Tải bản đầy đủ (.doc) (87 trang)

Tài liệu ôn thi môn Ngữ văn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (572.55 KB, 87 trang )


TUYấN NGễN C LP
H Chớ Minh
Biờn son: o Minh Trung - T: 0987007361 mail:
CU HI 2 IM
ỏp ỏn:
- H Chớ Minh coi vn hc l mt v khớ chin u li hi phng s cho s nghip
cỏch mng. Nh vn phi cú tinh thn xung phong nh ngi chin s ngoi mt trn.
- Ngi luụn chỳ ý n tớnh chõn tht v tớnh dõn tc ca vn hc. Nh vn phi
miờu t cho hay, cho chõn tht v cho hựng hn hin thc phong phỳ ca i sng v phi
gi cho tỡnh cm chõn tht. Mt khỏc, nờn chỳ ý phỏt huy ct cỏch dõn tc v cú ý thc gi
gỡn s trong sỏng ca ting Vit.
- Khi cm bỳt, H Chớ Minh bao gi cng xut phỏt t mc ớch, i tng tip nhn
quyt nh ni dung v hỡnh thc ca tỏc phm. Ngi luụn t ra cỏc cõu hi: Vit cho
ai? (i tng); Vit lm gỡ? (mc ớch) ri mi n Vit cỏi gỡ? (ni dung) v Vit
nh th no? (hỡnh thc).
ỏp ỏn:
Phong cách nghệ thuật của Hồ Chí Minh độc đáo, đa dạng.
-Văn chính luận: Ngắn gọn, súc tích, lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằng chứng
thuyết phục, giàu tính luận chiến và đa dạng về bút pháp, giàu hình ảnh, giọng điệu đa
dang.
-Tryện và kí: Thể hiện tính chiến đấu mạnh mẽ và nghệ thuật trào phúng sắc bén. Tiếng
cời trào phúng nhẹ nhàng mà thâm thuý sâu cay. Thể hiện chất trí tuệ sắc sảo và hiện đại.
-Thơ ca: Phong cách hết sức đa dạng, hàm súc, uyên thâm, đạt chuẩn mực về nghệ
thuật, sử dụng thành công nhiều thể loại thơ. Có loại thơ tuyên truyền cổ động lời lẽ mộc
mạc giản dị, có loại thơ hàm súc uyên thâm kết hợp giữa màu sắc cổ đin và bút pháp hiện
đại.
ỏp ỏn:
1
Cõu hi:
Anh/ ch hóy trỡnh by quan im sỏng tỏc ca H Chớ Minh


Cõu hi:
Anh/ ch hóy trỡnh by phong cỏch ngh thut ca H Chớ Minh
Cõu hi:
Nhng c im c bn v s nghip vn hc ca H Chớ Minh?
-Văn chính luận: nhằm mục đích đấu tranh chính trị. Đó là những áng văn chính luận
mẫu mực, lí lẽ chặt chẽ đanh thép đầy tính chiến đấu. (Tuyên ngôn độc lập, Lời kêu gọi
toàn quốc kháng chiến, Bản án chế độ thực dân Pháp)
-Truyện và kí: chủ yếu viết bằng tiếng Pháp rất đặc sắc, sáng tạo và hiện đại. (Lời
than vãn của bà Trưng Trắc, Vi hành, Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu )
-Thơ ca: (lĩnh vực nổi bật trong giá trị sáng tạo văn chương Hồ Chí Minh) phản ánh
khá phong phú tâm hồn và nhân cách cao đẹp của người chiến sĩ cách mạng trong nhiều
hoàn cảnh khác nhau (Nhật kí trong tù,Tức cảnh Pác Bó, Cảnh khua ).
Đáp án:
-19/8/1945 chính quyền ở thủ đô Hà Nội đã về tay nhân dân ta. 23/8/1945, tại Huế
trước hàng vạn đồng bào ta, vua Bảo Đại thoái vị. 25/8/1945, gần 1 triệu đồng bào Sài Gòn
- Chợ Lớn quật khởi đứng lên giành chính quyền. Chỉ không đầy 10 ngày, Tổng khởi nghĩa
và Cách mạng tháng Tám đã thành công rực rỡ.
Cuối tháng 8/1945, tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang, Hà Nội, lãnh tụ Hồ Chí
Minh soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập. Và ngày 2/9/1945; tại Quảng trường Ba Đình, Hà
Nội, Người thay mặt Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đọc bản
Tuyên ngôn Độc lập trước hàng chục vạn đồng bào ta, khai sinh ra nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa, mở ra một kỷ nguyên mới độc lập, tự do.

Đáp án:
Tuyên bố với nhân dân trong nước và trên thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa, khẳng định chính thức quyền tự do độc lập và quyền được hưởng độc
lập, tự do của nước ta.
Tuyên bố chấm dứt và xóa bỏ mọi đặc quyền đặc lợi, mọi ràng buộc đã kí kết trước
đây giữa Pháp và chính quyền phong kiến trên toàn lãnh thổ Việt Nam, tố cáo tội ác của
thực dân Pháp đã gây ra đối với nhân dân ta trong suốt 80 năm.

Tuyên bố về quyền được hưởng tự do độc lập và khẳng định quyết tâm bảo vệ độc
lập tự do của toàn thể dân tộc Việt Nam.
Đập tan luận điệu xảo trá của thực dân Pháp trong việc chuẩn bị dư luận tái chiếm
Việt Nam.
2
Câu hỏi:
Hoàn cảnh sáng tác tác phẩm “Tuyên ngôn Độc lập” của Hồ Chí Minh?
Câu hỏi:
Mục đích sáng tác tác phẩm “Tuyên ngôn Độc lập” của Hồ Chí Minh?
Đáp án:
+ Đoạn l (từ đầu đến không ai chối cãi được): Nêu nguyên lí chung của Tuyên ngôn
Độc lập.
+ Đoạn 2 (từ Thế mà đến d©n chñ céng hoµ): Tố cáo tội ác của thực dân Pháp và
khẳng định thực tế lịch sử: nhân dân ta nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà.
+ Đoạn 3 (còn lại): Lời tuyên ngôn và những tuyên bố về ý chí bảo vệ nền độc lập
tự do của dân tộc Việt Nam.
Đáp án:
Tuyên ngôn Độc lập của Mĩ (1776)
Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp (1791)
Việc trích dẫn nhằm khẳng định Nhân quyền và Dân quyền là tư tưởng lớn, cao đẹp của
thời đại,
Cách mở bài rất đặc sắc:
+Từ công nhận Nhân quyền và Dân quyền là tư tưởng thời đại đi đến khẳng định Độc
lập, Tự do, Hạnh phúc là khát vọng của các dân tộc. Câu văn “Đó là những lẽ phải không
ai chối cãi được” là sự khẳng định một cách hùng hồn chân lí thời đại: Độc lập, Tự do,
Hạnh phúc, Bình đẳng của con người, của các dân tộc cần được tôn trọng và bảo vệ.
+Người không chỉ nói với nhân dân Việt Nam ta, mà còn tuyên bố với thế giới. Trong
hoàn cảnh lịch sử thời bấy giờ, thế chiến II vừa kết thúc, Người trích dẫn như vậy là để
tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của dư luận tiến bộ thế giới, nhất là các nước trong phe Đồng

minh, đồng thời ngăn chặn âm mưu tái chiếm Đông Dương làm thuộc địa của Đờ Gôn và
bọn thực dân Pháp hiếu chiến, đầy tham vọng.
Đáp án:
Người đã nâng vấn đề Nhân quyền, Dân quyền lên tầm vóc cao hơn, rộng hơn. Từ
quyền bình đẳng, tự do, hạnh phúc của cá nhân lên thành vấn đề quyền của các dân tộc:
“suy rộng ra Tất cả dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có
quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do ”.
Đây là một suy luận rất quan trọng đối với các nước thuộc địa vì trước khi nói đến
quyền con người thì phải đòi lấy quyền của dân tộc.
3
Câu hỏi:
Anh/ chị hãy trình cho biết trong tác phẩm “Tuyên ngôn Độc lập” . Bác đã trích
dẫn những bản Tuyên ngôn nào? Hãy giải thích vì sao Bác lại trích dẫn những bản
Tuyên ngôn ấy?
Câu hỏi:
Bố cục của tác phẩm “Tuyên ngôn Độc lập” – Hồ Chí Minh ?
Câu hỏi:

Anh/ chị hãy cho biết ý nghĩa của câu: “Suy rộng ra câu ấy có nghĩa là: tất cả các
dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền
sung sướng và quyền tự do” – trích “Tuyên ngôn Độc lập” của Hồ Chí Minh
Đáp án:
- Năm tội ác về chính trị:
1- tước đoạt tự do dân chủ,
2- luật pháp dã man, chia để trị,
3- chém giết những chiến sĩ yêu nước của ta,
4- ràng buộc dư luận và thi hành chính sách ngu dân,
5- đầu độc bằng rượu cồn, thuốc phiện.

Đáp án:

- Năm tội ác lớn về kinh tế:
1- bóc lột tước đoạt,
2- độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng,
3- sưu thuế nặng nề, vô lý đã bần cùng nhân dân ta,
4- đè nén khống chế các nhà tư sản ta, bóc lột tàn nhẫn công nhân ta,
5- gây ra thảm họa làm cho hơn 2 triệu đồng bào ta bị chết đói năm 1945.
Đáp án:
Pháp kể công "khai hóa", bản Tuyên ngôn kể tội áp bức bóc lột tàn bạo và tội diệt
chủng của chúng. Tội nặng nhất là gây ra nạn đói năm giết chết hơn hai triệu đồng bào ta
từ Bắc Kì đến Quảng Trị.
Pháp kể công "bảo hộ", bản tuyên ngôn kể tội hai lần chúng dâng Đông Dương cho
Nhật.
Pháp nhân danh Đồng minh đã chiến thắng phát xít, giành lại Đông Dương, bản
Tuyên ngôn kể tội chúng phản bội đồng minh: đầu hàng Nhật, khủng bố Cách mạng Việt
Nam đánh Nhật cứu nước. Bản Tuyên ngôn nói rõ: Dân tộc Việt Nam giành lại độc lập từ
tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp.
Đáp án:
- Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một
nước tự do, độc lập (từ khát vọng đến sự thật lịch sử hiển nhiên)
4
Câu hỏi:
Anh/ chị hãy cho biết trong tác phẩm “Tuyên ngôn Độc lập”, Bác đã vạch trần
những tội ác về chính trị của thực dân Pháp đối với dân ta?
Câu hỏi:
Anh/ chị hãy cho biết trong tác phẩm “Tuyên ngôn Độc lập”, Bác đã vạch trần
những tội ác về kinh tế của thực dân Pháp đối với dân ta?
Câu hỏi:
Anh/ chị hãy cho biết trong tác phẩm “Tuyên ngôn Độc lập”, Bác đã vạch trần
những tội ác của thực dân Pháp đối với dân ta như thế nào?
Câu hỏi:

Anh/ chị hãy cho biết trong phần cuối tác phẩm “Tuyên ngôn Độc lập”, Bác đã
tuyên bố với thế giới như thế nào?
- Nhân dân đã quyết tâm giữ vững quyền tự do, độc lập ấy (được làm nên bằng
xương máu và lòng yêu nước).
Đáp án:
- Giá trị lịch sử: Là văn kiện lịch sử vô giá, là lời tuyên bố của một dân tộc đã đứng
lên xóa bỏ chế độ thực dân phong kiến, thực dân, thoát khỏi thân phận thuộc địa để hòa
nhập vào cộng đồng nhân loại với tư cách là một nước độc lập, dân chủ, tự do.
- Giá trị văn học:
+ Giá trị tư tưởng: “Tuyên ngôn Độc lập” là tác phẩm kết tinh lí tưởng đấu tranh
giải phóng dân tộc và tinh thần yêu chuộng độc lập, tự do. Tác phẩm có tính nhân văn sâu
sắc.
+ Giá trị nghệ thuật: Là áng văn chính luận mẫu mực với lập luận chặt chẽ, lí lẽ
đanh thép, những bằng chứng xác thực, giàu sức thuyết phục, ngôn ngữ gợi cảm, hùng hồn.
Đáp án:
- Đối tượng: Nhân dân Việt Nam; Các nước trên thế giới; Bọn đế quốc, thực dân
đang lăm le xâm lược nước ta : Mỹ, Pháp.
- Mục đích: Tuyên bố nền độc lập của nước Việt Nam và sự ra đời của nước Việt
Nam mới; Ngăn chặn âm mưu xâm lược của bọn đế quốc, thực dân.
Đáp án:
- Văn phong của Hồ Chí Minh trong bản Tuyên ngôn Độc lập rất đanh thép, hùng hồn,
đầy sức thuyết phục
- Cách lập luận chặt chẽ: dẫn trích mở đÇu bằng lời văn trong hai bản Tuyên ngôn Độc
lập của Mĩ (1776) và Tuyên ngôn Nhân quyền Dân quyền của Pháp (1791 ) làm cơ sở pháp
lí. Dùng thủ pháp tranh luận theo lối: “gậy ông đập lưng ông”, lập luận theo lôgíc tam
đoạn luận.
- Bằng chứng hùng hồn, không ai chối cãi được. (trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị văn
hoá )
- Ngòi bút chính luận vừa hùng biện vừa trữ tình, dẫn chứng tiêu biểu, xác đáng, cách
dùng từ, đặt câu hết sức linh hoạt.

5
Câu hỏi:
Anh/ chị hãy cho biết giá trị của tác phẩm “Tuyên ngôn Độc lập” của Hồ Chí Minh?
Câu hỏi:
Anh/ chị hãy cho biết đối tượng hướng tới và mục đích của tác phẩm “Tuyên ngôn
Độc lập” của Hồ Chí Minh?
Câu hỏi:
Anh/ chị hãy cho biết phong cách nghệ thuật trong văn chính luận của Hồ Chí
Minh thể hiện qua “Tuyên ngôn Độc lập’?
- Tuyờn ngụn c lp va cú giỏ tr lch s ln lao, va xng ỏng l tỏc phm vn
chng ớch thc, cú th xem l ỏng thiờn c hựng vn ca thi i mi.

ỏp ỏn:
V ni dung:
- L mt ỏng vn yờu nc ln ca thi i. Tỏc phm ó khng nh mnh m
quyn c lp t do ca con ngi, nờu cao truyn thng yờu nc, truyn thng nhõn o
ca dõn tc VN. T tng y phù hợp với t tởng, tuyên ngôn của các cuộc cách mạng lớn
trên thế giới (Pháp và Mĩ) đồng thời góp phần làm phong phú thêm lý tởng của cách mạng
thế giới.
- Bác đã đứng trên quyền lợi của dân tộc, của đất nớc để tiếp cận chân lý của thời đại
qua lập luận suy rộng ra Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào
cũng có quyền sống, quyền sung sớng và quyền tự do.
- Bác đã đứng trên quyền lợi của dân tộc để kể tội thực dân Pháp.
V ngh thut:
- Nó thuyt ngi c bng nhng lí l anh thép, nhng chng c không ai chi cãi
c.
- Kt cu tác phm mch lc, cht ch lp lun sc bén, giàu sc thuyt phc, tác
ng mnh vào tình cm ngi c
- Văn phong giản dị, ngắn gọn, súc tích, giàu hình ảnh
- Giọng văn hùng hồn, đanh thép có sự kết hợp giữa lý trí và tình cảm

ỏp ỏn:
- H Chớ Minh ó khộo lộo v kiờn quyt khng nh quyn c lp, t do, quyn bt
kh xõm phm bng vic trớch dn 2 bn Tuyờn ngụn ca Phỏp v M.
- Chng minh vic xoỏ b mi s dớnh lu ca Phỏp n Vit Nam l hon ton ỳng
n.
- Tuyờn b c lp, t do trc ton th gii.
ỏp ỏn:
- Giỏ tr lch s.
6
Cõu hi:
Vỡ sao xem bn Tuyờn ngụn c lp ca H Chớ Minh l ỏng vn chớnh lun
mu mc?
Cõu hi:
Trong Tuyờn ngụn c lp ca H Chớ Minh ó to giỏ tr phỏp lớ vng chc nh
th no?
Cõu hi:
Nờu giỏ tr lch s v giỏ tr ngh thut ca Tuyờn ngụn c lp ca H Chớ Minh?
Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện có giá trị lịch sử to lớn: là lời tuyên bố xóa bỏ
chế độ thực dân, phong kiến; là sự khẳng định quyền tự chủ và vị thế bình đẳng của Việt
Nam với thế giới; là mốc son lịch sử mở ra kỉ nguyên độc lập tự do trên đất nước ta.
- Giá trị nghệ thuật:
Tuyên ngôn độc lập là áng văn chính luận đặc sắc, mẫu mực; lập luận chặt chẽ, lí lẽ
sắc bén, bằng chứng xác thực, ngôn ngữ hùng hồn, giọng văn đầy cảm xúc…
ĐỀ NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
Đề 1:
Anh (chị) hãy phân tích bản Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh
Gợi ý làm bài
a.Mở bài:
Giới thiệu khái quất về tác giả Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh.
Giới thiệu về tác phẩm Tuyên ngôn Độc lập: là một trong những áng “thiên cổ hùng

văn” của dân tộc; đã mở ra kỉ nguyên mới cho dân tộc ta – kỉ nguyên Độc lập, tự do, nhân
dân làm chủ đất nước và quyết định vận mệnh của mình.
b.Thân bài:
b.1.Nguyên lí chung của bản Tuyên ngôn
Cơ sở pháp lý và chính nghĩa của bản Tuyên ngôn Độc lập là khẳng định quyền bình
đẳng, quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của con người. Đó là
những quyền không ai có thể xâm phạm được; người ta sinh ra phải luôn luôn được tự do
và bình đẳng về quyền lợi.
- Hồ Chủ Tịch đã trích dẫn 2 câu nổi tiếng trong 2 bản Tuyên ngôn của Mĩ và Pháp:
+ trước hết là để khẳng định Nhân quyền và Dân quyền là tư tưởng lớn, cao đẹp của
thời đại
+ sau nữa là “suy rộng ra…” nhằm nêu cao một lý tưởng về quyền bình đẳng, quyền
sống, quyền sung sướng và quyền tự do của các dân tộc trên thế giới
->đề cao những giá trị hiển nhiên của tư tưởng nhân loại và tạo tiền đề cho lập luận sẽ
nêu ở mệnh đề tiếp theo.
-Ý nghĩa của việc trích dẫn:
+ Có tính chiến thuật sắc bén, khéo léo, khóa miệng đối phương.
+ Khẳng định tư thế đầy tự hào của dân tộc (đặt 3 cuộc CM, 3 nền Độc lập, 3 bản
Tuyên ngôn ngang hàng nhau.)
->cách vận dụng khéo léo và đầy sáng tạo.
Cách mở đầu tác phẩm rất đặc sắc: từ công nhận Nhân quyền và Dân quyền là tư tưởng
thời đại đi đến khẳng định Độc lập, Tự do, Hạnh phúc là khát vọng của các dân tộc.
Câu văn “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được” là sự khẳng định một cách hùng
hồn chân lí thời đại: Độc lập, Tự do, Hạnh phúc, Bình đẳng của con người, của các dân tộc
cần được tôn trọng và bảo vệ.
->đây là đóng góp riêng của tác giả và của dân tộc ta vào một trong những tư tưởng
cao đẹp vừa mang tầm vóc quốc tế, vừa mang ý nghĩa nhân đạo cao cả.
Cách mở bài rất hay, hùng hồn trang nghiêm. Người không chỉ nói với nhân dân Việt
Nam ta, mà còn tuyên bố với thế giới. Trong hoàn cảnh lịch sử thời bấy giờ, thế chiến 2
vừa kết thúc, Người trích dẫn như vậy là để tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của dư luận tiến

7
bộ thế giới, nhất là các nước trong phe Đồng minh, đồng thời ngăn chặn âm mưu tái chiếm
Đông Dương làm thuộc địa của Đờ Gôn và bọn thực dân Pháp hiếu chiến, đầy tham vọng.
* Tóm lại: Với lời lẽ sắc bén, đanh thép, Người đã xác lập cơ sở pháp lý của bản TN,
nêu cao chính nghĩa của ta. Đặt ra vấn đề cốt yếu là độc lập dân tộc.
b.2.Cơ sở thực tiến của bản Tuyên ngôn
* Bản cáo trạng tội ác thực dân Pháp.
- Vạch trần bộ mặt xảo quyệt của thực dân Pháp “lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác
ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta”.
- Năm tội ác về chính trị: 1- tước đoạt tự do dân chủ, 2- luật pháp dã man, chia để trị,
3- chém giết những chiến sĩ yêu nước của ta, 4- ràng buộc dư luận và thi hành chính sách
ngu dân, 5- đầu độc bằng rượu cồn, thuốc phiện.
- Năm tội ác lớn về kinh tế: 1- bóc lột tước đoạt, 2- độc quyền in giấy bạc, xuất cảng
và nhập cảng, 3- sưu thuế nặng nề, vô lý đã bần cùng nhân dân ta, 4- đè nén khống chế các
nhà tư sản ta, bóc lột tàn nhẫn công nhân ta, 5- gây ra thảm họa làm cho hơn 2 triệu đồng
bào ta bị chết đói năm 1945.
->Sử dụng phương pháp liệt kê; câu văn ngắn dài, động từ mạnh, điệp từ, điệp cú
pháp, ngôn ngữ sắc sảo; hình ảnh gợi cảm, giọng văn hùng hồn.
- Trong vòng 5 năm (1940 – 1945) thực dân Pháp đã hèn hạ và nhục nhã “bán nước ta
2 lần cho Nhật”.
- Thẳng tay khủng bố Việt Minh; “thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm
giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng”.
=> Lời kết án đầy phẩn nộ, sôi sục căm thù:
+ Vạch trần thái độ nhục nhã của Pháp (quì gối, đầu hàng, bỏ chạy )
+ Đanh thép tố cáo tội ác tày trời (từ đó, từ đó )
Đó là lời khai tử dứt khoát cái sứ mệnh bịp bợm của thực dân Pháp đối với nước ta
ngót gần một thế kỉ.
* Quá trình đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta
- Từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật chứ không phải thuộc
địa của Pháp nữa. Nhân dân ta đã nổi dậy giành chính quyền khi Nhật hàng Đồng minh.

