Tải bản đầy đủ (.doc) (31 trang)

những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa maclenin full

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (213.26 KB, 31 trang )

1 | P a g e
Phần I : NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA
CHỦ NGHĨA MÁC- LÊNIN
Câu 1: Hãy nêu và phân tích nội dung định nghĩa vật chất của Lênin?
Từ đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận của nó?


Trả lời:
Trong tác phẩm: “ Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh kiệm phê phán (1906-
1909)” Lê Nin đã phát biểu định nghĩa chủ nghĩa vật chất như sau: “ Vật chất là
một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người
trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại
không lệ thuộc vào cảm giác”.
Vật chất là một phạm trù triết học?
Lênin cho rằng cần phải phân biệt vật chất với tư cách là phạm trù triết học với
“khái niệm” vật chất của khoa học tự nhiên, nên khi định nghĩa vật chất đối lập với
ý thức là chỉ ra đặc tính chung, phổ biến nhất của vật chất là tồn tại khách quan, để
phân biệt sự khác nhau căn bản giữa vật chất và ý thức.
Vật chất là những gì có thuộc tính tồn tại khách quan không phụ thuộc vào ý thức
của con người, khi tác động vào giác quan của con người thì sinh ra cảm giác. Vật
chất không tồn tại một cách vô hình, thần bí mà tồn tại một cách hiện thực, được ý
thức con người phản ánh. Do đó về nguyên tắc không thể có đối tượng vật chất mà
con người không thể biết mà chỉ có những đối tượng vật chất mà con người chưa
thể nhận thức được.
Từ những phân trích trên có thể khẳng định rằng định nghĩa vật chất của Lê Nin
bao gồm những nội dung cơ bản sau:
- Vật chất – cái tồn tại khách quan bên ngoài ý thức không phụ thuộc vào ý thức.
-Vật chất – cái gây nên cảm giác ở con người khi bằng cách nào đó trực tiếp hoặc
gián tiếp tác động lên giác quan của con người.
-Vật chất – cái mà cảm giác, tư duy, ý thức chẳng qua chỉ là sự phản ánh nó.
2 | P a g e


Ý nghĩa phương pháp luận :
Định nghĩa vật chất của Lê Nin đã giải đáp một cách khoa học về vấn đề cơ bản
của triết học và phê phán những quan niệm sai lầm của triết học duy tâm, tôn giáo
về vật vất cũng như bác bỏ thuyết không thể biết.
Định nghĩa vật chất của Lê Nin đã tiếp thu có phê phán những quan điểm đúng
của chủ nghĩa duy vật trước đây và đồng thời khắc phục những thiếu sót và hạn
chế của nó.
Định nghĩa vật chất của Lê Nin đã cho phép xác định những cái gì là cật chất
trong lĩnh vực xã hội để có thể giải thích nguồn gốc, bản chất và quy luật khách
quan của xã hội.
Định nghĩa vật chất của Lê Nin đã mở đường cho các nhà khoa học nghiên cứu
thế giới vô cùng vô tận.
Câu 2: Phân tích nguồn gốc và bản chất của ý thức? Từ đó, xác định
vai trò cuả tri thức khoa học đối với đời sống xã hội?

Trả lời:
Ý thức mang nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội
Nguồn gốc tự nhiên:
Phản ánh thuộc tính chung của vật chất. Phản ánh là năng lực tái hiện, giữ lại và
biến đổi của hệ thống vật chất này sang hệ thống vật chất khác. Phản ánh tâm lý
gắn liền với quá trình phản xạ có điều kiện ở động vật cấp cao sẽ chuyển hóa thành
ý thức của con người, khi vượn chuyển hóa thành người.
Về nguyên tắc ý thức của con người chỉ xuất hiện khi có sự tác động của hiện
thực khách quan vào bộ não của con người.
Nguồn gốc xã hội:
Lao động là hoạt động có ý thức, có mục đích, có phương pháp của con người
làm biến đổi hiện thực khách quan nhằm đáp ứng nhu cầu của con người. Lao động
của con người làm cho thế giới tự nhiên bộc lộ những thuộc tính, những quy luật
vận động và khi tác động vào giác quan của con người thì sinh ra ý thức, đồng thời
3 | P a g e

qua lao động và sinh hoạt xã hội bộ não con người ngày càng hoàn, thiện ý thức
ngày càng phát triển mà không một sinh vật nào có thể so sánh được.
Sự xuất hiện ngôn ngữ trong quá trình lao động đã trở thành phương tiện vật
chất để đáp ứng như cầu khách quan về quan hệ giao tiếp, trao đổi những kinh
nghiệm và tình cảm….Ngôn ngữ là vỏ vật chất của tư duy, là hiện thực trực tiếp
của tư tưởng, là yếu tố quan trọng để phát triển tâm lý tư duy của con người.
Bản chất của ý thức là sự phản ánh mang tính tích cực, năng động và sáng tạo. Ý
thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong não người, nhưng không phải
là sự phản ánh đơn giản, thụ động mà là sự phản ánh mang tính tích cực. Tính năng
động và sáng tạo của ý thức là quá trình cải biến các đối tượng vật chất đã được di
chuyển vào bộ não con người, thành cái tinh thần, cái thánh thể tinh thần.
Ý thức mang tính chất xã hội.

Vai trò của ý thức khoa học:
Tri thức là phương thức tồn tại của ý thức, sự hình thành và phát triển của trí
thức có liên quan mật thiết đến quá trình con người nhận thức về thế giới, tích lũy
những tri thức, sự hiểu biết nói chung. Ngày nay trong sự chuyên môn hóa, tự động
hóa ngày càng cao, tri thức khoa học được kết tinh trong mọi nhân tố của lực lượng
sảnxuất – trong đối tượng lao động – kỹ thuật – quá trình công nghệ và cả trong
hình thức tổ chức tương ứng của sản xuất, người lao động không còn là nhân tố
thao tác trực tiếp trong hệ thống kỹ thuật mà chủ yếu là vân dụng tri thức khoa học
để điều khiển và kiểm tra quá trình sản xuất, hoàn thiện việc quản lí kinh tế…Khoa
học ngày nay đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thành đối tượng lao động,
thành máy móc thiết bị và phương pháp công nghệ mới, thành các hình thức tổ
chức sản xuất mới, nên tri thức khoa học không thể thiếu được trong các hoạt động
thực tiễn của con người.
4 | P a g e
Câu 3: Trình bày nội dung cơ bản của nguyên lý về mối liên hệ phổ
biến và nguyên lý về sự phát triển? Từ đó rút ra ý nghĩa phương pháp
luận của nó và liên hệ thực tiển của bản thân.


