Tải bản đầy đủ (.pdf) (145 trang)

Thực trạng công tác quản lý hoạt động giảng dạy của hiệu trưởng các trường trung học cơ sở, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.39 MB, 145 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH





Hồ Quang Minh










Chuyên ngành : Quản lý Giáo dục
Mã số : 60 14 05





LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC



NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGÔ ĐÌNH QUA







Thành phố Hồ Chí Minh - 2009


LỜI CÁM ƠN

Luận văn được thực hiện và hoàn thành với sự giúp đỡ của quý Thầy Cô giáo,
đồng nghiệp và bạn bè gần xa. Tác giả xin chân thành cám ơn Lãnh đạo và quý
Thầy Cô trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh; Lãnh đạo và Chuyên
viên phòng GD&ĐT huyện Trần Văn Thời; Lãnh đạo và quý Thầy Cô giáo các
trường THCS huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, đã tạo điều kiện giúp đỡ một
cách có hiệu quả bằng nhiều hì
nh thức khác nhau.
Đặc biệt tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến Tiến sĩ NGÔ
ĐÌNH QUA, người thầy đã trực tiếp và tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong
suốt quá trình thực hiện luận văn này.
Tác giả xin chân thành cám ơn tập thể lớp Cao học Quản lý giáo dục khóa 16
đã giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Tuy đã rất cố gắng nhưng chắc chắn luận văn không tránh khỏi thiếu sót, kín
h
mong tiếp tục nhận được sự giúp đỡ, góp ý của quý Thầy Cô và bạn bè, đồng nghiệp.

Huyện Trần Văn Thời, tháng 03 năm 2009
Tác giả

Hồ Quang Minh




DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CBQL : Cán bộ quản lý
CSVC : Cơ sở vật chất
ĐDDH : Đồ dùng dạy học
GD&ĐT : Giáo dục và đào tạo
GV : Giáo viên
HĐGD : Hoạt động giảng dạy
HS : Học sinh
HT : Hiệu trưởng
PPCT : Phân phối chương trình
PPDH : Phương pháp dạy học
QLGD : Quản lý giáo dục
SGK : Sách giáo khoa
THCS : Trung học cơ sở


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế giới đang bước sang một giai đoạn phát triển mới, trong đó giáo dục cùng
với khoa học - công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, có vai trò hết sức
quan trọng trong sự phát triển xã hội về mọi mặt.
Hiện nay các quốc gia trên thế giới đều rất coi trọng giáo dục và đã đặt ra
những yêu cầu mới, những chuẩn mới nhằm
nâng cao chất lượng công tác giáo dục
cho các trường học, các trung tâm giáo dục và đào tạo (GD&ĐT). Nước Mỹ đặt
trọng tâm vấn đề cải cách giáo dục vào các trường học, Nhật Bản coi giáo dục là

nền tảng của quốc gia, Trung Quốc coi giáo dục là một trong những trọng điểm
chiến lược của phát triển kinh tế, đặc biệt nhấn mạnh đến giáo dục cơ sở ở các
trường và giáo dục dạy nghề.
Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn coi trọng sự nghiệp G
D&ĐT,
chăm lo đến việc "trồng người" vì lợi ích trăm năm của đất nước. Văn kiện của Đại
hội Đảng lần thứ X đã xác định: "Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; đổi mới
cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý, nội dung, phương pháp dạy và
học; thực hiện
"chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa", chấn hưng nền giáo dục Việt Nam...”, “Đổi
mới tư duy giáo dục một cách nhất quán, từ mục tiêu, chương trình, nội dung,
phương pháp đến cơ cấu và hệ thống tổ chức, cơ chế quản lý để tạo được chuyển
biến cơ bản và toàn diện của nền giáo dục nước nhà, tiếp cận với trình độ giáo dục
của khu vực và thế giới; khắc phục cách đổi mới chắp vá, thiếu tầm
nhìn tổng thể,
thiếu kế hoạch đồng bộ. Phấn đấu xây dựng nền giáo dục hiện đại, của dân, do dân
và vì dân, bảo đảm công bằng về cơ hội học tập cho mọi người, tạo điều kiện để
toàn xã hội học tập và học tập s
uốt đời, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước" [15].
Trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học và công nghệ phát triển mạnh mẽ,
khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thông tin và tri thức trở thành
yếu tố đầu vào của hệ thống sản xuất, quản lý; là công cụ để sáng tạo ra của cải vật
chất và tinh thần, thì công tác giáo dục phải qua
n tâm đến việc truyền thụ những


kiến thức khoa học - công nghệ mới, đào tạo con người phát triển toàn diện, góp
phần vào việc 'trồng người" theo tinh thần của Bác Hồ:"Dù khó khăn đến đâu cũng
phải tiếp tục thi đua dạy tốt và học tốt. Trên nền tảng giáo dục chính trị và lãnh đạo

tư tưởng tốt, phải phấn đấu nâng cao chất lượng văn hoá và chuyên môn nhằm thiết
thực giải quyết các vấn đề d
o cách mạng nước ta đề ra, và trong một thời gian
không xa, đạt những đỉnh cao của khoa học và kĩ thuật [27].
Trong những năm qua, sự nghiệp giáo dục của nước ta đã đạt được những
thành tựu quan trọng. Năm 2003, Việt Nam đã công bố kế hoạch hành động quốc
gia về giáo dục cho mọi người. Quy mô giáo dục ngày càng được mở rộng và trình
độ dân trí đã được nâng lên rõ rệt. Đến nay, 90% dân số Việt Nam đã biết chữ. Tu
y
nhiên, ngành giáo dục vẫn còn một số yếu kém về chất lượng và hiệu quả giáo dục,
về trình độ quản lý nhà trường, cơ sở vật chất (CSVC) kỹ thuật và trang thiết bị nhà
trường, về chương trình, nội dung giảng dạy…. Bởi vậy, yêu cầu nâng cao chất
lượng giáo dục đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết, trong đó có việc nâng cao chất
lượng dạy và học cũng như năng lực quản lý nhà trường.
Giáo dục trung học cơ sở (THCS) là cấp cơ sở của giáo dục phổ thông, tạo tiền
đề cho phân luồng và liên thông giữa giáo dục phổ t
hông và giáo dục nghề nghiệp.
Điều 26, Luật Giáo dục quy định: "Giáo dục THCS được thực hiện trong bốn năm
học, từ lớp sáu đến lớp chín. HS vào học lớp sáu phải hoàn thành chương trình tiểu
học, có độ tuổi là mười một tuổi"[11]. Mục tiêu của giáo dục THCS là: "… nhằm
giúp HS cũng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ
thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ th
uật và hướng nghiệp để
tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao
động"[
11]. Mục tiêu giáo dục THCS được thể hiện trong nội dung chương trình,
phương pháp giáo dục và cả trong công tác quản lý của nhà trường THCS.
Cùng với hoạt động học tập của học sinh (HS), hoạt động giảng dạy (HĐGD)
của giáo viên (GV) diễn ra liên tục trong suốt năm học, là hoạt động trung tâm và
chi phối các hoạt động giáo dục khác trong nhà trường. Chính vì vậy quản lý

