Tải bản đầy đủ (.pdf) (75 trang)

giải pháp quản lý môi trường tỉnh thái bình theo hướng phát triển bền vững

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1 MB, 75 trang )

1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển nhanh chóng về kinh tế thì các nước đang phát
triển ngày nay đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm môi trường diễn ra
khá trầm trọng. Thực tế cho thấy là nhiều nước đang phát triển đã thực sự bị
dồn vào thế buộc phải chống lại nạn ô nhiễm môi trường. Các nhà máy đang
hoạt động sạch hơn so với một thập kỷ trước đây và tổng phát thải đang bắt
đầu giảm kể cả ở những vùng mà công nghiệp đang bắt đầu tăng trưởng rất
nhanh. Đã bắt đầu có các hoạt động làm sạch môi trường do các nước đang
phát triển cho rằng lợi ích của việc kiểm soát ô nhiễm môi trường lớn hơn rất
nhiều so với các chi phí. Sự nhận thức này đã thúc đẩy nhiều nước thông qua
các chiến lược đổi mới lôi kéo sự tham gia của cộng đồng, các nhà đầu tư và
các nhà cải cách chính sách kinh tế chống lại nạn ô nhiễm môi trường. Trên
thế giới cũng khám phá ra rằng không có chỗ cho họ ẩn nấp nữa và cũng
chứng tỏ rằng họ có thể giảm ô nhiễm môi trường một cách nhanh chóng mà
vẫn đảm bảo sản xuất có lãi nếu những người quản lý môi trường đưa ra
những khích lệ đích đáng. Ô nhiễm môi trường vẫn tiếp tục là một cái giá quá
đắt đối với các nước đang phát triển nhưng không có lí do gì để tiếp tục coi sự
suy giảm về môi trường như là cái giá phải trả cho sự phát triển. Phát triển
bền vững hơn lúc nào hết đã khẳng định trở thành sự lựa chọn chiến lược hết
sức đúng đắn.
Thái Bình là một tỉnh thuộc khu vực Đồng bằng sông Hồng, chịu ảnh
hưởng của vùng tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng
Ninh. Đặc biệt, Thái Bình còn là vựa lúa lớn nhất miền Bắc, cũng như nhiều
tỉnh khác trong nước, cùng với sự phát triển của kinh tế thì môi trường tỉnh
Thái Bình đang phải đối mặt với những vẫn đề khó khăn. Sự phát triển không
cân đối giữa kinh tế và môi trường trong tỉnh, sự thờ ơ của các doanh nghiệp,
chính quyền địa phương đối với công tác môi trường, công tác giáo dục và
bảo vệ các tài nguyên chưa thực sự được chú trọng. Đề tài “Giải pháp quản lý


môi trường tỉnh Thái Bình theo hướng phát triển bền vững” đưa ra một cái
nhìn tổng quát về thực trạng quản lý môi trường ở tỉnh Thái Bình, phân tích
những thành tựu và hạn chế của công tác quản lý về môi trường. Từ đó đề ra
giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác quản lý môi trường tỉnh Thái Bình
theo hướng phát triển bền vững.
2

2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá hiện trạng môi trường và hiện trạng quản lý môi trường tỉnh
Thái Bình và đưa ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác quản lý môi
trường tỉnh Thái Bình theo hướng phát triển bền vững.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan tài liệu để làm rõ vấn đề quản lý môi trường và phát triển
bền vững về môi trường.
- Đánh giá hiện trạng môi trường và hiện trạng quản lý môi trường ở
tỉnh Thái Bình.
- Đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý môi trường
theo hướng phát triển bền vững.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là vấn đề quản lý môi trường tại Thái Bình.
3.2. Phạm vi ngiên cứu
Nghiên cứu hiện trạng môi trường và hiện trạng quản lý môi trường tỉnh
Thái Bình.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu
Thu thập số liệu, tài liệu là một phương pháp quan trọng trong nghiên
cứu khoa học. Mục đích của thu thập số liệu (từ các tài liệu nghiên cứu khoa
học có trước, từ quan sát và thực hiện thí nghiệm) để làm cơ sở lý luận khoa

học hay tìm ra vấn đề cần nghiên cứu.
Để thực hiện đề tài khóa luận, người viết đã thu thập số liệu, tài liệu từ
nhiều nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Bình, Quy hoạch tổng
thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thái Bình đến năm 2020, niên giám thống
kê tỉnh Thái Bình năm 2012, các giáo trình về môi trường, các công trình
nghiên cứu khoa học về môi trường.
4.2. Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp
Các tài liệu thống kê được khai thác từ nhiều nguồn khác nhau: tài liệu
lưu trữ quốc gia và Trung ương, tài liệu của các cơ quan cấp tỉnh, của lĩnh vực
3

quản lý môi trường, các tài liệu khác có liên quan.
Các tài liệu thống kê luôn được bổ sung, cập nhật và được chọn lọc, tổng
hợp và phân tích liên hợp các yếu tố trong mối tương quan, ảnh hưởng lẫn
nhau làm cơ sở cho mục đích nghiên cứu của khóa luận.
4.3. Phương pháp so sánh
Phương pháp này được sử dụng để đánh giá tác động. Tổng hợp các số
liệu thu thập được, so với tiêu chuẩn môi trường Việt Nam (TCVN), rút ra
những kết luận về ảnh hưởng của các hoạt động sản xuất đến môi trường,
đồng thời đề xuất các biện pháp giảm thiểu tác động ô nhiễm môi trường.
Việc so sánh các thông số môi trường nền với các TCVN cho phép đối sánh
môi trường ở các khu vực khác nhau với một cái nhìn chuẩn hóa từ đó thấy
được khu vực nào đã vượt tiêu chuẩn cho phép và cần phải được quan tâm.
Điều này là rất quan trọng trong việc đề ra các giải pháp cho từng khu vực và
từng vấn đề môi trường cụ thể.
4.4. Phương pháp chuyên gia
Do năng lực và trình độ của sinh viên thực hiện đề tài còn hạn chế nên
“tham khảo ý kiến chuyên gia” là phương pháp cần thiết nhằm định hướng và
đưa ra những lời nhận xét đúng đắn cho sinh viên, giúp sinh viên nhận định
được vấn đề chính xác hơn.

4.5. Phương pháp bản đồ, biểu đồ
Phương pháp này được sử dụng từ khâu đầu tiên cho đến khâu cuối của
quá trình tìm hiểu, nghiên cứu khóa luận. Các mối liên hệ về thời gian, không
gian, số lượng, chất lượng của các đối tượng quản lý môi trường được thể
hiện trong khóa luận thật khó có thể diễn tả một cách ngắn gọn bằng lời nếu
không có sự hỗ trợ của các bản đồ, biểu đồ.
5. Kết cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, bài khóa luận
chia thành ba nội dung chính:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn.
Chương 2: Hiện trạng quản lý môi trường tại tỉnh Thái Bình.
Chương 3: Giải pháp quản lý môi trường tỉnh Thái Bình theo hướng phát
triển bền vững.
4

CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Lý luận chung về quản lý môi trƣờng
1.1.1. Khái niệm
"Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách
kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống
và phát triển bền vững kinh tế xã hội quốc gia".
[21]
Theo tác giả Lưu Đức Hải và Nguyễn Ngọc Sinh: ”Quản lý môi trường
là một hoạt động trong lĩnh vực quản lý xã hội, có tác động điều chỉnh các
hoạt động của con người dựa trên sự tiếp cận có hệ thống và các kỹ năng điều
phối thông tin đối với các vấn đề môi trường có liên quan đến con người xuất
phát từ quan điểm định hướng, hướng tới phát triển bền vững và sử dụng hợp
lý tài nguyên” .
Việc quản lý môi trường được thực hiện ở mọi quy mô: toàn cầu, khu
vực, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ sở sản xuất, hộ gia đình.

