Tải bản đầy đủ (.doc) (81 trang)

Luận văn thạc sỹ: Chính sách đối với viên chức khoa học từ thực tiễn Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (397.07 KB, 81 trang )

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHAN TRỌNG HÀO
CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI VIÊN CHỨC KHOA HỌC
TỪ THỰC TIỄN VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
XÃ HỘI VIỆT NAM
Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số : 60 34 04 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. ĐỖ PHÚ HẢI
Hà Nội, 2014
LỜI CAM ĐOAN
Đề tài nghiên cứu “Chính sách đối với viên chức khoa học từ thực tiễn
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam” của luận văn này là kết quả của
sự nỗ lực cố gắng, tìm tòi và sáng tạo của riêng bản thân tôi cùng với sự
hướng dẫn tận tình của người hướng dẫn khoa học TS. Đỗ Phú Hải. Tôi xin
cam đoan, kết quả nghiên cứu của công trình hoàn toàn là kết quả của cuộc
điều tra xã hội học mà tôi đã tiến hành nghiên cứu tại Viện Hàn lâm KHXH
Việt Nam. Trong công trình nghiên cứu này không hề có bất kỳ sự sao chép
nào mà không có trích dẫn nguồn, tác giả.
Tôi xin cam đoan những lời trên đây là hoàn toàn đúng sự thật và tôi xin
chịu toàn bộ trách nhiệm về lời cam đoan của mình.
Hà Nội, tháng 8 năm 2014
Học viên
Phan Trọng Hào
LỜI CẢM ƠN
Công trình nghiên cứu “Chính sách đối với viên chức khoa học từ thực
tiễn Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam” được hoàn thành, cùng với
sự nỗ lực, cố gắng của bản thân. Tôi xin được gửi lời trân trọng cảm ơn và
biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn khoa học TS. Đỗ Phú Hải, người đã


tận tình giúp đỡ, chỉ bảo tôi trong quá trình tôi triển khai đề tài và viết luận
văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô trong Hội đồng phản biện đề
cương và Hội đồng phản biện luận văn đã góp ý giúp tôi hoàn thiện tốt hơn
luận văn của mình. Tôi xin cảm ơn Lãnh đạo Học viện Khoa học xã hội, Văn
phòng Khoa Chính sách công đã tạo những điều kiện tốt nhất về cơ sở vật
chất và đảm bảo chất lượng giảng viên cho chúng tôi trong quá trình theo học
tại đây.
Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam,
Ban Tổ chức Cán bộ Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam, gia đình và những
bạn bè, đồng nghiệp đã luôn ủng hộ, tạo điều kiện, động viên, khích lệ,
giúp đỡ và chia sẻ công việc với tôi trong suốt thời gian qua để tôi được đi
học và hoàn thành luận văn của mình.
Học viên
Phan Trọng Hào
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 2
4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BCHTW Ban Chấp hành Trung ương
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
KH&CN Khoa học và công nghệ
KHXH Khoa học xã hội
VCKH Viên chức khoa học
PTNNLKH Phát triển nguồn nhân lực khoa học
Viện Hàn lâm Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
5
DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN
LỜI CAM ĐOAN 2
LỜI CAM ĐOAN 2

MỤC LỤC
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trong giai đoạn hiện nay, việc phát triển KH&CN, trong đó có chính
sách đối với VCKH giành dược sự quan tâm của cả hệ thống
chính trị. Việc xây dựng chính sách đối với VCKH do Đảng và
Nhà nước thực hiện trên cơ sở nghiên cứu toàn diện, sâu sắc, có
hệ thống chủ nghĩa Mác Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đẩy
mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu có chọn lọc các nước đi
trước; thực hiện đổi mới tư duy, thực sự cầu thị, tôn trọng khách
quan, phát huy dân chủ phục vụ đắc lực sự nghiệp phát triển
KH&CN
Trong giai đoạn hiện nay, việc phát triển KH&CN, trong đó có chính
sách đối với VCKH giành dược sự quan tâm của cả hệ thống
chính trị. Việc xây dựng chính sách đối với VCKH do Đảng và
Nhà nước thực hiện trên cơ sở nghiên cứu toàn diện, sâu sắc, có
hệ thống chủ nghĩa Mác Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đẩy
mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu có chọn lọc các nước đi
trước; thực hiện đổi mới tư duy, thực sự cầu thị, tôn trọng khách
quan, phát huy dân chủ phục vụ đắc lực sự nghiệp phát triển
KH&CN
1.1.6.2. Các yếu tố bên trong
1.1.6.2. Các yếu tố bên trong
b. Những nhân tố bên trong
b. Những nhân tố bên trong
- Ý chí, quyết tâm của chủ thể chính sách tại Viện Hàn lâm KHXH
Việt Nam và các bên liên quan
6
- Ý chí, quyết tâm của chủ thể chính sách tại Viện Hàn lâm KHXH

