Tải bản đầy đủ (.doc) (19 trang)

những bài văn nghị luận xã hội hay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (133.55 KB, 19 trang )

Nghị luận bài Tự tình
Hồ xuân hương 1 nữ thi sĩ tài ba với phong cách sáng tác thơ nôm tả cảnh ngụ tình sâu sắc cùng ý
tứ chân thành nhằm giãi bày tâm sự lòng mình theo giới nghiên cứu hiện còn khoảng 40 bài thơ
nôm tương truyền là của hxh nữ sĩ còn có tập thơ lưu hương kí, hxh là một hiện tựơng khá độc đáo
trong lịch sử văn học việt nam đó là nhà thơ phụ nữ viết về phụ nữ, trào phúng mà trữ tình. Nổi bật
trong sáng tác của hồ xuân hương là tiếng nói thưong cảm đối với phụ nữ, là sự khẳng định đề cao
vẻ đẹp và khát vọng sống khát vọng hạnh phúc mãnh liệt trong trái tim họ. và một lần nữa ta bắt
gặp điều đó qua những câu thơ rất đỗi chân thành trong bài thơ tự tình 2 trong chùm thơ tự tình dc
viết nên từ những cung bậc tình cảm dừơng như đang làm rối bời tâm trạng nhà thơ
Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn

Mảnh tình san sẻ tí con con
Tình là gì ai biết không ? tình là vầng dương tình là ngàn sao hay tình chỉ là vầng trăng khuyết,
câu hát vang lên bằng một câu hỏi tu từ hỏi đời rằng trên thế gian còn gì hạnh phúc bằng tình yêu
hay có gì làm lòng ngừơi đau khổ bằng thất bại trong tình cảm, nỗi đau khổ đó không chỉ làm bão
giông trong bao trái tim ngừoi đời và trong đó có trái tim hồ xuân hương, nỗi cô đơn đã dằn vặt
làm thao thức tác giả trong cái yên ắng và lạnh lùng của đêm khuya
Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn
Trơ cái hồng nhan với nứơc non
Trong cái tĩnh mịch u buồn của đêm giá lạnh thoáng nghe tiếng trống canh văng vẳng từ môt chòi
canh xa vọng đến báo hiệu đã nữa đêm, tiếng trống mỗi lúc một dồn dập hơn xa đến gần càng lúc
như nhanh hơn trôi theo từng khoảnh khắc của thời gian và rút ngắn tuổi đời của một ng phụ nữ
“hồng nhan” nhưng “trơ” đi trứơc cuộc đời trứoc cảnh vật tựa như gỗ đá đã bị mất hết cãm giác vì
bao nỗi phiền muộn đợi chờ một thứ hạnh phúc mong manh, giọng thơ trĩu xuống tăng thêm nỗi
chán chừơng và cái cô đơn đang bủa quanh tác giả.Cách sử dụng đão ngữ nhấn mạnh thêm sự trơ
trọi bẽ bàng và tủi hổ. Trứơc cuộc đời trứơc duyên phận hẩm hiu ng phụ nữ ấy chua xót cho chính
mình, thân phận lẻ loi mong manh giữa bao vùi dập của cái xã hội đầy bất công thị phi ngang trái.
Thân phận hồng nhan bây giờ phải trải qua những đêm dài cay đắng cho tấm lòng thủy chung vì
cuộc tình dang dở.Tiếng thở dài ngao ngán và ý nguyện muốn thoát khỏi nỗi sầu muộn dấy lên
trong lòng nhưng cuối cùng cũng rơi vào bế tắc, dừong như nghịch cảnh khôg buông tha cho ng
phụ nữ ấy, mựợn rựou quên đi nhưng lại càng nhớ


Chén rượu hương đưa say lại tỉnh
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn
Chén rựơu cầm hững hờ trên tay mặc cho hương nồng của rựơu phả vào mặt xộc vào mũi, tác giả
mong rượu có thể giải tỏa hộ nỗi lòng của mình, mong cơn say mau tìm đến để đưa ng đến một nơi
yên bình dù trong thời gian ngắn ngủi cũng đỡ hơn khi phải một mình đối diện nỗi cô đơn đang
giày xéo tâm can.Nhưng say rồi lại tỉnh cứ chập chờn chập chờn mơ hồ trong cái vòng lẩn
quẩn.Thời gian thì cứ trôi tác giả lúc thì tỉnh để nhận ra cái éo le của cuộc đời lúc thì chìm vào cơn
say quên đi bao tuyệt vọng, mong mỏi phút giây nào đếy có thể gạt dc tất cả qua một bên để sống
với những khao khát của chính mình nhưng mong ứơc bé nhỏ ấy cũng bị cuốn phăng đi vô
tình.Nỗi buồn tủi bắt đầu xâm chiếm, bao đêm dài thao thức đợi chờ nhưng vô vọng, chờ nhiều đợi
nhiều mà hạnh phúc chẵng bao nhiêu trong khi cái xuân thì ngày càng rời xa tác giả. Vầng trăng
xuất hiện để làm chứng nhân cho bao cuộc tình mà sao khi tác giả thấy trăng thì lại không dc tròn
đầy mà là hình ảnh đối lập là khuyết, phải chăng cuộc tình này cũng thế chẵng bao giờ có một cái
kết trọn vẹn.Đến bao giờ thì trăng mới tròn đến khi nào thì hạnh phúc mới trong tầm tay và bao lâu
nữa thì nỗi cô đơn này thôi xuất hiện làm xót lòng.Tác giả khao khát và mong chờ, nỗi niềm đó
nhân lên theo ngày tháng, nhưng càng hi vọng thì càng đau khổ, bi kịch có bao giờ dc kết thúc cho
những ng phụ nữ quá lứa lỡ thì cùng tình duyên ngang trái trong cái xhpk ngày xưa.Nỗi buồn dâng
đầy trong lòng rồi lan tỏa ra không gian khắp bốn bề, khẽ đưa mắt nhìn ra khoảng trống trứoc mặt
những hình ảnh thiên nhiên đập vào mắt và như hòa vào tâm trạng nhuốm nỗi buồn phiền của tác
giả
Xiên ngang mặt đất rêu từng đám
Đâm toạc chân mây đá mấy hòn
câu thơ tả cảnh với cấu trúc tương phản hình ảnh những đám “rêu” bé nhỏ yếu ớt với sức mạnh
“xiên ngang” cả lớp đất dày vưon lên với sức sống mãnh liệt hay “đá mấy hòn” nhưng lại có khả
năng đâm toạc chân mây trứoc mắt.Thái độ phản ứng khá mạnh mẽ trứoc duyên tình lận đận thể
hiện qua cả gịong thơ ngang ngạnh phản kháng và ấm ức.Thiên nhiên trong mắt nhà thơ tiềm ẩn
một sức sống đang bị đè nén và đang vươn lên mãnh liệt.Ta thấy rõ dc tác dụng của nghệ thuật tả
cảnh ngụ tình ở hai câu thơ này, dừơng như có một điểm giống nhau giữa tâm hồn thơ và những
hình ảnh thiên nhiên ấy. Rêu và đá bé nhỏ là thế nhưng chúng giống nhau ở sức sống mạnh mẽ vô
cùng và nhà thơ cũng vậy. Dù trong hoàn cảnh xót xa nhưng tâm hồn lúc nào cũng tràn đầy một