HĐGD cũng là nội dung quản lý chủ yếu của người cán bộ quản lý nhà trường. Làm



thế nào để quản lý tốt HĐGD luôn luôn là mối quan tâm, trăn trở của những người
làm công tác giáo dục, nhất là trong điều kiện đổi mới chương trình giáo dục phổ
thông hiện nay điều đó càng trở nên cấp thiết.
Công tác quản lý HĐGD của hiệu trưởng (HT) các trường THCS huyện Trần
Văn Thời trong thời gian qua đã có nhiều cố gắng và đi vào nề nếp, tuy nhiên vẫn
còn nhiều hạn chế, việc quản lý còn m
ang nặng tính hành chính, giấy tờ, ít đi vào
thực chất, thậm chí còn có trường chưa bao quát hết các nội dung quản lý HĐGD
theo tinh thần đổi mới, chất lượng dạy học giữa các trường có sự chênh lệch lớn…
Đặc biệt qua bốn năm thực hiện đổi mới nội dung, chương trình, SGK cấp THCS,
công tác này càng bộc lộ những thiếu sót cần phải nhanh chóng có biện pháp khắc phục.
Bản t
hân từng là GV giảng dạy nhiều năm ở cấp THCS và hiện đang làm công
tác quản lý chuyên môn tại Phòng GD&ĐT, tác giả mong muốn góp một phần nhỏ
bé của mình vào việc nâng cao chất lượng dạy học ở trường THCS nói chung và các
trường THCS huyện Trần Văn Thời nói riêng nên chọn đề tài "Thực trạng công tác
quản lý hoạt động giảng dạy của hiệu trưởng các trường trung học cơ sở, huyện
Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau".
2. Mục đích nghiên cứu
Xác định t
hực trạng công tác quản lý HĐGD của HT các trường THCS, huyện
Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao
hiệu quả công tác quản lý HĐGD ở trường THCS.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý của HT các trường THCS.

3.2. Đối tượng nghiên cứu
Lý luận và
thực trạng công tác quản lý HĐGD của HT các trường THCS
huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
4. Giả thuyết khoa học
Công tác quản lý HĐGD của HT các trường THCS, huyện Trần Văn Thời,
tỉnh Cà Mau có thể có một số ưu điểm trên các mặt như: quản lý việc soạn bài và


chuẩn bị tiết dạy của GV; quản lý giờ lên lớp của GV; quản lý việc kiểm tra, đánh
giá kết quả học tập của HS; quản lý hồ sơ chuyên môn của GV, quản lý công tác bồi
dưỡng GV… Đồng thời có thể còn những hạn chế như: quản lý việc thực hiện
chương trình, kế hoạch dạy học; quản lý dự giờ và phân tích sư phạm bài học; quản
lý việc thực hiện đổi mới phương phá
p dạy học (PPDH), quản lý việc hướng dẫn
HS học tập… Nguyên nhân của những hạn chế có thể do chưa có các biện pháp
quản lý HĐGD phù hợp.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích, hệ thống hoá cơ sở lý luận quản lý HĐGD của HT trường THCS.
- Khảo sát thực trạng quản lý HĐGD của HT các trường THCS, huyện Trần
Văn Thời, tỉnh Cà Mau, phâ
n tích nguyên nhân của thực trạng.
- Đề xuất một số biện pháp quản lý HĐGD của HT, nhằm nâng cao hiệu quả
công tác quản lý HĐGD ở các trường THCS, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
6. Phương pháp luận nghiên cứu
6.1. Cơ sở của phương pháp luận nghiên cứu
6.1.1. Quan điểm hệ thống - cấu trúc
Tiếp cận quan điểm hệ thống - cấu trúc, người nghiên cứu xem công tác quản
lý HĐGD của HT các trường THCS, huyện Trần văn Thời, tỉnh Cà Mau như là một
thành tố của hệ thống công tác quản lý nhà trường của HT trường THCS, đồng thời

người nghiên cứu phâ
n tích được các nội dung của công tác quản lý HĐGD và chỉ
ra được mối liên hệ chặt chẽ giữa quản lý HĐGD với các hoạt động quản lý khác
của HT.
Quan điểm này được vận dụng trong nhóm phương pháp nghiên cứu lý t
huyết,
nhóm nghiên cứu thực tiễn và trình bày kết quả nghiên cứu của đề tài.
6.1.2. Quan điểm lịch sử - lôgíc
Quan điểm này giúp người nghiên cứu xác định phạm vi không gian, thời gian
và điều kiện hoàn cảnh cụ thể, để điều tra thu thập số liệu chính xác, đúng với mục
đích nghiên cứu đề tài.



6.1.3. Quan điểm thực tiễn
Giúp người nghiên cứu bám sát thực tế công tác quản lý HĐGD của HT các
trường THCS, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau để tìm ra những mâu thuẫn, tồn
tại, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý HĐGD của HT phù hợp với thực tiễn các
trường THCS, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
6.1.4. Quan điểm khách quan
Giúp người nghiên cứu đánh giá khách quan thực trạng công tác quản l
ý
HĐGD của HT các trường THCS, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
6.2. Phương pháp nghiên cứu
6.2.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
+ Phân tích, tổng hợp lý thuyết: phương pháp này được sử dụng nhằm phân
tích những lý luận về dạy học và quản lý nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài.
+ Phân loại hệ thống hóa lý luận: phương pháp này được người nghiên cứu sử
dụng nhằm hệ thống hóa những vấn đề lý luận và những kết quả nghiên cứu của các
tác giả đi trước theo thứ tự thời gian.