Việt Nam và các bên liên quan
- Nguồn kinh phí đảm bảo chính sách vận hành thông suốt
- Nguồn kinh phí đảm bảo chính sách vận hành thông suốt
a. Những tác động tích cực
a. Những tác động tích cực
Sự quan tâm, đồng thuận của cả hệ thống chính trị cả về nhận thức và
trong hành động về vai trò của khoa học và công nghệ. Hiến pháp
năm 2013 đã khẳng định “Phát triển khoa học và công nghệ là
quốc sách hàng đầu”; Đầu tư ngân sách cho khoa học và công
nghệ đã tăng từ mức không quá 2% GDP lên mức từ 2% trở lên
(Luật Khoa học và công nghệ năm 2013)
Sự quan tâm, đồng thuận của cả hệ thống chính trị cả về nhận thức và
trong hành động về vai trò của khoa học và công nghệ. Hiến pháp
năm 2013 đã khẳng định “Phát triển khoa học và công nghệ là
quốc sách hàng đầu”; Đầu tư ngân sách cho khoa học và công
nghệ đã tăng từ mức không quá 2% GDP lên mức từ 2% trở lên
(Luật Khoa học và công nghệ năm 2013)
b. Những khó khăn, hạn chế
b. Những khó khăn, hạn chế
KẾT LUẬN
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
TÀI LIỆU THAM KHẢO
7
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
“Năm 1998, Nhà nước ban hành Pháp lệnh cán bộ, công chức, theo đó
những người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp cũng nằm trong nội hàm “cán
bộ, công chức” và sự điều chỉnh của Pháp lệnh cùng các văn bản hướng dẫn thực
hiên. Theo quy định của Pháp lệnh cán bộ, công chức, hệ thống thể chế quản lý

viên chức (khi đó vẫn gọi chung trong cụm từ “cán bộ, công chức”) đều hoàn
toàn được quy định giống như đối với đội ngũ cán bộ, công chức nói chung. Các
quy định về quyền và nghĩa vụ, phương thức tuyển dụng, bổ nhiệm, đào tạo bồi
dưỡng, chính sách tiền lương đều được áp dụng chung cho cả cán bộ, công chức
trong khu vực hành chính cũng như trong khu vực sự nghiệp” [8, tr 3].
“Sau thời gian thực hiện, đến năm 2003, Chính phủ đã sửa đổi, bổ
sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức. Trong đó có một nội
dung rất quan trọng là việc phân định cán bộ, công chức làm việc trong cơ
quan hành chính của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội với cán bộ,
công chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp. Điều này đã tạo ra cơ sở
pháp lý trong việc đổi mới một bước cơ chế quản lý cán bộ, công chức
trong các đơn vị sự nghiệp.
Từ năm 2003, Chính phủ đã quy định cán bộ, công chức trong các đơn vị
sự nghiệp được gọi chung là viên chức. Cùng với việc sửa đổi, bổ sung một số
điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 2003, hệ thống các văn bản quy định
chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh cán bộ, công chức cũng được nghiên
cứu trình Chính phủ ban hành thay thế cho các văn bản được ban hành từ năm
1998: Nghị định số 116/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 về tuyển dụng, sử dụng
và quản lý viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập; Nghị định số
121/2006/NĐ-CP ngày 23/10/2006 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định
số 116/2004/NĐ-CP” [8, tr4).
8
Đến năm 2008, Chính phủ ban hành Luật cán bộ, công chức; Nghị định
số 06/2010/NĐ-CP quy định những người là công chức; Thông tư số
08/2011/TT-BNV hướng dẫn một số điều của Nghị định số 06/2010/NĐ-CP;
Luật cán bộ, công chức đã tạo cơ sở pháp lý cho việc xây dựng, ban hành một
loạt chính sách đối với cán bộ, công chức. Trong khi đó, vị trí pháp lý của
viên chức nói chung và viên chức khoa học nói riêng vẫn là vấn đề bỏ ngỏ,
chế độ chính sách đối với viên chức vẫn thực hiện theo quy định đã lạc hậu.
Ngày 01/01/2012, Luật Viên chức chính thức có hiệu lực là một dấu mốc

quan trọng, mang một ý nghĩa to lớn trong việc khẳng định vị trí pháp lý,
quyền và nghĩa vụ của viên chức; tạo cơ sở cho việc ban hành chính sách
tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng và chế độ đãi ngộ đối viên chức nói
chung, viên chức ngành khoa học và công nghệ nói riêng.
Cũng trong thời điểm này, một loạt các văn kiện quan trọng của Đảng,
Chính phủ, Quốc hội nêu bật tầm quan trọng của phát triển, tăng cường đầu tư
cho khoa học và công nghệ:
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa
XI về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và
hội nhập quốc tế đã đề ra các mục tiêu “đến năm 2020 hình thành đồng bộ đội
ngũ cán bộ khoa học và công nghệ có trình độ cao, tâm huyết, trung thực, tận
tụy”; Hiến pháp năm 2013 đã chỉ rõ “Phát triển khoa học và công nghệ là
quốc sách hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước; Luật Khoa học và công nghệ năm 2013 đã tăng mức đầu
tư hằng năm cho khoa học và công nghệ từ mức không quá 2% GDP lên mức
từ 2% GDP trở lên.
Có thể nói chưa bao giờ việc phát triển khoa học và công nghệ giành
được sự quan tâm đặc biệt của cả hệ thống chính trị như hiện nay. Trong đó,
9
việc thực hiện chính sách đối với các nhà khoa học nói chung, viên chức khoa
học nói riêng đóng một vai trò vô cùng quan trọng, được trực tiếp hoặc gián
tiếp đề cập đến qua quan điểm chỉ đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ tại các
văn bản nói trên.
Từ lý do trên cho thấy, việc chọn và nghiên cứu đề tài: “Chính sách đối
với viên chức khoa học (VCKH) từ thực tiễn tại Viện Hàn lâm KHXH Việt
Nam” là yêu cầu khách quan, cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tìm hiểu tình hình nghiên cứu và các vấn đề liên quan đến đề tài
“Chính sách đối với VCKH từ thực tiễn tại Viện Hàn lâm KHXH Việt