- Nhân dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân và chế độ quân chủ mà lập nên chế
độ Dân chủ Cộng hoà. Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị.
- Chế độ thực dân Pháp trên đất nước ta vĩnh viễn chấm dứt và xoá bỏ :(thoát ly
hẳn, xóa bỏ hết ) mọi đặc quyền, đặc lợi của chóng đối với đất nước ta.
- Trên nguyên tắc dân tộc bình đẳng mà tin rằng các nước Đồng minh “quyết không
thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam”:
“Một dân tộc đã gan góc được tự do. Dân tộc đó phải được độc lập”
=> Phần thứ hai là những bằng chứng lịch sử không ai chối cãi được, đó là cơ sở thực tế
và lịch sử của bản Tuyên ngôn độc lập được Hồ Chí Minh lập luận một cách chặt chẽ với
những lí lẽ đanh thép, hùng hồn: đó là lối biện luận chặt chẽ, lô gíc, từ ngữ sắc sảo, cấu
trúc đặc biệt, nhịp điệu dồn dập, lời văn biền ngẫu, cách hành văn theo hệ thống móc
xích
3.Lời tuyên bố với thế giới
- Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước
tự do, độc lập (từ khát vọng đến sự thật lịch sử hiển nhiên)
- Nhân dân đã quyết tâm giữ vững quyền tự do, độc lập ấy (được làm nên bằng xương
máu và lòng yêu nước).
8
=> Tuyên ngôn độc lập là một văn kiện lịch sử vô giá của dân tộc ta, thể hiện phong
cách chính luận của Hồ Chí Minh.
c.Kết bài:
- Bản Tuyên ngôn Độc lập là sự kế thừa và phát triển những áng “thiên cổ hùng văn”
trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc.
- Làm nên những giá trị to lớn là cái tài, cái tâm của người cầm bút
- Bản Tuyên ngôn Độc lập là bản anh hùng ca của thời đại Hồ Chí Minh.
Đề 2: Mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hoà Hồ
Chí Minh viết :
“Hỡi đồng bào cả nước ,
“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền
không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do

và quyền mưu cầu hạnh phúc” .
Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra,
câu ấy có nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng
có quyền sống , quyền sung sướng và quyền tự do .
Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói :
“Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và
bình đẳng về quyền lợi” .
Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được” .
(Trích Tuyên ngôn Độc lập – Hồ Chí Minh )
Anh ( chị ) hãy phân tích giá trị nổi bật của đoạn văn trên ở hai phương diện nội
dung tư tưởng và nghệ thuật lập luận .
Gợi ý làm bài.
a. Mở bài :
- Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường Ba Đình Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh
thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đọc bản Tuyên ngôn Độc
lập trước hàng chục vạn đồng bào .
- Bản Tuyên ngôn Độc lập vừa là văn kiện có ý nghĩa lịch sử to lớn vừa là một áng
văn chính luận ngắn gọn, súc tích, lập luận chặt chẽ đanh thép, lời lẽ hùng hồn đầy sức
thuyết phục.
b. Thân bài :
- Phân tích giá trị nội dung tư tưởng
Đoạn văn khẳng định quyền bình đẳng, quyền sống, quyền sung sướng và quyền
tự do của dân tộc ta cũng như các dân tộc khác trên thế giới .
Hồ Chí Minh đồng tình với những tư tưởng tiến bộ của các bản Tuyên ngôn Độc
lập của Mỹ và Pháp.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt ngang hàng ba cuộc cách mạng, ba bản Tuyên ngôn
của nước Việt Nam, Mỹ, Pháp nhằm quốc tế hoá vấn đề độc lập của dân tộc ta.
Đoạn văn muốn gợi lại niềm tự hào cao cả của lịch sử dân tộc Việt Nam về các
triều đại: Đinh, Lý, Trần, cùng sánh vai với các triều đại Hán, Đường, Tống, Nguyên đã
được Nguyễn Trãi ghi trong Bình Ngô Đại Cáo.

9
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm chuẩn bị phê phán bản chất phản động của thực dân
Pháp đi ngược lại tư tưởng tiến bộ của tổ tiên họ đã 80 năm qua chúng đến cướp nước ta,
áp bức đồng bào ta.
- Phân tích giá trị nghệ thuật
Hồ Chí Minh đã dẫn chứng chính xác, từ ý tưởng lời văn hai bản Tuyên ngôn Độc
lập của Mỹ và Pháp để tạo cơ sở pháp lý, dùng lời nói của đối phương để so sánh, phản bác
âm mưu và hành động trái với công lý của chúng, dùng nghệ thuật “gậy ông đập lưng
ông”.
Đoạn văn dùng lý lẽ đanh thép, tư duy lý luận sáng tạo “suy rộng ra” , đưa vấn đề
độc lập của dân tộc Việt Nam thành vấn đề tiêu biểu cho phong trào giải phóng dân tộc
trên thế giới .
Lập luận của đoạn văn chặt chẽ bằng cách sử dụng nhiều câu văn khẳng định để
phủ định những nội dung phản động của hai đế quốc Mỹ và Pháp .
Lời văn mạnh mẽ, trong sáng dễ hiểu làm tăng thêm sức thuyết phục bằng lý lẽ của đoạn
văn .
c. Kết bài :
Tóm lại, qua phân tích đoạn văn ta thấy được giá trị nổi bật về nội dung tư tưởng và
nghệ thuật lập luận khéo léo của Hồ Chí Minh. Có thể nói đây là một trong những đoạn
văn chính luận mẫu mực, ngắn gọn súc tích, vừa có giá trị lịch sử vừa có giá trị văn chương
bền vững .
Với những gi trị đó, Tuyên ngôn Độc lập đã khẳng định một chân lý lớn về dân tộc
“Không có gì quý hơn độc lập tự do” với cảm hứng trang trọng, giọng văn tha thiết hùng
tráng.
Đề 3: Bình luận về sức thuyết phục của bản Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh.
Gợi ý làm bài
a.Mở bài :
Giới thiệu giá trị to lớn của Tuyên ngôn Độc lập, trong đó nhấn mạnh đến sức thuyết
phục của bản Tuyên ngôn…
b.Thân bài :

- Bình luận về đối tượng mà bản Tuyên ngôn hướng tới không chỉ đồng bào ta, mà
còn có nhân dân thế giới, phe Đồng minh và cả kẻ thù của dân tộc là thực dân Pháp…
- Bình luận vì sao Hồ Chí Minh trích dẫn hai bản Tuyên ngôn nổi tiếng của Pháp và
Mỹ. Và từ tuyên ngôn về quyền con người trong Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ, Người “suy
rộng ra” quyền của các dân tộc.
- Bình luận về những dẫn chứng Hồ Chí Minh đưa ra để vạch trần tội ác của Pháp với
nhân dân ta, sự phản bội phe Đồng minh của Pháp…
- Bình luận về những lí lẽ Người đưa ra để bác bỏ âm mưu quay trở lại xâm lược Việt
Nam của thực dân Pháp…
- Hồ Chí Minh nhắc nhiều đến quyền, đến sự thật chính là để khẳng định quyền của
Việt Nam, sự thật về cuộc cách mạng giành chính quyền của Việt Nam…
- Lập luận chặt chẽ, dẫn chứng xác đáng, lý lẽ sắc sảo, Người đã thuyết phục toàn thế
giới về quyền chính đáng được hưởng tự do, độc lập của Việt Nam…
c.Kết bài:
10
Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện lịch sử vô giá. Một trong những giá trị to lớn của
nó chính là sức thuyết phục của một áng văn chính luận được coi như “thiên cổ hùng văn”.

Đề 4
“Tuyên ngôn Độc lập” của Hồ Chí Minh là một văn kiện chính trị có giá trị lịch sử
lớn lao, trang trọng tuyên bố về nền độc lập của dân tộc Việt Nam trước nhân dân trong
nước vµ thế giới. “Tuyên ngôn Độc lập” là tác phẩm có giá trị pháp lí, giá trị nhân bản và
giá trị nghệ thuật cao.
Anh/chị hãy phân tích để làm rõ các giá trị đó của bản “Tuyên ngôn Độc lập”
Gợi ý làm bài
a.Mở bài:
-Văn chính luận của chủ tịch Hồ Chí Minh được viết với mục đích đấu tranh chính
trị hoặc thể hiện những nhiệm vụ các mạng qua từng chặng đường lịch sử.
-“Tuyên ngôn Độc lập” là một văn kiện lớn được Hồ Chí Minh viết ra để tuyên bố
trước công luận trong và ngoài nước về quyền độc lập dân tộc Việt Nam.