Một cộng đồng muốn được sống bền vững, thì trước hết phải quan tâm
bảo vệ cuộc sống của chính mình và không làm ảnh hưởng đến môi trường
của cộng đồng khác
[14].
Để quản lý môi trường có hiệu quả cần nâng cao nhận
thức của người dân được xem là giải pháp cho những vấn đề của cộng đồng.
1.1.2. Mục tiêu, đối tượng và nguyên tắc của công tác quản lý môi trường
a) ý môi trường
Mục tiêu cơ bản của công tác quản lý môi trường là phát triển bền vững,
giữ cho được sự cân bằng giữa phát triển kinh tế xã hội và BVMT. Nói cách
khác, phát triển kinh tế xã hội tạo ra tiềm lực kinh tế để BVMT, còn BVMT
tạo ra các tiềm năng tự nhiên và xã hội mới cho công cuộc phát triển kinh tế
xã hội trong tương lai.
Tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, hệ thống pháp lý, mục
tiêu phát triển ưu tiên của từng quốc gia, mục tiêu quản lý môi trường có thể
thay đổi theo thời gian và có những ưu tiên riêng đối với mỗi quốc gia.
Theo Chỉ thị 36 CT/TW của Bộ Chính trị, Ban chấp hành trung ương
Đảng Cộng sản Việt Nam, một số mục tiêu cụ thể của công tác quản lý môi
trường Việt Nam hiện nay là:
- Khắc phục và phòng chống suy thoái, ô nhiễm môi trường phát sinh
trong hoạt động sống của con người.
5

- Tăng cường công tác quản lý nhà nước về môi trường từ Trung ương
đến địa phương, công tác nghiên cứu, đào tạo cán bộ về môi trường
- Hoàn chỉnh hệ thống văn bản luật pháp bảo vệ môi trường, ban hành
các chính sách về phát triển kinh tế xã hội phải gắn với bảo vệ môi trường,
nghiêm chỉnh thi hành luật bảo vệ môi trường.
- Phát triển bền vững kinh tế và xã hội quốc gia theo chín nguyên tắc của
một xã hội bền vững do hội nghị Rio-92 đề xuất.

- Phát triển bền vững kinh tế, bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên,
không tạo ra ô nhiễm và suy thoái chất luợng môi trường sống, nâng cao sự
văn minh và công bằng xã hội.
- Xây dựng các công cụ có hiệu lực quản lý môi trường quốc gia và các
vùng lãnh thổ. Các công cụ trên phải thích hợp cho từng ngành, từng địa
phương và cộng đồng dân cư.
b) ý môi trường
- Theo phạm vi quả ý có thể chia ra các loại:
+ Quả ý môi trường khu vực.
+ Quả ý môi trường theo ngành kinh tế.
+ Quản ý tài nguyên.
- Theo tính chất của công tác quả ý môi trường có thể phân loại:
+ Quả ý chất lượng môi trường: ban hành và kiểm tra các tiêu chuẩn,
quy chuẩn về chất lượng không khí, chất lượng nước, môi trường đất, khí thải,
chất thải rắn và chất thải nguy hại.
+ Quả ý kỹ thuật môi trường: quả ý hệ thống quan trắc, giám định,
đánh giá chất lượng các thành phần môi trường, các trạm phân tích và các
phòng thí nghiệm phân tích chất lượng môi trường, thẩm định chất lượng của
máy và thiết bị, lưu trữ và cung cấp các dịch vụ thông tin dữ liệu môi trường.
+ Quả ý kế hoạch môi trường: quả ý việc xây dựng và thực thi các
kế hoạch bảo vệ môi trường, hình thành và quả ý quỹ môi trường ở Trung
ương, các ngành, các cấp địa phương.
+ Trong quá trình thực hiện, các nội dung quả ý trên sẽ tạo thành một
hệ thống đan xen với nhau phục vụ công tác bảo vệ môi trường.
6

c) Các nguyên tắc chủ yếu của công tác quản lý môi trường
Tiêu chí chung của công tác quản lý môi trường là đảm bảo quyền được
sống trong môi trường trong lành, phục vụ sự phát triển bền vững của đất
nước, góp phần gìn giữ môi trường chung của loài người trên Trái đất. Các

nguyên tắc chủ yếu của công tác quản lý môi trường bao gồm:
- Hướng công tác quản lý môi trường tới mục tiêu phát triển bền vững
kinh tế xã hội đất nước, giữ cân bằng giữa phát triển và bảo vệ môi trường.
- Kết hợp các mục tiêu quốc tế - quốc gia - vùng lãnh thổ và cộng đồng
dân cư trong việc quản lý môi trường.
- Quản lý môi trường cần được thực hiện bằng nhiều biện pháp và công
cụ tổng hợp thích hợp.
- Phòng chống, ngăn ngừa tai biến và suy thoái môi trường cần được ưu
tiên hơn việc xử lý, hồi phục môi trường nếu để gây ra ô nhiễm môi trường.
- Người gây ô nhiễm phải trả tiền cho các tổn thất do ô nhiễm môi
trường gây ra và các chi phí xử lý, hồi phục môi trường. Người sử dụng các
thành phần môi trường phải trả tiền cho việc sử dụng gây ra ô nhiễm đó.
1.1.3. Các nội dung, chức năng của quản lý Nhà nước về môi trường
- Ban hành và tổ chức việc thực hiện các văn bản pháp quy về bảo vệ
môi trường, ban hành hệ thống tiêu chuẩn môi trường.
- Xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách bảo vệ môi trường,
kế hoạch phòng chống, khắc phục suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường,
sự cố môi trường.
- Xây dựng, quản lý các công trình bảo vệ môi trường, các công trình có
liên quan đến bảo vệ môi trường.
- Tổ chức, xây dựng, quản lý hệ thống quan trắc, định kỳ đánh giá hiện
trạng môi trường, dự báo diễn biến môi trường.
- Thẩm định các báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án và
các cơ sở sản xuất kinh doanh.
- Tổ chức nghiên cứu, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực
bảo vệ môi trường.
- Giám sát, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi
trường, giải quyết các khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về bảo vệ môi trường, xử
lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.
7


- Cấp và thu hồi giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường.
- Đào tạo cán bộ về khoa học và quản lý môi trường.
- Thiết lập quan hệ quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
Trong Luật bảo vệ môi trường 2005, nội dung quả ý Nhà nước về môi
trường thể hiện cụ thể trong từng vấn đề môi trường: chính sách môi trường,
tiêu chuẩn môi trường, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi
trường, đánh giá môi trường chiến lược, bảo tồn và sử dụng tài nguyên thiên
nhiên, bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất kinh doanh, bảo vệ môi
trường đô thị và khu dân cư, bảo vệ môi trường biển, bảo vệ môi trường nước
sông, quả ý chất thải, phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường, khắc phục
ô nhiễm và phục hồi môi trường, thuế và phí môi trườ ý quỹ môi trường,
xử ý vi phạm và giải quyết khiếu nại về môi trường, bồi thường thiệt hại về
môi trường. Trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của Chính
phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các
cấp, cơ quan chuyên môn, cán bộ phụ trách về bảo vệ môi trường được quy
định tại Điều 121, 122 và 123.
1.1.4. Tổ chức công tác quản lý môi trường
Theo nhiệm vụ và quyền hạn của mình, Chính phủ thống nhất quản lý về
bảo vệ môi trường trong cả nước. Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách
nhiệm trước Chính phủ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về bảo vệ môi
trường. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ theo chức
năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi
trường thực hiện bảo vệ môi trường trong ngành và các cơ sở trực thuộc quản
lý trực tiếp. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện
chức năng quản lý về môi trường tại địa phương. Sở Tài nguyên và Môi
trường chịu trách nhiệm trước Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương trong việc bảo vệ môi trường ở địa phương.
Hệ thống cơ quan quản lý môi trường từ Trung ương đến các địa phương
bao gồm:

- Bộ Tài nguyên và Môi trường
- Tổng cục Môi trường
- Cơ quan quản lý môi trường của các Bộ
- Các Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh
8