Nam” cho thấy đây là vấn đề mới mẻ, một số nhà khoa học đã quan tâm
nghiên cứu và tiếp cận theo nhiều cách, với những cấp độ khác nhau:
- TS. Đỗ Phú Hải, Học viện Khoa học xã hội: “Báo cáo về thể chế
quản lý viên chức và đội ngũ viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập
từ năm 1998 đến nay” đã cung cấp một cách đầy đủ các văn bản quy phạm
pháp luật về quản lý viên chức và đội ngũ viên chức trong các đơn vị sự
nghiệp công lập.
- Luận văn thạc sĩ quản lý Hành chính công của tác giả Hoàng Mạnh
Dũng “Đào tạo, bồi dưỡng nhân sự theo vị trí việc làm trong các đơn vị sự
nghiệp công lập từ thực tiễn Viện Khoa học xã hội Việt Nam” đã có những
đánh giá toàn diện về hệ thống đào tạo, bồi dưỡng viên chức hiện nay, đưa ra
những đổi mới căn bản về hình thức đào tạo gắn với vị trí việc làm tại các đơn
vị sự nghiệp công lập.
- Luận văn thạc sĩ quản lý Hành chính công của tác giả Bùi Thị Lan
Hương “Quản lý Nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực ngành khoa
học xã hội Việt Nam” đã cung cấp cở sở lý thuyết của quản lý nhà nước về
công tác đào tạo, bồi dưỡng và các nhân tố ảnh hưởng; đề ra mục tiêu phương
10
hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả của quản lý nhà nước đối với nhân lực
ngành khoa học xã hội.
Tình hình nghiên cứu trên đây cho thấy, các công trình khoa học, đề tài
nghiên cứu, trong chừng mực nhất định đã góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề
lý luận và thực tiễn về xây dựng và hoàn thiện thể chế chính sách đối với viên
chức nói chung và VCKH nói riêng đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu đề tài “Chính sách đối với VCKH từ thực tiễn tại
Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam” hướng tới làm sáng tỏ cơ sở lý luận, cơ sở
thực tiễn trong việc xác định vấn đề, mục tiêu chính sách; các giải pháp và
công cụ chính sách; việc xây dựng, ban hành và thực thi chính sách đối với
VCKH để đưa ra các quan điểm, phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm

hoàn thiện chính sách đối với VCKH ở nước ta cho phù hợp với điều kiện
phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện phát triển và hội nhập.
Để thực hiện được mục đích trên đây, đề tài có nhiệm vụ:
- Làm rõ những vấn đề lý luận về khái niệm, đặc điểm, vị trí và vai trò
của VCKH, của chính sách đối với VCKH; những yêu cầu và tiêu chí hoàn
thiện chính sách đối với VCKH.
- Phân tích, đánh giá sự hình thành và phát triển chính sách đối với
VCKH, từ lịch sử đến thực tại để chỉ ra những thành tựu, hạn chế, nguyên
nhân và rút ra kết luận về thực trạng về chính sách đối với viên chức khoa học.
- Hình thành các quan điểm, kiến nghị phương hướng và giải pháp cơ
bản nhằm hoàn thiện chính sách đối với VCKH.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận về chính sách, chủ thể
chính sách, thể chế chính sách, môi trường tồn tại của chính sách đối với
VCKH tại Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam.
11
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu chính sách công kết hợp giữa
nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu thực tế; phương pháp nghiên cứu liên
ngành, đa ngành về Khoa học xã hội; phương pháp hệ thống, phân tích, tổng
hợp, so sánh.
Sử dụng phương pháp điều tra qua bảng hỏi gửi tới những đối tượng là
các nhà quản lý và VCKH tại Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam.
6. Ý nghĩa của luận văn
Giúp làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách đối với
VCKH, cung cấp luận cứ cho việc hoàn thiện chính sách.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục các chữ viết tắt, danh
mục các hình và bảng, danh mục tài liệu tham khảo; luận văn được bố cục theo
3 chương sau:

- Chương 1: Lý luận về chính sách đối với viên chức khoa học.
- Chương 2: Thực trạng chính sách đối với viên chức khoa học từ thực
tiễn Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.
- Chương 3: Giải pháp hoàn thiện chính sách đối với viên chức khoa học
tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.
12
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI VIÊN CHỨC KHOA HỌC
1.1. Lý luận về chính sách đối với viên chức khoa học
1.1.1. Khái niệm về chính sách đối với viên chức khoa học
Chính sách công là tập hợp những quyết định mang tính chính trị của
Đảng cầm quyền nhằm vạch ra những đường hướng hành động ứng sử cơ bản
của chủ thể quản lý với các vấn đề, hiện tượng tồn tại trong đời sống để thúc
đẩy và quản lý sự phát triển nhằm đạt tới những mục tiêu nhất định cho trước.
Khái niệm Chính sách công được diễn đạt khái quát như sau: “Chính sách
công là tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của nhà nước nhằm lựa
chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết các
vấn đề của xã hội theo mục tiêu xác định của đảng chính trị cầm quyền” (Đỗ
Phú Hải, 2012).
Chủ thể ban hành chính sách là Nhà nước thông qua các cơ quan quyền
lực (Quốc hội, Chính phủ), các bộ ngành thực hiện chức năng quản lý nhà
nước. Chính sách công được biểu hiện bằng nhiều cấp độ khác nhau: Hiến
pháp, Luật, Nghị quyết, Nghị định, Quyết định. Mục đích cuối cùng là để phát
triển và quản lý sự phát triển của xã hội. Cấu trúc của chính sách gồm 3 bộ
phận: i) Những đường hướng hành động ứng xử (là quan điểm và định hướng
chính sách). ii) Biện pháp thực hiện chính sách, các công cụ của chính sách.
iii) Mục tiêu mà chính sách hướng tới.
Dẫn chiếu theo Điều 2, Luật Viên chức thì “VCKH là công dân Việt
Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công
lập thực hiện chức năng nghiên cứu khoa học theo chế độ hợp đồng làm