6.2.
2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.2.1. Phương pháp điều tra
Sử dụng bảng hỏi để điều tra thực trạng công tác quản lý HĐGD của HT 19
trường THCS. Đối tượng điều tra là 40 người gồm HT, phó HT và một mẫu 400
người gồm tổ trưởng chuyên môn, GV được chọn ngẫu nhiên ở 19 trường trên.

6.2.2.2. Phương pháp phỏng vấn
Phương pháp này được sử dụng để phỏng vấn các HT, phó HT phụ trách
chuyên môn, tổ trưởng chuyên môn và các GV giỏi có nhiều kinh nghiệm về các
biện pháp quản lý HĐGD trường THCS.
6.2.2.3. Phương pháp quan sát
Phương pháp này được sử dụng hướng tới đối tượng quan sát là công tác quản
lý HĐGD của HT, nhằm thu thập chứng cứ hỗ trợ và kiểm chứng kết quả nghiê
n
cứu của những phương pháp nghiên cứu khác.



6.2.2.4. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động:
Nghiên cứu sản phẩm của công tác quản lý HĐGD trường THCS của HT: kết
quả học tập của HS.
6.2.2.5. Phương pháp chuyên gia
Tham khảo ý kiến của thầy hướng dẫn, của các CBQL có nhiều kinh nghiệm
trong quản lý HĐGD ở trường THCS và Phòng GD&ĐT để đề xuất các biện pháp
quản lý HĐGD phù hợp với thực tiễn và có tính khả thi nhất đối với công tác quản
lý HĐGD của HT các trường TH
CS huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
6.2.2.6. Phương pháp toán thống kê
Sử dụng phần mềm xử lý thống kê SPSS for Windows, phiên bản 13.0 để xử

lý kết quả điều tra viết với các thuật toán tương quan thứ hạng và phép kiểm nghiệm t.


Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Quá trình dạy học là một quá trình tương tác giữa hai hoạt động: hoạt động
giảng dạy (HĐGD) và hoạt động học tập. Hai hoạt động này là những hoạt động
trung tâm làm nên đặc thù của trường học bởi vì có quỹ thời gian lớn nhất, chiếm
nhiều lao động của GV nhất, chi phối các hoạt động khác, được các hoạt động khác
hỗ trợ, trực tiếp tạo nên chất lượng tri thức cho HS. Trong lịch sử giáo dục thế giới
việc nghiê
n cứu, tìm tòi các phương pháp dạy học hiệu quả đã được rất nhiều nhà sư
phạm, nhà giáo dục quan tâm.
Xôcơrat (Socrate 469 - 399 trước công nguyên) là người thực hiện và đề xuất
một PPDH là "bằng cách hỏi - đáp giữa hai người mà giúp cho người khác đi đến
chân lý, tự rút ra chân lý. Cứ thế, bằng nhiều câu hỏi khác nhau để đưa người học
vào tình huống có vấn đề, dưới sự gi
úp đỡ của thầy thông qua các câu hỏi mà làm
cho HS có được tri thức mới"[36]. Đây là "Phương pháp Socrate" là phương pháp
đàm thoại trong dạy học truyền thống mà hiện nay chúng ta đang sử dụng.
Khổng Tử (551 - 479 trước công nguyên) với cách dạy học là không bao giờ
làm thay cho học trò, rất coi trọng mặt tích cực suy nghỉ của người học. Ông nói:
"Không giận vì muốn biết thì không gợi mở cho, không bực vì không rõ được th
ì
không bày vẽ cho. Vật có 4 góc, bảo cho biết một góc mà không suy ra ba góc kia
thì không dạy nữa"[36]. Rõ ràng là cách dạy của Khổng Tử chỉ là gợi mở để học trò
tự tìm ra chân lý, thầy giáo chỉ giúp học trò cái mấu chốt nhất, còn mọi vấn đề khác
học trò phải từ đó mà tìm ra.
J.A. Cômenxki (1592 - 1670) là "Ông tổ của nền giáo dục hiện đại", "là một

thiên tài rực rỡ, một nhà phát minh lỗi lạc, một Galilê của giáo dục"[36], năm 1992
UNESCO đã ghi nhận ông là một danh nhân văn hóa thế giới. Tr
ong quá trình hoạt
động giáo dục, J.A. Cômenxki đã viết hàng trăm tác phẩm. Tiêu biểu nhất là tác
phẩm "Phép giảng dạy lớn" (1632), ông đã đưa ra quan điểm giáo dục phải thích
ứng với tự nhiên, quá trình dạy học để truyền thụ và tiếp nhận tri thức là phải dựa


vào sự vật, hiện tượng do HS tự quan sát, tự suy nghĩ mà hiểu biết, không nên dùng
uy quyền bắt buộc, gò ép người ta chấp nhận bất cứ một điều gì. Ông đưa ra một hệ
thống các nguyên tắc dạy học trong đó nguyên tắc trực quan được coi là nguyên tắc
quan trọng nhất.
Kết quả của quá trình dạy học không chỉ đơn thuần phụ thuộc vào quan hệ
tương tác giữa giáo viên và học sinh mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó
có công sức đóng góp của nhà quản lý giáo dục như hiệu trưởng. Vì vậy, rất nhiều
nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã tập trung nghiê
n cứu các vấn đề về quản lý
nói chung và quản lý giáo dục (QLGD), quản lý nhà trường nói riêng.
Nhà QLGD người Nga V.A. XukhomLinxki với 26 năm làm HT đã tổng kết
kinh nghiệm qua tác phẩm "Một số kinh nghiệm lãnh đạo của HT trường phổ
thông" khẳng định: người HT phải là người lãnh đạo toàn diện và c
hịu trách nhiệm
chính trong công tác quản lý nhà trường. Đồng thời ông cũng đã đưa ra một số biện
pháp quản lý của HT nhà trường phổ thông như việc phân công hợp lý công việc
giữa HT và phó HT; việc xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ GV; việc dự giờ và phân
tích sư phạm bài học...[39].
Tác giả Hà Sĩ Hồ và Lê Tuấn trong "Những bài giảng về quản lý trường học"
đã cho chúng ta cách nhì
n toàn bộ công việc quản lý của người HT. Người HT phải
luôn luôn biết kết hợp một cách hữu cơ sự quản lý dạy và học (theo nghĩa rộng) với

sự quản lý các quá trình bộ phận, hoạt động dạy và học các môn và hoạt động khác
bổ trợ cho hoạt động dạy và học nhằm làm cho tác động giáo dục được hoàn chỉnh
trọn vẹn.[20]
Tác giả Nguyễn Văn Lê, trong cuốn "Khoa học quản lý nhà trường" đã đề cập
đến phương pháp tổ chức và quản lý nhà trường trên mọi lĩnh vực: giảng dạy, học
tập, hướng nghiệp, công tác quản lý nội bộ, đi sâu vào các công việc và sự quan tâm
thiết thực của người HT.[25]
Ngoà
i ra còn nhiều công trình nghiên cứu chủ yếu về lý luận quản lý nói
chung như: "Những vấn đề cốt yếu của quản lý" của Harold Koozt, Cyril Odonnell,