Trả lời:
1.Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến:

Khái niệm: Phép biện chứng duy vật với nguyên lý về mối liên hệ phổ biến cho
rằng, trong sự tồn tại của các sự vật hiện tượng của thế giới không phải là sự tồn tại
tách rời và cô lập lẫn nhau, mà chúng là một thể thống nhất, trong thể thống nhất
đó có những mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau, ràng buộc và phụ thuộc quy
định lẫn nhau, chuyển hóa cho nhau… đó là hệ phổ biến.

Tính chất: có 4 tính chất
-Tính khách quan ( vì diễn ra trong thế giới khách quan)
-Tính đa dạng, phong phú ( vì thế giới muôn hình muôn vẻ)
-Tính phổ biến ( vì nó diễn ra ở mọi sự vật, hiện tượng ở tất cả lĩnh vực tự nhiên xã
hội, tư duy…)
-Tính quy luật ( lặp đi lặp lại)

Phân loại:
-Mối liên hệ bên trong – bên ngoài
-Mối liên hệ trực tiếp- gián tiếp
-Mối liên hệ chủ yếu- không chủ yếu
-Mối liên hệ cơ bản- không cơ bản

Ý nghĩa phương pháp luận: khi nghiên cứu mối liên hệ phổ biến phải có quan
điểm toàn diện, quan điểm lịch sử cự thể.
Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta khi phân tích về sự vật phải đặt nó trong
mối liên hệ với sự vật khác đồng thời phải nghiên cứu tất cả những mặt, những yếu
tố những mối liên hệ vốn có của nó. Qua đó để xác định được mối liên hệ bên
5 | P a g e
trong ,bản chất…để từ đó có thể nắm vững được bản chất quy luật của sự vật và

hiện tượng.
Quan điểm lịch sử cụ thể đòi hỏi khi nghiên cứu sự vật phải thấy sự tồn tại vận
động và phát triển của bản thân các sự vật và hiện tượng là một quá trình có tính
giai đoạn, tính lịch sử cụ thể. Cho nên khi phân tích toàn diện về mối liên hệ của sự
vật phải đặt nó trong mối liên hệ cụ thể, với điều kiện lịch sử cụ thể của các mối
liên hệ đó.
Liên hệ thực tiễn bản thân:
2.Nguyên lý về sự phát triển:

Khái niệm: không khái quát mọi sự vận động nói chung, nó chỉ khái quát những
vận động đi lên, sự xuất hiện cái mới theo một chiều hướng chung là từ đơn giản
đến phức tạp, từ cái chưa hoàn thiện đến cái hoàn thiện, từ cái thấp đến cao.

Quan điểm sự biến chứng về sự phát triển: sự phát triển bao gồm sự vận động,
sự xuất hiện cái mới theo chiều hướng đi lên. Tuy nhiên không nên hiểu phát triển
không phải bao giờ cũng diễn ra một cách đơn giản, thẳng tắp. Xét từng trường
hợp cá biệt thì có những vận động đi lên tuần tự và đồng thời có những cận động đi
xuống hoặc thụt lùi….Nhưng về quá trình và trong phạm vi rộng lớn thì vận động
đi lên là khuynh hướng tất yếu. Chính vì vậy, phát triển là khuynh hướng chung
của sự vận động của các sự vật và hiện tượng.

Ý nghĩa phương pháp luận:
_Nghiên cứu nguyên lý về sự phát triển giúp ta nhận thức được rằng, muốn nắm
được bản chất của sự vật và hiện tượng, nắm được khuynh hướng vận động của
chúng, phải có quan điểm phát triển.
_Quan điểm phát triển với yêu cầu khi phân tích một sự vật, hiện tượng phải đặt nó
trong sự vận động, phải phát hiện được xu hướng biến đổi, chuyển hóa giữa chúng.
Quan điểm phát triển đòi hỏi chúng ta phải có quan điểm đúng về cái mới, cái mới
phù hợp với quy luật, cái mới là tiêu chuẩn của sự phát triển
Liên hệ thực tiễn bản thân:

6 | P a g e
Câu 4: Trình bày nội dung cơ bản của quy luật từ những thay đổi về
lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại? Ý nghĩa phương
pháp luận của nó và liên hệ thực tiễn.


Trả lời:
Chất là phạm trù triết học dùng để chỉ tính qui định khách quan vốn có của sự vật
về mặt số lượng quy mô, trình độ nhịp điệu của sự vận động và phát triển cũng như
các thuộc tính của sự vật.
Sự biến đổi về lượng dẫn đến sự biến đổi về chất.
Trong bất kỳ sự vật hiện tượng nào có hiện thực khách quan cũng bao gồm sự
thống nhất giữa chất và lượng. Độ là giới hạn mà trong đó sự vật vẫn là nó, chưa
trở thành chất khác. Sự vận động và biến đổi của sự vật hiện tượng bao giờ cũng
bắt đầu từ quá trình thay đổi về lượng, nhưng sự thay đổi về chất chỉ xảy ra khi đã
kết thúc quá trình thay đổi về lượng, sự thay đổi đó đạt giới hạn của điểm nút, giới
hạn mà ở đó sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, vượt qua giới hạn đó
để dẫn đến nhảy vọt về chất.
Nhảy vọt về chất kết thúc một giai đoạn biến đổi về lượng nhưng nó không chấm
dứt sự vận động. Đó là quá trình sự vật cũ, chất cũ mất đi làm xuất hiện sự vật mới,
chất mới…
Xét về mặt hình thức nhảy vọt diễn ra dưới hai hình thức cơ bản: là nhảy vọt dần
dần và nhảy vọt đột biến. Nhảy vọt dần dần diễn ra trong thời gian dài, sự tích lũy
biến đổi về lượng dẫn tới sự biến đổi về chất. Nhảy vọt đột biến diễn ra trong thời
gian ngắn, sự tích lũy biến đổi về lượng và đồng thời với nó là quá trình nhảy vọt
về chất toàn bộ.
Sự thay đổi lượng chất – sự vật bao giờ cũng được xem xét bởi những điều kiện
khách quan nhất định. Trong điều kiện khách quan này sự biến đổi về lượng dẫn
đến sự biến đổi về chất, thì ngược lại trong điều kiện khác cũng biến đổi về lượng
như vậy nhưng không có sự biến đổi về chất.

