng nghệ
thanh tốn thẻ với nhiều ưu việt nổi trội của nó so với thanh tốn bằng tiền mặt
như khơng lãng phí vốn trong nền kinh tế, giảm thiểu rủi ro, thuận tiện cho
khách hàng đặc biệt là những người hay phải đi xa…nên thẻ thanh tốn đã
nhanh chóng đi vào cuộc sống sinh hoạt hàng ngày.
Thẻ là một sản phẩm dịch vụ có nhiều tiện ích, an tồn dựa trên cơ sở sở
công nghệ hiện đại được ngân hàng cung cấp cho khách hàng nhằm hạn chế việc
thanh toán bằng tiền mặt khi mà dân số ngày càng tăng, khối lượng giao dịch
ngày càng lớn. Đồng thời đây cũng là loại hình dịch vụ làm tăng thêm nguồn thu
nhập và khả năng cạnh tranh cho ngân hàng.
Các ngân hàng thường phát hành thẻ của ngân hàng mình với các loại như
thẻ từ, thẻ chíp, thẻ thơng minh…Ngồi ra, cịn có những tổ chức thẻ Quốc tế
như Master, Visa, Amex…với các sản phẩm thẻ như Visa, Mastercard, Amex,
Dinner’s Club…Dịch vụ thẻ đã được sử dụng rộng rãi tại nhiều quốc gia, vùng
lãnh thổ. Số lượng thẻ đã phát hành và đang sử dụng vào khoảng trên 2 tỷ, với
trên 21 triệu đại lý chấp nhận thanh toán thẻ, hơn 700.000 máy rút tiền tự động
ATM trên thế giới.
Ở Việt Nam, hoạt động thanh toán thẻ mới chỉ được triển khai từ đầu
những năm 90 với sự đi đầu của ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Song cho
đến nay đã có trên 20 ngân hàng trong nước đã và đang triển khai dịch vụ này.
 Thư tín dụng
Phương thức thanh tốn này là một sự thoả thuận mà trong đó một ngân
hàng nơi mở thư tín dụng theo yêu cầu của khách hàng (người xin mở thư tín
19/97



dụng) cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho một người thứ ba (người hưởng
lợi số tiền của thư tín dụng) khi người thứ ba này xuất trình cho ngân hàng một
bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định đề ra trong thư tín dụng nếu
bên bán thực hiện đúng và đầy đủ những quy định theo thư tín dụng.
Hình thức thanh tốn này có độ an tồn và chuẩn xác cao, do đó nó được
dùng phổ biến trong quan hệ thanh toán quốc tế.
 Hối phiếu
Hối phiếu ngân hàng là một tờ mênh lệnh trả tiền vô điều kiện do một
người ký phát cho người khác, yêu cầu người này khi nhìn thấy phiếu hoặc đến
một ngày cụ thể nhất định cho một người nào đó hoặc theo lệnh của người này
trả cho người khác hoặc trả cho người cầm phiếu.
1.2.3.2 Dịch vụ bảo lãnh
Bảo lãnh ngân hàng là sự cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng với
bên có quyền về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi
khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên
nhận bảo lãnh.
Căn cứ vào mục đích, bảo lãnh ngân hàng gồm các loại cơ bản sau:
 Bảo lãnh dự thầu
 Bảo lãnh thực hiện hợp đồng
 Bảo lãnh thanh toán
 Bảo lãnh bảo hành
 Bảo lãnh hoàn trả tạm ứng
 Bảo lãnh vay vốn
 Các loại bảo lãnh khác…
1.2.3.3 Dịch vụ uỷ thác

20/97


Dịch vụ uỷ thác là dịch vụ quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính

cho cá nhân và doanh nghiệp. Dịch vụ này phát triển mạnh khi thị trường tài
chính phát triển và đời sống ở mức cao, bao gồm:
 Uỷ thác vay hộ và cho vay hộ
 Uỷ thác phát hành
 Uỷ thác đầu tư
 Uỷ thác trong quản lý tài sản và thực hiện di chúc
 Uỷ thác trong việc trả lương
 Uỷ thác phát hành cổ phiếu, trái phiếu, thanh toán lãi hoặc lợi tức và
thanh toán vốn khi chứng khoán đến hạn
 Uỷ thác khác…
1.2.3.4 Dịch vụ tư vấn
Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính, các ngân hàng có rất nhiều chun
gia về quản lý tài chính. Ngân hàng cung cấp dịch vụ tư vấn dựa trên nhu cầu
của khách hàng và đội ngũ chun gia tài chính của mình. Ngân hàng có thể tư
vấn về thuế, tư vấn về đầu tư, về quản lý tài chính, về thành lập, mua bán, sáp
nhập doanh nghiệp, tư vấn về công nghệ, thị trường cho các doanh nghiệp trên
cơ sở quan hệ với khách hàng và thông tin về thị trường, về công nghệ.
1.2.3.5 Dịch vụ bảo hiểm
Loại hình dịch vụ này nhằm đảm bảo cho khách hàng thanh toán nợ trong
trường hợp tử vong, thương tật hay gặp rủi ro trong hoạt động, mất khả năng
thanh toán. Tuy nhiên, tuỳ theo quy định của từng quốc gia cũng giới hạn các
ngân hàng thực hiện dịch vụ này như phải thành lập công ty bảo hiểm trực thuộc
ngân hàng hoặc chỉ cung cấp bảo hiểm theo một tỷ lệ nhất định so với vốn chủ
sở hữu ngân hàng.
1.2.3.6 Dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán
21/97