việc”. VCKH có nhiệm vụ xây dựng hoặc tham gia xây dựng kế hoạch nghiên
cứu các đề tài, dự án, bao gồm việc xác định mục tiêu, nội dung, phương
hướng, phương pháp nghiên cứu, tiến độ thực hiện và các điều kiện về nhân
13
lực, vật tư, tài chính; trực tiếp nghiên cứu và hướng dẫn, kiểm tra thực hiện
các nội dung nghiên cứu, thí nghiệm được phân công; xử lý tổng hợp các
thông tin, dữ liệu thu được. Tổ chức triển khai thực nghiệm nhằm hoàn thiện
kết quả nghiên cứu trước khi đưa vào sản xuất và đời sống.
Với khái niệm ở trên thì VCKH được hiểu là những người làm công tác
nghiên cứu khoa học tại các đơn vị sự nghiệp Nhà nước như Viện Hàn lâm
KHXH Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, các viện
nghiên cứu trực thuộc các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
được hưởng lương theo bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ,
viên chức trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước (tại Nghị định
204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ quy định về chế độ tiền
lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang); được bổ
nhiệm vào một trong các các ngạch: nghiên cứu viên, nghiên cứu viên chính,
nghiên cứu viên cao cấp hoặc ngạch kỹ sư, kỹ sư chính, kỹ sư cao cấp (theo
quy định tại Quyết định số 11/2006/QĐ-BNV ngày 10/10/2006 của Bộ trưởng
Bộ Nội vụ ban hành tiêu chuẩn, nghiệp vụ các ngạch viên chức ngành khoa
học và công nghệ).
Chính sách đối với VCKH là tập hợp các quyết định có liên quan của
nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực
hiện giải quyết các vấn đề của VCKH theo mục tiêu xác định. Chính sách đối
với VCKH bao gồm tập hợp các quyết định chính sách về tuyển dụng, sử
dụng; chính sách tiền lương, phụ cấp; chính sách đào tạo, bồi dưỡng; chính
sách thu hút, đãi ngộ, có tác động trực tiếp đến việc sử dụng, quản lý viên chức,
tạo lập môi trường làm việc và chế độ đãi ngộ đối với viên chức, hướng đến mục
tiêu phát huy sự sáng tạo, cống hiến của VCKH làm phong phú thêm các giá trị
vật chất và tinh thần của xã hội.

1.1.2. Vấn đề chính sách đối với viên chức khoa học
14
Xác định vấn đề chính sách là giai đoạn khởi đầu trong quy trình xây
dựng chính sách công, bao gồm từ bước phát hiện những vấn đề xã hội, mâu
thuẫn nảy sinh trong đời sống xã hội, đến mức cần phải có giải pháp giải
quyết bằng chính sách cho đến khi hoàn thành những mục tiêu của chính sách
công. Những vấn đề đó thường là những mâu thuẫn trong xã hội, những khó
khăn, vướng mắc trong quá trình phát triển hoặc là nhu cầu phát triển ở mức
độ cao hơn. Vì vậy vấn đề của chính sách luôn luôn gắn liền với sự phát triển
của xã hội. “Việc xác định vấn đề chính sách được bắt đầu bằng cảm nhận
vấn đề so với cấu trúc vấn đề, đó là cảm nhận về các trở ngại, khó khăn,
vướng mắc trong xã hội cần được giải quyết bằng chính sách hoặc các bất
hợp lý gây mâu thuẫn, mất cân bằng, mất ổn định về kinh tế xã hội, cản trở
tăng trưởng kinh tế hoặc những nhu cầu trong tương lai cần đạt được bằng
chính sách. Theo quy luật vận động, vấn đề chính sách mang cả tính hiện
thực và tương lai, các hiện tượng đang tồn tại thực tế sẽ làm nảy sinh những
vấn đề trong tương lai” [9, tr.39]. Việc xác định rõ quy mô và mức độ
nghiêm trọng của vấn đề của xã hội để định rõ phạm vi và mức độ can thiệp
của chính sách là hết sức quan trọng và cần được xem xét cụ thể thông qua
các chỉ số đáng tin cậy và biện pháp đo lường khoa học.
Vấn đề của chính sách đối với VCKH là những mâu thuẫn về quyền lợi
và trách nhiệm của viên chức đến mức cần phải giải quyết; mâu thuẫn giữa
thu nhập bị giới hạn với chi phí trong cuộc sống liên tục gia tăng; giữa sự
chênh lệch thu nhập của các thành phần kinh tế; giữa trình độ đào tạo và khả
năng thực hiện công việc; giữa sự đãi ngộ và khả năng cống hiến. Việc xác
định đúng vấn đề chính sách đóng một vai trò quan trọng trọng trong quá
trình xây dựng, ban hành, thực hiện chính sách và quyết định đến sự thành
công hay thất bại của chính sách.
1.1.2.1. Vấn đề tiền lương và phụ cấp
15