- Các Chi cục Bảo vệ Môi trường các tỉnh, thành phố
- Các Phòng Tài nguyên và Môi trường của các quận, huyện, thị xã
1.2. Lý luận về phát triển bền vững
1.2.1. Khái niệm phát triển bền vững
Theo Brundtland: “Phát triển bền vững là sự phát triển thoả mãn những
nhu cầu của hiện tại và không phương hại tới khả năng đáp ứng nhu cầu của
các thế hệ tương lai”. Đó là quá trình phát triển kinh tế dựa vào nguồn tài
nguyên được tái tạo tôn trọng những quá trình sinh thái cơ bản, sự đa dạng
sinh học và những hệ thống trợ giúp tự nhiên đối với cuộc sống của con người,
động vật và thực vật.
Qua các bản tuyên bố quan trọng, khái niệm này tiếp tục mở rộng thêm
và nội hàm của nó không chỉ dừng lại ở yếu tố môi trường tài nguyên thiên
nhiên mà yếu tố môi trường xã hội được đặt ra với ý nghĩa quan trọng. Hội
nghị Thượng đỉnh Thế giới về phát triển bền vững tổ chức ở Johannesbug
(Cộng hòa Nam Phi) năm 2002 đã xác định: phát triển bền vững là quá trình
phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển,
gồm: tăng trưởng kinh tế, cải thiện các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường.
Tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững là sự tăng trưởng kinh tế ổn định,
thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội, khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm
tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường sống. Hiện
nay, nội hàm phát triển bền vững tiếp tục được mở rộng, thêm nhân tố thứ tư
là bền vững về mặt thể chế.
1.2.2. Nguyên tắc phát triển bền vững
Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc trong tác phẩm “hãy cứu

lấy Trái Đất – chiến lược cho một cuộc sống bền vững”, 1991 đã nêu ra chín
nguyên tắc PTBV. Tuy nhiên, các nguyên tắc này thực sự khó áp dụng trong
thực tế của một thế giới đầy các biến động về chính trị, kinh tế, văn hóa. Thực
tế đòi hỏi cần thiết lập một hệ thống nguyên tắc khác có tính khả thi và sát
thực hơn. LucHens (1995) đã lựa chọn trong số các nguyên tắc của Tuyên bố
Rio về Môi trường và phát triển để xây dựng một hệ thống bảy nguyên tắc
mới của PTBV môi trường. Những nguyên tắc đó là:


9

a) Nguyên tắc về sự ủy thác của nhân dân
Nguyên tắc này yêu cầu chính quyền phải hành động để ngăn ngừa các
thiệt hại môi trường xảy ra ở bất cứ đâu, bất kể đã có hoặc chưa có các điều
luật quy định về cách ứng xử các thiệt hại đó. Nguyên tắc này cho rằng, công
chúng có quyền đòi hỏi chính quyền với tư cách là tổ chức đại diện cho họ
phải có hành động ứng xử kịp thời các sự cố môi trường.
b) Nguyên tắc phòng ngừa
Ở những nơi có thể xảy ra sự cố môi trường nghiêm trọng và không đảo
ngược được, thì không thể lấy lý do là chưa có những hiểu biết chắc chắn mà
trì hoãn những biện pháp ngăn ngừa sự suy thoái môi trường. Về mặt chính trị,
nguyên tắc này rất khó được áp dụng, và trên thực tế nhiều nước đã cố tình
quên. Việc chọn lựa phương án phòng ngừa nhiều khi bị gán tội là chống lại
các thành tựu phát triển kinh tế đã hiện hình trước mắt và luôn luôn được tụng
xưng, ca ngợi theo cách hiểu của tăng trưởng kinh tế.
c) Nguyên tắc bình đẳng giữa các thế hệ
Đây là nguyên tắc cốt lõi của PTBV môi trường, yêu cầu rõ rành rành,
việc thỏa mãn nhu cầu của thế hệ hiện nay không được làm phương hại đến
các thế hệ tương lai thỏa mãn nhu cầu của họ. Nguyên tắc này phụ thuộc vào
việc áp dụng tổng hợp và có hiệu quả các nguyên tắc khác của PTBV.

d) Nguyên tắc bình đẳng trong nội bộ thế hệ
Con người trong cùng thế hệ hiện nay có quyền được hưởng lợi một cách
bình đẳng trong khai thác các nguồn tài nguyên, bình đẳng chung hưởng một
môi trường trong lành và sạch sẽ. Nguyên tắc này được áp dụng để xử lý mối
quan hệ giữa các nhóm người trong cùng một quốc gia và giữa các quốc gia.
Nguyên tắc này ngày càng được sử dụng nhiều hơn trong đối thoại quốc tế.
Tuy nhiên, trong phạm vi một quốc gia nó cực kỳ nhạy cảm đối với các nguồn
lực kinh tế - xã hội và văn hóa.
e) Nguyên tắc phân quyền và ủy quyền
Các quyết định cần phải được soạn thảo bởi chính các cộng đồng bị tác
động hoặc bởi các tổ chức thay mặt họ và gần gũi nhất với họ. Các quyết định
cần ở mức quốc gia hơn là mức quốc tế, mức địa phương hơn là mức quốc gia.
Đây là nguyên tắc cơ bản nhằm kiểm soát sự ủy quyền của các hệ thống quy
hoạch ở tầm quốc tế, nhằm cổ vũ quyền lợi của các địa phương về sở hữu tài
10

nguyên, về nghĩa vụ đối với môi trường và về các giải pháp riêng của họ, áp
lực ngày càng lớn đòi hỏi sự ủy quyền ngày càng tăng. Tuy nhiên, cần phải
hiểu cho đúng rằng địa phương chỉ là một bộ phận của các hệ thống rộng lớn
hơn chứ không được thực thi chức năng một cách cô lập. Thường thì các vấn
đề môi trường có thể phát sinh ngoài tầm kiểm soát địa phương, ví dụ như sự
ô nhiễm “ngược dòng” của nước láng giềng hay cộng đồng lân cận. Trong
trường hợp đó, nguyên tắc ủy quyền cần được xếp xuống thấp hơn các
nguyên tắc khác.
f) Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền
Người gây ô nhiễm phải chịu mọi chi phí ngăn ngừa và kiểm soát ô
nhiễm, phải nội bộ hóa tất cả các chi phí môi trường nảy sinh từ các hoạt động
của họ, sao cho các chi phí này được thực hiện đầy đủ trong giá cả của hàng
hóa và dịch vụ mà họ cung cấp. Tuy nhiên, sẽ không tránh khỏi trường hợp là,
nếu áp dụng nguyên tắc này quá nghiêm khắc thì sẽ có xí nghiệp công nghiệp

bị đóng cửa. Cộng đồng có thể cân nhắc, vì trong nghiều trường hợp, các
phúc lợi có được do có công ăn việc làm nhiều khi còn lớn hơn các chi phí
cho vấn đề sức khỏe và môi trường bị ô nhiễm. Do đó, cơ chế áp dụng nguyên
tắc này cần linh hoạt và trong nhiều trường hợp phải tạo điều kiện về thời
gian để các doanh nghiệp thích ứng dần dần với các tiêu chuẩn môi trường.
g) Nguyên tắc người sử dụng phải trả tiền
Khi sử dụng hàng hóa hay dịch vụ, người sử dụng phải trang trải đủ giá
tài nguyên cũng như các chi phí môi trường liên quan tới việc chiết tách, chế
biến và sử dụng tài nguyên.
1.2.3. Nội dung phát triển bền vững về môi trường
Theo tác giả Tạ Thị Thanh Huyền và Nguyễn Thị Thúy Vân: “Bền vững
về tài nguyên và môi trường là khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và có hiệu
quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên, phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý và kiểm
soát có hiệu quả ô nhiễm môi trường, bảo vệ tốt môi trường sống, bảo vệ
được các vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên, khu dự trữ sinh quyển
và bảo tồn sự đa dạng sinh học, khắc phục suy thoái và cải thiện chất lượng
môi trường”.
Vấn đề bền vững về môi trường đang ngày càng trở thành vấn đề lưu
tâm song song với sự đi lên của nền kinh tế. Thu nhập bình quân đầu người
đang ngày càng tăng lên không ngừng cùng với việc môi trường cũng ngày
11

càng đứng trước những thách thức lớn hơn. Có thể khẳng định rằng tăng
trưởng kinh tế là điều kiện cần cho phát triển, chứ không đồng nghĩa với phát
triển, nhất là PTBV.
Môi trường tự nhiên và sản xuất xã hội quan hệ khăng khít, chặt chẽ tác
động lẫn nhau trong thế cân đối thống nhất: môi trường tự nhiên cung cấp
nguyên liệu và không gian cho sản xuất xã hội. Sự giàu nghèo của mỗi nước
phụ thuộc khá nhiều vào nguồn tài nguyên, rất nhiều quốc gia chỉ trên cơ sở
khai thác tài nguyên để xuất khẩu đổi lấy ngoại tệ, thiết bị công nghệ hiện đại.