Heinz Weihrich; "Cơ sở của khoa học QLGD" của Nguyễn Minh Đạo; "Những khái
niệm cơ bản về QLGD" của Nguyễn Ngọc Quang...
Các công trình khoa học này với tầm vóc và quy mô cũng như ý nghĩa lý luận
và thực tiễn to lớn của nó đã được ứng dụng rộng rãi và mang lại những hiệu quả to
lớn trong quản lý nhà trường. Tuy nhiên phần lớn những công trình trên tập trung đi
sâu vào nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về khoa
học quản lý như: khái
niệm quản lý, bản chất của hoạt động quản lý, mối quan hệ giữa QLGD với các
môn khoa học khác, phương pháp và nghệ thuật quản lý... còn về các biện pháp
quản lý cụ thể của người HT một cơ sở trường học, nhất nhà trường THCS chưa
được đề cập cụ thể, đầy đủ và chi tiết.
Gần đây trong một số luận văn t
hạc sĩ khoa học, vấn đề công tác quản lý của
HT, nhất là quản lý hoạt động học tập của HS và quản lý HĐGD của GV đã được
nhiều học viên Cao học QLGD đi sâu nghiên cứu với nhiều cấp học khác nhau, ở
những vùng, miền khác nhau trên khắp cả nước, như đề tài:"Thực trạng về công tác
quản lý việc dạy và học ở trường Tiểu học của một số phòng GD&ĐT quận (huyện)
tại thành phố Hồ Chí Minh" của tác giả Huỳnh Thị Ki

m Trang, thành phố Hồ Chí
Minh; "Quản lý hoạt động dạy học của HT trường trung học phổ thông thành phố
Cà Mau - tỉnh Cà Mau thực trạng và giải pháp" của tác giả Đoàn Thị Bảy, tỉnh Cà
Mau; "Thực trạng công tác quản lý HĐGD của HT các trường trung học phổ thông
tỉnh Đăk lăk" của tác giả Phạm Đăng Khoa, tỉnh Đăk Lăk…Nhìn chung các đề tài
đã nghiên cứu
lý luận quản lý, quản lý giáo dục, quản lý trường học, đã khảo sát
được thực trạng các biện pháp quản lý HĐGD của HT và đề xuất một số biện pháp
quản lý của HT, nhưng tập trung chủ yếu vào một số trường tiểu học và trung học
phổ thông trên địa bàn của một tỉnh. Riêng việc nghiên cứu c
ông tác quản lý HĐGD
của HT trường THCS thì rất hạn chế, nhất là công tác quản lý HĐGD của HT tất cả
các trường trên địa bàn một huyện vùng sâu, vùng xa như huyện Trần Văn Thời,
tỉnh Cà Mau.




1.2. Hệ thống khái niệm
1.2.1. Khái niệm quản lý
1.2.1.1. Các khái niệm về quản lý
Quản lý là một yếu tố cấu thành sự tồn tại của xã hội loài người. Ngày nay,
quản lý đã trở thành một khoa học, một nghệ thuật, một nghề phức tạp nhất trong xã
hội hiện đại.
Có rất nhiều cách giải thích thuật ngữ quản lý. Người ta có thể tiếp cận khái
niệm quản lý từ nhiều góc độ khác nhau. Theo góc độ tổ chức thì quản lý là cai
quản, chỉ huy, lã
nh đạo, kiểm tra. Dưới góc độ điều khiển học thì quản lý là điều
hành, điều khiển, chỉ huy. Dưới góc độ của lý thuyết hệ thống thì quản lý là sự tác
động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý (hay đối tượng quản lý) nhằm tổ

chức phối hợp hoạt động của c
on người trong các quá trình sản xuất – xã hội để đạt
được mục đích đã định.
Theo Đại Bách khoa toàn thư Liên Xô – 1977 – “quản lý là chức năng của
những hệ thống có tổ chức với những bản chất khác nhau (xã hội, sinh vật, kỹ
thuật). Nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động, thực hiện
những chương trình mục đích hoạt động”[24].
Theo F.W. Taylor: “Quản lý là biết được điều bạn m
uốn người khác làm và
sau đó thấy được rằng họ hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”[10].
Theo Koontz, O

Donnell và Weihrich: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó
đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm.
Mục tiêu của nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con
người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự
bất mãn cá nhân ít nhất. Với tư cách thực hành thì cách quản lý là một nghệ thuật,
còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học”[18].
Tác giả Đặng Vũ Hoạt và tác giả Hà Thế Ngữ cho
rằng: “Quản lý là một quá
trình định hướng, quá trình có mục tiêu. Quản lý một hệ thống là quá trình tác động
đến hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng cho
trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn”[29].


Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “ Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý
trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn
lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách
tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất”[22].
Tác giả Nguyễn Ngọc Qu

ang cho rằng: “Quản lý là những tác động có định
hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để
vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định”[34].
Tuy có nhiều cách tiếp cận và diễn đạt khác nhau song các khái niệm quản lý
đều mang dấu hiệu chung có thể khái quát: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có
hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra.
Chủ thể quản lý là tác nhâ
n tạo ra các tác động. "Ai quản lý?" đó là chủ thể
quản lý (chủ thể quản lý chỉ có thể là một cá nhân, hoặc một tổ chức do con người
cụ thể lập nên). Còn "quản lý ai?", "quản lý cái gì?", "quản lý sự việc gì?" đó là đối
tượng quản lý. Bản chất của hoạt động quản lý là việc phát huy được nhân tố con
người trong tổ chức. Hoạt động quản lý có những yê
u cầu khách quan, phổ biến đối
với những người làm quản lý, đó là những chức năng chung và cơ bản của hoạt
động quản lý.
1.2.1.2. Chức năng quản lý
"Chức năng quản lý đó là một loại hoạt động quản lý đặc biệt, sản phẩm của
quá trì
nh phân công lao động và chuyên môn hóa trong quản lý, tiêu biểu tính chất
tương đối độc lập của những bộ phận của quản lý"[38].Quản lý có 4 chức năng:
- Chức năng lập kế hoạch: Kế hoạch là nền tảng của quản lý. Lập kế
hoạch là quá trình thiết lập các mục tiêu, các con đường, biện pháp, các điều kiện
đảm bảo cho hoạt động thực hiện các mục tiêu
đó.
- Chức năng tổ chức: tổ chức là quá trình sắp xếp, phân bổ công việc,
quyền hành, nguồn lực cho các thành viên để họ có thể hoàn thành các mục tiêu xác
định. Tổ chức là công cụ quan trọng của quản lý.
- Chức năng chỉ đạo (điều khiển): là quá trình tác động điều khiển,
hướng dẫn của chủ thể quản lý đến các thành viên trong tổ chức, để họ tự nguyện,




nhiệt tình, tin tưởng, phấn đấu đạt các mục tiêu quản lý. Khi cần thiết phải điều
chỉnh, sửa đổi, uốn nắn nhưng không làm thay đổi mục tiêu hướng vận hành của hệ
nhằm giữ vững mục tiêu chiến lược đề ra.
- Chức năng kiểm tra: kiểm tra đánh giá là việc đo lường, đánh giá kết
quả của việc thực hiện các mục tiêu của tổ chức nhằm tì
m ra những ưu điểm và
những hạn chế để điều chỉnh việc lập kế hoạch, tổ chức và chỉ đạo. Qua đó hiểu
được nguyên nhân thành công, thất bại giúp cho chủ thể quản lý rút ra được những
bài học kinh nghiệm.
Theo lý thuyết hệ thống: kiểm tra là giữ vai trò liên hệ nghịch, là trái tim,
mạch máu của hoạt động quản lý. Có kiểm tra mà không đánh giá coi như là không
có kiểm tra
và không có kiểm tra coi như không có hoạt động quản lý.
Sơ đồ dưới đây thể hiện rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa các chức năng quản lý:

Kế hoach


Kiểm tra Thông tin Tổ chức


Chỉ đạo


1.2.2. Khái niệm quản lý giáo dục
1.2.2.1. Khái niệm giáo dục
Giáo dục là hiện tượng xã hội tồn tại lâu dài cùng với xã hội loài người. Thực
chất của giáo dục là truyền thụ ki

nh nghiệm, lịch sử, xã hội cho thế hệ sau, nhằm
chuẩn bị cho họ bước vào cuộc sống xã hội và lao động sản xuất
Giáo dục bất cứ thời đại nào vẫn phải thích ứng với những chiều hướng mới
trong sự phát triển xã hội, luôn hướng về tương lai. Mặt khác, giáo dục phải không


ngừng thích nghi với những thay đổi của xã hội, mà không bỏ qua việc chuyển giao
những thành tựu, nền tảng và thành quả mà sự trải nghiệm của loài người đã đạt được.
Như vậy,"giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự
truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người. Nhờ có
giáo dục m
à các thế hệ kế thừa tinh hoa văn hóa của nhân loại và làm cho nó phát
triển không ngừng"[2].
1.2.2.2. Khái niệm quản lý giáo dục
Giáo dục và QLGD là tồn tại song hành. Nếu nói giáo dục là hiện tượng xã hội
tồn tại lâu dài cùng với xã hội loài người thì QLGD cũng được hiểu như vậy.
QLGD là một khoa học quản lý chuyên ngành, được nghiên cứu trên nền tảng
của khoa học quản lý nói chung.
Giống như khái niệm "quản lý" đã trình bày ở trên, khái niệm "
QLGD" cũng
có nhiều quan niệm khác nhau.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: "QLGD là hệ thống những tác động có
mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm
cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được
các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá
trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến lên
trạng thái mới về chất"[34].
Tác giả Trần Kiểm
cho rằng: khái niệm "QLGD" có nhiều cấp độ. Ít nhất có
hai cấp độ chủ yếu: cấp vĩ mô và cấp vi mô.

- Đối với cấp vĩ mô: "QLGD được hiểu là những tác động tự giác (có ý
thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản l
ý đến
tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà
trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào
tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành Giáo dục"[23].
- Đối với cấp vi mô: "QLGD được hiểu là hệ thống những tác động tự
giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch
, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể
quản lý đến tập thể GV, công nhân viên, tập thể HS, cha mẹ HS và các lực lượng xã


hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu
giáo dục của nhà trường"[23].
Theo tác giả Phạm Viết Vượng: "Mục đích cuối cùng của QLGD là tổ chức
quá trình giáo dục có hiệu quả để đào tạo lớp thanh niên thông minh, sáng tạo, năng
động, tự chủ, biết sống và biết phấn đấu vì hạnh phúc của bản thân và xã hội"[41].
Từ những quan niệm trên chúng ta có thể khái quát rằng: QLGD là hoạt động
điều hành, phối hợp các lực lượng giáo dục nhằm đẩy mạnh công tác GD&ĐT thế
hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội.
Trong hệ thống giáo dục, con người giữ vai trò trung tâm của mọi hoạt động.
Con người vừa là chủ thể vừa là khách thể quản lý. Mọi hoạt động giáo dục và
QLGD đều hướng và
o việc đào tạo và phát triển nhân cách thế hệ trẻ, bởi vậy con
người là nhân tố qua
n trọng nhất trong QLGD.
1.2.3. Khái niệm quản lý nhà trường
1.2.3.1. Khái niệm nhà trường
Nhà trường là một thiết chế riêng biệt của xã hội, thực hiện chức năng kiến tạo
các kinh nghiệm xã hội cần thiết cho một nhóm dân cư nhất định của xã hội đó. Nhà

trường được tổ chức sao cho việc kiến tạo nói trên đạt được các mục tiêu mà xã hội
đó đặt ra cho nhóm
dân cư được huy động và sự kiến tạo này đạt được một cách tối
ưu theo quan niệm của xã hội.
Nhà trường là tổ chức cơ sở của hệ thống giáo dục quốc gia, ở đó tiến hành
quá trình giáo dục, đào tạo, trực tiếp thực hiện mục tiêu của giáo dục. Nhà trường
vừa là khách thể chính của mọi cấp QLGD từ trung ương đến địa phương, vừa là
một hệ thống độc lập trong xã hội.
Có t
hể phân biệt nhà trường với các thiết chế khác thông qua các dấu hiệu cơ
bản sau: Tính mục đích, tính tổ chức và tính kế hoạch cao, tính hiệu quả, tính biệt
lập tương đối hay tính lý tưởng hóa các giá trị xã hội, tính chuyên biệt cho từng đối
tượng hay tính phân biệt đối xử theo sự phát triển tâm lý và thể chất.