niềm hy vọng, bi kịch dẫu đắng cay nhưng bằng cả nghị lực tác giả vẫn cố gắng gựơng mong chờ
vựơt qua để đến bến bờ bình yên cho mình.2 câu thơ hay ẩn dụ dc khát vọng rất lớn không chỉ của
riêng hxh mà là tiếng lòng chung của bao số phận hồng nhan hẩm hiu về một cuộc đời hạnh phúc
hơn.Dâng tràn trong họ là tất cả hy vọng mong chờ bằng cả niềm tin dù bao nghịch cảnh.Nhưng
đáng buồn thay vòng xoay cuộc đời một lần nữa làm ng rơi vào bế tắc.Cuộc đời nhà thơ là những
thắng ngày buồn tủi không chỉ một mà đến 2 lần ng đều là vợ lẽ và âu cũng vì vậy mà bao phẫn
uất kết tụ đến hồi bộc phát khi thực tại vẫn là bao chua xót não nề.Khao khát dc yêu thương dc
sống hạnh phúc như nhữgn ng phụ nữ bình thừơng nhưng càng vô vọng, đêm đã khuya mà nhà thơ
vẫn còn trằn trọc thao thức ưu tư, nỗi đau bị dồn tụ khi tác giả nhìn lại chính mình thì cũng là lúc
nỗi cô đơn đâng đầy hơn bao giờ hết trong tâm trạng chán chừờng và mệt mỏi thậm chí là thất
vọng với sự thực trứơc mắt
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại
Mảnh tình san sẻ tí con con
Tiếng lòng than thở của nhà thơ vang lên qua từ “ngán” dc rõ nét hơn.Mùa xuân có đi rồi cũng đến
ngaỳ sẽ quay về với thiên nhiên nhưng còn tình duyên thì mới bao giờ trở lại với con tim chung
tình đang chịu nỗi đau.Tuổi xuân ng phụ nữ trôi nhanh nhưng cũng không bằng cuộc tình dang dở,
hạnh phúc ngắn ngủi để rồi bây giờ chỉ còn nhà thơ quạnh hiu trong nỗi cô đơn đang ngấm buốt tê
lòng.Tình duyên lỡ làng tan vỡ như mảnh vụn chỉ dành nhà thơ dc một chút nhưng lại phải “san
sẻ” để còn trong nhà thơ là “tí con con”.Buộc lòng cam chịu cảnh ngộ đơn chiếc đang ngày đêm
trải qua sự đợi chờ mỏi mòn.Nỗi đau như thế chưa đủ hay sao mà còn tình cảm nhận dc chẳng
những quá ít mà còn quá vô tình
quá hờ hững. Câu thơ tả thực nỗi chua chát ngấm từ trong lòng. Nỗi trống trải cô đơn làm tác giả
chán nản nới những mong chờ mà đáp lại chỉ là sự lành lùng tàn nhẫn. Mổi từ như một giọt nứoc
mắt rưng rưng chỉ chực trào ra theo những tủi hờn trách móc.Có mấy ai hiểu dc những gì đang
hành hạ tâm hồn mỏng manh của ng, thấu chăng nơi đây đang có bóng hình chờ và đợi.Đau lắm
nhưng cũng phải tự nén lòng và nuốt nghẹn đắng vào trong.Cuộc đời thì cứ đùa cợt trêu đùa với
những ng làm vợ lẽ, phải chịu bao phân biệt và bất công có ai thấu hiểu dùm
cố đấm ăn xôi xôi lại hỏng
cầm lòng làm mứơn mứơn không công
Cả bài thơ là muôn vàn sắc thái tình cảm của nhà thơ có buồn có hờn có giận có chua chát có lúc

phản kháng dữ dội nhưng rồi chán chừơng vì thất vọng. Tiếng thơ táo bạo chân thành thễ hiện khát
vọng mưu cầu hạnh phúc lứa đôi của bao hồng nhan torng xhpk bấy giờ, qua đó đã dẫn dắt cho ng
đọc đi vào thế giới tâm hồn đa dạng của họ và thấy dc cũng như có cơ hội cảm thông với bao nỗi
buồn mà họ phải gánh chịu .Ngôn ngữ thơ mang đậm chất dân gian dc sử dụng khéo léo giàu sức
biểu cảm tinh tế. Tài thơ nôm cua hxh còn thể hiện qua việc viết thơ đừong luật bằng tiếng việt
thật tài tình quả không hổ danh là bà chúa thơ nôm.
Nghị luận xã hội:Thương người như thể thương thân
Từ xưa đến nay, ông bà, cha mẹ thường khuyên nhủ chúng ta là phải "Thương người như thể
thương thân". Như vậy với đúng với truyền thống tốt đẹp của dân tộc VN là lấy chữ nhân làm gốc.
Và dó cũng là một trong những phẩm giá của con người VN.
Thương thân là thương chính bản thân mình. Khi đói không cơm ăn, khi lạnh không có áo mặc,
khi ốm đau không có thuốc uống và không ai chăm sóc lúc đó bạn mới cảm nhận được mình rất
thương bản thân của mình. Thương người là thương xót mọi người xung quanh, quan tâm, chia sẻ
và sẵn sàng giúp đỡ khi mọi người gặp khó khăn. Thương người như thể thương thân là ta yêu quý
bản thân như thế nào thì ta cũng đối xử với mọi người như thế. Nếu bản thân đã từng trải wa đau
khổ, bệnh tật, túng thiếu thì khi gặp những người cùng cảnh ngộ ấy, ta hãy cảm thông, chia sẻ,
giúp đỡ, quan tâm tới họ như chính vơi bản thân mình.
Câu tục ngữ nhắc nhở chúng ta phải biết thương yêu, trân trọng mọi người như chính bản thân
mình. Trong cuộc sống phải biết đoán kết giúp đỡ nhau, thể hiện được tình tương thân tương ái
trong xh VN. Một cá nhân không thể sống thiếu gia đình, một gia đình không thể tách riêng khỏi
XH, nhất là những lúc cơ nhỡ, khó khăn. Theo thống kê hiện nay, trên thế giới có tới 70% trẻ em
trở nên hư hỏng, đầu trộm đuôi cướp là do thiếu sự wuan tâm của gia đình và xã hội. Mối quan hệ
giữa người với người rất khăng khít; mình có thông cảm, yêu thương, giúp đỡ người khác thì mới
nhận được cách đối xử như vậy. Nếu hôm nay bạn giúp đỡ cho nhiều người nghèo có cơm ăn, áo
mặc, có việc làm ổn định thì chắc chắn họ sẽ biết ơn và ít nhất bạn cũng được họ kính trọng vi là
ân nhân của họ. Hiện nay, trên khắp cả nước co rất nhiều phong trào từ thiện, nhiều quỹ từ thiện
được lập lên như: quỹ vì người nghèo, quỹ khuyến học, quỹ dành cho người khuyết tật Đông
thời ngày càng có nhiều các ngôi nhà tình nghĩa, các trường học được xây mới cho các em học
sinh nghèo. Đó là nhưng biểu hiện rất cụ thể cho truyền thống nhanái và đoàn kết của dân tộc VN.
Tình giai cấp, nghĩa đồng bào là yếu tố quan trọng hành đầu tạo nên sức mạnh trong sự nghiệp

chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh. Tình tương thân tương ái là
một trong những nét đẹp nổi bật của bản sắc dân tộc ta.
Phân tích: Vào Phủ Chúa Trịnh
Lê Hữu Trác xuất thân trong một gia đình quí tộc, giỏi binh thư,võ nghệ. Làm quan dưới thời chúa
Trịnh được một thời gian,ông nhận thấy xã hội thối nát,cương thường lỏng lẻo, nhân khi người anh
ở Hương Sơn mất (1746), ông liền viện cớ cáo quan về nuôi mẹ già. Từ đó ông chuyên nghiên cứu
y học vừa chữa bệnh cứu đời, vừa soạn sách và mở trường dạy học truyền bá y đức, y lí,y thuật.
Ngày 12 tháng giêng năm Cảnh Hưng 43(1782),Lê Hữu Trác nhận được lệnh chúa triệu về kinh
xem mạch, kê đơn chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán.Sau đó một thời gian thì chữa bệnh cho chúa
Trịnh Sâm. Những điều Lê Hữu Trác mắt thấy tai nghe trong nhiều chuyến đi từ Hương Sơn ra
Thăng Long đã thôi thúc ông cầm bút. Năm 1783 ông viết xong tập “Thượng kinh kí sự” bằng chữ
Hán. Tập kí sự này là một tác phẩm văn học đích thực, đặc sắc giá, có giá trị sử liệu cao . Đoạn
trích “ Vào phủ chúa Trịnh” trong sách Ngữ văn 11-Nâng cao,tập 1(Nxb.Giáo dục,H,2007) thể
hiện được đầy đủ những nét độc độc đáo trong bút pháp kí sự của Lê Hữu Trác.
Như ta biết: kí là là tên gọi chung cho một nhóm thể loại có tính giao thoa giữa báo chí với văn
học. Kí viết về cuộc đời thực tại,viết về người thật,việc thật. Người viết kí miêu tả thực tại theo
tinh thần của sử học. Mẫu hình tác giả kí gần gũi với nhà sử học. Tác giả kí coi trọng việc thuật lại
có ngọn ngành và không bao giờ quên miêu tả khung cảnh. Kí bao gồm nhiều thể văn như : bút ký,
phóng sự, du kí, hồi kí,nhật kí, …Trong số đó kí sự thiên về ghi chép chi tiết, tỉ mỉ sự việc- câu
chuyện có thật. Tất nhiên đan xen vào mạch tự sự còn có những đoạn thể hiện nhận xét chân
thực,tinh tường của nhà văn trước sự việc.
Đoạn trích “ Vào phủ chúa Trịnh” vẽ lại một bức tranh sinh động về cuộc sống xa hoa quyền quý
của chúa Trịnh. Lê Hữu Trác sử dụng người trần thuật ngôi thứ nhất,trực tiếp tiếp cận cung cách
sinh hoạt xa hoa của chúa Trịnh. Nhà văn quan sát tỉ mỉ, ghi chép trung thực, tả cảnh sinh động,
thuật việc khéo léo.
Mở đầu đoạn trích là một sự kiện cụ thể, chân thực. Tính chất kí trong bút pháp của Lê Hữu Trác
thể hiện rõ ở cách ghi tỉ mỉ sự việc, thời gian .Nhà văn kết hợp biện pháp kể khách quan với nghệ
thuật gợi không khí nhằm làm nổi bật hành động khẩn trương,gấp gáp của nhân vật: “ Mồng một
tháng 2. Sáng tinh mơ, tôi nghe tiếng gõ cửa rất gấp. Tôi chạy ra mở cửa . Thì ra một người đầy tớ
quan Chánh đường….” . ở đây “trong việc có người”, người gắn chặt với cảnh,với môi trường

hoạt động cụ thể. Câu văn của Lê Hữu Trác ngắn gọn, giàu thông tin, được viết ra một cách nhẹ
nhàng, tự nhiên,không một chi tiết thừa .Lời văn giản dị, chắc mà bay bổng, vừa “truyền cảm” vừa
truyền nhận thức .Người đọc có thể hình dung được rất rõ một cảnh huống đặc biệt đang xảy ra.
Lần theo mạch tự sự, người đọc có cảm giác hồi hộp lo âu rồi bất ngờ nhận ra một con người gần
gũi, quen thuộc như cảm nhận của nhân vật “ Tôi” trong tác phẩm này. Trước mắt ta : hình ảnh
nhân vật tôi đã dừng bước với tâm trạng ngạc nhiên, thoáng một chút thất vọng. Nhịp kể đột ngột
chậm lại để ghi người, ghi việc rõ nét hơn, đầy đủ hơn. Hai chữ “thì ra” vừa tạo ấn tượng về sự
khám phá, vừa gọi ra được người thật,việc thật .
Nhân vật “tôi” không hiện ra qua hình dáng cụ thể. Trước hết anh ta xuất hiện qua giọng nói, qua
cảm nhận về âm thanh, và rõ hơn ở hành động. Nhân vật “tôi”” xuất hiện với tư cách một người
trong cuộc, trực tiếp tham gia vào sự việc được miêu tả trần thuật. Vì thế ngay từ đầu truyện người
đọc đãcó cảm giác đây không phải câu chuyện hư cấu, mà chính là bức tranh cuộc sống đang hiện
hữu .
Khi kể việc, tả người Lê Hữu Trác không vay mượn những khuôn mẫu, chất liệu có sẵn,tác giả
hướng tới khai thác chất liệu đời thường, đời tư. Chẳng hạn lời đối thoại của nhân vật người đầy tớ
được thể hiện một cách tự nhiên, đúng với vị thế chức phận của hắn: “có thánh chỉ triệu cụ vào.
Quan truyền mệnh hiện đang ở nhà cụ lớn con,con vâng mệnh chạy đến đây báo tin…”.
Lê Hữu Trác coi trọng việc kể lại có ngọn ngành. Nhà văn ưa sắp xếp sự việc cho đầy đủ mạch lạc
có đầu có cuối, nên dường như cứ một đoạn hay một câu nói về hành động của tên đầy tớ lại tiếp
đoạn tự thuật về hành động, cảm nhận của Lê Hữu Trác. “Nghe tiếng gõ cửa… tôi chạy ra…” ,
“người đầy tớ nói… tôi bèn” , “tên đầy tớ chạy…tôi bị xóc một mẻ,khổ không nói hết”. Mạch văn
chặt chẽ nhờ sự thể hiện thành công cái lô gíc nhân quả của sự kiện, hành động .Ban đầu ta tưởng
như nhân vật “tôi” chủ động, nhưng càng đọc càng thấy nhân vật “tôi” bị cuốn vào hết sự việc này
đến sự việc khác.
Mở đầu đoạn trích cấu trúc câu văn ngắn gọn. Mỗi câu văn tương ứng với một tâm tình, một sự
việc, hành động. Người đọc vừa đồng cảm với nỗi vất vả và hành động bất đắc dĩ của nhân vật tôi
vừa đồng tình với Lê Hữu Trác ở thái độ mỉa mai châm biếm sự lộng quyền ,tiếm lễ của chúa
Trịnh Sâm lúc bấy giờ.
Quang cảnh và cung cách sinh hoạt trong phủ chúa được ghi lại khá tỉ mỉ qua con mắt quan sát của
một thầy thuốc lần đầu tiên bước chân vào thế giới mới lạ. Không gian nghệ thuật của tác phẩm