7 | P a g e
Chiều ngược lại của quy luật:
Quy luật lượng chất không chỉ nói lên một chiều là sự biên đổi về lượng dẫn đến
sự biến đổi về chất mà còn có chiều ngược lại. Đó là quá trình hình thành sự vật
mới, chất mới và chất mới quy định lượng mới của nó. Khi sự vật mới bao hàm
chất mới, nó lại tạo ra một lượng mới phù hợp với nó và trong sự vật mới lặp lại
quá trình thay đổi lượng – chất- sự vật…
Từ những phân tích ở trên có thể rút ra nội dung của quy luật chuyển hóa từ
những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại như sau: Mọi
sự vật đều là sự thống nhất giữa lượng và chất, sự thay đổi dần dần về lượng trong
khuôn khổ của độ tới điểm sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất của sự vật thông qua
bước nhảy, chất mới ra đời tác động trở lại sự thay đổi của lượng mới. Quá trình
tác động đó diễn ra liên tục làm cho sự vật không ngừng phát triển biến đổi.

Ý nghĩa của phương pháp luận:
Chỉ ra cách thức của sự vận động và phát triển. Do đó, trong hoạt động nhận thức
và hoạt động thực tiễn chúng ta phải biết tích lũy về lượng để làm biến đổi về chất
theo quy luật. Từ đó tránh được tư tưởng chủ quan, duy ý chí, nôn nóng, “đốt nóng
giai đoạn” muốn thực hiện những bước nhảy liên tục.
Khi đã tích lũy đủ về số lượng phải có đủ quyết tâm để thực hiện những bước
nhảy, phải kịp thời chuyển đổi những thay đổi về lượng thành những thay đổi về
chất, từ những thay đổi mang tính chất tiến hóa sang những thay đổi mang tính
chất cách mạng. Chỉ có như vậy chúng ta mới khắc phục đươc những tư tưởng
mang tính chất bảo thủ, trì trệ thường được biểu hiện ở chỗ coi sự phát triển chỉ là
sự thay đổi đơn thuần về lượng.
Trong hoạt động thực tế của chúng ta còn phải biết vận dụng linh hoạt các hình
thức của bước nhảy. Điều đó phụ thuộc vào việc phân tích đúng đắn những biểu
hiện khách quan và những nhân tố chủ quan cũng như sự hiểu biết sâu sắc về quy
luật này. Tùy từng trường hợp và điều kiện cụ thể chúng ta sẽ lựa chọn hình thức
bước nhảy phù hợp để đạt tới chất lượng và hiệu quả hoạt động của mình.


8 | P a g e
Câu 5: Thực tiễn là gì? Phân tích vai trò của thực tiễn đối với nhận
thức. Từ đó, phê phán những quan điểm sai lầm về vấn đề này?

Trả lời:
1.Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức:

Khái niệm: Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có tính chất lịch sử - xã hội
của con người, nhằm cải tạo biến đổi thế giới khách quan.

Kết cấu: hoạt động thực tiễn có 3 hình thức cơ bản:
+Hoạt động lao động sản xuất ra của cải vật chất, quá trình con người tạo ra
những công cụ lao động làm biến đổi giới tự nhiên xã hội dưới dạng chung nhất là
quá trình còn người sử dụng công cụ lao động tác động vào hiện thực khách quan,
cải tiến các dạng vật chất cần thiết đáp ứng những nhu cầu của đời sống xã hội.
+Hoạt động cải tiến xã hội mà thực chất là hoạt động đấu tranh giai cấp và đấu
tranh dân tộc.
+Hoạt động thực tiễn thực nghiệm khoa học là một hình thức đặc biệt của hoạt
động thực tiễn, bao gồm thực nghiệm khoa học và thực nghiệm xã hội.

Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
+ Thực tiễn là cơ sở của nhận thức. Điều đó có nghĩa là nhận thức phải xuất phát
từ thực tiễn, từ hiện thực khách quan. Vì chỉ có thực tiễn, chỉ có hiện thực khách
quan mới cung cấp được cho nhận thức những tài liệu chân thực đúng đắn.
+ Thực tiễn là động lực của nhận thức, có nghĩa là thực tiễn là động lực thúc đẩy
nhận thức phát triển, vì thực tiễn không đứng yên mà thực tiễn luôn luôn vận động,
trong quá trình vận động nó bộc lộ những thuộc tính mới, những sự vật mới, những
nhiệm vụ và yêu cầu mới, thúc đẩy nhận thức của con người phát triển để theo kịp
với đòi hỏi của thực tiễn.

+ Thực tiễn là mục đích của nhận thực. Mục đích cao nhất của nhận thức không
phải dừng lại để mà nhận thức, mà mục đích cao nhất của nhận thức là để thống trị
sự vật, nghĩa là làm chủ sự vật.
9 | P a g e
+ Thực tiễn là tiêu chuẩn kiểm chứng nhận thức ( chân lý ). Chân lý là nội dung,
những tri thức đúng phù hợp với hiện thực khách quan được thực tiễn kiểm
nghiệm. Vì vậy, thực tiễn là tiêu chuẩn kiểm tra chân lý, vì thực tiễn là cơ sở để
phát hiện và tìm kiếm chân lý, thực tiễn là khách quan.
2. Phê phán những quan điểm sai lầm về vấn đề này
Chỉ dẫn của LêNin “không có lực lượng cách mạng thì không có phong trào
cách mạng” . Như vậy vai trò của lý luận được hiểu như sau: lý luận là người dẫn
dắt, định hướng, là kim chỉ nam. Tóm lại : lý luận không xuất phát từ thực tiễn là
lý luận suông.
Thực tiễn mà không có sự dẫn dắt của lý luận là thực tiễn mù quáng.
Từ vai trò quan trọng của lý luận đối với thực tiễn, chúng ta cần phê phán những
quan điểm sai lầm. Không được đề cao thực tiễn, hạ thấp vai trò của lý luận để rơi
vào chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa kinh nghiệm.
Và ngược lại, không được đề cao lý luận đến mức rời xa thực tiễn, sẽ rơi vào
bệnh chủ quan duy ý chí, quan liêu.
Câu 6: Trình bày nội dung cơ bản của quy luật quan hệ sản xuất phù
hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất? Vận
dụng quy luật này vào thực tiễn cách mạng nước ta?