-Tác phẩm có giá trị nhiều mặt (nêu nhận định ở trên).
b.Thân bài:
b.1/Giá trị lịch sử to lớn:
- Bản “Tuyên ngôn Độc lập” ra đời trong thời điểm lịch sử trọng đại: cách mạng
thành công, nhưng tình hình đang “ngàn cân treo sợi tóc”.
- Những lời trích dẫn mở đầu không chỉ đặt cơ sở pháp lí cho bản “Tuyên ngôn Độc
lập” mà còn thể hiện dụng ý chiến lược, chiến thuật của Bác.
- “Tuyên ngôn Độc lập” khái quát những sự thật lịch sử, tố cáo thực dân Pháp, vạch
rõ bộ mặt tàn ác, xảo quyệt của Pháp ở mọi lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội
- “Tuyên ngôn Độc lập” nhấn mạnh các sự kiện lịch sử: mùa thu năm 1940 và ngày
9/3/1945 để dẫn đến kết luận: “trong 5 năm Pháp bán nước ta 2 lần cho N”.
- “Tuyên ngôn Độc lập” khẳng định một sự thật lịch sử: gần 1 thế kỉ, nhân dân Việt
Nam không ngừng đấu tranh giành độc lập.
- “Tuyên ngôn Độc lập” còn chỉ ra một cục diện chính trị mới: đánh đổ phong kiến,
thực dân, Phát xít, lập nên chế độ cộng hoà. Lời kết bản “Tuyên ngôn Độc lập” khép lại
thời kỳ tăm tối, mở ra 1 kỷ nguyên mới.
b.2/ Giá trị pháp lí vững chắc:
- Hồ Chí Minh đã khéo léo và kiên quyết khẳng định quyền độc lập, tự do, quyền
bất khả xâm phạm bằng việc trích dẫn 2 bản Tuyên ngôn của Pháp –Mỹ.
- Chứng minh việc xoá bỏ mọi sự dính líu của Pháp đến Việt Nam là hoàn toàn
đúng đắn.
- Tuyên bố độc lập, tự do trước toàn thế giới.
b.3/ Giá trị nhân bản sâu sắc:
- Trên cơ sở quyền con người, Hồ Chí Minh xây dựng quyền dân tộc. Điều đó có ý
nghĩa nhân bản đối với toàn nhân loại đặc biệt nhân dân các nước thuộc địa bị áp bức, bị
tước đoạt quyên con người, quyền dân tộc.
- Phê phán đanh thép tội ác của thực dân Pháp.
- Ngợi ca sự anh hùng, bất khuất của nhân dân Việt Nam.
- Khẳng định quyền độc lập, tự do và tinh thần quyết tâm bảo vệ chân lí, lẽ phải.
11

b.4/ Giá trị nghệ thuật cao: TN là áng văn chính luận mẫu mực, hiện đại:
+ Kết cấu hợp lý, bố cục rõ ràng.
+ Hệ thống lập luận chặt chẽ với những luận điểm, luận cứ, luận chứng hùng
hồn, chính xác, lôgic.
+ Lời văn sắc sảo, đanh thép, hùng hồn.
+ Ngôn từ chính xác, trong sáng, giàu tính khái quát, tính khoa học và trí tuệ. Các
thủ pháp tu từ được sử dụng tạo hiệu quả diễn đạt cao.
c. Kết bài:
- TN là sự kế thừa và phát triển những áng “thiên cổ hùng văn” trong lịch sử
chống ngoại xâm của dân tộc.
- Làm nên những giá trị to lớn là cái tài, cái tâm của người cầm bút
- TN là bản anh hùng ca của thời đại Hồ Chí Minh.
Đề 5: “Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chí Minh được đánh giá là một văn kiện lịch sử vô
giá, một áng văn chính luận mẫu mực.
Anh/ chị hãy phân tích bản Tuyên ngôn để làm sáng tỏ nhận định trên.
Gợi ý làm bài
a.Mở bài
- Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh, dân tộc ta
thừa cơ vùng lên giành lại chính quyền. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường Ba
Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản “Tuyên ngôn độc lập” khai sinh ra nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa.
- Bản “Tuyên ngôn độc lập” không chỉ là một văn kiện có giá trị lịch sử mà còn là một
áng văn chính luận hào hùng, mẫu mực; một áng văn tràn đầy tâm huyết, khát vọng cháy
bỏng về độc lập, tự do của Người và của cả dân tộc. Nó có sức mạnh thuyết phục to lớn,
làm rung động hàng triệu trái tim yêu nước Việt Nam.
b.Thân bài
b.1/“Tuyên ngôn độc lập” là một văn kiện lịch sử vô giá:
- Trong bối cảnh lịch sử của nước ta lúc bấy giờ, bản “Tuyên ngôn độc lập” ra đời mang
một ý nghĩa lịch sử to lớn, nó là một văn kiện trọng đại, là mốc son chói lọi trong lịch sử
dân tộc. Nó đánh dấu sự chấm dứt, sự sụp đổ hoàn toàn của chế độ thực dân, phong kiến,

khép lại một thời kì lịch sử tăm tối, nô lệ hàng trăm năm dưới ách đô hộ của thực dân Pháp,
mở ra một kỉ nguyên mới - độc lập tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc, ấm no cho nhân dân.
- Mặt khác, với nội dung khái quát sâu sắc, trang trọng cùng tầm vóc của tư tưởng, tầm
văn hóa lớn, bản Tuyên ngôn ra đời đã khẳng định được vị thế bình đẳng, lập trường chính
nghĩa của dân tộc Việt Nam trên trường quốc tế, vừa mang ý nghĩa nhân đạo của nhân loại
trong thế kỉ XX; đồng thời, đập tan luận điệu xảo trá của bọn thực dân đế quốc, vạch trần
dã tâm quay trở lại xâm lược cùng bản chất tàn bạo của chúng trước dư luận quốc tế.
b.2/“Tuyên ngôn độc lập” là một áng văn chính luận mẫu mực, đặc sắc:
- “Tuyên ngôn độc lập” không chỉ là một văn kiện có giá trị lịch sử to lớn mà còn là một
văn bản chính luận đặc sắc, nối tiếp tự nhiên các “áng hùng văn” trong quá khứ và có sự
kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất chính luận với chất văn chương.
- Sức mạnh và tính thuyết phục của tác phẩm được thể hiện chủ yếu ở hệ thống lập luận
chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, bằng chứng xác thực và văn phong sắc sảo, giàu tính thẩm mĩ của
Hồ Chí Minh. Điều đó trước hết được thể hiện ở:
12
*Cách nêu vấn đề và khẳng định chân lí khách quan của vấn đề:
Người nhằm nêu lên vấn đề Nhân quyền, Dân quyền - quyền của con người và quyền
của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Người dẫn:
“Tất cả mọi người sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai
có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền
mưu cầu hạnh phúc.” (Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của Mĩ).
“Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình
đẳng về quyền lợi” (Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp, 1791).
Từ những “lời bất hủ” của hai nước, Người “suy rộng ra” câu ấy có ý nghĩa là: Tất cả
mọi người sinh ra trên trái đất đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền
không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do,
quyền bình đẳng và quyền mưu cầu hạnh phúc. “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi
được”.
Hai bản Tuyên ngôn của Mĩ và Pháp - thế kỉ XVIII – là di sản tư tưởng của nhân loại,
đánh dấu buổi bình minh của cuộc cách mạng tư sản, lật đổ chế độ phong kiến và có công

lao nêu lên thành nguyên tắc pháp lí, quyền cơ bản của con người thì không có lí gì những
quyền ấy chỉ thuộc về hai nước.
Vì vậy, Người đã lấy hai bản Tuyên ngôn nổi tiếng của lịch sử nhân loại để mở đầu cho
bản Tuyên ngôn của nước Việt Nam, để khẳng định quyền của người Việt Nam, dân tộc
Việt Nam trước nhân dân thế giới. “Suy rộng ra”, đó là chân lí khách quan, là lẽ phải,
không ai chối cãi được.’
Cách viện dẫn của Người mang lại ý nghĩa rất sâu sắc: vừa khôn khéo, vừa kiên quyết,
vừa sáng tạo.
- Khôn khéo, kiên quyết ở chỗ: lấy “gậy ông đập lưng ông”. Người vừa tỏ ra tôn trọng
những danh ngôn bất hủ của họ, vừa nhắc nhở họ đừng phản bội lại tổ tiên mình, đừng làm
vấy bùn lên lá cờ “tự do, bác ái” mà họ đã giương cao trong các cuộc cách mạng vĩ đại
của dân tộc họ.
- Khôn khéo và sáng tạo ở chỗ: Người viện dẫn hai bản Tuyên ngôn nổi tiếng thế giới
có nghĩa là Người đã đặt ba cuộc cách mạng giải phóng dân tộc của ba nước ngang hàng
nhau; ba nền độc lập và ba bản Tuyên ngôn ngang hàng nhau.
Đó là mạch ngầm văn bản khiến cho bất cứ ai tinh tế trong nhận định phải giật mình vì
sự thâm thúy, sâu sắc của Người. Trong bản Tuyên ngôn “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn
Trãi khi xưa, người anh hùng đã khẳng định chủ quyền độc lập của mỗi quốc gia: Đinh, Lí,
Trần cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương, thật rạch ròi, rõ
ràng và đối xứng. Đó là chân lí bất khả xâm phạm của mỗi nước.
Trong bản Tuyên ngôn của Hồ Chí Minh cũng vậy, Người đặt quyền của ba nước là
ngang hàng nhau là thể hiện niềm tự tôn, tự hào dân tộc, khẳng định vị thế của một đất
nước đầy kiêu hãnh trước thế giới.
Đó là hành động cách mạng táo bạo, tài tình trong xử thế chính trị của Người.
-Sáng tạo ở chỗ: Người đã nâng vấn đề Nhân quyền, Dân quyền lên tầm vóc cao hơn,
rộng hơn. Từ quyền bình đẳng, tự do, hạnh phúc của cá nhân lên thành vấn đề quyền của
các dân tộc: “suy rộng ra Tất cả dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào
cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do ”
-Cụm từ “Suy rộng ra” thật thông minh, chặt chẽ, đanh thép như: “Một phát súng lệnh
khởi đầu cho sự tan rã của hệ thống thuộc địa thế giới” (Nguyễn Đăng Mạnh), là đòn đánh

13
phủ đầu vào âm mưu tái chiếm của Pháp và sự can thiệp của các thế lực vào nền độc lập, tự
chủ của Việt Nam; đồng thời, tranh thủ sự đồng tình rộng rãi của dư luận quốc tế.
Nhà xuất bản Sự thật năm 1967 cũng viết: “Cống hiến lớn nhất của Hồ Chí Minh là
ở chỗ, Người đã nhìn quyền lợi của con người thành quyền lợi của dân tộc. Như vậy, tất cả
mọi dân tộc đề có quyền quyết định lấy vận mệnh của riêng mình.”
->Cách viện dẫn bằng những danh ngôn bất hủ, nổi tiếng của hai cường quốc, đó là hành
động táo bạo, là tài nghệ sáng suốt của Hồ Chí Minh. Người đã đưa ra những lí lẽ ngắn
gọn, sắc sảo, “lạt mềm buộc chặt”; những bằng chứng; những chân lí không ai chối cãi
được.
Tất cả kết tinh từ tầm tư tưởng, văn hóa lớn của Hồ Chí Minh nói riêng và của nhiều thế
kỉ đấu tranh vì độc lập, tự do, vì Nhân quyền, Dân quyền của dân tộc và của cả nhân loại
nói chung. Có thể nói đoạn mở đầu bản Tuyên ngôn tiêu biểu cho vẻ đẹp văn chương chính
luận mẫu mực.
*Cách tác giả luận tội kẻ thù:
- Người lên án, tố cáo tội ác của thực dân Pháp đối với Đông Dương.
+ Người vạch trần bản chất lợi dụng lá cờ “tự do, bác ái” để cướp nước ta, áp bức đồng
bào ta của bọn chúng. Đó là hành động phi nghĩa, phi nhân đạo.
+ Người tố cáo những hành động:
.Bóc lột về kinh tế: chúng bóc lột nhân ta đến tận xương tủy, cướp không ruộng đất,
hầm mỏ, nguyên liệu; độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng; đặt ra trăm thứ thuế
khóa nặng nề cho nông dân; không cho các nhà tư sản của ta ngóc đầu lên; công nhân bị
bóc lột tàn nhẫn
.Đàn áp về chính trị: chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút quyền tự do nào,
chúng thi hành những luật pháp dã man, chia để trị, chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta
trong những bể máu
.Nô dịch về văn hóa: chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học, thi hành chính sách
ngu dân, dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm suy nhược giống nòi của ta
.Tội ác chúng gây ra ở mọi mặt đời sống, ở mọi đối tượng nông dân, công nhân, thợ
thủ công. Kết quả là bọn chúng đã gây ra nạn đói khủng khiếp “từ Quảng Trị đến Bắc Kì,

hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói”
+ Người nhắc đi nhắc lại bằng các điệp ngữ và các động từ mạnh chỉ hành động tội ác
khác nhau của chúng: chúng thi hành , chúng lập ra , chúng chém giết , chúng tắm ,
chúng ràng buộc , chúng dùng , chúng độc quyền , chúng đặt ra , chúng không cho ,
chúng bóc lột
+ Kết hợp với giọng điệu đanh thép liên hoàn, trùng điệp làm nổi bật lên tội ác chồng
chất của giặc.
-Người vạch trần bản chất hèn nhát, xảo trá, vô liêm xỉ của thực dân Pháp. Thực dân
Pháp đã từng huênh hoang “bảo hộ”, “khai hóa văn minh” cho nước ta, Người chứng
minh:
+ Mùa thu năm 1940: Nhật xâm lược nước ta thì Pháp quỳ gối đầu hàng, Pháp đã bỏ
chạy, đầu hàng, kết quả là trong 5 năm, Pháp bán nước ta hai lần cho Nhật. Vậy là “bảo
hộ” hay hèn nhát? Là có công hay có tội?
+ Người khẳng định: chúng ta lấy lại nước từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp. Sự
thật là từ năm 1940 ta là thuộc địa của Nhật chứ không phải của Pháp. Nhật đầu hàng Đồng
minh, ta nổi dậy giành chính quyền: “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị”. Ta
đánh đổ chúng dựng lên chế độ Dân chủ Cộng hòa.
14
Người láy đi láy lại hai chữ “sự thật ”, “sự thật là ”, “sự thật là ”, vì không có lí lẽ
nào có sức thuyết phục cao hơn là lí lẽ của sự thật. Sự thật còn là những bằng chứng xác
đáng không ai có thể bác bỏ được.
- Bản Tuyên ngôn ca ngợi cuộc đấu tranh chính nghĩa và tinh thần nhân đạo của
dân tộc ta. Người đưa ra những mặt đối lập làm nổi bật bản chất giữa ta và địch:
+ Khi phát xít Nhật vào Đông Dương thì Pháp đầu hàng, trong khi đó thì ta tiến hành
kháng Nhật.
+ Trong khi thực dân Pháp đầu hàng Nhật và không hợp tác với ta mà ngược lại còn
khủng bố, giết chết số đông tù chính trị của ta ở Yên Bái và Cao Bằng.
+ Khi người Pháp thua chạy, ta đã “giúp, cứu, bảo vệ” tính mạng và tài sản cho họ. Như
vậy thì ai đã bảo hộ cho ai? Những hành động ấy chẳng phải đã chứng minh bản chất vô
nhân đạo, hèn nhát của chúng và tinh thần chính nghĩa, thái độ khoan hồng, nhân đạo của

ta?
=> Với cách lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, bằng chứng xác thực, Người đã vạch rõ tội
ác bản chất tàn bạo, hèn nhát, huênh hoang của giặc; đồng thời ca ngợi tinh thần chính
nghĩa, anh dũng, nhân đạo của nhân dân ta.
*Tuyên ngôn của bản Tuyên ngôn:
- Người đã sử dụng câu văn chỉ có chín chữ mà tóm lược đầy đủ các sự kiện: “Pháp
chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị”. Người đã dựng lại cả một giai đoạn lịch sử đầy
biến động và vô cùng oanh liệt của dân tộc, đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một
trăm năm, đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỉ mà lập nên chế độ Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa như một tất yếu lịch sử. Đó cũng chính là lời tuyên bố khai sinh ra nước Việt
Nam độc lập.
- Tất cả các sự kiện trên là “sự thật” nên Người đã ràng buộc các nước Đồng minh phải
công nhận nền độc lập của Việt Nam: “Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công
nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Tê-hê-răng và Cựu Kim Sơn”,
“quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân tộc Việt Nam”. Đó là cách nói
“lạt mềm buộc chặt”, đánh vào lòng tự trọng của họ và buộc họ phảo ủng hộ nền độc lập
của Việt Nam.
- Người còn tuyên bố thoát li, xóa bỏ mọi hiệp ước, mọi đặc quyền của Pháp trên đất
nước Việt Nam.
- Người khẳng định quyền độc lập của một dân tộc đã phải đổi bằng xương máu của
mình “Dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!”
- Người còn cảnh báo đối với kẻ thù: để bảo vệ thành quả thì dân tộc Việt Nam quyết
đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để bảo về, giữ vững quyền tự do,
độc lập ấy.
=> Lời kết như sấm truyền cảnh báo cho kẻ thù từ ngàn xưa vọng về tinh thần bất khả
xâm phạm của dân tộc: “Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm - Nhữ đẳng hành khang thủ bại
hư”
*“Tuyên ngôn độc lập” là áng văn sắc sảo mà giàu tính thẩm mĩ, có sức thuyết phục, lay
động hàng triệu trái tim yêu nước Việt Nam:
- Khi luận tội kẻ thù, Người thể hiện thái độ căm phẫn “chúng lập ra chúng thẳng

tay ”
- Người xót thương khi nói đến nỗi đau của dân tộc “Chúng chém giết tắm các cuộc
khởi nghĩa của ta trong những bể máu nòi giống ta suy nhược dân ta nghèo, thiếu thốn,
nước ta xơ xác, tiêu điều ”.
15
- Tình cảm tha thiết, mãnh liệt; thái độ kiên quyết khi Người nói đến quyền được
hưởng độc lập, tự do của dân tộc cũng như quyết tâm đến cùng bảo vệ nền độc lập ấy: “Sự
thật là sự thật là chúng tôi tin rằng quyết không thể một dân tộc một dân tộc, dân
tộc đó ”. Điệp ngữ được nhấn đi nhấn lại toát lên khát vọng, ý chí mãnh liệt của Người
cũng như của cả dân tộc Việt Nam.
- Giọng điệu khi nồng nàn, tha thiết, khi xót xa thương cảm, khi hừng hực căm thù, khi
hào sảng khích lệ. Tất cả tạo nên “áng hùng văn” của thời đại mới - thời đại Hồ Chí Minh.
c.Kết bài
“Tuyên ngôn độc lập” là một kiệt tác bằng cả tài hoa, tâm huyết của Hồ Chí Minh,
Người đã thể hiện khí phách của cả dân tộc trước trường quốc tế. Tác phẩm được đánh giá
là văn bản chính luận mẫu mực bởi kết cấu chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, hùng hồn, thấu tình
đạt lí. Câu văn gọn gàng, trong sáng một cách kì lạ, có sức lay động hàng triệu trái tim
người Việt Nam và cả thế giới. “Tuyên ngôn độc lập” rất xứng đáng là áng văn muôn đời.
NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU, NGÔI SAO SÁNG
TRONG VĂN NGHỆ CỦA DÂN TỘC
Phạm Văn Đồng
Biên soạn: Phan Đặng Trung – ĐT: 0984997966 mail:
A. KIẾN THỨC CƠ BẢN
I. Tác giả:
- Phạm Văn Đồng (1906-2000), quê: Đức Tân, Mộ Đức, Quảng Ngãi.
- Qúa trình tham gia cách mạng: Tham gia cách mạng từ năm 1925. Năm 1929 bị bắt đày
ra Côn Đảo. Năm 1936 ra tù tiếp tục hoạt động.
- Cách mạng tháng Tám thành công, ông tham gia Chính phủ Lâm thời và giữ nhiều chức
vụ quan trọng.
- Là nhà hoạt động cách mạng xuất sắc, nhà văn hóa lớn được tặng Huân chương Sao vàng

và nhiều phần thưởng cao quý khác.
- Bên cạnh sự nghiệp cách mạng, ông còn có những tác phẩm quan trọng về văn học nghệ
thuật: Tổ quốc ta, nhân dân ta và người nghệ sĩ,…
II. Tác phẩm:
1. Xuất xứ:
Bài viết đăng trên tạp chí văn học số 7-1963, nhân kỉ niệm ngày mất của Nguyễn Đình
Chiểu (3/7/1888).
2. Hoàn cảnh sáng tác:
- Năm 1963, tình hình ở miền Nam có nhiều biến động lớn. Phong trào thi đua Ấp Bắc giết
giặc lập công được phát động ở khắp nơi.
- Mĩ-Ngụy thay đổi chiến thuật, chiến lược chuyển từ chiến trnh đặc biệt sang chiến tranh
cục bộ.
- Những nhà sư tự thiêu: Hòa thượng Thích Quảng Đức (Sài-Gòn 11/6/1963), Tu sĩ Thích
Thanh Huệ (Huế 13/8/1963) .
3. Mục đích:
- Nhân kỉ niệm 75 năm ngày mất của Nguyễn Đình Chiểu.
- Bài viết có ý nghĩa định hướng và điều chỉnh cách nhìn và chiếm lĩnh kiến thức về tác gia
Nguyễn Đình Chiểu.
16
- Nhằm khẳng định bản lĩnh và lòng yêu nước của Nguyễn Đình Chiều. Đánh giá đúng vẻ
đẹp trong thơ văn của ông, đồng thời khôi phục giá trị đích thực cho tác phẩm “Lục Vân
Tiên”.
- Thể hiện mối quan hệ giữa văn học và đời sống, giữa người nghệ sĩ chân chính và hiện
thực cuộc đời.
- Đặc biệt nhằm khơi dậy tinh thần yêu nước thương nòi của dân tộc.
4. Bố cục: Chia làm ba đoạn
- Đoạn 1: từ đầu đến “một trăm năm”. Cách nêu vấn đề: Ngôi sao Nguyễn Đình Chiểu một
nhà thơ lớn của nước ta, đáng lẽ phải sáng tỏ hơn nữa trong bầu trời văn nghệ của dân tộc,
nhất là trong lúc này.
- Đoạn 2: tiếp đến “còn vì văn hay của Lục Vân Tiên”. Nguyễn Đình Chiểu một nhà thơ