ngày càng được mở rộng hơn theo bước chân, và cách nhìn của nhân vật xưng “tôi” .Bức tranh
toàn cảnh về phủ chúa Trịnh không chỉ có bề rộng mà còn có chiều sâu, với một sức gợi mạnh mẽ.
Theo nhân vật “tôi” quanh cảnh ở phủ chúa cực kì xa hoa, tráng lệ- không ở đâu sánh bằng: Khi
vào phủ phải qua nhiều lần cửa với những hành lang quanh co nối tiếp nhau,ở mỗi cửa đều có vệ sĩ
canh gác. Khuôn viên phủ chúa rộng, có trạm dừng chân được kiến trúc thật kiểu cách, với cảnh trí
thiên nhiên kì lạ. Trong vườn, chim kêu ríu rít,danh hoa đua thắm,gió đưa thoang thoảng mùi
hương. Bên trong là những Đại đường, gác tía với kiệu son, võng điều. Đồ dùng của chúa được
son son thiếp vàng, đồ dùng tiếp khách ăn uống cũng đều là mâm vàng, chén bạc, của ngon vật
lạ…. Đến nội cung của thế tử phải trải qua 6 lần trướng gấm. Nơi ở của thế tử rất sang trọng,có
sập thếp vàng, ghế rồng bày nệm ấm ,xung quanh lấp lánh, hương hoa ngào ngạt…
Lê Hữu Trác khéo kết hợp tả tập trung với điểm xuyết, chọn lọc được những chi tiết đắt, nói lên
quyền uy tối thượng cùng nếp sống hưởng thụ cực kì xa xỉ của gia đình chúa Trịnh Sâm. Giọng kể
khách quan, trang nghiêm, đan xen với thái độ ngạc nhiên và hàm ý phê phán kín đáo chúa
Trịnh .Nhà văn khéo kết hợp giữa văn xuôi và thơ ca. Bài thơ vịnh cảnh, tả việc của Lê Hữu Trác
ý tứ sâu xa, lời thơ hóm hỉnh ,ẩn giấu một nụ cười châm biếm, mỉa mai.
Lời nhận xét trong văn phẩm khá đa dạng: Trước tiên Lê Hữu Trác đánh giá khái quát vẻ đẹp. Tiếp
theo nhận xét về cảnh giàu sang. Tiếp nữa nêu ấn tượng về cách bày trí, kiến trúc kiểu cách. Nhà
văn dừng lại bình giá tỉ mỉ,sắc sảo các đồ dùng xa hoa từ nhà Đại đường đến Gác tía. Lời đánh giá
nào của lê Hữu Trác cũng đích đáng,tinh tế và có chừng mực. Nói tác phẩm giàu chất trữ tình vì
thế.
Tác giả quan sát các công trình kiến trúc, cảnh trí thiên nhiên qua hình khối, dáng vẻ kích cỡ, tả
khuôn viên chủ yếu qua những ấn tượng về hương thơm âm thanh, kể về mức độ xuất hiện của thị
vệ, quân sĩ để nhấn mạnh vẻ trang nghiêm của nơi đây. Lê Hữu Trác đặc biệt ưa tả đường đi, lối
vào phủ chúa. Ta có cảm tưởng đằng sau mỗi cánh cửa là một bức tranh .Đoạn trích gồm nhiều
bức tranh với những mảnh màu tối sáng, nhạt đậm khác nhau, nối liền nhau .
Qua mấy lần cửa đầu tiên, trước mắt tác giả giống như một cảnh tiên huyền ảo, cây cối um tùm,
hương hoa thơ mộng. Đi tiếp, cảnh giàu sang của phủ chúa được bày ra chân thật,đầy đủ hơn.
Càng đi sâu vào trong, Lê Hữu Trác càng có dịp quan sát không gian nội thất, không gian cao rộng
của lầu gác với các đồ nghi trượng sơn son thếp vàng, nhất là được biết cái phong vị của nhà đại
gia.

“Vào phủ chúa Trịnh” trở thành một quá trình tiếp cận sự thật đời sống xa hoa vương giả hơn là
thăm bệnh,chữa bệnh. Thăm bệnh, chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán tưởng chỉ như một cái cớ, một
dịp may giúp người viết kí hoàn thiện bức tranh về cuộc sống thâm nghiêm, giàu sang đầy uy
quyền.
Lê Hữu Trác tổ chức điểm nhìn trần thuật linh hoạt. Có đoạn sự việc được kể theo quan sát của
nhân vật xưng tôi. Có đoạn nhà văn để cho nhân vật quan truyền chỉ miêu tả,giới thiệu. Người đọc
có cảm tưởng không chỉ có Lê Hữu Trác dẫn ta vào phủ chúa để tự do quan sát ngắm nhìn mà cả
những kẻ hầu cận chúa cũng đưa ta thâm nhập, khám phá sự thật ở “Đông cung”. Những đoạn
nhân vật tôi độc thoại toát lên cái nhìn sắc sảo và sự cảm nhận tinh tế. Những đoạn kể tả, cho thấy
nhân vật tôi bao quát được một không gian rộng lớn, nắm bắt được thần thái, bản chất của sự vật
hiện tượng. Trong tư cách một người thầy thuốc quê mùa, nhân vật tôi luôn tỏ ra là một người hoà
nhã kính nhường, ham học hỏi y thuật của đồng nghiệp . Sự đối lập về vị thế so với các vị lương y
của sáu cung hai viện,không khiến nhân vật tôi trở nên nhỏ bé, trái lại càng tôn cao hơn nhân cách
và tài năng của nhân vật này . Vẻ đông đúc của lương y nơi triều đình tự phơi bày hết sự thực ở
phú chúa đang tồn tại một hệ thống quan lại bất tài, ăn bám .
Các nhà nho xưa ít khi nói về mình. Nhưng trong đoạn trích này,tác giả đã không ngần ngại để cái
“Tôi”đóng một vai trò quan trọng. “Vào phủ chúa Trịnh” thể hiện trực tiếp cái tôi cá nhân người
cầm bút. Qua đoạn trích ta thấy tác giả Lê Hữu Trác là một thầy thuốc giàu kinh nghiệm. Bên cạnh
tài năng ông còn là một thầy thuốc có lương tâm và đức độ. Lê Hữu Trác xem nghề thuốc vô cùng
thiêng liêng cao quí,người làm thuốc phải nối tiếp lòng trung của cha ông mình,phải luôn giữ đức
cho trong, giữ lòng cho sạch . Lê Hữu Trác yêu thích tự do, nếp sống thanh đạm. Vượt lên trên
những danh lợi tầm thường ông trở về hành đạo cứu đời với quan niệm : “Thiện tâm cốt ở cứu
người. Sơ tâm nào có mưu cầu chi đâu/ Biết vui, nghèo cũng hơn giàu/ Làm ơn nào phải mong cầu
trả ơn”.
Nghị luận xã hội về câu nói "học đi đôi với hành"
“Trăm hay không bằng tay quen” người xưa đã từng quan niệm rằng lí thuyết hay không bằng thực
hành giỏi điều đó cho thấy người xưa đã đề cao vai trò của thực hành trong khi đó những kẻ học
thức chỉ biết chữ nghĩa thánh hiền, theo lối học từ chương sáo mòn cũ kĩ. Ngày nay với đà phát
triển của xã hội, quan niệm lí thuyết và thực hành được hiểu khác hơn học và hành lúc nào cũng đi
đôi, không thể tách rưòi nhau. Điều đó cũng đã được chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định.