Trả lời:

Vai trò quyết định của LLSX với QHSX:
 LLSX và QHSX là hai mặt của phương thức sản xuất chúng tồn tại không tách
rời nhau mà tác động qua lại một cách biện chứng, tạo thành quy luật – quy luật cơ
bản nhất quan trọng nhất của sự vận động phát triển xã hội.
 Gắn liền với trình độ của LLSX là tính chất của lực lượng sản xuất. Khi trình độ

đạt tới trình độ cơ khí hiện đại phân công lao động, lao động xã hội phát triển thì
lực lượng sản xuất có trình độ xã hội hóa.
 Sự vận động phát triển của LLSX quyết định và làm thay đổi QHSX cho phù
hợp với nó. Khi một phương thức sản xuất mới ra đời khi đó quan hệ sản xuất phù
10 | P a g e
hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Trong trạng thái đó tất cả các
mặt quan hệ sản xuất đều tạo địa bàn đầy đủ cho lực lượng sản xuất phát triển.
 Sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một trình độ nào đó làm cho quan hệ
sản xuất từ phù hợp trở thành không phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản
xuất. Khi đó quan hệ sản xuất trở thành siềng xích của lực lượng sản xuất kìm hãm
lực lượng sản xuất phát triển. Từ đó yêu cầu khách quan của phát triển LLSX tất
yếu dẫn đến thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất để thúc đẩy LLSX tiếp tục phát triển.
 Tuy nhiên, việc giải quyết mâu thuẫn giữa LLSX với QHSX không phải đơn
giản. Nó phải thông qua nhận thức và hoạt động xã hôi của con người.Trong xã hội
có giai cấp phải thông qua đấu tranh giai cấp, thông qua cách mạng xã hội.

Tác động trở lại của QHSX đối với LLSX:
 LLSX quyết định QHSX, những QHSX cũng có tính độc lập tương đối và tác
động trở lại sự phát triển của LLSX.
 QHSX quy định mục đích sản xuất tác động đến thái độ của người lao động,
đến tổ chức phân công lao động xã hội do đó tác động đến sư phát triển của LLSX.
QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX, là động lực thúc đẩy LLSX
phát triển. Ngược lại QHSX lỗi thời sẽ kìm hãm sự phát triển của LLSX.

Vận dụng quy luật này vào thực tiễn cách mạng nước ta:
Nước ta chọn con đường XHCN bỏ qua phương thức sản xuất TBCN với ý nghĩa
bỏ qua chế độ chính trị của TBCN.Về kinh tế, Đảng ta chủ trương một nền kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần với cơ chế thị trường có sự quản ý chung của nhà nước
theo định hướng chung XHCN. Nhằm phát triển mọi tiềm năng các thành phần

kinh tế, phát triển mạnh mẽ lực lượng SX để xây dựng cơ sở kinh tế XHCN, từng
bước xã hội hóa XHCN. Trong đó kinh tế quốc dân, tập thể bao giờ cũng giữ vai
trò quyết định đến sự phát triển của nền kinh tế nước ta hiện nay…
11 | P a g e
Câu 7: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý
thức xã hội? Từ đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận của nó và phê
phán những quan điểm sai lầm về vấn đề này?
1.Ý thức xã hội là sự phản ánh tồn tại xạ hội, do tồn tại xã hội quyết định:
 Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội và
phụ thuộc vào tồn tại xã hội.
Mỗi khi tồn tại xã hội, nhất là phương thức sản xuất xã hội thay đổi thì những
tư tưởng và lý luận xã hội, những quan điểm chính trịnh pháp quyền, đạo đức…
sớm muộn cũng sẽ biến đổi theo. Vì thế, ở những thời kỳ lịch sử khác nhau có
những lý luận, quan điểm, tư tưởng xã hội khác nhau. Sự thay đổi của ý thức xã
hội có thể là sự phản ánh đúng, hoặc không đúng đối với tồn tại xã hội, nhưng xét
cho cùng về lâu dài, ý thức xã hội có khả năng phản ánh đúng, đầy đủ và chính xác
đối với quá trình thay đổi của tồn tại xã hội. Vấn đề này đã được Mác khẳng định:
“không phải ý thức của con người quyết định tồn tại của họ, trái lại, tồn tại xã hội
của họ quyết định ý thức của họ”
 Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, không chỉ dừng lại ở việc xác định
nguồn gốc, sự phụ thuộc của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội mà còn chỉ ra rằng
không phải bất cứ tư tưởng, quan điểm, lý luận, hình thái ý thức xã hội nào cũng
phản ánh rõ ràng và trực tiếp những quan hệ kinh tế của thời đại, mà xét cho cùng
những quan hệ kinh tế được phản ánh bằng cahcs này hay cách khác trong những
tư tưởng quan niệm ấy…Bởi vì không chỉ có ý thức chính trị phản ánh trực tiếp,
mà nó còn được phản ánh ở các hình thái ý thức khác, mặt khác trong các hình thái
ý thức xã hội còn bao hàm sự tác động qua lại va bao hàm cả sự kế thừa với quá
khứ.
2.Tính độc lập của ý thức xã hội
 Ý thay đổi và phát triển của tồn tại xã hội có khuynh hướng nhanh hơn so với sự

thay đổi và phát triển của ý thức xã hội. Bởi vì ý thức xã hội dù thể hiện dưới hình
thức nào, như ý thức thông thường, ý thức lý luận, hệ tư tưởng và các hình thái ý
thức xã hội như chính trị, pháp quyền….cũng chỉ nảy sinh từ tồn tại xã hội và là
phản ánh, bị quyết định bời tồn tại xã hội.
12 | P a g e
 Ý thức xã hội có tính vượt trội tồn tại xã hội. khi khẳng định tính lạc hậu của ý
thức xã hội so với tồn tại, thì chủ nghĩa duy vật lịch sử cũng khẳng định rằng trong
những điều kiện nhất định tư tưởng của con người và đặc biệt vai trò tiên phong
của những tư tưởng khoa học tiên tiến bởi tính vượt trước của nó so với tồn tại xã
hội.Bởi vì một mặt tri thức khoa học không chỉ có khả năng dự báo tương lai, mà
còn có ý nghĩa tác dụng tổ chức, chỉ đạo hoạt động thực tiễn hướng hoạt động thực
tiễn của con người giải quyết những yêu cầu, nhiệm vụ chín muồi của đời sống vật
chất đặt ra, nhưng nó vẫn phụ thuộc và bị quyết định bởi tồn tại xã hội.
 Yếu tố kế thừa trong sự tồn tại và phát triển của ý thức xã hội.Quan điểm về sự
phát triển của xã hội kể cả ý thức xã hội của chủ nghĩa duy vật lịch sử không chỉ
coi yếu tố kế thừa là cơ sở lý luận giải thích mối quan hệ biện chứng giữa cái mới
và cái cũ trong lịch sử phát triển của đời sống tinh thần xã hội, mà nó còn là điều
kiện, tiền đề cho sự xuất hiện, tồn tại và phát triển của cái mới.
 Sự tác động qua lại giữa các hình thái của ý thức xã hội. Ý thức xã hội bao gồm
nhiều hình thái ý thức xã hội cụ thể khác nhau như: chính trị, pháp quyền, đạo
đức….và sự tác động qua lại giữa chúng làm cho mỗi hình thái ý thức xã hội có
những mặt, những tính chất không tể giải thích đươc một cách trực tiếp bằng tồn
tại xã hội hay bằng các điều kiện vật chất.Lịch sử phát triển vật chất của ý thức
thông thường ở mỗi thời đại, tùy theo những điều kiện lịch sử mà có những hình
thái ý thức xã hội nổi lên hàng đầu và tác động lên các hình thái ý thức xã hội
khác. Trong sự tác động qua lại giữa các hình thái của ý thức xã hội thì ý chính trị
có vai trò đặc biệt quan trọng.
 Sự tác động trở lại của ý thức xã hội với tồn tại xã hội, tư tưởng tiến bộ cách
mạng có ý nghĩa thức đẩy sự phát triển của xã hội và những tư tưởng lạc hậu, phản
động thì có tác động ngược lại đối với sự phát triển xã hội.