Môi trường và nhất là bền vững môi trường có vai trò quyết định đối với sự
PTBV về KT – XH ở mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ, địa phương vì:
Thứ nhất, môi trường không chỉ cung cấp “đầu vào” mà còn chứa đựng
đầu ra cho các quá trình sản xuất và đời sống.
Hoạt động sản xuất bắt đầu từ việc sử dụng nguyên, nhiên liệu, vật tư,
thiết bị máy móc, đất đai, cơ sở vật chất kỹ thuật, sức lao động của con người
để tạo ra sản phẩm hàng hóa. Các hoạt động sống cũng vậy, con người cũng
cần không khí để thở, nước để uống, cần có chỗ vui chơi giải trí, phương tiện
đi lại…Những cái đó không gì khác là yếu tố môi trường. Như vậy, chính các
yếu tố môi trường là “đầu vào của quá trình sản xuất và các hoạt động sống
của con người. Hay nói cách khác môi trường là “đầu vào” của quá trình sản
xuất và đời sống.
Ngược lại môi trường tự nhiên cũng là nơi chứa đựng, đồng hóa đầu ra
các chất thải của các quá trình hoạt động sản xuất và đời sống. Quá trình sản
xuất thải ra môi trường rất nhiều chất thải (bụi, khí thải, nước thải, chất thải
rắn). Trong các chất thải này có thể có rất nhiều loại độc hại làm ô nhiễm, suy
thoái hoặc gây ra các sự cố về môi trường. Quá trình sinh hoạt, tiêu dùng của
xã hội loài người cũng thải ra môi trường rất nhiều chất thải. Những chất thải
này nếu không được xử lý tốt sẽ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Như
vậy muốn môi trường bền vững thì phải làm thế nào để hạn chế nhiều nhất
các chất thải, đặc biệt là chất thải gây ô nhiễm môi trường.
Thứ hai, môi trường sống liên quan đến tính ổn định và bền vững đến
phát triển KT – XH.
Phát triển KT – XH là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất và
tinh thần của con người qua việc sản xuất ra của cải vật chất, cải tiến quan hệ
xã hội, nâng cao chất lượng văn hóa. Phát triển là xu thế chung của cá nhân
12

cũng như của cả loài người trong quá trình sống. Giữa môi trường và sự phát
triển có mối quan hệ chặt chẽ, môi trường là địa bàn của sự phát triển, còn

phát triển là nguyên nhân tạo nên các biến đổi của môi trường.
Trong hệ thống KT – XH, hàng hóa được di chuyển từ sản xuất đến lưu
thông, phân phối và tiêu dùng cùng với dòng luân chuyển của nguyên liệu,
năng lượng, sản phẩm, chất thải. Các thành phần đó luôn tương tác với các
thành phần tự nhiên và xã hội của hệ thống môi trường đang tồn tại trong địa
bàn đó. Tác động của con người đến môi trường thể hiện ở khía cạnh có lợi là
cải tạo môi trường tự nhiên hoặc tạo ra kinh phí cần thiết cho quá trình cải tạo
đó, nhưng cũng có thể gây ra ô nhiễm môi trường tự nhiên.
Mặt khác, môi trường tự nhiên đồng thời cũng tác động đến sự phát triển
KT – XH thông qua việc làm suy thoái nguồn tài nguyên – đối tượng của sự
phát triển KT – XH hoặc gây ra các thảm họa, thiên tai đối với các hoạt động
KT – XH trong khu vực. Ở các quốc gia có trình độ phát triển kinh tế khác
nhau có các xu hướng gây ô nhiễm môi trường khác nhau.
Ô nhiễm do dư thừa: 20% dân số Thế giới ở các nước giàu hiện sử dụng
80% tài nguyên và năng lượng của loài người. Sản xuất công nghiệp phát
triển mạnh, hoạt động của quá nhiều phương tiện giao thông vận tải đã tạo ra
một lượng lớn chất thải độc hại vào môi trường. Hiện nay việc có được mua
bán hay không quyền phát thải khí thải giữa các nước đang là vấn đề tranh
luận chưa ngã ngũ trong các Hội nghị thượng đỉnh về môi trường, các nước
giàu vẫn chưa thực sự chia sẻ tài lực với các nước nghèo để giải quyết những
vấn đề có liên quan đến môi trường.
Ô nhiễm do nghèo đói: mặc dù chiếm tới 80% dân số thế giới, song chỉ
sử dụng 20% tài nguyên và năng lượng của thế giới, nhưng những người
nghèo khổ ở các nước nghèo chỉ có con đường duy nhất là khai thác tài
nguyên thiên nhiên: rừng, khoáng sản, đất đai,…mà đa số các loại tài nguyên
này không có khả năng hồi phục. Nghèo đói là thách thức lớn nhất đối với
công tác PTBV môi trường hiện nay. Do vậy, để giải quyết vấn đề môi trường,
trước hết các nước nghèo đói phải triệt để giải quyết nghèo đói.
Để phát triển, dù là giàu có hay nghèo đói đều tạo ra khả năng gây ô
nhiễm môi trường, vấn đề ở đây là phải giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa

phát triển và BVMT. Để PTBV không được khai thác quá mức dẫn tới hủy
hoại tài nguyên, môi trường, thực hiện các giải pháp sản xuất sạch, phát triển
13

sản xuất đi đôi với các giải pháp xử lý môi trường, bảo tồn các nguồn gen,
bảo tồn đa dạng sinh học, không ngừng nâng cao nhận thức của nhân dân về
bảo vệ môi trường.
Như đã nói trên, PTBV môi trường chính là để giúp cho sự phát triển
kinh tế cũng như xã hội được bền vững. KT – XH phát triển giúp chúng ta có
đủ điều kiện để đảm bảo an ninh quốc phòng, giữ vững độc lập chủ quyền của
dân tộc. Điều đó lại tạo điều kiện ổn định chính trị xã hội để KT – XH phát
triển. PTBV môi trường không chỉ có ý nghĩa hiện tại, mà quan trọng hơn,
cao cả hơn nó có ý nghĩa trong tương lai. Nếu một sự phát triển mang lại
những lợi ích kinh tế trước mắt mà khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên,
hủy hoại tài nguyên môi trường, làm cho các thế hệ sau không còn điều kiện
để phát triển mọi mặt thì sự phát triển đó không được gọi là bền vững. Thế hệ
hôm nay không quan tâm tới, không làm tốt công tác BVMT làm cho môi
trường bị hủy hoại thì các thế hệ tương lai chắc chắn sẽ phải gánh chịu những
hậu quả do môi trường mang lại.
1.2.4. Bộ chỉ tiêu giám sát, đánh giá PTBV môi trường địa phương
Theo Quyết định số 2157/QĐ-TTg ngày 11 tháng 11 năm 2013 của
Thủ tướng Chính phủ ban hành Bộ chỉ tiêu giám sát, đánh giá phát triển bền
vững địa phương giai đoạn 2013 – 2020. Trong đó:
- Chỉ tiêu tổng hợp: 1 chỉ tiêu
- Lĩnh vực kinh tế: 7 chỉ tiêu
- Lĩnh vực xã hội: 11 chỉ tiêu
- Lĩnh vực tài nguyên và môi trường: 9 chỉ tiêu
- Các chỉ tiêu đặc thù: 15 chỉ tiêu
Trong 9 chỉ tiêu mà Chính phủ ban hành về giám sát, đánh giá phát
triển bền vững môi trường địa phương có nêu rõ các chỉ tiêu chung và chỉ tiêu

khuyến khích sử dụng về môi trường, đồng thời cũng nêu rõ từng cơ quan,
ban ngành chịu trách nhiệm về quản lý, giám sát, đánh giá các tỷ lệ riêng của
hoạt động gây ô nhiễm môi trường.