Học để hành,học với hành phải đi đôi.Học mà không hành thì học vô ích.Hành mà không học thì
hành không trôi chảy”.
Lời dạy của Bác có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc học cuả chúng ta ngày nay.
Vậy học và hành có quan hệ như thế nào? Trước hết ta cần hiểu: học là tiếp thu kiến thức đã được
tích lủy trong sách vở, là nắm vững lí luận đã được đúc kết trong các bộ môn khoa học, đồng thời
tiếp nhận những kinh nghiệm của cha anh đi trước. Học là trao dồi kiến thức, mở mang trí tuệ,
từng lúc cập nhật hóa sự hiểu biết của mình, không để tụt lùi, lạc hậu, học là tìm hiểu, khám phá
những tri thức cuả loài người nhằm chinh phục thiên nhiên, chinh phục vũ trụ. Học thuộc khía
cạnh của lí thuyết, lí luận. Còn hành nghĩa là làm, là thực hành, là ứng dụng kiến thức, lí thuyết
cho thực tiễn đời sống. Cho nên học và hành có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau. Học và hành là
hai mặt của một quá trình thống nhất, nó không thể tách rời nhau mà phải luôn gắn chặt với nhau
làm một. Ta cần hiểu rõ “hành” vừa là mục đích vừa là phương pháp học tập, một khi đã nắm
vững kiến thức, đã tiếp thu lí thuyết mà ta không vận dụng vào thực tiễn, thì học chẳng để làm gì
cả. “học mà không hành thì vô ích “. học mà không hành được là do học không thấu đáo hoặc
thiếu môi trường hoạt động. Ttrong cuộc sống không thiếu những kẻ lúc đi học không chuyên chú
nên lúc ra đời không làm gì được, bị mọi người khinh chê. Ngược lại nếu hành mà không có lí
luận, lí thuyết soi sáng và kinh nghiệm đã được đúc kết dẫn dắt thì việc ứng dụng vào thực tiễn sẽ
lúng túng khi gặp khó khăn trở ngại, thậm chí có khi sai lầm nữa “hành” mà không như thế rõ ràng
là “không trôi chảy” đã có không ít trường hợp vô tình trở thành người phá hoại vì người đó
“hành“ mà không “học”.
Xác định được tầm quan trọng của việc học cũng chưa đủ, ta cần phải hiểu học cái gì và học như
thế nào? Học ở đây không chỉ bó hẹp trong phạm vi nhà trường, không phải chỉ có kiến thức do
thầy cô truyền thụ. Còn có rất nhiều điều hay mới lạ trong cuộc sống mà ta cần phải học, sự học
rất mênh mông bao la , không có giới hạn cho nên ta phải học tập không ngừng. ở lứa tuổi nào
cũng phải học - học ở nhà trường gia đình, xã hội , học thầy , học bạn , học ở mọi nơi mọi chốn “
đi một ngày đàng học một sàng khôn”.
Hơn thế là học sinh ta cần phải có ý thức đứng đắn trong việc học, phải có thái độ học tập nghiêm
túc, không học qua loa, vừ học vừa chơi. Vào lớp phải chú ý nghe thầy cô giảng bài, ghi chép bài
đầy đủ, về nhà phải học bài cũ, phải nghiên cứu bài mới, làm bài tập đầy đủ, không học theo kiểu
học vẹt, học lí thuyết suông mà phải kết hợp lí thuyết thực hành. Phải biết vận dụng sáng tạo

những kiến thức thầy cô truyền thụ vào bài tập thực hành, có như vậy hiệu quả học tập mới được
nâng cao.
Ngày nay, lời dạy của Hồ Chủ tịch ngày càng được khẳng định tác dụng của nó trong thực tế. Học
đi đôi với hành đã trở thành nguyên lí phương châm giáo dục của nhà nước đồng thời cũng là
phương pháp học tập của mỗi chúng ta. Thấm thía lời dạy của Người , em càng có ý thức học
trong việc học tập của mình, em sẽ cố gắng thực hiện phương pháp “học” phải “hành” để việc học
tập của em ngày càng tiến bộ hơn.
Nghị luận xã hội về "Tấm Cám"
Tấm Cám là một câu truyện cổ tích kinh điển của dân tộc Việt Nam. Nó mang đậm tính chất giáo
dục con người. Thông wa câu chuyện cuộc đời cô Tấm, câu chuyện đã đánh bật lên mâu thuẫn
giữa thiện và ác trong xã hội. Tôi đã nghe bà kể từ lâu nhưng giờ đây khi có cơ hội ngồi suy nghĩ
và phân tích tôi mới có thể cảm nhận được bài học đạo lý mà câu chuyện này muốn truyền đạt.
Sớm mồ côi cha mẹ,cô Tấm sống trong sự ghẻ lạnh của gì ghẻ và Cám.Hằng ngày cô phải làm mọi
công việc chỉ để đổi lấy đòn roi của gì và những câu mắng chửi của em.Cuộc sống cứ như thế trôi
wa để lại cho cô gái hiền lành những vết thương khó có thể lành. Không ai biết về cô, không ai
làm bạn cùng cô trong những đêm buồn tủi cô Tấm chỉ biết khóc. Dù nỗi đau nối tiếp nỗi đau, vết
thương in thêm nhưng vết thuong nhưng cô vẫn giữ trọn chữ hiếu cùng gì và nghĩa với đứa em cay
ác. Nếu tôi được nói một câu cùng cô, tôi sẽ nói rằng Cô yếu đuối wá cô Tấm àh! Hạnh phúc thật
sự chỉ do bản thân mình tự mang lại mà thôi, vậy tại sao cô không thử đừng dậy đấu tranh cho bản
thân mình?
Từ xưa đến nay, hình ảnh cô Tấm đã trở thành một khuôn mẫu để đánh giá nét đẹp của người phụ
nữ. Cô Tấm xinh đẹp, nhân hậu, chăm chỉ và cô rất hiếu thảo. Nhưng cô không được sống trong
hạnh phúc thứ mà đáng lẽ cô phải được nhận để xứng đáng với nhân cách tốt đẹp của mình.
Việc hằng ngày gì ghẻ và Cám luôn ngược đãi cô Tấm đã thể hiện rõ cho chúng ta thấy được mâu
thuẫn xã hội đã hình thành từ rất lâu. Từ khi con người hình thành tri thức, cái thiện và cái ác đã
cùng song hành trong xã hội. Không nơi nào tồn tại toàn những người tốt, và cũng sẽ chẳng thể có
một xã hội với tất cả nhưng công dân xấu cả. Cái tốt cái xấu đã và đang hiện hữu trong mỗi chúng
ta, thật sai lầm khi chúng ta sống mà chỉ cố gắng làm điều tốt! Người tốt thật sự là người biết tự
nhìn nhận ra những sai lầm của bản thân và tránh lập lại chúng.
Trở lại cùng câu chuyện của cô Tấm, ở đoạn kết chúng ta thấy được một kết thúc đẹp cho nhân vật

chính của chúng ta nhưng ít ai nhận ra rằng để đạt được hạnh phúc đó thì cô Tấm đã phải đứng đấu
tranh vô cùng vất vả. Cô chết đi và sống lại bao nhiêu lần để có được cái hạnh phúc ấy? Giả sử câu
chuyện ấy kết thúc tại thời điểm cô Tấm chết, Cám làm hoànng hậu và hạnh phúc sông cùng vua
và người mẹ độc ác của mình đến cuối đời thì sao? Lúc đó bạn sẽ không thể 1 lần nhìn thấy 2 tiếng
"hòa bình" trong xã hội này đâu. Khi ấy những gì mà trẻ con đến trường nhận được là lòng thù
hận, sự ích kỷ và đố kỵ. Hãy tưởng tượng mộ buổi sáng bạn bước ra đường, vô tình bạn thấy một
bà cụ vấp ngã và tất cả mọi người chung quang bạn vẫn dửng dưng bước đi? Tưởng tượng rằng
bạn phải đến viện bảo tàng để đọc được cuốn tiểu thuyết "Những người khốn khổ" của H.Way mà
lúc này nó bị xem là tư tưởng phát-xit ???
Và thử tưởng tượng rằng một ngày nọ Đèn đỏ, xe cộ đậu chỉnh tề ngay sau vạch trắng. Một va
chạm xảy ra và hai thanh niên rồi rít xin lỗi nhau. Anh cảnh sát giao thông nhìn cả hai trìu mến rồi
tặng mỗi người một cai nón bảo hiểm.
Sếp đứng ở cổng, dịu dàng bắt tay từng người và hỏi lương có đủ sống không làm chị lao công xúc
động nấc lên từng chập. Bản tin trên đài truyền hình cho biết giá cả đang giảm trong khi mỗi người
ai cũng được tăng hai bậc lương khiến mấy chị nhà bếp vỗ tay rần rần.
Ở các khu phố, người ta gõ cửa từng nhà để tặng sách giáo khoa cho trẻ. Chỉ cần một tiếng ho là
xe cấp cứu chạy đến tức thời. Mưa, người dân mở cửa cho khách bộ hành trú nhờ.Tụi nhỏ thích
nghịch nước khóc rấm rứt vì không tìm đâu ra một đoạn đường ngập nước. Ông giám đốc công ty
giải trí tức thời lên tivi hứa sẽ xây thật nhiều công viên nước miễn phí cho bọn trẻ
Cái ác có thể mạnh nhưng không thể tồn tại vĩnh viễn, cái thiện có thể yếu nhưng sẽ vẫn luôn tồn
tại để đấu tranh chống lại cái ác. Và như thể là một chân lý, người ở hiên thì sẽ gặp lành và kẻ gieo
gió ắt cũng có ngày gặp bão.
[NLXH] Đồng tiền trong cuộc sống
Lối sống của một quốc gia, một dân tộc luôn bị chi phối bởi những giá trị vật chất. Đồng tiền và
những giá trị thực hay giá trị ẩn của nó đều được xem như có sức ảnh hưởng rất lớn đối với lối
sống. Không có quyền đổ lỗi cho đồng tiền nhưng khống chế được nó quả không phải là đơn giản.
Biết sử dụng, không để tiền khống chế
Cách đây không lâu, trong một diễn đàn giáo dục con cái xài tiền như thế nào và có nên cho tiền
con trẻ khi đi học, nhiều phụ huynh đã làm cho chúng tôi thật sự bất ngờ. Nguyễn Thị X, luật sư,
tuyên bố một cách chắc nịch: Không cho tiền con trẻ, nếu cho tiền chỉ tổ làm cho chúng hư Trao