yêu nước. Thơ Nguyễn Đình Chiểu là tấm gương phản chiếu phong trào kháng Pháp oanh
liệt, bền bỉ của nhân dân Nam bộ. “Lục Vân Tiên là tác phẩm có giá trị của NĐC.
- Đoạn 3: phần còn lại. Nêu cao địa vị tác dụng của văn học nghệ thuật. Nêu cao sứ mạng
lịch sử của người chiến sĩ yêu nước trên mặt trận văn hóa tư tưởng.
B. CÂU HỎI LÍ THUYẾT:
Câu 1: Vì sao Phạm Văn Đồng lại ca ngợi Nguyễn Đình Chiểu là ngôi sao sáng trong
văn nghệ của dân tộc?
Gợi ý trả lời:
Phạm Văn Đồng ca ngợi Nguyễn Đình Chiểu là ngôi sao sáng trong văn nghệ của
dân tộc là vì:
- Nguyễn Đình Chiểu có khí tiết của một người chiến sĩ yêu nước, trọn đời phấn đấu hi
sinh vì nghĩa lớn.
- Ở Nguyễn Đình Chiểu, quan niệm về văn chương hoàn toàn thống nhất với quan niệm về
lẽ làm người, “văn tức là người”, văn thơ phải là vũ khí chiến đấu của người chiến sĩ.
“Ngòi bút, nghĩa là tâm hồn trung nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu.”
- Ánh sáng rực rỡ nhất làm nên “ngôi sao” Nguyễn Đình Chiểu là thơ văn yêu nước:
+ “Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu làm sống lại trong tâm trí của chúng ta
phong trào kháng Pháp oanh liệt và bền bỉ của nhân dân Nam Bộ.
+ Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu “ngoài những giá trị văn nghệ, còn quý giá ở
chỗ nó soi sáng tâm hồn trong sáng và cao quý lạ thường của tác giả, và ghi lại lịch sử
của một thời khổ nhục, nhưng vĩ đại”.
+ Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu còn cổ vũ mạnh mẽ cho cuộc chiến đấu
chống thực dân, bằng cách làm cho lòng người rung động trước những hình tượng sinh
động và não nùng của những con người suốt đời tận trung với nước, trọn nghĩa với dân, giữ
vẹn khí phách hiên ngang cho dù chiến bại.
+ Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu đã đóng góp cho dân tộc những hình tượng
nghệ thuật độc đáo, riêng biệt, chưa từng thấy ở các tác phẩm trước đó: người chiến sĩ xuất
thân từ nông dân, “xưa kia chỉ quen cày cuốc, bỗng chốc trở thành người anh hùng cứu
nước”.
+ Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu còn có những đóa hoa, những hòn ngọc rất

đẹp như bài Xúc cảnh.
- Làm nên vị trí “ngôi sao sáng” của Nguyễn Đình Chiểu còn có ánh sáng tỏa ra từ truyện
Lục Vân Tiên - “tác phẩm lớn nhất của Nguyễn Đình Chiểu và rất được phổ biến trong
dân gian”.
+ Lục Vân Tiên là “một bản trường ca ca ngợi chính nghĩa, những đạo đức đáng quý trọng
ở đời, ca ngợi những người trung nghĩa!”
17
+ Lục Vân Tiên mang những nội dung tư tưởng, đạo đức gần gũi với quần chúng nhân dân,
cả thời xưa lẫn thời nay, và do đó, được họ cảm xúc và thích thú. Truyện Lục Vân Tiên lại
có một lối kể chuyện, nói chuyện nôm na, dễ hiểu, dễ nhớ, có thể truyền bá trong dân gian.
Câu 2: Trình bày ngắn gọn hoàn cảnh ra đời, giá trị tư tưởng và nghệ thuật chủ yếu
của bài Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc.
Gợi ý trả lời:
1. Nêu hoàn cảnh ra đời:
Bài viết đăng trên Tạp chí văn học số 7- 1963, nhân kỉ niệm 75 năm ngày mất của Nguyễn
Đình Chiểu.( 3/7/1888), khi phong trào đấu tranh chống Mĩ – Diệm đang lên cao ở miền
Nam, nhất là cuộc Đồng Khởi ở Bến tre, nơi Nguyễn Đình Chiểu đã trút hơi thở cuối cùng.
2. Trình bày ngắn gọn giá trị tư tưởng và nghệ thuật chủ yếu:
a) Về tư tưởng:
- Phạm Văn Đồng đã thể hiện một cách nhìn nhận, đánh giá đúng đắn, sâu sắc và mới mẻ
về con người và thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu: trong bầu trời văn nghệ của dân tộc Việt
Nam, Nguyễn Đình Chiểu là “một vì sao có ánh sáng khác thường, càng nhìn thì càng thấy
sáng”:
- Qua cảm nhận của tác giả, Nguyễn Đình Chiểu có khí tiết của một người chiến sĩ yêu
nước, trọn đời phấn đấu hi sinh vì nghĩa lớn.
- Ở Nguyễn Đình Chiểu, quan niệm về văn chương hoàn toàn thống nhất với quan niệm về
lẽ làm người, “văn tức là người”, văn thơ phải là vũ khí chiến đấu của con người chiến sĩ.
“Ngòi bút, nghĩa là tâm hồn trung nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu.”
- Phạm Văn Đồng nhận thấy thơ văn yêu nước là đóng góp vô giá của Nguyễn Đình Chiểu:
+ “Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu làm sống lại trong tâm trí của chúng ta

phong trào kháng Pháp oanh liệt và bền bỉ của nhân dân Nam Bộ.
+ Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu “ngoài những giá trị văn nghệ, còn quý giá ở
chỗ nó soi sáng tâm hồn trong sáng và cao quý lạ thường của tác giả, và ghi lại lịch sử của
một thời khổ nhục, nhưng vĩ đại”.
+ Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu còn cổ vũ mạnh mẽ cho cuộc chiến đấu
chống thực dân, bằng cách làm cho lòng người rung động trước những hình tượng sinh
động và não nùng của những con người suốt đời tận trung với nước, trọn nghĩa với dân, giữ
vẹn khí phách hiên ngang cho dù chiến bại.
+ Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu đã đóng góp cho dân tộc những hình tượng
nghệ thuật độc đáo, riêng biệt, chưa từng thấy ở các tác phẩm trước đó: người chiến sĩ xuất
thân từ nông dân, “xưa kia chỉ quen cày cuốc, bỗng chốc trở thành người anh hùng cứu
nước”.
+ Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu còn có những đóa hoa, những hòn ngọc rất
đẹp như bài Xúc cảnh.
- Phạm Văn Đồng đã xem xét giá trị của truyện Lục Vân Tiên trong mối liên hệ mật thiết
với đời sống của nhân dân và nhận thấy Lục Vân Tiên là “tác phẩm lớn nhất của Nguyễn
Đình Chiểu và rất được phổ biến dân gian”.
+ Phạm Văn Đồng cho thấy, Lục Vân Tiên là “một bản trường ca ca ngợi chính nghĩa,
những đạo đức đáng quý trọng ở đời, ca ngợi những người trung nghĩa!”
+ Lục Vân Tiên mang những nội dung tư tưởng, đạo đức gần gũi với quần chúng nhân dân,
cả thời xưa lẫn thời nay, và do đó, được họ cảm xúc và thích thú. Truyện Lục Vân Tiên lại
có một lối kể chuyện, nói chuyện nôm na, dễ hiểu, dễ nhớ, có thể truyền bá trong dân gian.
- Giá trị của bài văn còn ở chỗ, viết về Nguyễn Đình Chiểu, Phạm Văn Đồng đã thể hiện
nhiệt huyết của một con người gắn bó với Tổ quốc, nhân dân, biết kết hợp hài hoà giữa sự
18
trân trọng những giá trị văn hoá truyền thống với những vấn đề trọng đại đang đặt ra cho
thời đại của mình.
b) Về nghệ thuật:
- Sức thuyết phục, lôi cuốn của bài văn được làm nên từ kết cấu thống nhất và chặt chẽ, các
lí lẽ xác đáng, lập luận chặt chẽ, ngôn từ trong sáng, giàu hình ảnh và cảm xúc.

- Tác giả luôn giữ được sự trung thực và công bằng trong khi nghị luận khi thừa nhận
những sự thật như: “Những giá trị luân lí mà Nguyễn Đình Chiểu ca ngợi, ở thời đại chúng
ta, theo quan điểm của chúng ta thì có phần đã lỗi thời”, hay “văn chương của Lục Vân
Tiên” có những chỗ “lời văn không hay lắm”.
Câu 3: Anh/chị hãy trình bày vắn tắt những luận điểm chủ yếu trong bài Nguyễn
Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc của Phạm Văn Đồng. Anh/chị
có nhận xét gì về trật tự sắp xếp của những luận điểm ấy?
Gợi ý trả lời:
- Trình bày vắn tắt những luận điểm chủ yếu: “Cuộc đời và thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu
(Nguyễn Đình Chiểu) là của một chiến sĩ hi sinh phấn đấu vì một nghĩa lớn”; “Thơ văn yêu
nước của Nguyễn Đình Chiểu làm sống lại trong tâm trí của chúng ta phong trào kháng Pháp
oanh liệt và bền bĩ…”; “Lục Vân Tiên, một tác phẩm lớn nhất của Nguyễn Đình Chiểu, rất
phổ biến trong dân gian…”.
- Nhận xét về trật tự sắp xếp: Không theo trật tự thời gian, nhằm làm nổi bật mục đích nghị
luận.
C. DÀN BÀI THAM KHẢO
1. Đặt vấn đề: Luận đề “Ngôi sao Nguyễn Đình Chiểu, một nhà thơ lớn của nước ta,
đãng lẽ phải sáng tỏ hơn nữa trong bầu trời văn nghệ dân tộc, nhất là lúc này”:
Cách nêu vấn đề mới mẻ, độc đáo, hấp dẫn. Với 4 câu ngắn, dài và vừa nêu 4 nhiệm
vụ khác nhau:
- C1: “Ngôi sao…lúc nay” giới thiệu khái quát tầm vóc của Nguyễn Đình Chiểu - nhà thơ
lớn của nước ta bằng hình ảnh ẩn dụ “ngôi sao” và nghịch lý. Thể hiện sự nhiệt tình ngợi
ca, gợi tò mò.
- C2:Tiếp tục phát triển và làm rõ hình ảnh biểu tượng ngôi sao Nguyễn Đình Chiểu “Vì
sao…càng thấy sáng” cái nhìn khoa học có ý nghĩa như một định hướng tìm hiểu văn
chương Nguyễn Đình Chiểu.
- C3: khẳng định và nhấn mạnh ý câu 2 “Văn chương … đống thóc mẩy vang” đó là văn
chương đích thực.
- C4: “Có người … một trăm năm” nêu ra hiện tượng hiểu biết, đánh giá chua đầy đủ và
sâu sắc về con người và thơ văn Nguyễn Đình Chiểu để có cái nhìn toàn diện, chính xác về