14

Các chỉ tiêu chung (9 chỉ tiêu)
STT
Tên chỉ tiêu
Đơn
vị
tính
Kỳ
công
bố
Lộ
trình
Cơ quan chịu trách nhiệm thu
thập/tổng hợp
1
Tỷ lệ dân số được sử
dụng nước sạch

%

2
năm

2014
- Chủ trì: Cục thống kê

- Phối hợp: Sở Xây dựng, Sở
Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn
2
Tỷ lệ diện tích đất
được bảo vệ, duy trì
đa dạng sinh học

%

Năm

2014
Sở Tài nguyên và Môi trường
3
Diện tích đất bị
thoái hóa

ha

2
năm

2015

- Chủ trì: Sở Tài nguyên và
Môi trường
- Phối hợp: Sở Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn
4

Diện tích các đô thị,
khu kinh tế, KCN,
KCX, CCN xử lý
chất thải rắn, nước
thải đạt tiêu chuẩn
môi trường

%

Năm

2014
- Chủ trì: Sở Xây dựng
- Phối hợp: Sở Tài nguyên và
Môi trường, Sở Công Thương,
Sở Y tế.

5
Tỷ lệ che phủ rừng
%
Năm
2014
Sở Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn
6
Tỷ lệ chất thải rắn
thu gom, đã xử lý

%


Năm

2014
-Chủ trì: Sở Xây dựng
-Phối hợp: Sở Tài nguyên và
Môi trường, Sở Công Thương,
Sở Y tế.
7
Số vụ thiên tai và
mức độ thiệt hại
Vụ,
triệu
đồng

Năm

2014
Sở Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn
Chỉ tiêu khuyến khích sử dụng
8
Tỷ lệ các dự án khai
thác khoáng sản
được phục hồi về
môi trường
%
Năm
2015
Sở Tài Nguyên và môi trường
9

Số dự án xây dựng
theo cơ chế phát
triển sạch
%
Năm
2015
- Chủ trì: Sở Tài nguyên và
Môi trường
- Phối hợp: Cục Thống kê
15

1.3. Kinh nghiệm quản lý môi trƣờng theo hƣớng phát triển bền vững
1.3.1. Kinh nghiệm quản lý về môi trường của Nhật Bản và Singapore
a) Kinh nghiệm Nhật Bản
Các nhà nghiên cứu của Viện nghiên cứu Đông Á, Đại học Kinh tế và
Luật Osaka cho rằng, Nhật Bản là một quốc gia có nhiều thành công trong
quản lý ô nhiễm môi trường, kinh nghiệm của họ được đánh giá cao ở các
nước Đông Á. Thực tế cho thấy, những giải pháp mà người Nhật Bản thực thi
để bảo vệ môi trường đã mang lại rất nhiều thành công. Mặc dù có sự khác
nhau về lịch sử, văn hóa, kinh tế, chính trị song những kinh nghiệm của họ
trong quản lý môi trường đáng để cho nhiều quốc gia, địa phương nghiên cứu
và vận dụng trong đó có tỉnh Thái Bình).
- Quản lý nhà nước về môi trường cần phải được thực thi thống nhất
thông qua các đạo luật
Thực tế quản lý ô nhiễm môi trường ở Nhật Bản cho thấy cơ sở pháp lý
cao nhất và duy nhất của hoạt động quản lý nhà nước về môi trường là các
đạo luật. Trong vòng 50 năm (kể từ năm 1968), Quốc hội Nhật Bản đã ban
hành 47 đạo luật. Đây là các đạo luật có đối tượng điều chỉnh là các vấn đề
môi trường, nhờ đó công tác quản lý môi trường được thực hiện thống nhất
trên phạm vi toàn quốc. Chính phủ chỉ là cơ quan hành pháp theo đúng nghĩa

của thuật ngữ này. Nói cách khác, chính phủ chỉ là cơ quan thực thi các công
việc quản lý xã hội dựa trên các đạo luật do quốc hội ban hành. Đây là điểm
khác biệt căn bản trong công tác quản lý xã hội của nhà nước, kể cả quản lý
môi trường của các nước có nền kinh tế thị trường phát triển so với các nước
xây dựng kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Và đây cũng
chính là điểm khác biệt trong quản lý nhà nước giữa Nhật Bản và Việt Nam.
- Gia tăng vai trò của Chính phủ trong hoạt động quản lý ô nhiễm môi
trường theo hướng phát triển bền vững
Theo Chính phủ Nhật Bản, ngoài vai trò là một cơ quan hành chính
Trung ương, Chính phủ Nhật Bản còn có vai trò như một doanh nghiệp tham
gia hoạt động kinh tế và như một thực thể tiêu dùng. Để thực hiện vai trò này,
ngay từ năm 1995 Chính phủ Nhật Bản đã xây dựng kế hoạch “Hành động
xanh”. Kế hoạch này được coi là nhiệm vụ cụ thể mang tính thường niên đối
với Chính phủ Nhật Bản.
16

Thiết nghĩ kế hoạch “Hành động xanh” mà Chính phủ Nhật Bản sử dụng,
nhiều nước có thể vận dụng, trong đó có tỉnh Thái Bình. Không có lý do gì
khi tỉnh Thái Bình lại không vận dụng bởi đây là kinh nghiệm có thể được
thực hiện thông qua mệnh lệnh của chính quyền địa phương mà không mất
kinh phí để thực thi.
- Khuyến khích sự nỗ lực của các chính quyền địa phương trong việc
chống ô nhiễm môi trường.
Người Nhật Bản quan niệm rằng, bảo vệ môi trường khu vực là nền tảng
tạo ra sự phát triển bền vững, ở đó chính quyền địa phương đóng vai trò hết
sức quan trọng. Bởi vậy, chính quyền các địa phương ở nước này đã có rất
nhiều nỗ lực trong công tác bảo vệ môi trường. Sự nỗ lực đó được thể hiện
trên hai phương diện chủ yếu, thứ nhất là sự tích cực và chủ động trong công
tác bảo vệ môi trường ở địa phương, đặc biệt là các hoạt động xây dựng cơ sở
hạ tầng, huy động vốn, thúc đẩy các hoạt động bảo vệ môi trường ở các khu

đô thị và doanh nghiệp trong phạm vi quản lý hành chính địa phương dựa trên
các đặc điểm riêng biệt của địa phương mình. Và thứ hai là phối hợp chặt chẽ
với chính quyền trung ương nhằm thực thi có hiệu quả các biện pháp chống ô
nhiễm môi trường và thúc đẩy hợp tác quốc tế để giải quyết các vấn đề môi
trường cụ thể của từng địa phương.
Người ta còn nhớ cách đây khoảng một thập niên, với sự hỗ trợ của
chính quyền trung ương, chính quyền địa phương ở một số khu vực ở Nhật
Bản đã xúc tiến chương trình môi trường với tên gọi “Kế hoạch quản lý môi
trường khu vực nhằm ngăn ngừa ô nhiễm và bảo vệ môi trường tự nhiên” . Kế
hoạch này được sự hỗ trợ kỹ thuật từ bộ môi trường Nhật Bản và sự đóng góp
tài chính của nhân dân và doanh nghiệp từ các địa phương và tạo thành phong
trào rộng lớn trên phạm vi toàn quốc. Nhờ đó, môi trường ở các đô thị lớn và
một số địa phương ở Nhật Bản đã được cải thiện rất nhiều. Phong trào này cho
đến nay vẫn được duy trì.
b) Kinh nghiệm Singapore
- Những vấn đề pháp lý về quản lý môi trường gắn với phát triển kinh tế
tại Singapore.
Singapore được mệnh danh là “thành phố cây xanh”, “thành phố sạch
nhất thế giới”. Có được điều đó là do Chính phủ Singapore đã coi nhiệm vụ
BVMT sinh thái là một nhiệm vụ chiến lược trong chính sách phát triển KT - XH.
17