Ý nghĩa phương pháp luận:
Tồn tại tại xã hội và ý thức xã hội là hai phương diện thống nhất biện chứng
của đời sống xã hội.Vì vậy công cuộc cải tạo xã hội cũ,xây dựng xã hội mới phải
được tiến hành đồng thời trên cả hai mặt tồn tại xã hội và ý thức xã hội.Cần thấy
rằng,thay đổi tồn tại xã hội là điều kiện cơ bản nhất để thay đổi ý thưc xã hội;mặt
khác cũng cần thấy rằng không chỉ những biến đổi trong tồn tại xã hội mới tất yếu
dẫn đến những thay đổi to lớn trong đời sống tinh thần của xã hội mà ngược lại,
13 | P a g e
những tác động của đời sống tinh thần xã hội, với những điều kiện xác định cũng
có thể tạo ra những bến đổi mạnh mẽ, sâu sắc trong tồn tại xã hội.
Trong sự nghiệp cách mạng XHCN ở nước ta, một mặt chúng ta phải coi trọng
cuộc cách mạng tư tưởng văn hoá, phát huy vai trò tác động tích cực của đời sống
tinh thần xã hội đối với quá trình phát triển kinh tế và công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước; Mặt khác phải tránh tái phạm sai lầm chủ quan duy ý chí trong việc
xây dựng văn hoá xây dựng con người mới. Cần thấy rằng chỉ có thể thực sự tạo
dựng được đời sống tinh thần của xã hội XHCN trên cơ sở cải tạo triệt để phương
thức sinh hoạt vật chất tiểu nông truyền thống và xác lập, phát triển được một
phương thức sản xuất mới trên cơ sở thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá.
Câu 8: Trình bày quan điểm triết học Mác về con người và bản chất
của con người? Theo anh/ chị chúng ta cần phải làm gì để con người
được phát triển toàn diện?

Trả lời:

Quan điểm của triết học Mác Lênin về con người:
Triết học Mác Lê nin đã kế thừa quan niệm về con người trong lịch sử triết học,
đồng thời khẳng định con người hiện thực là sự thống nhất giữa các yếu tố sinh học
và các yếu tố xã hội.

Trước hết con người là một tồn tại sinh vật, biểu hiện trong những cá nhân con
người sống, là tổ chức cơ thể của con người và mối quan hệ của nó đối với tự
nhiên. Tuy nhiên, mặt tự nhiên không phải là yếu tố duy nhất quy định bản chất
con người. Đặc trưng quy định sự phát triển giữa con người với thế giới loài vật là
mặt xã hội.
Tính xã hội của con người biểu hiện trong hoạt động sản xuất vật chất. Lao
động là yếu tố quyết định hình thành tính xã hội của con người, đồng thời hình
thành nhân cách trong cộng đồng xã hội. Con người là sản phẩm của lịch sử đồng
thời là chủ thể sáng tạo ra lịch sử của chính bản thân con người.
14 | P a g e
Như vậy, với phương thức duy vật biện chứng, chúng ta thấy rằng quan hệ giữa
mặt sinh học và mặt xã hội trong mỗi con người là thống nhất. Hai mặt thống nhất
với nhau, hòa quyện vào nhau để tạo thành con người tự nhiên xã hội.

Quan niệm của triết học Mác- Lênin về bản chất của con người:
Bản chất của con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân
riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất của con người là tổng hòa những
quan hệ xã hội.
Không có con người trừu tượng mà chỉ có con người cụ thể trong mỗi giai đoạn
phát triển nhất định của xã hội. Do vậy, bản chất con người, trong mối quan hệ với
lịch sử xã hội luôn luôn vận động biến đổi, cũng phải thay đổi cho phù hợp.
Bản chất của con người không phải là một hệ thống kín, mà là hệ thống mở,
tương ứng với điều kiện tồn tại của con người.
Để con người được phát triển toàn diện thì phải làm cho hoàn cảnh ngày càng
mang tính người nhiều hơn. Thông qua đó con người tiếp nhận hoàn cảnh một cách
tích cực và tác động trở lại hoàn cảnh trên nhiều phương diện khác nhau hướng con
người đến hoạt động vật chất. Do đó biện chứng của mối quan hệ giữa con người
và hoàn cảnh trong bất kỳ hoàn cảnh nào của lịch sử xã hội loài người.
15 | P a g e
Phần II : Học thuyết kinh tế về phương thức sản xuất

Tư Bản Chủ Nghĩa.
Câu 1: Hàng hóa là gì? Phân tích 2 thuộc tính cơ bản của hàng hóa
và tính chất 2 mặt của lao động sản xuất hàng hóa? Ý nghĩa phương
pháp luận của nó.

Trả lời:
_Khái niệm hàng hóa: hàng hóa là sản phẩm của lao động xã hội,có thể thỏa mãn
nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán.
VD: + Hàng hóa vật thể: quần áo, bát đĩa, máy móc….
+ Hàng hóa phi vật thể: dịch vụ du lịch, chăm sóc sức khỏe, dịch vụ giải trí…
_Hai thuộc tính cơ bản của hàng hóa
Hàng hóa có 2 thuộc tính cơ bản đó là giá trị sử dụng và giá trị.

Giá trị sử dụng: Là công dụng của vật phẩm. VD: cơm để ăn, áo để mặc…Có
thể có một hay nhiều công dụng khác nhau của hàng hóa. Do sự phát triển của KH-
KT nên con người tìm ra rất nhiều công dụng của hàng hóa.
Giá trị sử dụng là một phạm trù lịch sử vì nó do thuộc tính tự nhiên của hàng hóa
quyết định. Nhưng không phải bất cứ vật gì có giá trị sử dụng đều là hàng hóa.
VD: Không khí,nước suối,quả dại….Một vật muốn tạo thành hàng hóa thì giả thiết
sử dụng của nó phải được sản xuất ra để bán, để trao đổi và có giá trị trao đổi.
Trong nền kinh tế hàng hóa, giá trị sử dụng là cái mang giá trị trao đổi.