1.2.3.2. Khái niệm quản lý nhà trường
Các nhà nghiên cứu giáo dục trong và ngoài nước đã đưa ra các khái niệm về
quản lý nhà trường như sau:
M.I. Kônđacôp cho rằng: "Không đòi hỏi một định nghĩa hoàn chỉnh, chúng ta
hiểu quản lý nhà trường (công việc nhà trường) là một hệ thống xã hội - sư phạm
chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có kế hoạch và hướng
đích của chủ thể quản lý đến tất cả các mặt của đời sống nhà trường, nhằm đảm bảo
sự vận hà
nh tối ưu các mặt xã hội - kinh tế, tổ chức sư phạm của quá trình dạy và
học, giáo dục thế hệ đang lớn lên"[26].
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: "Quản lý trường học là thực hiện đường lối giáo
dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hàn
h

theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với
ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng HS"[17].
Theo tác giả Hà Sĩ Hồ: "Quản lý nhà trường, QLGD là tổ chức hoạt động dạy
học. Có tổ chức hoạt động dạy - học, thực hiện được tính chất của nhà trường phổ
thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa mới quản l
ý được giáo dục"[20].
Như vậy, quản lý nhà trường chính là QLGD trong một phạm vi xác định, đó
là nhà trường (đơn vị giáo dục). Quản lý nhà trường là một hoạt động được thực
hiện trên cơ sở những quy luật chung của quản lý, đồng thời có những nét riêng
mang tính đặc thù của giáo dục. Do đó quản lý nhà trường cần vận dụng tất cả các
nguyên lý chung của QLGD để đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường t
heo mục
tiêu đào tạo.
Mục đích của quản lý nhà trường là đưa nhà trường từ trạng thái đang có tiến
lên một trạng thái phát triển mới bằng phương thức xây dựng và phát triển mạnh mẽ
các nguồn lực phục vụ cho việc tăng cường chất lượng giáo dục. Mục đích cuối
cùng của QLGD là tổ chức quá trình giáo dục có hiệu quả để đào tạo lớp trẻ thông

minh, sáng tạo, năng động, tự chủ, biết sống và phấn đấu vì hạnh phúc của bản thân
và của xã hội [17].


Tóm lại: Nhà trường là một thành tố cơ bản của hệ thống giáo dục nên quản lý
nhà trường cũng được hiểu như là một bộ phận của QLGD. Thực chất của quản lý
nhà trường, suy cho cùng là tạo điều kiện cho các hoạt động trong nhà trường vận
hành theo đúng mục tiêu, tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
1.2.4. Khái niệm quản lý hoạt động giảng dạy
1.2.
4.1. Khái niệm hoạt động
"Hoạt động là sự tương tác tích cực giữa chủ thể và đối tượng, nhằm biến đổi

đối tượng theo mục tiêu mà chủ thể đặt ra. Quá trình chủ thể tác động vào đối tượng
nhằm tạo ra sản phẩm"[34].
1.2.4.2. Khái niệm hoạt động giảng dạy
HĐGD là hoạt động chuyên biệt do người thầy thực hiện theo phương thức
nhà trường, nhằm
giúp người học lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm của xã hội loài
người, tạo ra sự phát triển tâm lý và hình thành nhân cách.
"HĐGD của GV là hoạt động tổ chức điều khiển của GV đối với hoạt động
nhận thức của HS. Hoạt động dạy của GV không chỉ là truyền thụ tri thức, mà điều
quan trọng là tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của HS nhằm hình thành
trong mỗi HS tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ, hành vi"[28]
.
Trong giờ dạy người thầy phải chọn lọc kiến thức cơ bản để khắc sâu; PPDH
phải đa dạng, linh hoạt; các hình thức tổ chức dạy học phải phong phú, phù hợp với
đối tượng, phục vụ đắc lực cho PPDH.
"Dạy tốt" có nghĩa là thông qua sự truyền đạt nội dung trí dục, thầy chỉ đạo sự
tự phát triển bê
n trong của trò, thầy làm cho trò biết biến "cái chỉ đạo bên ngoài"
thành "cái tự chỉ đạo bên trong" của bản thân.
1.2.4.3. Khái niệm quản lý hoạt động giảng dạy
Quản lý HĐGD là hệ thống những tác động có mục đích của chủ thể quản lý
đến đối tượng quản lý trong nhà trường, nhằm khai thác và tận dụng tốt nhất năng
lực và các điều kiện, làm cho HĐGD trong nhà trường hướng tới việc đạt mục tiêu

giáo dục.


1.3. Một số vấn đề lý luận liên quan đến công tác quản lý trường THCS
1.3.1. Khái quát về trường THCS
1.3.1.1. Nhiệm vụ, quyền hạn của trường THCS