Chính phủ Singapore đã tiến hành nhiều biện pháp kiểm soát và bảo vệ, trong
đó có biện pháp pháp lý.
Biện pháp xử lý hình sự: Pháp luật môi trường Singapore lấy chế tài hình
sự là công cụ cơ bản để thực thi. Các hình thức xử lí xử phạt gồm: phạt tù,
phạt tiền, tạm giữ và tịch thu, bồi thường thiệt hại, phạt cải tạo lao động bắt
buộc (đối với những vi phạm nhỏ và chỉ áp dụng những bị cáo từ 16 tuổi trở
lên và đủ sức khỏe tiêu chuẩn y tế).
Biện pháp xử lý hành chính: Tuy pháp luật Singapore xem chế tài hình

sự là quan trọng nhất trong việc BVMT nhưng không vì thế mà xem nhẹ các
chế tài hành chính và dân sự, bởi nếu chỉ riêng chế tài hình sự thì không thể
BVMT một cách hiệu quả. Một số chế tài hành chính thường được sử dụng là
kế hoạch sử dụng đất, giấy phép và các mệnh lệnh thông báo.
Biện pháp xử lý dân sự: Bên cạnh các chế tài về hình sự và hành chính,
các đạo luật Singapore cũng quy định nhiều hình thức chế tài dân sự. Cụ thể
như: yêu cầu cá nhân gây ô nhiễm phải nộp phạt, bồi thường thiệt hại, chi phí
và các khoản phí tổn mà cơ quan có thẩm quyền phải chịu để làm sạch môi
trường. Theo điều 97 của Luật BVMT Singapore, Chính phủ có thể thu giữ lại
từ người sở hữu hoặc quản lý tài sản các phí tổn và chi phí đã được sử dụng
trong quá trình thực hiện theo quy định của pháp luật. Trong vòng 14 ngày
theo quy định, nếu chi phí này chưa được thanh toán thì vụ việc sẽ được đưa
ra tòa.
- Công tác và biện pháp quản lý môi trường theo hướng phát triển bền
vững gắn liền phát triển kinh tế trong thời gian gần đây.
+ Môi trường tự nhiên
Chính phủ Singapore cấm tàu thuyền gây ô nhiễm cập cảng. Ngoài ra
Singapore còn thi hành sắc lệnh mới về chống ô nhiễm môi trường đối với tàu
thuyền vào neo đậu tại hải cảng vốn được coi là nhộn nhịp nhất thế giới này.
Trong thời gian gần đây, Chính phủ còn thể hiện việc quan tâm quản lý
môi trường tự nhiên trong việc hợp tác quốc tế cùng với Indonexia, Malaysia,
Thái lan và Brunei giải quyết nạn khói mù ở Indonexia, đất nước láng giềng
của Singapore.
Để từng bước giảm sự lệ thuộc vào nguồn nước từ bên ngoài, Chính phủ
Singapore đã đề ra nhiều giải pháp, trong đó quan trọng nhất là khuyến khích
18

người dân sử dụng nước thải tái sinh. Trong một buổi tiếp xúc giới trẻ được
truyền hình trực tiếp nhân ngày Quốc khánh lần thứ 37 của Singapore, Phó
Thủ tướng Lý Hiến Long đã tiếp đãi các đại biểu thanh niên bằng những chai

nước hiệu “Newater” – Một thứ nước thải tái sinh được lấy từ hệ thống cống
rãnh trong thành phố.
+ Môi trường xã hội
Singapore sở dĩ được cộng đồng thế giới đánh giá cao về môi trường, vệ
sinh là do công tác giáo dục ý thức BVMT được diễn ra bền bỉ, có hiệu quả
đến tận từng người dân. Kết quả môi trường trên đất nước này hoàn toàn đạt
tiêu chuẩn của tổ chức Y tế thế giới (WHO) đưa ra, Singapore còn nổi tiếng
thế giới là một nước quản lý công cộng rất nghiêm. Singapore lấy phương
thức giáo dục làm biện pháp hàng đầu để nâng cao ý thức BVMT.
+ Môi trường nhân tạo
Singapore là một quốc gia không có được cơ sở vật chất, tài nguyên
thiên nhiên dồi dào thì môi trường nhân tạo chính là những điểm gây dựng
nên Singapore ngày nay. Riêng ngành công nghiệp không khói này và những
dịch vụ phụ trợ đã chiếm 65% cơ cấu kinh tế của đất nước. Do đó, cũng
không sai khi nói rằng du lịch là một ngành kinh tế mũi nhọn, thúc đẩy đà
tăng trưởng kinh tế Singapore. Và những điểm nhấn lớn trong môi trường
nhân tạo Singapore không đâu khác là những điểm du lịch chính yếu của quốc
đảo này: vườn chim Jurong, vườn Safari, đảo Sentosa, tháp chọc trời
Skytower (cao 110m).
1.3.2. Kinh nghiệm quản lý về môi trường ở thành phố Đà Nẵng
Nhiều người đã ví Đà Nẵng là “thành phố đáng sống nhất Việt Nam”.
Xét trong phạm vi trong cả nước, Đà Nẵng là một trong số rất ít thành phố đạt
danh hiệu thành phố bền vững về môi trường. Để có được thành tựu này là
nhờ sự nỗ lực rất lớn từ chính quyền địa phương trong công tác quản lý bảo
vệ môi trường.
a) Về thể chế chính sách
Công tác quản lý môi trường được triển khai toàn diện trên nhiều mặt
như: ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, quy
định bảo vệ môi trường trên địa bàn thành phố, quy định về đảm bảo trật tự an
toàn và vệ sinh môi trường trong quá trình xây dựng các công trình.

19

b) Các chương trình đề án giảm thiểu suy thoái môi trường
Đà Nẵng đã thực hiện các chương trình quản lý và kiểm tra thường
xuyên chất lượng môi trường biển, quản lý ô nhiễm công nghiệp, xử lý triệt
để các ơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trên địa bàn thành phố.
Thành phố đã tổ chức nhiều phong trào huy động cộng đồng tham gia bảo vệ
môi trường biển như "Ngày chủ nhật xanh, sạch, đẹp", chương trình thí điểm
về phân loại rác thải tại nguồn, phân cấp quản lý hồ đầm trên thành phố.
c) Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Dự án thoát nước và vệ sinh môi trường đã xây dựng hệ thống thu gom
rác, bãi rác hợp vệ sinh, hệ thống thoát nước khu vực nội thành và 4 trạm xử
lý nước thải sinh hoạt trước khi thải ra biển. Dự án môi trường Việt Nam -
Canada đã giúp Đà Nẵng nâng cao năng lực quản lý môi trường trong công
nghiệp, hỗ trợ trang thiết bị kỹ thuật quan trắc môi trường.
Thành phố đã lắp đặt 30 thùng rác tại 5 bãi biển để người dân và khách
du lịch bỏ rác vào thùng. Công ty Môi trường Đô thị đã đưa vào sử dụng một
máy sàn cát hiện đại để làm sạch bãi biển. Bên cạnh đó, thành phố đã cho xây
dựng nhiều công trình vệ sinh công cộng ở các bãi biển và hơn 70 hộ kinh
doanh ăn uống trên các bãi tắm cam kết về kinh doanh văn minh, lịch sự trên
biển. Mỗi ngày có 10 đội viên thanh niên xung kích và nhân viên quản lý túc
trực ở các bãi tắm để đảm bảo trật tự. Ban quan lý kết hợp với chính quyền
địa phương kiên quyết dẹp nạn buôn bán hàng rong và gần 50 nhân viên của
công ty Môi trường Đô thị túc trực từ sáng đến chiều tối để thu gom rác thải
từ khách đi biển.
1.3.3. Bài học kinh nghiệm cho quản lý môi trường tỉnh Thái Bình theo
hướng phát triển bền vững.
Có thể nói trên đây là những thí dụ rất cụ thể về vai trò, cũng như sự nỗ
lực của chính quyền Nhật Bản, Singapore và Đà Nẵng trong hoạt động quản
lý môi trường. Và đây cũng là bài học kinh nghiệm bổ ích mà tỉnh Thái Bình

có thể vận dụng. Chính quyền các địa phương ở tỉnh Thái Bình cần chủ động
hơn nữa trong công tác này.
Bài học kinh nghiệm quản lý môi trường theo hướng phát triển bền vững
của các quốc gia và ở Đà Nẵng có thể rút ra một số kinh nghiệm về quản lý
môi trường tỉnh Thái Bình theo hướng phát triển bền vững như sau:
20