đổi danh thiếp để có cơ hội trò chuyện, nhưng có ai ngờ đâu đúng hơn năm sau, chị gọi lại cho tôi
và báo rằng con chị ăn cắp tiền của gia đình để xài vặt Nỗi đau này quả là một bài học quý.
Nhiều quốc gia trên thế giới đã giáo dục con cái sử dụng đồng tiền và hiểu được giá trị đồng tiền
ngay từ thuở bé. Dù rằng không phải quy gán tội cho các bậc phụ huynh nhưng rõ ràng đây là một
trong những yếu tố có thể được xem là căn nguyên của vấn đề. Nhân cách con người thế nào thì
những hành vi tương ứng sẽ như thế ấy và hành vi sử dụng đồng tiền hay để đồng tiền khống chế
ngược là một ví dụ. Chi tiền quá thoải mái và vô tư do cưng chiều con cái, cấm con cái đến mức
không được mó đến một đồng bạc cắc đều không tốt. Thế nhưng cho tiền con cái và kèm theo
những lời mắng mỏ và chặt chém càng không phải là giải pháp. Thực tế cho thấy những diễn
biến tâm lý và những dấu ấn của ký ức căng thẳng xoay quanh việc xài tiền đã trở thành những
động lực để con người phấn đấu, nhưng cũng chính vì vậy đôi lúc nhiều cá nhân đã phấn đấu có
tiền bằng mọi cách mà không kể đến lương tâm, sĩ diện và nhân cách Sinh viên Nguyễn Văn T.
phạm pháp trong một vụ buôn bán ma túy đã tâm sự một cách rất thực:  Tôi luôn bị mặc cảm vì
mỗi lần xin tiền của cha mẹ. Cảm giác thấp kém cứ thường trực trong tôi. Phải làm điều gì đó để
kiếm tiền, tôi cảm thấy việc này là việc có thể có tiền nhanh nhất . Khi bị một áp lực căng kéo
về đồng tiền trong quá khứ, nhu cầu trỗi dậy để làm chủ nó, để khống chế nó lại bùng phát mạnh
mẽ nhưng khi cá nhân chưa đủ nội lực thì những chuyện kinh khủng đã xảy ra.
Tiền chỉ là phương tiện
Có ai lại sống không cần tiền? Câu hỏi thật đơn giản lại được trả lời một cách quá khó khăn dành
cho những người thật bình thường trong cuộc đời. Giá trị đồng tiền đã rõ nhưng không phải ai
cũng hiểu đồng tiền chỉ là phương tiện.
Hãy giáo dục cho con trẻ sự thấu cảm của cuộc sống ngay từ khi trẻ còn nhỏ. Sự thấu cảm này
tưởng chừng thật đơn giản nhưng lại có giá trị rất đặc biệt. Đã qua rồi thời giáo dục chung chung
và khái quát. Hãy bắt đầu từ những việc rất đơn giản như: Ăn quả táo này con cảm ơn ai?. Cảm
ơn người trồng cây vẫn chưa đủ, cảm ơn người bán táo vẫn chưa đủ mà trước hết phải cảm ơn bố
mẹ - người đã lao động cực nhọc để mua táo cho con. Hãy thẳng thắn nhưng thật nhẹ nhàng và
tinh tế giáo dục cho con cái hiểu rằng việc tìm ra đồng tiền là quan trọng nhưng chính tình cảm bố
mẹ dành cho con mới là quan trọng nhất.
Theo thời gian và năm tháng, hãy giúp trẻ nhận ra với 500.000 đồng có được từ hai nguồn khác
nhau, một là trúng số, hai là có được từ tháng lương đầu tiên, con sẽ làm gì Chính lúc này trẻ sẽ

hiểu hơn về những giá trị của đồng tiền trong cuộc sống. Không có quyền phán xét và không có
quyền chỉ trích nhưng quá nhiều bậc cha mẹ ngày nay đã ép con mình sống theo thước đo của
đồng tiền từ những tình huống rất thường nhật. Chú Ba mày keo quá, lì xì cho Út tui có 5.000 thì
bèo hơn cái bánh xèo miền Trung; Con cứ thi vào kinh tế cho mẹ mới có nhiều tiền, vào chi ba
cái xã hội, báo chí cho mệt thân  là những câu nói cửa miệng của khá nhiều gia đình!
Nhiều người thân, nhiều gia đình đã thật sự sai lầm khi cứ áp lực chồng mình, vợ mình tìm nhiều
tiền hơn nữa để xây nhà, đi du lịch. Nhiều bậc bố mẹ hay những bạn đời thấy người thân của mình
đem về nhiều tiền thì cứ sung sướng hỉ hả trên đống tiền có được mà thiếu hẳn sự quan tâm, hỏi
han Chính sự vô tâm, chính sự thờ ơ vô cảm này đã làm cho nhiều người thân của chính mình
trượt dài trên con dốc số phận theo vòng xoáy của đồng tiền mà không thể hãm phanh. Buồn, xót
giờ đã muộn!
Bài học giản đơn mà sâu sắc nhất vẫn là giáo dục giá trị làm người của một con người. Biết tự
trọng, biết cân nhắc, có sĩ diện, biết điểm dừng khi cần trong cuộc sống sẽ làm cho mỗi người
vững vàng hơn trước áp lực của đồng tiền.
[NLXH] Danh và thực!
Xưa nay có kẻ danh để không “nát với cỏ cây” thường hiếm. Vì hiếm nên qúy. Quý nên được
ngưỡng vọng, tôn kính. Giầu có chưa là gì. Quyền thế chưa là cái đinh gì so với danh vọng, danh
tiếng. Chính thế mà chữ danh luôn luôn là nỗi khao khát đầy mầu sắc bi kịch của biết bao người.
Có cả muôn vạn cách để lưu danh ở đời. Nhưng có lẽ cái cách mà nhiều người tìm đến nhất là học.
Thuận theo lẽ trời sẽ là: học để thành tài, để có dịp đem cái tài ra phụng sự đất nước, "ích quân
trạch dân" rồi danh tiếng sẽ tự đến, sẽ lưu truyền đời nào sang đời khác, thành tên đất, tên làng…
tồn tại cùng trời đất. Có danh là để dễ bề làm sáng nghiệp tổ tiên, làm cho ngay thẳng công lý.
Khổng Tử bảo: "Danh có chính thì ngôn mới thuận" vừa nói nên khát vọng của kẻ sĩ nhưng đồng
thời cũng gắn cho họ một sử mệnh thật lớn lao mà một kẻ vô đạo cũng sẽ vô dụng nếu như không
là tai họa cho nhân quần.
Vì thế, chỉ cần có thực tài thì hiển nhiên là sẽ có danh. Tài cao, đức trọng, lĩnh hội được mệnh trời
thì có danh lớn. Tài hèn, sức mọn thì chỉ cần sống cho ra một con người, cũng là có danh rồi. Cái
"thực" trong trường hợp này chính là tự biết mình không có tài cao.
Danh là thế, thực là thế, từ cổ đã thế, tưởng mãi về sau vẫn thế. Nhưng bắt đầu từ khi chữ danh đi
kèm với chữ lợi, với quyền lực thì cái thuận trình trên kia bị đảo ngược. Vốn bắt đầu từ sự ghi