Giá trị ( giá trị hàng hóa): Muốn hiểu được giá trị của hàng hóa thì phải thông
qua một phạm trù không gian đó là giá trị trao đổi. Nó là quan hệ tỷ lệ về lượng
giữa hai giá trị hàng hóa khác nhau nhưng ra thị trường hai người sản xuất chấp
nhận trao đổi cho nhau.
Từ giá trị trao đổi suy ra giá trị là lao động xã hội của con người được kết tinh
trong hàng hóa. Còn giá trị trao đồi là hình thái của giá trị.
16 | P a g e
Nhưng ta thấy được hao phí lao động của con người kết tinh trong hàng hóa

không phải lúc nào cũng là giá trị.
VD: Chúng ta sử dụng sức lao động để phục vụ, tiêu dùng cho cá nhân, gia
đình.Chỉ có sản phẩm làm ra được trao đổi thì hao phí lao động đó mới mang hình
thái giá trị. Do đó giá trị là một phạm trù mang tính lịch sử. Tóm lại, thuộc tính tự
nhiên của hàng hóa là giá trị sử dụng, thuộc tính xã hội của hàng hóa là giá trị. Bất
kỳ vật nào muốn trở thành hàng hóa thì phải có 2 thuộc tính giá trị sử dụng và giá
trị, thiếu một trong 2 thì sản phẩm không phải là hàng hóa.
_Tính chất 2 mặt của lao động sản xuất hàng hóa.
Đó là lao động cụ thể và lao động trìu tượng.
+ Lao động cụ thể là việc làm cụ thể, nghề nghiệp cụ thể bằng đối tượng lao động
cụ thể, bằng tư liệu lao động cụ thể và sản phẩm cụ thể. VD: thợ thủ công, công
nhân, nông dân….Phân công lao động càng mở rộng thì trong xã hội này sinh ra
nhiều nghành nghề khác nhau. Đây là phạm trù vĩnh viễn.
+ Lao động trìu tượng thì khác, nó gạt bỏ các mặt cụ thể còn lại cái chung giữa hai
nghề nghiệp, đó là sự tiêu hao về tinh thần, cơ bắp, sức lực….đây là một phạm trù
lịch sử.
Hai mặt trên mâu thuẫn lẫn nhau, lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng là biểu
hiện của lao động tư nhân, lao động trừu tượng tạo ra giá trị là biểu hiện của lao
động xã hội. Hai lao động này mâu thuẫn lẫn nhau, đó là mâu thuẫn cơ bản của nền
sản xuất hàng hóa. Chính những mâu thuẫn đó mà sản xuất hàng hóa vừa vận động
vừa phát triển, lại vừa tiểm ẩn khả năng khủng hoảng sản xuất thừa.
_Ý nghĩa phương pháp luận:
Câu 2: Trình bày lượng giá trị của hàng hóa và các nhân tố ảnh
hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa? Từ đó liên hệ với thực tiễn về
vấn đề này.

Trả lời:
_Kn: Lượng giá trị của hàng hóa là do lượng lao động hao phí để sản xuất ra hàng
hóa đó quyết định.
17 | P a g e

Thước đo lượng giá trị của hàng hóa được tính bằng thời gian lao động xã hội
cần thiết.
Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian cần thiết để sản xuất ra một hàng
hóa trong điều kiện bình thường của xã hội, tức là với trình độ kỹ thuật trung bình,
trình độ khéo léo trung bình và cường độ lao động xã hội trung bình so với hoàn
cảnh xã hội nhất định.
Trong một xã hội có hàng triệu người sản xuất hàng hóa với thời gian lao động
xã hội cá biệt.
_ Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa.
Thứ 1: Năng xuất lao động bao gồm năng xuất lao động cần thiết và năng xuất lao
động xã hội. Trên thị trường hàng hóa được trao đổi theo giá trị xã hội. Vì vậy,
năng xuất lao động có ảnh hưởng đến giá trị xã hội của hàng hóa chính là năng
xuất lao động xã hội.
Năng xuất lao động xã hội càng tăng, thời gian lao động xã hội cần thiết để sản
xuất ra hàng hóa càng giảm, lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm càng ít. Ngược
lại, năng xuất lao động xã hội càng giảm thì thời gian lao động xã hội cần thiết
càng tăng, lượng giá trị một đơn vị sản phẩm càng nhiều. Như vậy, muốn giảm giá
trị của mỗi đơn vị hàng hóa thì ta phải tăng năng suất lao động xã hội.
Thứ 2: Mức độ phức tạp của lao động cũng ảnh hưởng nhất định đến số lượng giá
trị của hàng hóa. Theo mức độ phức tạp của lao động có thể chia lao động thành
lao động giản đơn và lao động phức tạp. Trong cùng một đơn vị thời gian lao động
như nhau. Lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn so với lao động giản đơn, lao
động phức tạp là lao động giản đơn được nhân lên gấp đôi. Để hàng hóa được lao
động giản đơn tạo ra có quan hệ bình đẳng với hàng hóa do lao động phức tạp tạo
ra, trong quá trình trao đổi người ta quy mọi lao động phức tạp thành lao động giản
đơn trung bình.
_ Liên hệ với thực tiễn:…………
18 | P a g e
Câu 3: Trình bày nội dung và tác dụng của quy luật giá trị? Ý nghĩa
của phương pháp luận này.