thơ văn của ông trong mối quan hệ với thời đại và lịch sử qua hình ảnh so sánh biểu tượng
xác đáng “khúc ca hùng tráng của phong trào yêu nưóc chống bọn xâm lược Pháp”.
Cách đặt vấn đề phong phú, sâu sắc vừa thể hiện phương pháp khoa học của Phạm
Văn Đồng; Trân trọng, đúng đắn, toàn diện và mơi mẻ.
2. Giải quyết vấn đề:
a. Luận điểm 1: “Nguyễn Đình Chiểu là một nhà thơ yêu nước mà tác phẩm là những
trang bất hủ ca ngợi cuộc chiến đấu oanh liệt của nhân dân ta chống bọn xâm lược
phương tây ngay buổi đầu chúng đặt chân lên đất nước ta” Đánh giá về cuộc đời và quan
niệm sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu:
* Cuộc đời: Tác giả chọn lọc, làm rõ những đặc điểm riêng nổi bật của ông: ảnh hưởng
của quê hương, gia đình và hoàn cảnh lịch sử, bị mù giữa tuổi thanh niên, công danh dang
dở
19
Câu “Kiến nghĩa bất vi vô dõng dã” chỉ phẩm chất tính cách của Lục Vân Tiên –
nhưng cũng là phẩm chất con người Nguyễn Đình Chiểu.
Nhận định “Đời sống… tôi tớ của chúng” thật xác đáng và sâu sắc.
“Sự đời … tấm gương” thể hiện rõ hoàn cảnh, tâm trạng và khí tiết, tâm nguyện của
nhà thơ mù - nhà nho yêu nước Nguyễn Đình Chiểu.
Đánh giá về cuộc đời nhưng tác giả không viết lại tiểu sử Nguyễn Đình Chiểu mà
nhấn mạnh khí tiết của “một chí sĩ yêu nước” trọn đời phấn đấu hi sinh vì nghĩa lớn.
* Quan niệm sáng tác văn chương của Nguyễn Đình Chiểu: hoàn toàn thống nhất với quan
niệm về lẽ làm người “Văn tức là người”. Với ông viết văn làm thơ là một thiên chức. Văn
thơ là vũ khí, là thuyền chở đạo lí; chiến đấu với bọn gian tà; ca ngợi chính nghĩa , đạo
đức quí trọng ở đời “Chở bao….bút chẳng tà”.
Luận điểm có tính khái quát, luận cứ cụ thể, tiêu biểu , có sức cảm hóa.
b. Luận điểm 2: “Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu làm sống lại trong tâm trí
của chúng ta phong trào kháng Pháp oanh liệt và bền bỉ của nhân dân Nam Bộ từ năm
1860 về sau suốt 20 năm trời” Phân tích, đánh giá giá trị thơ văn yêu nước của Nguyễn
Đình Chiểu:
- Tái hiện lại một thời đau thương và khổ nhục nhưng vô cùng đau thương và anh dũng

của dân tộc: dẫn chứng bằng thực tế lịch sử: triều đình nhà Nguyễn bạc nhược từng bước
đầu hàng, nhân dân Nam Bộ vùng lên làm cho kẻ thù khiếp sợ và khâm phục.
- Thơ văn tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh của thời đại.
- Phần lớn thơ văn của Đồ Chiểu là những bài văn tế ca ngợi những người anh hùng tận
trung với nước và than khoc những người nghĩa sĩ dã trọn nghĩa vì dân, đặc biệt là người
nông dân.
- Đặc biệt ca ngợi đóng góp của Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc bằng những lời lẽ đích đáng:
diễn tả thật sinh động, não nùng cảm tình của dân tộc đối với người nghĩa quân.
- So sánh Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc với Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi:
- Cáo của Nguyễn Trãi là khúc ca khải hoàn, ngợi ca những chiến công oanh liệt chưa
từng thấy, biểu dương những chiến thắng làm rạng danh non sông.
- Bài văn tế là khúc ca những người anh hùng thất thế nhưng vẫn hiên ngang “Sống đánh
giặc thác cũng đánh giặc ”.
- Ca ngợi nghệ thuật thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu Có những đóa hoa,
những hòn ngọc rất đẹp “Xúc cảnh” bên cạnh những nhà văn, nhà thơ yêu nước khác.
- Luận điểm sâu sắc, đúng đắn là do tác giả đặt mối quan hệ giừa thơ văn yêu nước
của Đồ Chiểu và thời đại, hoàn cảnh lịch sử; văn viết rõ ràng, lí lẽ và dẫn chứng chọn lọc,
cách lập luận chặt chẽ . Với tình cảm nồng hậu của Phạm Văn Đồng: cái nhìn thấu triệt và
toàn diện về tư tưởng, nghệ thuật thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu.
c. Luận điểm 3: “Lục Vân Tiên là tác phẩm lớn nhất của Nguyễn Đình Chiểu rất phổ biến
trong dân gian nhất là miền Nam” đánh giá trị của tác phẩm Lục Vân Tiên:
- Với thơ văn và cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu: tác phẩm lớn nhất, dài nhất, thể hiện một
phần đời, hiện thực và khát vọng, ước mơ của Nguyễn Đình Chiểu.
- Với nhân dân miền Nam rất được yêu mến, truyền tụng.
- Vì: Về nội dung:
+ Bản trường ca ca ngợi chính nghĩa, những đạo đức quí trọng ở đời, ca ngợi những người
trung nghĩa.
+ Nhân vật chính trong tác phẩm là những người đáng yêu, đáng kính trọng nghĩa, khinh
tài, nhân hậu, thủy chung, cương trực, dám phấn đấu vì nghĩa.
20

+ Họ đấu tranh chống mọi giả rối, bất công và họ đã chiến thắng.
- Về nghệ thuật: Nghệ thuật kể nôm na “một truyện kể” “chuyện nói” dễ hiểu, dẽ nhớ…
Bác bỏ những ý kiến chưa hiểu đúng về Lục Vân Tiên do hoàn cảnh thực tế.
Cách lập luận theo kiểu đòn bẩy, cách đánh giá khách quan, tác giả khảng định Lục
Vân Tiên - giá trị của công trình nghệ thuật: nội dung và nghệ thuật cho nên nó trở nên
thân thuộc và được yêu mến.
3. Kết thúc vấn đề: Luận điểm: “Đời sống và sự nghiệp Nguyễn Đình Chiểu là một
tấm gương sáng, nêu cao địa vị và tác dụng của văn học nghệ thuật, sứ mạng người
nghệ sĩ trên mặt trận văn hóa và tư tưởng” thực chất là rút ra bài học sâu sắc:
Khảng định vị trí, vai trò của Nguyễn Đình Chiểu và thơ văn của ông.
Mối quan hệ giữa văn học với đời sống.
Vai trò của người nghệ sĩ trên mặt trận văn hóa tư tưởng. Lời khảng định đầy trân trọng,
ngắn gọn, xúc tích.
Đề 1: Phân tích cách tổ chức luận điểm của văn bản “Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao
sáng trong bầu trời văn nghệ của dân tộc”.
Gợi ý trả lời:
- Vai trò của cách tổ chức luận điểm trong một bài nghị luận văn học.
+ Luận điểm là gì? Các ý lớn trong một văn bản.
+ Hệ thống luận điểm: Tập hợp các ý lớn trong bài văn, được triển khai theo một trình tự
logic, có mối quan hệ gắn bó qua lại chặt chẽ.
+ Cách tổ chức hệ thống luận điểm là một trong những yếu tố đặc biệt quan trọng quyết
định sự thành bại của văn bản nghị luận.
- Giới thiệu tác phẩm -> khẳng định: đây là một văn bản nghị luận văn học thành công.
Yếu tố đầu tiên tạo nên thành công âý là cách tổ chức hệ thống luận điểm chặt chẽ.
- Phân tích:
Phân tích theo 3 ý trong phần kiến thức cơ bản:
+ Hệ thống luận điểm
+ Sự thống nhất giữa các luận điểm.
+ Kết cấu độc đáo.
- Nhận xét, đánh giá:

+ Cách tổ chức luận điểm linh loạt mà chặt chẽ, tùy thuộc vào mục đích nghị luận.
+ Thành công trong việc tổ chức luận điểm tạo nên tính logic, mạch lạc và thành công cho
văn bản “Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong bầu trời văn nghệ của dân tộc”.
Đề 2: Để làm đề văn nghị luận: Chứng minh nhận định “Trên trời có những vì sao
có ánh sáng khác thường, nhưng con mắt của chúng ta phải chăm chú nhìn thì mới
thấy, và càng nhìn thì càng thấy sáng. Văn thơ của Nguyễn Đình Chiểu cũng vậy”,
theo anh (chị) cần nêu và làm rõ những ý chính nào?
Gợi ý trả lời:
Cần nêu và làm rõ 2 ý chính
- Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu là một ngôi sao “có ánh sáng khác thường”, phải chăm chú
nhìn mới thấy”
+ Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu có đôi chỗ thô mộc, “sơ sót về văn chương”.
+ Về nội dung tư tưởng cũng như về hình thức nghệ thuật còn nhiều điểm xa lạ, khó hiểu
với bạn đọc ngày nay “Tất nhiên những giá trị luân lí mà Nguyễn Đình Chiểu ca ngợi, ở
21
thời đại chúng ta, theo quan điểm của chúng ta thì có phần đã lỗi thời”. Những lí do khiến
“ngôi sao” thơ văn Nguyễn Đình Chiểu trên bầu trời văn nghệ dân tộc không phải ai cũng
thấy, cũng cảm được “ánh sáng” của nó. Tuy nhiên thơ văn Nguyễn Đình Chiểu không
hoàn toàn xa lạ với giới trẻ.
- Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu là vì sao “càng nhìn càng thấy sáng”
+ Tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu đã phản ánh chân xác diện mạo cuộc sống và con
người trong một giai đoạn lịch sử đau thương của dân tộc: “ Thơ văn yêu nước của Nguyễn
Đình Chiểu làm sống lại trong tâm trí của chúng ta phong trào kháng Pháp oanh liệt và bền
bỉ của nhân dân Nam Bộ từ 1860 về sau, suốt hai mươi năm trời.”, “những tác phẩm đó
(…) quí giá ở chỗ nó (…) ghi lại lịch sử của một thời khổ nhục nhưng vĩ đại!”
+ Giúp bạn đọc nhận ra những chân lí của đời sống, yêu mến lễ phải và đấu tranh vì một lí
tưởng cao quí cho con người và cho đất nước: “Không phải ngẫu nhiên mà thơ văn yêu
nước của Nguyễn Dình Chiểu, một phần lớn là các bài văn tế, ca ngợi những người anh
hùng suốt đời tận trung với nước, và than khóc những người nghĩa sĩ đã trọn nghĩa với
dân”; “Nguyễn Đinh Chiểu cũng như nhiều bậc hiền triết ngày xưa ở Phương Đông hoặc