nhận, suy tôn của mọi người, chữ danh trở thành vật có thể chiếm đoạt, mua bán, với không ít
người. Nó bị biến thành một thứ giả trang hào nhoáng, dễ lòe bịp, che đậy những toan tính tầm
thường. Giờ đây không phải thực tài tạo ra danh tiếng mà là tiền, vàng, ngoại tệ mạnh, là thói xu
thời hèn nhát, là sự vô đạo không bị nguyền rủa. Khi đã không bắt đầu từ tài (thực cái mình có) thì
cái thứ danh khoác lên mình hiển nhiên là danh hão, danh giả. Tức là "Hữu đanh vô thực", "danh
bất xứng thực". Điều đáng nói là những kẻ "hữu danh" kiểu ấy biết rất rõ họ không xứng với cái
danh ấy. Họ biết rằng: vì mưu lợi cho bản thân họ phải chui luồn đi cổng hậu, dùng tiền mua một
cách khuất tất cởi thứ danh bán lại không được nửa xu ấy. Họ biết nhưng họ không xấu hổ, không
thấy vô liêm sỉ mà còn coi như một sự khôn ngoan. Mục tiêu của họ là phải "hữu danh" và họ cần
đạt được bằng mọi cách. Bởi vì thứ danh mà họ có chỉ được dùng vào việc vụ lợi, leo lên những
nấc thancj quyền lực để dễ bề đục khoét, vơ vét mà lại an toàn. Chưa có thời kỳ nào mà công việc
vật lộn để "hữu danh" sôi động, trắng trợn và đầy tính bi hài như mấy chục năm qua. Kẻ dốt nát
kiên quyết chứng tỏ mình không dốt nát bằng đủ thứ bằng cấp, học hàm, học vị mà cả đời họ
không thể có bất cứ cơ hội nào đem ra dùng. Tình trạng Phó Tiến sĩ, Tiến sĩ, Giáo sư… chưa có
bằng Phổ thông trung học, chưa có bằng Đại học, một chữ nước ngoài không biết, viết sai cả lỗi
chính tả, văn hóa tối thiểu còn chưa đủ như báo chí và dư luận nêu ra, là sản phẩm tất yếu của cơ
chế dung túng thứ danh hão, danh suông. Nhưng nếu chỉ có thế thì họ cũng chẳng hơn vì bọn
người đáng thương hại được cuộc đời cho mượn chiếc sân khấu để càng múa máy càng lố (ngoại
trừ một sự xúc phạm đến cái đạo học xa vời và vô hình nào đó). Vấn đề là chuyện không chịu
dừng ở đấy. Khi có được bộ phục giả trang, khi từ cục đất được nặn thành tượng, họ muốn thiên hạ
phải quỳ mọp dưới chân mình. Chúng ta đang chịu đựng một sự quá tải cái nghịch lý này. Và rồi ở
đâu cũng cứ phải gặp những kẻ "học làm phép" ngồi chồm chỗm, lì lợm, tráo trở, bất luân
Hàng ngày, ở bất cứ đâu cũng rung lên những hồi chuông khẩn thiết báo động về tệ nạn chuyên
quyền, tham nhũng, tệ hàng rởm, văn bằng rởm, người rởm…. Nhưng chưa thấy ai nhắc đến tệ nạn
danh rởm, “hữu danh vô thực" - là nguyên nhân của các tệ nạn kia. Trong văn học, nhân vật khoác
áo Giáo sư, Tiến sĩ cả đời không đọc nghiêm chỉnh, trọn vẹn một cuốn sách mới chỉ lác đác xuất
hiện ở đâu đó trong khi ngoài trời có thể gặp nhan nhản. Họ không chỉ chầu chực ăn nhờ vào cơ
chế mà còn làm bẩn, làm hoen gỉ chính cái cơ chế đó. Hơn thế, nó khuyến khích một lối học thực
dụng học hình thức, về thực chất còn hại gấp nhiều lần sự thất học. Nó đánh tráo những tiêu chí
quan trọng thường là định hướng cho một đời người, một thế hệ. Có khá nhiều vấn đề nhức nhối

mà xã hội đang xoay trần ra tháo gỡ, có nguyên nhân cắm rễ từ việc trọng dụng những người
không có thực tài. Đã đến lúc cần phải hiểu đến nơi, đến chốn về chữ đức trong cặp phạm trù tài -
đức. Tôi thiển nghĩ rằng, cái đức của kẻ có học, có tài là cái đức lớn, là lương tri có thể tạo ra
không chỉ lòng tốt, sự thuần hậu mà còn biết nương theo quy luật để thay đổi cuộc sống theo
hướng tốt lên, không thể đánh đồng với thứ đạo đức thông thường theo lối gọi dạ, bảo vâng, chỉ
biết nghe theo, làm theo, đành rằng đôi khi cũng cần nhưng lắm khi vô dụng thậm chí còn vô tình
tạo ra tai họa. Sự lựa chọn giữa tài và đức phả là sự lựa chọn giữa tài và đức lớn trên kia. Một
người chỉ tốt bản năng, thậm chí tốt mù quáng chắc gì đã là tốt?
Nghị luận về vấn đề chữ "danh" trong đời sống
Từ khi có xã hội loài người, mỗi cá thể trong cộng đồng bắt đầu có một cái tên. Khi xã hội phân
chia giai cấp rõ rệt, bên cạnh tên kèm theo những “phụ đề” để chỉ đẳng cấp xã hội, như: quý ông,
quý bà, quý cô, thảo dân, thứ dân Từ đấy bắt đầu có sự rắc rối cho chữ DANH. Con người ta đi
đến chữ DANH bằng năm bảy đường khác nhau: Người thì dựa vào tài đức chính mình; kẻ phải
cậy vào tiền tài, thế lực người khác; người thì lưu danh nhờ những công trình lợi dân, ích nước; kẻ
để tiếng bằng những thủ đoạn xấu xa.
Trong cuộc sống, lắm khi chữ DANH gắn với chữ LỢI (danh lợi) khiến con người ta bằng mọi giá
để đạt được dù là hư danh. Cho nên có DANH đấy, thực chất không có giá trị gì, lúc này trở thành
không có danh giá, mất danh dự.
Tiếc rằng, dư luận xã hội vẫn chưa lên án mạnh mẽ, quyết liệt với những hiện tượng háo danh
chạy bằng, chạy chức, chạy học vị, chạy các loại danh hiệu này nọ. Nhiều vị chạy học hàm kiếm
cho bằng được DANH giáo sư, phó giáo sư dù chẳng dạy giờ nào, mà dù có dạy cũng không ai
chịu khó nghe lần thứ hai, các vị này thường được gọi là “giáo sư gây mê”. Tri thức xã hội không
vì thế mà giàu lên, trái lại “đạo học” có nguy cơ suy vong, khan hiếm nhân tài đích thực.
Chúng ta biết rằng, trong thực tiễn quản lý, nhất là ở tầm hoạch định chính sách, nhiều vấn đề phát
sinh không có trong sách vở, các thông lệ. Hơn nữa, công cuộc đổi mới cũng như cải cách hành
chính và những vấn đề bức xúc của Nhà nước ta chưa có tiền lệ. Vì thế, nếu chỉ biết “nhai lại” mà
chỉ số thông minh thấp thì khó có khả năng đề xuất giải quyết những vấn đề bức xúc có tính đột
phá. Có chỉ số thông minh và chỉ số xúc cảm cao mới có điều kiện để năng động, sáng tạo nhạy
bén!
Vừa qua (17-7), Chủ tịch nước Nguyên Minh Triết cùng Bí thư Thành ủy TP HCM Lê Thanh Hải