Điều 3, Điều lệ trường THCS, trường trung học phổ thông và trường phổ
thông có nhiều cấp học (ban hành kèm theo Quyết định số: 07/2007/QĐ-BGD&ĐT
ngày 02/4/2007 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT) có quy định:
“Trường trung học có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1. Tổ chức g
iảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo chương
trình giáo dục phổ thông.
2. Quản lý GV, cán bộ , nhân viên; tham gia tuyển dụng và điều động GV, cán
bộ, nhân viên.
3. Tuyển sinh và tiếp nhận HS, vận động HS đến trường, quản lý HS theo quy
định của Bộ GD&ĐT.
4. Thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục trong phạm vi cộng đồng.
5. Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực cho hoạt động giáo dục. Phối
hợp với gia đình HS, tổ chức và cá nhâ
n trong hoạt động giáo dục.
6. Quản lý, sử dụng và bảo quản CSVC, trang thiết bị theo quy định của Nhà nước.
7. Tổ chức cho GV, nhân viên, HS tham gia hoạt động xã hội.
8. Tự đánh giá chất lượng giáo dục và chịu sự kiểm định chất lượng giáo dục
của cơ quan có thẩm quyền kiểm định chất lượng giáo dục.
9. Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.”[4]
1.3.
1.2. Mục tiêu giáo dục THCS
Điều 27 - Luật Giáo dục - Năm 2005, có quy định về mục tiêu giáo dục THCS,
là: “Giáo dục THCS nhằm giúp cho HS củng cố và phát triển những kết quả của
giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu
về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ t
hông, trung cấp, học
nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.”[11]
1.3.1.3. Nội dung giáo dục THCS
Điều 28-Luật Giáo dục - Năm 2005, có quy định về nội dung của giáo dục THCS:



“Giáo dục THCS phải củng cố, phát triển những nội dung đã học ở tiểu học,
đảm bảo cho HS có những hiểu biết phổ thông cơ bản về tiếng Việt, toán, lịch sử
dân tộc; kiến thức khác về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, pháp luật, tin học,
ngoại ngữ; có những hiểu biết cần thiết tối thiểu về kỹ thuật và hướng nghiệp.”[11]
1.3.1.4. Phương pháp giáo dục THCS
Giáo dục THCS là một cấp học trong giá
o dục phổ thông, do vậy phương pháp
giáo dục THCS không tách rời với phương pháp giáo dục phổ thông nói chung.
Điều 28 - Luật Giáo dục - Năm 2005, có quy định: “Phương pháp giáo dục
phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp
với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện
kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; t
ác động đến tình cảm, đem lại niềm vui,
hứng thú học tập cho HS.”[11]
1.3.2. Đặc điểm lao động sư phạm của người GV THCS
Lao động của người GV nói chung là loại lao động đặc thù, khác với các dạng
lao động khác. Sản phẩm của lao động này là nhân cách của người học, đáp ứng
theo yêu cầu của xã hội.
Đối tượng lao động của người GV THCS là HS tuổi từ 11 đến 14, 15 tuổi. Đây

là thời kỳ phức tạp và quan trọng trong quá trình phát triển của mỗi cá nhân. Thời
kỳ này có một vị trí đặc biệt, vì nó là thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi
trưởng thành. Người GV THCS vừa là nhà giáo dục, vừa là nhà tâm lý luôn gần gũi,
giúp đỡ để các em hình thành nhân cách một cách tốt nhất.
Công cụ lao động của người GV là trí tuệ và nhân cách của chính mình.
1.3.
3. Chức năng quản lý của HT trường THCS
Có 4 chức năng cơ bản:

1.3.3.1. Chức năng kế hoạch hóa
Đây là chức năng quan trọng nhất đối với HT. HT trường THCS thực hiện
chức năng này phải hoạch định cho được:
- Mục tiêu phát triển của trường theo mục tiêu của ngành GD&ĐT và của địa
phương huyện.


- Kế hoạch năm học:
+ Bồi dưỡng GV đạt trình độ chuẩn và thực hiện bồi dưỡng thường xuyên.
+ Nâng cao chất lượng dạy học, trong đó chú ý đến việc đổi mới phương pháp
giảng dạy, phụ đạo HS kém, bồi dưỡng HS giỏi; phổ cập giáo dục và đánh giá được
chất lượng của HS.
+ Xây dựng CSVC.
Khi thực hiện chức năng kế hoạch hóa, HT cần phải có đầy đủ những thông tin
về tình hình nhà trường như: về CSVC, đội ngũ GV, những thuận lợi, khó khăn…

cả phương án thay thế.
1.3.3.2. Chức năng tổ chức
Từ kế hoạch chung đã được xây dựng, HT cần triển khai cụ thể đến từng bộ
phận, tổ, nhóm, cá nhân thực hiện theo kế hoạch.
Khi thực hiện chức năng này HT cần chú ý xác lập cơ cấu tổ chức của nhà
trường theo đúng quy định, lựa chọn và phâ
n công từng người phù hợp với năng lực
và sở trường của họ, phân chia trách nhiệm của từng tổ chức, cá nhân…
1.3.3.3. Chức năng điều khiển (hoặc chỉ đạo)
HT cần có biện pháp tác động phù hợp để tập thể sư phạm hoạt động theo kế
hoạch, theo sự phân công của tổ chức. Sự vận hà
nh của từng bộ phận nhằm đạt mục
tiêu giáo dục chung của đơn vị trong sự cân bằng động và sự phát triển bền vững
của cả hệ thống.

HT thực hiện chức năng điều khiển công việc nhà trường với tư cách là người
quản lý nhà nước với vai trò thủ trưởng đơn vị; người trụ cột của tập thể sư phạm v
à
của mọi hoạt động giáo dục; người chỉ huy dàn nhạc.
1.3.3.4. Chức năng kiểm tra
Trong quá trình quản lý, HT cần phải chú ý đến công tác kiểm tra bao gồm:
kiểm tra đột xuất, kiểm tra định kỳ và kiểm tra thường xuyên. Kiểm tra để phát hiện
cái đúng, cái sai trong quá trình thực hiện và kịp thời điều chỉnh hoặc có biện pháp
để thực hiện tốt nhiệm vụ.
HT kiểm tra là để:


- So sánh giữa việc thực hiện và kế hoạch chỉ đạo.
- So sánh giữa tiến độ học tập với kế hoạch giảng dạy, chương trình và nội
dung quy định.
- Điều chỉnh kế hoạch hoặc phát huy kết quả bước đầu đã chỉ đạo từ việc đổi
mới phương pháp giảng dạy đến các công việc khác trong nhà trường.
1.3.4. Nhiệm vụ, quyền hạn của HT trường THCS
Điều 19, Điều lệ trường THC
S, trường trung học phổ thông và trường phổ
thông có nhiều cấp học quy định HT có nhiệm vụ và quyền hạn sau:
1. Xây dựng, tổ chức bộ máy nhà trường;
2. Thực hiện các Nghị quyết, Quyết nghị của Hội đồng trường theo quy định;
3. Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện nhiệm vụ năm học;
4. Quản lý GV, nhân viên; quản lý chuyê
n môn; phân công công tác, kiểm tra,
đánh giá xếp loại GV, nhân viên; thực hiện công tác khen thưởng, kỷ luật đối với
GV, nhân viên theo quy định của Nhà nước; quản lý hồ sơ tuyển dụng GV, nhân viên;
5. Quản lý HS và các hoạt động của HS do nhà trường tổ chức; xét duyệt kết
quả đánh giá, xếp loại HS, ký xác nhận học bạ và quyết định khen thưởng, kỷ luật