Các ngân hàng có khuynh hướng đa năng trong việc cung cấp các dịch vụ
tài chính trọn gói cho khách hàng, trong đó có dịch vụ mơi giới. Dịch vụ môi

giới được phát sinh nhờ các ngân hàng thương mại có lợi thế thơng tin tài chính,
do vậy cung cấp cho khách hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng
khoán khác.
1.2.3.7 Dịch vụ đại lý
Nhiều ngân hàng trong q trình hoạt động khơng thể thiết lập chi nhánh
hoặc văn phòng ở nhiều nơi. Do vậy, các ngân hàng (thường là những ngân hàng
thương mại lớn) cung cấp dịch vụ ngân hàng đại lý cho các ngân hàng khác như
thanh toán hộ, phát hành hộ các chứng chỉ tiền gửi, làm ngân hàng đầu mối
trong đồng tài trợ.
Bên cạnh những dịch vụ kể trên, ngân hàng cịn có các dịch vụ khác như
cung cấp các kế hoạch hưu trí, cung cấp dịch vụ quỹ tương hỗ và trợ cấp, cung
cấp các dịch vụ của ngân hàng quốc tế…
1.2.3.8 Quản lý ngân quỹ
Ngân hàng cung cấp cho khách hàng dịch vụ quản lý ngân quỹ, trong khi
đó ngân hàng đồng ý quản lý việc thu và chi cho một công ty kinh doanh và tiến
hành đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các chứng khoán sinh lời và tín
dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh tốn. Dịch vụ này
cũng có xu hướng tăng nhằm vào các khách hàng cá nhân.
1.2.3.9 Bảo quản vật có giá
Các ngân hàng thực hiện việc lưu giữ vàng, các giấy tờ có giá và các tài
sản khác cho khách hàng trong két (vì vậy cịn gọi là dịch vụ cho thuê két). Các
giấy chứng nhận do ngân hàng ký phát cho khách hàng có thể được lưu hành
như tiền – đó là hình thức đầu tiên của séc và thẻ tín dụng. Dịch vụ này phát
triển cùng nhiều dịch vụ khác như mua bán hộ các giấy tờ có giá cho khách,
thanh tốn lãi hoặc cổ tức.
22/97


1.2.3.10 Trao đổi ngoại tệ
Đây là một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên, ngân hàng đứng ra

mua, bán một loại tiền này lấy một loại tiền khác và hưởng phí dịch vụ. Trong
thị trường tài chính hiện nay, việc trao đổi này là hoạt động thường xuyên và có
quy mơ ngày càng mở rộng gắn với hoạt động thương mại và đầu tư quốc tế.
Các ngân hàng thực hiện dịch vụ này với mục đích:
 Cung cấp phưong tiện trao đổi cho khách hàng
 Thu lợi từ kết quả dự báo diễn biến tỷ giá sẽ tăng trong tương lai
 Gửi tại ngân hàng nước ngoài, tổ chức tài chính quốc tế để hưởng
chênh lệch lãi suất giữa thị trường trong và ngoài nước.
1.3

PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.3.1 Quan điểm về phát triển dịch vụ ngân hàng thương mại
Sự phát triển dịch vụ ở đây được phân tích trên hai khía cạnh: phát triển
về chiều rộng và phát triển về chiều sâu:
Phát triển về chiều rộng đồng nghĩa với việc đa dạng hoá các loại hình
dịch vụ. Khơng chỉ duy trì các hoạt động dịch vụ truyền thống như trao đổi
ngoại tệ, bảo quản vật có giá mà phải tiếp cận và áp dụng các dịch vụ hiện đại
như tư vấn môi giới đầu tư chứng khoán, bảo hiểm, bảo lãnh…Đồng thời, đẩy
mạnh phát triển các dịch vụ ứng dụng khoa học kỹ thuật cao như thanh toán qua
thẻ, dịch vụ internet banking.
Như vậy, phát triển ở đây có nghĩa là phải ln đưa ra được dịch vụ mới,
đáp ứng được những yêu cầu của khách hàng.
Phát triển về chiều sâu đồng nghĩa với việc nâng cao chất lượng dịch vụ,
hoàn thiện các dịch vụ hiện có. Khi giữa các ngân hàng khơng có sự phân biệt
về đa dạng hố loại hình dịch vụ thì chất lượng dịch vụ là yếu tố quyết định sự
thành cơng của mỗi ngân hàng. Vì vậy, ngay từ đầu các ngân hàng phải có kế
23/97