Thứ nhất: Chính quyền tỉnh Thái Bình cần phải thực hiện tốt các văn bản
pháp lý về môi trường, phải có sự phối hợp chặt chẽ, thống nhất trong bộ máy
quản lý môi trường địa phương.
Thứ hai: Thay đổi cách thức nhìn nhận trong quản lý đối với bảo vệ tài
nguyên và môi trường so với trước đây giữa cách nhìn nhận quản lý truyền
thống với cách nhìn nhận quản lý mới đối với hệ sinh thái thể hiện qua bảng
so sánh sau đây.
Quản lý truyền thống
Quản lý hệ sinh thái
Nhấn mạnh vào các sản vật và sự
khai thác tài nguyên thiên nhiên
Nhấn mạnh sự cân bằng giữa những
sản vật, văn hóa và tính toàn vẹn môi
trường.
Quan điểm cứng nhắc, ổn định, cao
trào cộng đồng.
Quan điểm không cứng nhắc, linh
hoạt.
Giảm thiểu, đặc tính xác định.
Nhìn nhận tổng quát.
Dự đoán và kiểm soát
Không chắc chắn và linh hoạt
Các giải pháp được phát triển bởi các

cơ quan quản lý tài nguyên và môi
trường đưa ra.
Các giải pháp được phát triển thông
qua thảo luận giữa các bên tham gia.
Sự đối đầu phân cực các vấn đề đơn lẻ
Xây dựng sự đồng thuận, các vấn đề
đa phương và đối tác cùng hợp tác.

Thứ ba: Trong bối cảnh của thể chế kinh tế thị trường, định hướng xã hội
chủ nghĩa, bảo vệ tài nguyên và môi trường cần có sự kết hợp hài hòa giữa
các giải pháp quản lý gồm các giải pháp về điều hành và kiểm soát với các
giải pháp kinh tế. Nên tảng của các giải pháp này là thay đổi nhận thức của
con người, chú trọng tới đạo đức, khơi dậy cái “tâm” của con người đối với
thiên nhiên. Ngoài ra cần phải lượng giá được tài sản của thiên nhiên để có sự
so sánh giữa các phương án lựa chọn phục vụ cho thiết kế chính sách và lựa
chọn trong bảo vệ tài nguyên và môi trường.
Trên cơ sở nhận thức kinh nghiệm Quốc tế và Thành phố Đà nẵng về
quản lý môi trường theo hướng phát triển bền vững, với cách nhìn nhận trước
đây từ thế kỉ XIX đến cách nhìn nhận mới hiện nay, Thế giới cũng qua những
thăng trầm trong BVMT, từ đó rút ra những kinh nghiệm quý giá cho tỉnh
Thái Bình. Với vấn đề môi trường của tỉnh Thái Bình, nếu biết khắc phục
những tồn tại mà các nước đi trước và Đà Nẵng đã gặp phải, phát huy những
21

kinh nghiệm họ đã thành công, Thái Bình sẽ đạt được không chỉ có sự tăng
trưởng về kinh tế cao mà còn bảo vệ được tài nguyên và môi trường phù hợp
với xu thế mới của thế kỉ XXI là phát triển bền vững.




























22

CHƢƠNG 2: HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ MÔI TRƢỜNG
TỈNH THÁI BÌNH
2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh Thái Bình


a)
Tỉnh Thái Bình nằm ở phía đông nam Đồng bằng sông Hồng, từ 20º17´
vĩ Bắc đến

Thái Bình là tỉnh được bao bọc bởi ba dòng sông lớn: phía tây và tây
nam là sông Hồng, giáp hai tỉnh Hà Nam và Nam Định, phía Bắc là sông
Luộc, giáp hai tỉnh Hưng Yên và Hải Dương, phía đông là sông Hóa, giáp
Thành phố Hải Phòng,
bao quanh, được thông nguồn với gần 70 km con sông lớn nhỏ.
b)
Nền địa hình tỉnh Thái Bình là đồng bằng được hình thành cách đây
không lâu, đường bờ biển hiện nay chỉ mới được bồi đắp trong vòng 100-200
năm trở lại đây nên có địa hình tương đối bằng phẳng với độ dốc nhỏ hơn 1%,
cao trình biến thiên phổ biến từ 1-2m so với mực nước biển, thấp dần từ tây
bắc xuống đông nam. Tỉnh Thái Bình nằm trong đồng bằng Bắc bộ, có đặc
điểm chung của đồng bằng châu thổ, đồng thời có những nét riêng. Nhìn
chung đất Thái Bình được bồi đắp từ phù sa của các dòng sông lớn: sông
Hồng, sông Trà Lý, sông Hóa. Trong đó vai trò bồi đắp phù sa của hệ thống
sông Hồng là chủ yếu.
c)
Khí hậu Thái Bình mang tính chất cơ bản là nhiệt đới ẩm gió mùa, có
nhiệt độ trung bình 23º-24ºC, tổng nhiệt độ hoạt động trong năm đạt 8400-
8500ºC, số giờ nắng từ 1600-1800h, tổng lượng mưa trong năm 1700-
2200mm, độ ẩm không khí từ 80-90%.
d) Tài nguyên thiên nhiên
- Tài nguyên đất
Đất đai Thái Bình phì nhiêu màu mỡ do được bồi tụ bởi hệ thống sông
Hồng và sông Thái Bình. Hệ thống công trình thuỷ lợi tưới tiêu thuận lợi, góp
23


phần làm nên cánh đồng 14 – 15 tấn/ha và đang thực hiện chuyển đổi cơ cấu
nông nghiệp để xây dựng cánh đồng 50 triệu đồng/ha trở lên.
Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 154.584 ha, trong đó: diện tích
cây hàng năm có 92.075 ha, diện tích ao hồ đã đưa vào sử dụng là 6.176 ha.
Hầu hết đất đai đã được cải tạo hàng năm có thể cấy trồng được 3 – 4 vụ, diện
tích có khả năng canh tác vào vụ đông khoảng 400.000 ha. Ngoài diện tích
cấy lúa, đất đai Thái Bình rất thích hợp cho các loại cây thực phẩm (khoai tây,
dưa chuột, hành, tỏi, lạc, đậu tương, ớt xuất khẩu…), cây công nghiệp ngắn
ngày (đay, dâu, cói…), cây ăn quả nhiệt đới (cam, táo, ổi bo, vải thiều, nhãn,
chuối,…), trồng hoa, cây cảnh,…
- Tài nguyên khoáng sản
Thái Bình có mỏ khí đốt Tiền Hải đã được khai thác từ năm 1986, sản
lượng khai thác bình quân mỗi năm đạt hàng chục mét khối khí thiên nhiên
phục vụ cho sản xuất đồ sứ, thuỷ tinh, gạch ốp lát, xi măng trắng…thuộc khu
công nghiệp Tiền Hải. Năm 2003, Tổng công ty dầu khí Việt Nam tiến hành
nổ địa chấn 3D lô 103/107 vịnh Bắc Bộ để chuẩn bị cho việc khai thác khí
ngoài khơi vịnh Bắc Bộ đưa vào phục vụ phát triển công nghiệp của tỉnh (trữ
lượng ước tính ban đầu khoảng 7 tỷ m
3
). Mỏ nước khoáng Tiền Hải ở độ sâu
450 m có trữ lượng tĩnh khoảng 12 triệu m
3
, được khai thác từ năm 1992, sản
lượng khai thác đạt 9,5 triệu lít/năm với các nhãn hiệu nổi tiếng như nước
khoáng Vital, nước khoáng Tiền Hải.
Gần đây, vùng đất xã Duyên Hải huyện Hưng Hà đã thăm dò và phát
hiện mỏ nước nóng 57
o
C ở độ sâu 178 m. Các mỏ nước này đang được đầu tư
khai thác phục vụ phát triển du lịch và chữa bệnh cho nhân dân. Trong lòng