- Vấn đề tiền lương
Kết luận số 23-KL/TW, ngày 29-5-2012, Hội nghị Trung ương V, khóa
XI: “Một số vấn đề về tiền lương, bảo hiểm xã hội, trợ cấp ưu đãi người có
công và định hướng cải cách đến năm 2020” đã nhấn mạnh: “Quan điểm, chủ
trương của Đảng về cải cách chính sách tiền lương nhiều năm nay là đúng
đắn, phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ quan
điểm, chủ trương này, Chính phủ đã không ngừng triển khai thực hiện, xem
xét, điều chỉnh mức lương tối thiểu chung, tối thiểu vùng; sửa đổi, bổ sung
chế độ phụ cấp ưu đãi, thâm niên theo nghề, phụ cấp đặc thù theo ngành; đổi
mới cơ chế tài chính đối với đơn vị hành chính, sự nghiệp, từng bước hoàn
thiện chế độ tiền lương và cải thiện đời sống của cán bộ, công chức, viên chức
và người lao động. Tuy nhiên, quá trình điều chỉnh, triển khai trong từng nội
dung của chính sách tiền lương hiện hành vẫn còn nhiều bất cập. Cụ thể:
Về nội dung chính sách tiền lương: Quan hệ tiền lương tối thiểu - trung
bình - tối đa chưa hợp lý, hệ số trung bình quá thấp nên chưa cải thiện được
đời sống, chưa khuyến khích được cán bộ, công chức, viên chức có hệ số
lương thấp.
Việc thực hiện chủ trương xã hội hóa các hoạt động sự nghiệp công
(dịch vụ công) còn chậm và đạt kết quả thấp, nhất là trong y tế, giáo dục và
đào tạo, gây khó khăn cho cải cách tiền lương, thiếu nguồn tài chính để trả
lương xứng đáng cho cán bộ, công chức, viên chức; chưa tách bạch rõ ràng
chính sách tiền lương đối với công chức khu vực hành chính Nhà nước và
viên chức khu vực sự nghiệp cung cấp dịch vụ công. Hiện vẫn phổ biến tình
trạng trả lương còn mang tính “cào bằng”, cán bộ, công chức, viên chức được
trả theo chức vụ, chức danh nghiệp vụ chuyên môn, thâm niên công tác; “làm
nhiều, làm ít cũng hưởng lương như nhau”, tiền lương chưa phù hợp với mức
độ cống hiến, chưa phản ánh đúng năng lực, kết quả công tác của cán bộ,
16
công chức, viên chức.
Về mức lương tối thiểu chung và mức lương tối thiểu vùng: Mức lương

tối thiểu hiện nay chưa thật sự phù hợp với cơ chế thị trường, dù liên tục điều
chỉnh nhưng tăng vẫn không kịp so với tốc độ trượt giá và mức tăng trưởng
của nền kinh tế. Do đó, tiền lương thực tế của cán bộ, công chức và người lao
động có phần giảm sút, chưa bảo đảm trang trải cho các nhu cầu thiết yếu của
bản thân, chưa kể đến gia đình họ. Chính sách tiền lương chưa thực sự là đòn
bẩy khuyến khích được cán bộ, công chức, viên chức nâng cao trách nhiệm,
hiệu quả, phát huy năng lực trong thực thi công vụ. Nhiều công chức, viên
chức, trong đó không ít đội ngũ trí thức trẻ, có trình độ chuyên môn cao
chuyển sang làm việc tại các doanh nghiệp có mức lương cao như các công ty
dầu khí, công ty nước ngoài”.
- Vấn đề phụ cấp theo lương
Hiện nay, đối với công chức đã có phụ cấp công vụ, viên chức các ngành
sự nghiệp lớn như giáo dục, y tế, văn hóa đã có các loại phụ cấp thâm niên
hay phụ cấp ngành. VCKH hiện nay chưa được hưởng chế độ phụ cấp tương
xứng, chưa cải thiện được thu nhập, dẫn đến khó khăn cho công tác điều
động, tiếp nhận, luân chuyển công tác đối với các trường hợp được hưởng các
phụ cấp ngành đến nơi không có phụ cấp, nên rất khó thu hút được nhân lực
có chất lượng vào làm việc tại các cơ quan nghiên cứu khoa học.
1.1.2.2. Vấn đề tuyển dụng viên chức khoa học
Tuyển dụng là quy trình sàng lọc và tuyển chọn những người có đủ năng
lực đáp ứng yêu cầu công việc. Tuyển dụng đóng vai trò quan trọng trong
việc xây dựng đội ngũ viên chức có đủ phẩm chất chính trị và năng lực
chuyên môn tại các cơ quan nghiên cứu khoa học. Theo Điều 21, Luật Viên
chức, việc tuyển dụng viên chức phải theo các nguyên tắc: Bảo đảm công
khai, minh bạch, công bằng, khách quan và đúng pháp luật; bảo đảm tính
17
cạnh tranh; tuyển chọn đúng người đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm; đề
cao trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập; ưu tiên người
có tài năng, người có công với cách mạng, người dân tộc thiểu số. Việc tuyển
dụng VCKH hiện đang gặp phải vấn đề chất lượng lượng đầu vào chưa cao,