hoặch và chiến lược ngày càng củng cố và hoàn thiện các hoạt động dịch vụ trên
cơ sở cung ứng cho khách hàng các sản phẩm tiện tích nhanh chóng, thuận tiện,
chi phí hợp lý trên cơ sở đảm bảo an toàn cho hoạt động của ngân hàng và tuân
thủ các quy định của pháp luật.
Chính sách phát triển dịch vụ ngân hàng hướng tới mở rộng khả năng
“cung” dịch vụ Ngân hàng, đồng thời góp phần kích “cầu” về dịch vụ ngân hàng
của nền kinh tế.
Tóm lại, chính sách phát triển dịch vụ ngân hàng hướng tới mở rộng khả
năng “cung” dịch vụ Ngân hàng, đồng thời góp phần kích “cầu” về dịch vụ ngân
hàng của nền kinh tế.
1.3.2 Sự cần thiết của việc phát triển dịch vụ ngân hàng thương mại
Ngân hàng là ngành cung ứng dịch vụ đặc biệt đối với dân cư và nên kinh
tế, sự tồn tại của ngân hàng gắn với sự tồn tại của các dịch vụ do ngân hàng
cung ứng. Do vậy, phát triển dịch vụ ngân hàng là hết sức cần thiết nhằm góp
phần củng cố ngân hàng lớn mạnh, nâng cao vị thế của ngành ngân hàng đối với
nền kinh tế, khẳng định lòng tin trong dân chúng và tự tin trong tiến trình hội
nhập kinh tế quốc tế.
1.3.2.1 Từ yêu cầu của nền kinh tế
 Dịch vụ ngân hàng thúc đẩy nền kinh tế theo xu hướng nền kinh tế tri
thức.
Dịch vụ ngân hàng ngày càng sử dụng nhiều thành tựu của công nghệ
thông tin. Để phát triển các dịch vụ thẻ ATM, dịch vụ internet banking, home
banking, các ngân hàng phải trang bị các thiết bị hiện đại như máy tút tiền tự
động, máy đọc thẻ (POS), mạng trực tuyến, Website…Mặt khác, dịch vụ ngân
hàng là loại dịch vụ chất lượng ca, đòi hỏi người cung cấp và khách hàng phải
có kiến thức am hiểu nhất định mới có thể sử dụng và vận hành. Nhiều trong số

24/97



các loại dịch vụ này tạo ra giá trị tăng cao - một đặc điểm của nền kinh tế tri
thức.
 Dịch vụ ngân hàng tạo điều kiện cho các ngành dịch vụ khác phát triển
Do đặc điểm dịch vụ ngân hàng liên quan sâu rộng đến nhiều ngành,
nhiều lĩnh vực sản xuất và đời sống nên sự phát triển của dịch vụ ngân hàng thúc
đẩy sự phát triển của các ngành dịch vụ khác. Chẳng hạn, lĩnh vực xuất nhập
khẩu sẽ bị hạn chế nếu dịch vụ thanh toán qua ngân hàng khơng thơng suốt.
Đồng thời, dịch vụ thanh tốn phát triển địi hỏi lĩnh vực cơng nghệ thơng tin
cũng phải phát triển. Các ngành như du lịch, bưu chính viễn thông, hàng
không…cũng sẽ phát triển theo.
 Đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nền kinh tế về dịch vụ
Trong điều kiện nền kinh tế mở, tự do hoá thương mại và tự do hố tài
chính ngày càng sâu rộng, nhu cầu thị trường về dịch vụ tài chính phát triển rất
nhanh và vượt xa khả năng đáp ứng của các định chế trung gian tài chính hiện
có của quốc gia. Thực tế cho thấy, nhu cầu sử dụng các dịch vụ tài chính đang
ngày một tăng, đặc biệt là ở thành thị. Nhu cầu đó gắn liền với q trình ra đời
với tốc độ nhanh chóng của các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế, cũng
như quá trình chuyển đổi các doanh nghiệp Nhà nước sang cơng ty cổ phần. Đó
là nhu cầu về giao dịch cổ phiếu, tư vấn đầu tư, quản lý ngân quỹ…Sự xuất hiện
các doanh nghiệp nước ngoài trong nền kinh tế như chất xúc tác, thúc đẩy sự ra
đời và phát triển nhanh chóng nhu cầu thị trường về các dịch vụ ngân hàng. Đó
là những dịch vụ liên quan đến thanh tốn khơng dùng tiền mặt, rút tiền tự động,
dịch vụ kiều hối…Rõ ràng, nhu cầu về dịch vụ ngân hàng mang tính tiên phong,
có vai trị tạo động lực kích thích sự ra đời và cơ hội phát triển cho các nguồn
cung ứng dịch vụ trong nước, vốn còn đang rất nghèo nàn.
1.3.2.2 Từ yêu cầu đối với Ngân hàng

25/97



×