phương Tây, vẫn để lại cho đời sau những điều giáo huấn đáng trọng”; “các nhân vật của
Lục Vân Tiên (…) là những người đáng kính, đáng yêu, trọng nghĩa, khinh tài, trước sau
một lòng mặc dầu khổ cac, gian nguy, quyết phấn đấu vì nghĩa lớn.
+ Giá trị nghệ thuật cao.
Lưu ý: Ở mỗi một luận cứ, cần lấy dẫn chứng khái quát và phân tích một dẫn chứng cụ thể
để làm sáng tỏ.
TÂY TIẾN
Quang Dũng
Biên soạn: Đỗ Thị Diễm Xuân -ĐT: 0907339001 mail:
A. CÂU HỎI (2 điểm)
Câu 1 : Trình bày những nét chính về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Quang
Dũng.
Gợi ý trả lời :
Quang Dũng (1921-1988) tên khai sinh là Bùi Đình Diệm, quê ở làng Phượng Trì,
huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây.
Trước 1945, ông học ở Hà Nội. Sau Cách mạng tháng Tám, ông tham gia quân đội.
Từ sau 1954, ông là biên tập viên Nhà xuất bản Văn học.
Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài : làm thơ, viết văn, vẽ tranh, soạn nhạc. Nhưng
Quang Dũng được biết đến nhiều là một nhà thơ. Thơ Quang Dũng vừa hồn nhiên vừa tinh
tế, mang vẻ đẹp hào hoa, phóng khoáng, đậm chất lãng mạn.
22
Các tác phẩm chính: Mây đầu ô, Thơ văn Quang Dũng…
Năm 2001, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.
Câu 2 : Trình bày hoàn cảnh sáng tác bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng.
Gợi ý trả lời :
Tây Tiến là một đơn vị quân đội được thành lập đầu năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp
với bộ đội Lào, bảo vệ biên giới Việt –Lào, đồng thời đánh tiêu hao lực lượng quân đội
Pháp ở Thượng Lào cũng như ở miền tây Bắc Bộ Việt Nam.
Địa bàn đóng quân và hoạt động của đoàn quân Tây Tiến khá rộng nhưng chủ yếu là ở
biên giới Việt – Lào.

Chiến sĩ Tây Tiến phần đông là thanh niên, học sinh, trí thức Hà Nội, chiến đấu trong
những hoàn cảnh gian khổ thiếu thốn về vật chất, bệnh sốt rét hoành hành dữ dội. Tuy vậy,
họ sống rất lạc quan và chiến đấu rất dũng cảm.
Quang Dũng là đại đội trưởng ở đơn vị Tây Tiến từ đầu năm 1947 đến cuối năm 1948
rồi chuyển sang đơn vị khác. Rời đơn vị cũ chưa bao lâu, tại Phù Lưu Chanh, Quang Dũng
viết bài thơ Nhớ Tây Tiến. Khi in lại, tác giả đổi tên bài thơ là Tây Tiến.
Câu 3 : Cảm hứng chủ đạo của bài thơ Tây Tiến ?
Gợi ý trả lời :
- Cảm hứng lãng mạn:
+ Thể hiện ở cái tôi tràn đầy tình cảm, cảm xúc của nhà thơ. Nó phát huy cao độ trí
tưởng tượng, sử dụng nhiều biện pháp tu từ để tô đậm cái phi thường, tạo ấn tượng mạnh
mẽ về cái hùng vĩ, tuyệt mỹ của núi rừng miền tây.
+ Bức chân dung kiêu hùng của người lính Tây Tiến.
+ Sự hoang dại, bí ẩn của núi rừng và những hình ảnh ấm áp, thơ mộng.
+ Cảnh đêm liên hoan, cảnh sông nước như được phủ lên màn sương huyền thoại.
- Tinh thần bi tráng:
+ Nhà thơ không che giấu cái bi, nhưng bi mà không lụy. Cái bi được thể hiện bằng
một giọng điệu, âm hưởng, màu sắc tráng lệ, hào hùng để thành chất bi tráng.
+ Người lính Tây Tiến luôn hiên ngang, bất khuất mặc dù chịu mất mát, đau buồn. Cái
chết cũng được tác giả bao bọc trong không khí hoành tráng. Trên cái nền thiên nhiên hùng
vĩ tráng lệ, người lính xuất hiện với tầm vóc khác thường.
- Cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng luôn gắn bó với nhau, nâng đỡ nhau, cộng
hưởng với nhau để làm nên linh hồn, sắc diện của bài thơ, tạo nên vẻ đẹp độc đáo của tác
phẩm.
23
Câu 4 : Hãy cho biết những nét nghệ thuật đặc sắc trong bài thơ Tây Tiến của Quang
Dũng.
Gợi ý trả lời :
Dòng cảm xúc thiết tha, mãnh liệt.
Ngôn ngữ giàu chất tạo hình và giàu tính nhạc với âm điệu, nhịp thơ biến hóa linh

hoạt.
Sự kết hợp hài hòa giữa giữa bút pháp hiện thực và lãng mạn.
Từ Hán Việt gợi lên âm hưởng cổ kính ; những kết hợp từ độc đáo ; những từ ngữ in
đậm dấu ấn đời lính tạo nên tính chân thực, cụ thể, vừa sinh động vừa hấp dẫn.
Giọng thơ thay đổi theo dòng cảm xúc, khi tha thiết bồi hồi với nỗi nhớ vời vợi, khi
bừng lên với đêm hội núi rừng, khi lắng lại trong kỉ niệm bâng khuâng, khi trang nghiêm,
bi hùng gắn với hình ảnh những đồng đội một thời chiến đấu và hi sinh.
B. ĐỀ VĂN (5 điểm)
Đề 1 : Cảm nhận của anh, chị về đoạn thơ sau trong bài thơ Tây Tiến của Quang
Dũng :
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”.
Gợi ý làm bài
1. Khái quát
- Đôi nét về tác giả, tác phẩm.
- Giới thiệu về đoạn thơ : nỗi nhớ da diết của tác giả về miền Tây và đoàn quân Tây
Tiến.
2. Chi tiết
a. Cảm xúc xuyên suốt bài thơ: những hoài niệm nhớ thương về một thời “chinh
chiến cũ” với chiến trường miền Tây dữ dội và đồng đội thân yêu. Sau những bước chân
trường chinh, đoàn binh Tây Tiến đã được biên chế thành những đơn vị khác. Vì thế bài
thơ lúc đầu có tựa đề "Nhớ Tây Tiến", về sau Quang Dũng mới đổi thành "Tây Tiến".
b. Nội dung 14 dòng thơ
- “Tây Tiến” được bắt đầu bằng nỗi nhớ về một dòng sông với âm hưởng vô cùng
tha thiết, nhớ thương qua dòng thơ: "Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!"
24
- Vẻ đẹp của người lính gắn liền với những chặng đường hành quân của họ. Thiên
nhiên và con người đan xen hoà quyện lẫn nhau để tạo nên bức tranh kì vĩ, dữ dội và thơ
mộng trữ tình của thiên nhiên cùng với tầm vóc lớn lao của con người.

- Bức tranh thiên nhiên núi rừng miền Tây hùng vĩ, dữ dội, bí hiểm mà thơ mộng, trữ
tình như một cái nền làm nổi bật hình tượng người lính.
Bức tranh thiên nhiên vô cùng đặc sắc bởi nó được tạo nên từ một thứ ngôn ngữ rất
giàu tính tạo hình. Mô tả thiên nhiên mà ta như thấy những bước chân quả cảm của đoàn
binh Tây Tiến đang đạp bằng mọi gian khổ mà thiên nhiên thử thách, mọi hiểm trở mà
thiên nhiên đe doạ. Ta không chỉ thấy một “Sài Khao sương lấp”, một “Mường Lát hoa về
trong đêm hơi” mà còn thấy cả những chặng đường “khúc khuỷu”, “cheo leo”.
- Hình ảnh người lính trên chặng đường hành quân đầy gian nan, nguy hiểm; tuy vất
vả, hi sinh nhưng vẫn ngang tàng, trẻ trung, lãng mạn.
+ Đó là hình ảnh người lính hiện ra như một đoàn quân mỏi nhưng cũng lại là người
lính tâm hồn tràn đầy chất thơ nên giữa bao nhiêu mỏi mệt vẫn cảm nhận được vẻ đẹp của
núi rừng, vẻ đẹp của một "Mường Lát hoa về trong đêm hơi". Người lính như thả hồn
vào cõi mộng của đêm hơi giữa núi rừng, tận hưởng hương thơm của hoa rừng.
+ Đó còn là hình ảnh những người lính vượt muôn trùng dốc với bao nhiêu
vất vả bởi những "khúc khuỷu", "thăm thẳm", "heo hút" nhưng đột nhiên lại xuất hiện ở
tầm cao đỉnh trời trong tiếng cười lạc quan với chi tiết "súng ngửi trời".
+ Đó còn là hình ảnh về sự “dãi dầu” vất vả cùng với sự hy sinh lặng lẽ mà rất anh
hùng của những người lính Tây Tiến dọc theo chặng đường hành quân. Thương nhớ vô
cùng trong hai chữ "anh bạn" mà nhà thơ đã nói về đồng đội của mình, bởi đó là những
người bạn đã nằm lại dọc đường hành quân. Quang Dũng không biến nỗi đau ấy thành sự
bi luỵ khi nhà thơ viết về sự hy sinh của những người bạn như viết về giấc ngủ của họ.
"Anh bạn dãi dầu không bước nữa - Gục lên súng mũ bỏ quên đời". Tinh thần của họ lại
vút lên cùng sông núi. Họ coi cái chết nhẹ nhàng như đi vào giấc ngủ nhưng sông núi lại để
niềm nhớ thương và kiêu hãnh, hoá thân thành những ngọn thác để “Chiều chiều oai linh
gầm thét” vừa thể hiện nỗi đau xé lòng lại vừa thể hiện khúc tráng ca muôn đời của sông
núi hát về sự hy sinh của họ.
+ Bao nhiêu lãng mạn gửi vào những chữ "nhớ ôi Tây Tiến ", "Mai Châu mùa em ".
Đó là những chữ đã để lại trong tâm hồn người lính những vẻ đẹp của miền núi hoang sơ
kia, vẻ đẹp mang đậm tình người với "cơm lên khói" và "mùa em thơm nếp xôi". Lòng
người Tây Tiến nhớ mãi "mùa em", mùa những người lính Tây Tiến gặp em giữa khung

cảnh hạnh phúc của xóm làng. Hương nếp xôi cũng từ mùa em mà thơm mãi trong tâm hồn
người lính.
3. Đánh giá
25

×