chưa đồng đều; một số ngành rất khó tuyển dụng được người giỏi do số lượng
ứng viên dự tuyển rất thấp.
1.1.2.3. Vấn đề đào tạo, bồi đưỡng viên chức khoa học
Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức nói chung được xác
định là một nhiệm vụ thường xuyên, có ý nghĩa quan trọng, góp phần tích cực
trong việc nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực công tác, chất lượng và
hiệu quả công việc theo vị trí việc làm.
Trong thời gian qua, nội dung và thời lượng khung cho các chương trình
đào tạo, bồi dưỡng liên tục thay đổi và cải cách nhưng hiệu quả vẫn chưa cao,
chưa phù hợp với yêu cầu thực tiễn của ngành, lĩnh vực nghiên cứu với tính
chất và trình độ phát triển rất khác nhau, chưa đáp ứng yêu cầu từng vị trí việc
làm của VCKH. Chính vì vậy cần đổi mới nội dung chương trình, giáo trình
và tài liệu giảng dạy cho phù hợp; chú trọng kỹ năng thực tiễn áp dụng cho
từng đối tượng người học; có sự liên thông trong nội dung chương trình, giảm
bớt những nội dung trùng lặp.
Tiếp tục đổi mới và áp dụng hiệu quả các phương pháp truyền đạt kiến
thức theo từng đối tượng đào tạo, bồi dưỡng như: thuyết trình, làm việc theo
nhóm, nghiên cứu tình huống, thảo luận; chú trọng công tác đào tạo chuyên
gia khoa học; đào tạo sau nghiên cứu sinh đối với tiến sĩ.
1.1.2.4. Vấn đề thu hút sinh viên xuất sắc, nhà khoa học trẻ tài năng
Kết luận số 86-KL/TW ngày 24/01/2014 của Bộ Chính trị về Chính sách
thu hút, tạo nguồn cán bộ từ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ
cho thấy: “Nhiều sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc đã tuyển dụng làm
18
công chức, viên chức không qua thi tuyển; phần lớn được bố trí công tác phù
hợp với năng lực, chuyên môn, phát huy tốt năng lực sở trường và được bổ
sung quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; trở thành những cán bộ chủ
chốt trong các cơ quan, đơn vị; các chuyên gia giỏi trong các lĩnh vực. Tuy
nhiên, chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao thời gian qua chưa đủ sức
hút mạnh mẽ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ vào làm việc

trong các cơ quan, tổ chức. Một số thu hút được thì còn lúng túng, bị động
trong bố trí sử dụng; có nơi còn tư tưởng hẹp hòi, định kiến không mạnh dạn
đề bạt cán bộ trẻ, dẫn tới cán bộ không yên tâm công tác, không tập trung suy
nghĩ, nghiên cứu, không phát huy được hết năng lực, sở trường, gây lãng phí
nguồn lực, phát sinh dư luận không tốt về chủ trương thu hút nhân tài của
Đảng và Nhà nước”.
1.1.3. Các giải pháp và công cụ chính sách đối với viên chức khoa học
1.1.3.1. Các giải pháp chính sách
a. Giải pháp tiền lương đối với viên chức khoa học
Theo ThS. Mai Thế Hán, Viện Khoa học Tổ chức Nhà nước: “Ở Việt
Nam hiện nay, giải pháp cho vấn đề lương công chức, viên chức vẫn gặp
những trở ngại, khó khăn, vướng mắc. Từ năm 2003 đến 2013, mức lương tối
thiểu của cán bộ, công chức đã được điều chỉnh 9 lần, từ 210.000đ/tháng lên
1.150.000đ/tháng (áp dụng từ ngày 01/7/2013). Từ năm 2008 - 2013, trong
khi mức lương tối thiểu chỉ tăng thêm 84,4% thì mức tăng chỉ số giá hàng ăn
và dịch vụ ăn uống lại tăng đến 99,05%. Như vậy, thực tế trong những năm
gần đây, mức tăng lương chỉ là để bù đắp mức tăng giá tiêu dùng, chứ chưa
thể nói đến việc nâng cao mức sống cho cán bộ, công chức, viên chức”.
Giải pháp tăng lương cho VCKH là sự lựa chọn chiến lược và đảm bảo
tiền lương của VCKH tối thiêu phải ở mức trung bình khá so với mặt bằng
lương chung. Kèm theo đó là các giải pháp đồng bộ để việc chức có thêm thu
19
nhập từ chính công việc nghiên cứu khoa học thay vì các nguồn thu nhập từ
các công việc không liên quan đến chuyên môn như hiện nay.
b. Giải pháp nâng cao chất lượng tuyển dụng viên chức khoa học
Trong điều kiện chất lượng đầu chưa cao, chưa đồng đều, một số ngành,
lĩnh vực khoa học khó tuyển được người giỏi như hiện nay, cần thực hiện các
giải pháp hỗ trợ đối với VCKH mới được tuyển dụng; cần làm tốt hơn nữa về
việc cung cấp thông tin tuyển dụng; đổi mới hình thức tuyển dụng cho phù hợp.
Về phía Nhà nước: hỗ trợ tài chính đối với các sinh viên làm tham gia