Trả lời:
_ Nội dung của quy luật giá trị.
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế căn bản của sản xuất và trao đổi hàng hóa, ở
đâu có sản xuất và trao đổi hàng hóa thì ở đó có sự tồn tại và phát huy tác dụng của
quy luật giá trị.
Theo yêu cầu của quy luật giá trị thì sản xuất và lưu thông đều phải dựa trên hao
phí lao động xã hội cần thiết.
Đối với người sản xuất thì bằng cách nào biện pháp gì làm cho giá trị cá biệt,
hàng hóa cá nhân nhỏ hơn giá trị xã hội thì mới tồn tại và phát triển được. Ngược
lại thì phá sản, trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết thì trao đổi hàng hóa
phải trên nguyên tắc ngang giá (giá cả bằng giá trị ). Đó là đối với lưu thông.
Sự vận động của quy luật giá trị thông qua sự vận động của giá thị hàng hóa,
hàng hóa nào càng có giá trị thì giá cả càng cao và ngược lại. Bên cạnh đó giá cả
còn phụ thuộc vào các yếu tố cạnh tranh cung cầu sức mua…Nó luôn xoay quanh
trục giá trị đó là cơ chế hoạt động của quy luật giá trị, thông qua giá cả thị trường
mà quy luật giá trị phát huy.
_ Tác dụng của quy luật giá trị: Có 3 tác dụng chủ yếu:
 Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa.
Điều tiết hàng hóa thông qua giá cả khi:
+ Cung bằng cầu thì giá cả bằng giá trị.
+ Cung < cầu thì giá cả > giá trị: mở rộng sản xuất.
+ Cung > cầu thì giá cả < giá trị: Thu hẹp sản xuất.
Điều tiết lưu thông cũng thông qua giá cả hàng hóa, cũng có tác dụng thu hút
luồng hàng từ nơi có giá thấp đến nơi giá cao làm cho lưu thông hàng hóa thông
suốt.
19 | P a g e
 Khuyến khích cải tiến kỹ thuật tăng năng suất lao động, thúc đẩy lực lượng sản
xuất phát triển, đặc biệt là tiến bộ KH-KT. Trong nền sản xuất hàng hóa mỗi người
sản xuất là một chủ thể kinh tế độc lập tự quyết định hoạt động sản xuất kinh

doanh của mình. Họ có những điều kiện khác nhau lên hao phí lao động cá biệt
cũng khác nhau. Để hao phí cá biệt < hao phí lao động xã hội thì phải cải tiến kỹ
thuật, tổ chức quản lý tiết kiệm chặt chẽ tăng năng suất lao động. Sự cạnh tranh
quyết liệt làm cho quá trình này phát triển mạnh mẽ kết quả là LLSXXH được thúc
đẩy mạnh mẽ.
Thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và phân hóa người sản xuất thành người giàu
người nghèo.
Khi cạnh tranh thì người có điều kiện thuận lợi có hao phí thấp sẽ phát tài và trở
lên giàu có. Họ trở thành nhà tư bản, họ mua sắm theo tư liệu sản xuất để mở rộng
sản xuất. Ngược lại những người không có điều kiện thì dễ dàng phá sản. khi đó họ
trở thành người đi làm thuê.

Ý nghĩa của quy luật này:
Những tác động của quy luật giá trị trong nền kinh tế hàng hóa có ý nghĩa lý luận
và thự tiễn hết sức to lớn. Một mặt quy luật giá trị chi phối sự lựa chọn tư nhiên,
đào thải các yếu kém, kích thích các nhân tố tích cực phát triển. Mặt khác phân hóa
xã hội thành kẻ giàu người nghèo tạo ra bất bình đẳng trong xã hội.
Câu 4: Tư bản là gì? Phân tích mâu thuẫn chung của công thức tư
bản?

Trả lời:
_KN: Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột lao động không
công của công nhân lao động làm thuê. Như vậy bản chất của nó là thể hiện quan
hệ sản xuất xã hội mà trong đó giai cấp tư sản chiếm đoạt giá trị thặng dư do giai
cấp công nhân sáng tạo ra.
_ Phân tích mâu thuẫn chung của công thức tư bản:
20 | P a g e
Ta có công thức T-H-T”. TRong đó T”=T+∆T là công thức chung của tư bản. Thực
ra trong lưu thông, dù người ta trao đổi ngang giá hay không ngang giá thì giá trị
cũng không tạo ra giá trị mới, do đó cũng không tạo ra giá trị thặng dư.

+ Xét trong lưu thông
Trường hợp trao đổi ngang giá thì chỉ có sự thay đổi hình thái của giá trị, từ tiền
thành hàng và từ hàng thành tiền, còn tổng giá trị cũng như phần giá trị nằm trong
tay mỗi bên tham gia trao đổi trước sau cũng không thay đổi.
Trường hợp trao đổi không ngang giá ta thấy có 3 trường hợp xảy ra:
Hành vi bán hàng hóa cao hơn giá trị đã không mang lại một giá trị thặng dư nào
vì trong thực tế không có nhà tư bản nào lại chỉ đóng vai trò người bán hàng hóa
mà không đi mua các yếu tố sản xuất để sản xuất lên hàng hóa. Nên khi đến được
người bán hàng hóa là người mua sẽ phải mua hàng hóa cao hơn giá trị.
Hành vi bán hàng hóa thấp hơn giá trị: Giả định nhà tư bản có hành vi mua hàng
hóa thấp hơn giá trị, để đến khi bán hàng hóa theo giá trị nhà tư bản thu được giá
trị thặng dư.Trong trường hợp nay, cái mà anh ta thu được do mua rẻ, sẽ bị mất đi
khi anh ta là người bán vì cũng phải bán thấp hơn giá trị thì các nhà tư bản khác
mới mua.Rút cục giá trị thặng dư vẫn không được đẻ ra từ hành vi mua rẻ.
Nếu xét chung cả xã hội thì cái giá trị thặng dư mà nhà tư bản lừa lọc thu được
chính là cái người khác mất đi. Do đó tổng giá trị hàng hóa trong xã hội không vì
thế mà tăng lên. Như vậy lưu thông hay trao đổi hàng hóa không sáng tạo ra một
giá trị nào cả.
+Xét ngoài lưu thông có 2 trường hợp:
 Nếu người trao đổi vẫn đứng một mình với hàng hóa của mình thì giá trị của
những hàng hóa đó không bao giờ tăng lên một chút nào.
 Nếu người sản xuất muốn sáng tạo thêm giá trị mới thì phải bằng lao động của
mình.
 Vậy tư bản không thể xuất hiện trong lưu thông và cũng không thể xuất hiện
bên ngoài lưu thông. Nó phải xuất hiện trong lưu thông đồng thời không phải trong
lưu thông. Đó chính là mâu thuẫn chứa đựng trong công thức chung của tư bản.
21 | P a g e
Để giải quyết những mâu thuẫn này, C.Mác chỉ rõ:”phải lấy những quy luật nội tại
của lưu thông hàng hóa làm cơ sơ”.
Khi phân tích hàng hóa sức lao động ta thấy sức lao động là hàng hóa đặc biệt

mà giá trị của nó có nguồn gốc sinh ra giá trị.
Trong bất cứ xã hội nào, sức lao động cũng là điều kiện của sản xuất. Nhưng
không phải trong bất cứ điều kiện nào sức lao động cũng là hàng hóa. Sức lao động
biến thành hàng hóa là điều kiện quyết định để biến thành tư bản. Tuy nhiên để
biến thành tư bản thì lưu thông hàng hóa và tiền tệ phát triển đến một mức độ nhất
định. Như vậy từ sự phân tích trên thì mâu thuẫn của công thức tư bản, của tư bản
đã dần hé mở.
Câu 5: Tại sao nói: Hàng hóa sức lao động là chìa khóa để giải quyết
mâu thuẫn của công thức chung của tư bản?