đất Thái Bình còn có than nâu thuộc bể than nâu vùng đồng bằng sông Hồng,
được đánh giá có trữ lượng lớn (hơn 30 tỷ tấn) nhưng phân bổ ở độ sâu 600 –
1.000 m, hiện chưa đủ điều kiện để khai thác.
-
Trên địa bàn Thái Bình không có các hồ, đầm lớn, chủ yếu là các ao nhỏ,
nằm xen kẽ với làng xóm hoặc ven đê, ven biển do lấy đất đắp đê hoặc do vỡ
đê tạo thành các điểm trũng tích nước. Các ao hồ nhỏ nằm rải rác, xen kẽ các
khu dân cư là kết quả của quá trình tạo lập đất ở. Tổng diện tích ao hồ gần
6.575ha, chiếm 4,25% đất đai của tỉnh.

24

2.1.2. Tình hình phát triển kinh tế tỉnh Thái Bình
Năm 2013, theo thống kê của Sở Công thương tình hình kinh tế có bước
tăng trưởng khá, cao hơn năm 2012 và cao hơn bình quân chung của cả nước.
Tổng sản phẩm GDP ước đạt 37.188 tỷ đồng, tăng 8,8% so với năm 2012.
Tổng giá trị sản xuất ước tăng 9,74%, GDP đầu người ước đạt 26,1 triệu đồng.
Tổng chi ngân sách địa phương năm 2013 ước đạt 151,6% dự toán và tăng
7,1% so với năm 2012. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tăng khá, vượt kế
hoạch đề ra.
Sản xuất nông nghiệp đạt kết quả trên cả ba lĩnh vực. Sản xuất nông, lâm,
thủy sản vẫn duy trì ổn định và có bước tăng trưởng. Các cấp, các ngành tập
trung khắc phục hậu quả nặng nề của cơn bão số 8 năm 2012, khôi phục được
6.000 ha cây vụ đông bị thiệt hại, thực hiện công tác phòng trừ sâu bệnh,
chăm sóc bảo vệ lúa mùa. Năm 2013, năng suất lúa cả năm ước đạt 130,88
tạ/ha, tăng 0,55% so với năm 2012. Chương trình xây dựng và phát triển cánh
đồng mẫu đạt kết quả tích cực. Tình hình chăn nuôi tiếp tục phát triển theo
hướng gia trại, trang trại. Toàn tỉnh đã có 62 trang trại quy mô lớn, năm 2013
tăng 9 trang trại so với năm 2012. Sản xuất thủy sản đạt kết quả khá. Khai
thác thủy sản năm 2013 ước đạt 54.100 tấn, tăng 9,2% so với năm 2012. Công

tác quản lý đê điều và phòng chống lụt bão được tăng cường. Toàn tỉnh đã
trồng được gần 1,4 triệu cây phân tán nội đồng và trên 90 ha rừng ngập mặn.
Sản xuất công nghiệp có xu hướng phục hồi, tăng trưởng cao hơn năm
trước. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2013 tăng 11,87% so với năm 2012.
UBND tỉnh đã triển khai thực hiện tốt các cơ chế, chính sách tháo gỡ khó
khăn cho các doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm, hạn chế hàng tồn kho. Các dự
án trọng điểm, cấp bách được tập trung chỉ đạo đặc biệt là dự án nâng cấp hơn
30km đê biển xung yếu, trực diện với biển mặc dù có nhiều có khăn về vốn và
thời tiết xong đã hoàn thành công trình đảm bảo chất lượng và đúng tiến độ đề
ra, góp phần khép kín các tuyến đê xung yếu, trực diện với biển.
Hoạt động tín dụng ngân hàng chuyển biến tích cực. Tổng nguồn vốn
huy động năm 2013 ước đạt 33.570 tỷ đồng, tăng 12,4%, tỷ lệ nợ xấu chiếm
1,6% tổng dư nợ, giảm 0,2% so với năm 2012.
Về thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệp, toàn tỉnh hiện có 50 dự án
FDI với tổng vốn đầu tư 353 triệu USD, chiếm 56,5% kim ngạch xuất khẩu
của tỉnh. Hoạt động của các doanh nghiệp trong năm 2013 tuy gặp nhiều khó
25

khăn hơn các năm trước, song hiện nay toàn tỉnh có 3.774 doanh nghiệp, 394
chi nhánh, văn phòng đại diện với tổng số vốn đăng ký là 23.962 tỷ đồng.
2.1.3. Điều kiện xã hội tỉnh Thái Bình
Ngành Giáo dục - Đào tạo và khoa học công nghệ được giữ vững và phát
triển. Trong năm học 2012 - 2013, Thái Bình là một trong 5 tỉnh, thành phố
đầu tiên trong cả nước được công nhận đạt phổ cập mầm non cho trẻ 5 tuổi,
học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông đạt tỷ lệ cao, số học sinh đỗ đại học,
cao đẳng xếp thứ 2 toàn quốc. Công tác nghiên cứu khoa học và công nghệ
đạt kết quả tích cực. Công tác quản lý tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng, sở
hữu trí tuệ và an toàn bức xạ hạt nhân, thẩm định, giám định công nghệ và
thông tin khoa học - công nghệ được tăng cường, đáp ứng yêu cầu đề ra.
Công tác y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân, kế hoạch hóa gia đình được

triển khai tích cực. Ngành Y tế đã tổ chức khám chữa bệnh và tổ chức điều trị
Methadone cho người nghiện ma túy. Theo Sở Y tế Thái Bình năm 2013, đã
có 269 xã, phường, thị trấn của 8 huyện, thành phố triển khai với 205.000 thẻ
bảo hiểm y tế, đạt 16% tổng số thẻ bảo hiểm y tế trên toàn tỉnh. Điều trị
Methadone cho 139 người nghiện ma túy tại Trung tâm y tế địa phương
Thành phố. Tỷ lệ tiêm chủng được duy trì đạt 99,99%, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi
suy dinh dưỡng giảm còn 15,2%, tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng
được kiềm chế dưới 0,3% dân số, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 0,82%, mức giảm
tỷ lệ sinh đạt 0,4‰.
Các chính sách an sinh xã hội được thực hiện đầy đủ, kịp thời, đảm bảo
ổn định đời sống người dân, nhất là hộ nghèo, các đối tượng chính sách xã hội,
gia đình có công với cách mạng. Các địa phương trong tỉnh đã hoàn thành xây
dựng mới, tu sửa 949 nhà ở cho người có công, tổ chức xây mới và tu sửa 470
mộ liệt sĩ, 12 nhà bia, đài tưởng niệm liệt sĩ Đã hoàn thành hồ sơ đề nghị
Thủ tưởng phong tặng 272 bà mẹ Việt Nam anh hùng và truy tặng 2.457 bà
mẹ trong tỉnh.
Công tác cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư thường xuyên
được quan tâm chỉ đạo và đã đạt được những kết quả tích cực, được người
dân, doanh nghiệp đồng tình ủng hộ, đánh giá cao. Thực hiện cơ chế một cửa
liên thông trong hoạt động đầu tư, từ đầu tháng 9, bộ phận một cửa liên thông
của tỉnh đưa vào hoạt động đã tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân.
Công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tố cáo được duy trì nề nếp. Số

×