NCKH khi còn ngồi trên giảng đường đại học, nhân rộng mô hình sinh viên
nghiên cứu khoa học; hỗ trợ tài chính cho VCKH mới được tuyển dụng, tạo
điều kiện cho họ yên tâm công tác trong 03 năm đầu được tuyển dụng.
Về phía các cơ quan NCKH: lập kế hoạch dài hạn về tuyển dụng VCKH;
sử dụng công cụ truyền thông có hiệu quả hơn nữa để cung cấp thông tin
tuyển dụng, điều kiện làm việc, chế độ đãi ngộ của đơn vị để đông đảo ứng
viên quan tâm được biết. Bên cạnh đó, cần đổi mới hình thức và nội dung
tuyển dụng đảm bảo tuyển được người thật sự đáp ứng được yêu cầu công
việc từ nguồn tuyển dụng đang hạn chế như hiện nay. Mặt khác, không tuyển
dụng cho đủ chỉ tiêu số lượng mà cần chú trọng tuyển những người thật sự
phù hợp. Chỉ tiêu còn thừa có thể dùng để thu hút, tiếp nhận người có đủ năng
lực từ các cơ quan, đơn vị khác.
c. Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo viên chức khoa học
Chú trọng đào tạo VCKH bộ trẻ, đào tạo chuyên gia, đào tạo sau nghiên
cứu sinh đối với tiến sĩ. Việc thực hiện đào tạo cần gắn với nhu cầu phát triển
đơn vị và đào tạo theo vị trí công việc.
Về phía Nhà nước: có cơ chế khuyến khích, hỗ trợ các cơ quan NCKH
trong việc đào tạo chuyên gia, các nhà khoa học đầu ngành; xây dựng cơ
chế đặt hàng thực hiện nhiệm vụ NCKH đối với chuyên gia, nhà khoa học
20
đầu ngành.
Về phía đơn vị NCKH: lập kế hoạch dài hạn về đào tạo, bồi dưỡng
VCKH của đơn vị; có cơ chế tài chính, quy chế giao việc đối với VCKH có
trình độ có trách nhiệm đào bồi dưỡng VCKH trẻ của đơn vị và được hưởng
chế độ xứng đáng, xem đây là một nhiệm vụ quan trọng; giao VCKH có trình
độ, uy tín thành lập các tổ, nhóm nghiên cứu chuyên sâu, sinh hoạt định kỳ và
có báo cáo theo đặt hàng của đơn vị.
d. Giải pháp thu hút sinh viên xuất sắc, nhà khoa học tài năng
Cần tạo lập môi trường thu hút, sử dụng, trọng dụng và tôn vinh nhân
tài. Các cơ quan nghiên cứu khoa học cần chủ động hơn nữa trong việc phối

hợp với các cơ sở đào tạo đại học, sau đại học để thu hút được sinh viên xuất
sắc, các nhà khoa học tài năng thay vì để họ tìm đến mình như hiện nay.
Xây dựng kế hoạch, lộ trình, giải pháp để thu hút sinh viên xuất sắc, sử
dụng nhà khoa học trẻ tài năng. Cấp ủy, chính quyền có cam kết mạnh mẽ
nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sinh viên xuất sắc, nhà khoa học trẻ
cống hiến tài năng; bố trí công việc phù hợp và đãi ngộ xứng đáng.
1.1.3.2. Các công cụ chính sách đối với viên chức khoa học
a. Công cụ dựa vào quyền lực
Nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra về việc xây dựng, thực
hiện chính sách đối với VCKH.
b. Công cụ dựa vào tổ chức
Thực hiện việc bố trí, sử dụng VCKH theo vị trí việc làm; thực hiện việc
điều động, luân chuyển VCKH để đảm bảo tỷ lệ, cơ cấu nhân lực cho các
ngành, lĩnh vực nghiên cứu.
Thành lập, chia tách, sáp nhập, các tổ chức NCKH để tinh gọn bộ máy
theo hướng chuyên môn hóa cao, hình thành các tổ, nhóm NCKH trọng điểm.
Giải thể các tổ chức khoa học hoạt động không hiệu quả.
21
Sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chính sách đối với VCKH để phù hợp với
điều kiện hội nhập hiện nay.
c. Công cụ dựa vào tài chính
Cải cách chế độ tiền lương, phụ cấp đối với VCKH; xây dựng hành lang
pháp lý để VCKH có thêm thu nhập chính đáng từ hoạt động chuyên môn;
nhân rộng mô hình các đơn vị NCKH tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các
đơn vị sự nghiệp có thu.
d. Công cụ dựa vào thông tin, tuyên truyền
Các cơ quan truyền thông có trách phổ biến tuyên truyền chủ trương của
Đảng, Chính sách của Nhà nước đối với VCKH để đông đảo quần chúng,
nhân dân hiểu rõ hơn chính sách của Đảng ta hiện nay về việc sử dụng, trọng
dụng các nhà khoa học.