đến thăm và mừng thọ nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng, một người được đánh giá là có đầu óc
siêu việt do tự học nhưng không màng bằng cấp. Ông tâm sự một cách bức xúc rằng, cách thức bổ
nhiệm, sử dụng con người thông qua tiêu chuẩn bằng cấp ở nước ta hiện đang có “vấn đề” cần
nghiên cứu. Chủ tịch nước Nguyên Minh Triết góp vào câu chuyện bằng một thực tế thỉnh thoảng
xảy ra: Cán bộ yếu thì cho đi học, bắt cán bộ giỏi làm thay; đến khi bổ nhiệm thì nhờ có bằng cấp
nên cán bộ yếu được đề bạt (Báo Tuổi Trẻ 18-7).
Xin kết lại chuyện danh và thực bằng đoạn văn của Trương Đông Sơ trong Cổ học tinh hoa:
Sĩ, đại phu (người làm quan) nên vì đời mình mà tiếc danh, không nên vì đời mình mà mua danh.
Có học thức, chuộng khí tiết, lấy hay cho phải cẩn thận, uy nghi phải trang trọng, ấy thế là tiếc
danh. Tâng bốc lẫn nhau, a dua những kẻ quyền quý, làm ra kiểu cách khác thường, lờ mờ hai mặt,
ấy thế là mua danh. Người tiếc danh thì yên lặng mà hay, kẻ mua danh thì rực rỡ mà dở.
Trên bước đường thành công không có dấu chân của kẻ lười biếng. (Lỗ Tấn)
Trong xã hội ngày càng văn minh, tiến bộ, để đạt được thành công vẻ vang, chúng ta phải không
ngừng nỗ lực vươn lên, phát huy hết khả năng để đạt được điều mà chúng ta muốn. Cũng như Lỗ
Tấn đã từng nói: “Trên bước đường thành công không có dấu chân của kẻ lười biếng”.
Chúng ta đều biết, cuộc sống này không được trải bằng hoa hồng hay thứ nước trong veo,
tinh khiết mà nó đón chào chúng ta với những thử thách, chông gai. Con đường đó sẽ là con đường
“vinh quang” đối với ai biết vượt qua nỗ lực hết mình. Nhưng nó sẽ là “đầm lầy” với ai dễ dàng
buông xuôi, từ bỏ. Chính vì thế, trên con đường dẫn đến thành công, vinh quang nhất định không
có dấu chân của những kẻ lười biếng.
Vậy ta đã bao giờ tự hỏi mình thành công là gì và thế nào là những kẻ lười biếng? Phải
chăng thành công – cái đỉnh của vinh quang mà con người đạt được trong suốt quá trình học tập,
làm việc? Là khi ta chạm tới mục đích đã đặt ra. Hay chỉ đơn thuần khi ta là chính mình, khi ta
mang đến nụ cười trên môi ai đó hay xóa đi giọt nước mắt đau buồn. Lúc đó, những sự việc ấy
cũng đáng để ta gọi là thành công lắm chứ! Và những kẻ lười biếng, khác nào những kẻ từ bỏ vinh
quang, từ bỏ lao động. Vì ắt hẳn ta vẫn còn nhớ câu nói: “Lao động là vinh quang”. Những kẻ lười
biếng đó đồng nghĩa với những con người chỉ nghĩ đến hưởng thụ mà không chịu làm việc. Như
ông bà ta hay ví von với hình ảnh những kẻ “nằm chờ sung rụng”.
Chẳng phải, trong học tập, những bạn lười biếng chỉ biết dựa dẫm vào người khác sẽ không
bao giờ đạt được kết quả cao thật sự đó sao? Và trong cuộc sống bộn bề, lo toan, đôi khi ta bắt gặp

những nụ cười làm ta ấm lòng. Đó là nụ cười của cậu học sinh đạt kết quả cao trong học tập sau
một quá trình nỗ lực không ngừng. Thành công lắm khi không được đúc kết từ cả một quá trình
dài, mà nó chỉ giản đơn từ những niềm vui bé nhỏ trong cuộc sống. Bạn đã từng đọc được câu
chuyện “Chiếc cà-vạt” chưa? Trong truyện, cậu bé lên bảy tuổi vụng về làm tặng bố chiếc cà-vạt.
Đó có thể nói là chiếc cà-vạt xấu xí nhất nhưng lại là món quà đẹp nhất của đứa con trai dành tặng
bố mình. Đọc đến đó, bạn có nghĩ cậu bé đã thành công không? Có thể bạn cho đó chẳng có gì
đáng tự hào, vẻ vang nhưng cậu bé đã thật-sự-thành-công. Cậu đã thành công khi gởi gắm cả niềm
tin yêu về người bố trong chiếc cà-vạt - thành công vì mang đến nụ cười hạnh phúc từ bố. Thành
công đôi lúc chỉ đơn giản vậy thôi. Tuy nhiên, thành công vẻ vang là những điều ta không thể phủ
nhận. Bạn có biết anh Lê Bá Khánh Trình đã nỗ lực hết mình để nắm trong tay giải thưởng cao
quý của cuộc thi toán quốc tế. Và Bác Hồ - người đã dành trọn cuộc đời với Cách mạng qua những
năm tháng hiểm nguy ngoài chiến trường. Xã hội phát triển như ngày nay là minh chứng sống
động, chân thật nhất cho thành công vĩ đại của Bác.
Thế mới thấy, để đạt được thành công và mục đích mà ta đã đặt ra, mỗi con người cần phải
nỗ lực học tập và làm việc hết mình. Và hơn hết, con đường dẫn đến thành công càng không rộng
mở đối với những kẻ lười biếng. Nó chỉ mở rộng đối với những con người siêng năng, làm việc
hết mình. Và những con người siêng năng không những sẽ đạt được thành công nhất định trong
cuộc sống mà siêng năng còn là yếu tố tích cực, là cơ sở giúp con người ta dẽ dàng học hỏi, tìm tòi
những kiến thức mới bổ ích và bổ ích. Hơn hết, siêng năng còn giúp ta rút ngắn thời gian để hoàn
thành công việc một cách trọn vẹn. Thế nhưng, cuộc sống lại có những con người sống chỉ biết
hưởng thụ, không lao động. Những kẻ như vậy đáng bị xã hội phê phán vì thái độ sống tiêu cực.
Và họ sẽ dần bị mọi người xa lánh và không bao giờ nhận ra được sự vinh quang của lao động,
không bao giờ cảm thấy hạnh phúc của thành công.
Tóm lại, con đường thành công chỉ thật sự đón chào những ai biết trân trọng, biết nỗ lực
phấn đấu. Và hơn hết, là học sinh, ta cần phải rèn luyện bản thân từ khi ngồi trên ghế nhà trường
bằng vệic cố gắng học hỏi, tìm tòi và bằng ý thức của mỗi cá nhân.

×