HS theo quy định của Bộ GD&ĐT;
6. Quản lý tài chính, tài sản của nhà trường;
7. Thực hiện các chế độ chính sách của Nhà nước đối với GV, nhâ
n viên, HS;
tổ chức thực hiện quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường; thực hiện công
tác xã hội hóa giáo dục của nhà trường;
8. Được đào tạo nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và
hưởng các chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật;
9. Chịu trách nhiệm trước cấp trên về toàn bộ các nhiệm vụ đã quy định ở
trên.[4]

1.3.5. Các mối quan hệ của HT trường THCS
1.3.5.1. Quan hệ giữa HT và Hội đồng trường
Điều 53 - Luật Giáo dục - Năm 2005, có quy định: “Hội đồng trường đối với
trường công lập, hội đồng quản trị đối với trường dân lập, trường tư thục ( sau đây


gọi chung là hội đồng trường) là tổ chức chịu trách nhiệm quyết định về phương
hướng hoạt động của nhà trường, huy động và giám sát việc sử dụng các nguồn lực
dành cho nhà trường, gắn nhà trường với cộng đồng và xã hội, bảo đảm thực hiện
mục tiêu giáo dục."[11]
Điều 20 của Điều lệ trường THCS, trường trung học phổ thông và trường phổ
thông có nhiều cấp học quy định: "Hội đồng trường công lập có các nhiệm vụ và
quyền hạn sau đây:
1. Quyết nghị về mục tiêu, các dự án, kế hoạch và phương hướng phát triển
của nhà trường;
2. Q
uyết nghị về việc huy động nguồn lực cho nhà trường;
3. Quyết nghị về những vấn đề tài chính, tài sản của nhà trường;
4. Quyết định về tổ chức, nhân sự theo quy định và c

ó quyền giới thiệu người
để cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm làm HT, phó HT;
5. Giám sát việc thực hiện các quyết nghị của Hội đồng trường, việc thực hiện
quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường; giám sát các hoạt động của nhà
trường."[4]
Nhiệm kỳ của Hội đồng trường là 5 năm, Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện ra
quyết định thành lập Hội đồng trường đối với trường THCS
HT có trách nhiệm thực hiện các quyết nghị của Hội đồng trường. Nếu H
T
không nhất trí với quyết nghị của Hội đồng trường phải kịp thời báo cáo xin ý kiến
cơ quan QLGD cấp trên trực tiếp là Phòng GD&ĐT. Trong thời gian chờ ý kiến của
cấp có thẩm quyền, HT vẫn phải thực hiện theo quyết nghị của Hội đồng trường.
HT c
ó thể đề nghị để Chủ tịch Hội đồng trường triệu tập họp bất thường.
1.3.5.2. Quan hệ giữa HT và các phó HT
Điều 19, Điều lệ trường THCS, trường trung học phổ thông và trường phổ
thông có nhiều cấp học cũng quy định nhiệm vụ và quyền hạn của phó HT như sau:
1. Thực hiện và chịu trách nhiệm trước HT về nhiệm vụ được HT phân công;
2. Cùng với H
T chịu trách nhiệm trước cấp trên về phần việc được giao;
3. Thay mặt HT điều hành hoạt động của nhà trường khi được HT ủy quyền;


4. Được đào tạo nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và
hưởng các chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật.[4]
Quan hệ giữa HT và các phó HT là quan hệ chỉ huy chấp hành. Phó HT là
người thực hiện các quyết định của HT, đồng thời tham mưu giúp HT điều hành,
quản lý nhà trường.
1.3.5.3. Quan hệ giữa HT và tổ chuyên môn
Điều 16, Điều lệ trường THCS, trường trung học phổ thông và trường phổ

thông có nhiều cấp học quy định: " HT, các phó HT, GV, viên chức thư viện, viên
chức thí nghiệm của trường trung học đư
ợc tổ chức thành tổ chuyên môn theo môn
học hoặc từng nhóm môn học ở từng cấp học THCS, trung học phổ thông. Mỗi tổ
chuyên môn có tổ trưởng, từ 1 đến 2 tổ phó chịu sự quản lý của HT, do HT bổ
nhiệm và giao nhiệm vụ vào đầu năm học".[4]
Nhiệm vụ của tổ chuyên môn: "Xây dựng kế hoạch hoạt động chung của tổ,
hướng dẫn xây dựng và quản lý kế hoạch cá
nhân của tổ viên theo kế hoạch giáo
dục, phân phối chương trình (PPCT) môn học của Bộ GD&ĐT và kế hoạch năm
học của nhà trường; tổ chức bồi dưỡng chuyên môn và nghiệp vụ; tham gia đánh
giá, xếp loại các thành viên của tổ theo các quy định của Bộ GD&ĐT; đề xuất khen
thưởng, kỷ luật đối với
GV."[4]
HT bổ nhiệm và giao nhiệm vụ cho tổ trưởng đồng thời HT cũng là thành viên
của tổ chuyên môn. Tổ trưởng cùng với các tổ phó giúp HT quản lý sát chuyên môn
của từng bộ môn. Do đó, HT cần lựa chọn người có năng lực để bổ nhiệm tổ trưởng,
tổ phó chuyên môn có đầy đủ khả năng hoàn thành tốt nhiệm vụ.
1.3.5.4. Quan hệ giữa HT và GV
Theo điều 30, Điều lệ trường THCS, trường trung học phổ thông và trường
phổ thông có nhiều cấp học: " GV trường THC
S là người làm nhiệm vụ giảng dạy,
giáo dục trong nhà trường, gồm: HT, phó HT, GV bộ môn, GV làm tổng phụ trách
Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ chí Minh".[4]
GV là lực lượng "giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo
dục"[11] trong nhà trường. Ngoài việc thực hiện nhiệm vụ theo quy định GV bộ

×