1.1.4. Các chủ thể chính sách đối với viên chức khoa học
Chính sách là công cụ được Nhà nước dùng để điều hành hoạt động kinh
tế - xã hội. Vì vậy chủ thể ban hành chính sách là Nhà nước, cụ thể là các cơ
quan có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước.
Chủ thể ban hành chính sách đối với VCKH gồm các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền như: Quốc hội, Chính Phủ, Bộ Nội vụ, Bộ Khoa học và Công
nghệ. Ngoài ra, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ cũng
ban hành các văn bản chính sách phục vụ cho việc điều hành quản lý hoạt
động của đơn vị mình. Trong số các cơ quan kể trên, Bộ Nội vụ và Bộ Khoa
học và Công nghệ là hai cơ quan đóng vai trò chính trong việc tham mưu và
trực tiếp xây dựng chính sách.
Bộ Nội vụ
Theo Nghị định số 58/2014/NĐ-CP ngày 16/6/2014 của Chính phủ quy
định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nội vụ, Bộ
Nội vụ là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về
22
các ngành, lĩnh vực: Tổ chức hành chính, sự nghiệp nhà nước; chính quyền
địa phương, địa giới hành chính; cán bộ, công chức, viên chức nhà nước; đào
tạo bồi dưỡng về chuyên ngành hành chính, quản lý chính nhà nước.
Bộ Nội vụ có nhiệm vụ trình Chính phủ dự án luật, dự thảo nghị quyết
của Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ
theo chương trình, kế hoạch xây dựng pháp luật hàng năm của Bộ đã được
phê duyệt và các dự án, đề án theo sự phân công của Chính phủ, Thủ tướng
Chính phủ; trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo quyết định, chỉ thị và các văn
bản khác thuộc ngành, lĩnh vực do Bộ Nội vụ quản lý hoặc theo sự phân
công; ban hành thông tư, quyết định, chỉ thị và các văn bản khác thuộc phạm
vi quản lý nhà nước của Bộ; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các văn bản.
- Bộ Khoa học và Công nghệ
Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức
năng quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ, bao gồm: hoạt động khoa

học và công nghệ; phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ; sở hữu trí tuệ;
tiêu chuẩn đo lường chất lượng.
Bộ Khoa học và Công nghệ có nhiệm vụ trình Chính phủ dự án luật, dự
thảo nghị quyết của Quốc hội; dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội; dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ theo
chương trình, kế hoạch xây dựng pháp luật hàng năm của Bộ đã được phê
duyệt và các dự án, đề án theo sự phân công của Chính phủ, Thủ tướng Chính
phủ; chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển dài hạn, 5 năm, hàng năm và
các dự án, công trình quan trọng quốc gia của ngành thuộc lĩnh vực do Bộ
Khoa học và Công nghệ quản lý; trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo quyết
định, chỉ thị và các văn bản khác thuộc lĩnh vực do Bộ Khoa học và Công
nghệ quản lý; phê duyệt phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ khoa học và công
nghệ chủ yếu 5 năm và kế hoạch khoa học và công nghệ hàng năm, các
chương trình nghiên cứu phát triển thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ
phù hợp với chiến lược phát triển khoa học và công nghệ và theo phân cấp, ủy
23
quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; ban hành thông tư, quyết định,
chỉ thị và các văn bản khác thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ; chỉ đạo,
hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật,
chiến lược, quy hoạch, kế hoạch thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ sau khi được
ban hành, phê duyệt; thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về
khoa học và công nghệ; ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia,
quy trình, định mức kinh tế - kỹ thuật theo thẩm quyền trong các ngành, lĩnh
vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ.
1.1.5. Thể chế chính sách đối với viên chức khoa học
Thể chế giúp phát triển và quản lý sự phát triển mọi hoạt động của đời sống
xã hội có trật tự theo một hệ thống nhất định. Thể chế chính sách đối với VCKH
nằm chung trong thể chế đối với viên chức, hoặc thể chế đối với cán bộ, công
chức, viên chức và lực lượng vũ trang, gồm nhiều loại văn bản khác nhau và
được nhiều cơ quan quản lý Nhà nước ban hành theo thẩm quyền. Các thể chế

chính sách đối với VCKH hiện hành gồm:
- Hiến pháp năm 2013;
- Luật viên chức năm 2010, Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013;
- Nghị định 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ về chế độ
tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang; Nghị
định số 29/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2014 quy định việc tuyển dụng, sử dụng và
quản lý viên chức; Nghị định số 40/2014/NĐ-CP ngày 12/5/2014 quy định việc
sử dụng, trọng dụng cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ; Nghị định số
27/2012/NĐ-CP ngày 06/4/2012 quy định về xử lý kỷ luật viên chức và trách
nhiệm bồi thường, hoàn trả của viên chức.
- Thông tư số 15/2012/TT-BNV ngày 25/12/2012 hướng dẫn về tuyển
dụng và ký kết hợp đồng làm việc và đền bù chi phí đào tạo, bồi dưỡng đối
24
với viên chức.
- Hiện nay Bộ Khoa học và Công nghệ đã xây dựng dự thảo Thông tư
quy định tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp đối với viên chức ngành khoa học
và công nghệ; dự thảo Thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định số
40/2014/NĐ-CP ngày 12/5/2014.
Bảng 1.1: Môi trường thể chế chính sách đối với VCKH
Hệ thống
thể chế
Chủ thể ban hành
Thẩm quyền
ban hành
Cấp Trung
ương
Quốc Hội - Luật
Chính Phủ - Nghị định
Bộ Nội vụ
- Thông tư; Thông tư

liên tịch;
- Quyết định
Bộ KH&CN
- Thông tư; Thông tư
liên tịch;
- Quyết định
Các Bộ, cơ quang ngang Bộ, cơ quan
thuộc Chính phủ có liên quan
- Quyết định
Cấp địa
phương
HĐND các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương
- Nghị quyết
UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương
- Quyết định
Sở KH&CN các tỉnh trực thuộc
Trung ương
- Quyết định
1.1.6. Những nhân tố tác động đến chính sách đối với viên chức khoa học
1.1.6.1. Hệ thống chính trị
Hệ thống chính trị tác động mạnh đến Chính sách công. Hệ thống Chính
trị gồm ba thành tố: Văn hóa chính trị, Hiến pháp và Thể chế chính trị.
25

×