Trả lời:
_Để trả lời câu hỏi trên, cần trình bày những ý sau:

Hàng hóa sức lao động(SLĐ):
Theo C.Mac: "SLĐ hay năng lực lao động là toàn bộ năng lực thể chất và tinh thần
tồn tại trong cơ thể, trong một con người đang sống và được người đó đem ra vận
dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó". SLĐ là yếu tố cơ bản của
mọi quá trình sản xuất. SLĐ chỉ trở thành hàng hóa khi có 2 điều kiện sau:
- Người LĐ phải là người được tự do về thân thể của mình, phải có khả năng chi
phối SLĐ ấy đến mức có thể bán SLĐ đó trong một thời gian nhất định.
- Người LĐ không còn có TLSX cần thiết để tự mình thực hiện LĐ và cũng không
còn của cải gì khác, muốn sống, chỉ còn cách bán SLĐ cho người khác sử dụng.

Cũng giống như hàng hóa khác, hàng hóa SLĐ có 2 thuộc tính: giá trị và giá trị
sử dụng.
- Giá trị của hàng hóa SLĐ cũng bằng lượng LĐ XH cần thiết để sản xuất và tái
sản xuất ra nó. Nhưng việc sản xuất và tái sản xuất ra SLĐ phải được thực hiện
bằng cách tiêu dùng cho cá nhân. Vì vậy, lượng hàng hóa SLĐ bằng lượng giá trị
22 | P a g e
những tư liệu cần thiết về vật chất và tinh thần để nuôi sống người công nhân và

gia đình của họ cùng với chi phí đào tạo công nhân theo yêu cầu của sản xuất. Giá
trị hàng hóa SLĐ phụ thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể của mỗi quốc gia trong
từng thời kỳ nhất định.
- Giá trị sử dụng của hàng hóa SLĐ là công dụng của nó để thỏa mãn nhu cầu tiêu
dùng SLĐ của nhà TB.Khác với hàng hóa thông thường, hàng hóa SLĐ khi đc sử
dụng sẽ tạo ra một lượng giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân nó. Đó chính là nguồn
gốc giá trị thặng dư.

Hàng hóa sức lao động là điều kiện để chuyển hóa tiền tệ thành TB.
Đây cũng chính là chìa khóa để giải quyết mâu thẫn chung của nhà TB. Như vậy,
tiền chỉ trở thành TB khi nó được sử dụng làm phương tiện để mang lại giá trị
thặng dư cho người có tiền. Điều đó chỉ thực hiện được khi người có tiền tìm được
một loại hàng hóa đặc biệt là hàng hóa SLĐ.

Hàng hóa SLĐ là loại hàng hóa đặc biệt.
Tính chất đặc biệt của nó thể hiện ở 2 thuộc tính:
- Giá trị hàng hóa SLĐ mang tính chất tinh thần và lịch sử.
- Giá trị sử dụng của hàng hóa SLĐ khi tiêu dùng nó lại thu được một lượng giá trị
lớn hơn giá trị của bản thân nó
=> Kết luận:
Câu 6: Giá trị thặng dư là gì? Trình bày các phương pháp cơ bản sản
xuất giá trị thặng dư.

Trả lời:
_Khái niệm: Giá trị thặng dư là một bộ phận của giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức
lao động do công nhân làm thuê tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không.
_Phương pháp cơ bản sản xuất giá trị thặng dư: gồm 2 phương pháp
Phương pháp 1: phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối
23 | P a g e
Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là phương pháp sản xuất ra giá trị thặng dư

được thực hiện trên cơ sở kéo dài tuyệt đối ngày lao động của công nhân trong điều
kiện thời gian lao động tất yếu không đổi và giá trị thặng dư được sản xuất ra bằng
phương pháp này được gọi là giá trị thặng dư tuyệt đối.
Ví dụ: giả sử ngày lao động là 8h, trong đó 4h là thới gian lao động tất yếu và 4h
là thới gian lao động thặng dư. Do đó tỷ suất giá trị thặng dư là:
m’ = 4/4 x 100% = 100%
Giả sử nhà tư bản kéo dài ngày lao động thêm 2h, trong khi thời gian tất yếu
không thay đổi, vẫn là 4h. Khi đó ngày lao động được chia như sau: thời gian lao
động tất yếu là 4h và thời gian lao động thặng dư là 6h.
m’ = 6/4 x 100% = 150%
Như vậy, khi kéo dài tuyệt đối ngày lao động trong điều kiện thời gian lao động
tất yếu không thay đổi, thì thời gian lao động thặng dư tăng lên, nên tỷ suất giá trị
thặng dư tăng lên. Trước đây tỷ suất giá trị thặng dư là 100%, thì bây giờ là 150%.
Phương pháp 2: phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối
Sản xuất giá trị thặng dư tương đối là phương pháp sản xuất ra giá trị thặng dư
được thực hiện bằng cách rút ngắn thời gian lao động tất yếu để kéo dài một cách
tương ứng thời gian lao động thặng dư trên cơ sở tăng năng xuất lao động xã hội
trong điều kiện độ dài ngày lao động không đổi. Giá trị thặng dư được sản xuất ra
bằng phương pháp này được gọi là giá trị thặng dư tương đối.
Ví dụ: Giả sử ngày lao động là 8h và nó được chia thành 4h là thời gian lao động
tất yếu và 4h là thời gian lao động thặng dư.do đó tỷ suất giá trị thặng dư là:
m’ = 4/4 x 100% = 100%
Giả định rằng ngày lao động không đổi, nhưng bây giờ công nhân chỉ cần 3h
lao động đã tạo ra được một lượng giá trị mới bằng với giá trị sức lao động của
mình. Do đó tỷ lệ phân chia ngày lao động sẽ thay đổi: 3h là thời gian lao động tất
yếu và 5h là thời gian lao dộng thặng dư .Do đó, bây giờ tỷ suất giá trị thặng dư sẽ
là:
m’ = 5/3 x 100% = 166%
24 | P a g e
Như vậy, tỷ suất giá trị thặng dư đã tăng từ 100% lên 166%.

Câu 7: Thực chất của tích lũy tư bản là gì? Trình bày các nhân tố ảnh
hưởng đến quy mô tích lũy tư bản.

Trả lời:
_Khái niệm: Thực chất của tích lũy tư bản là sự chuyển hóa một phần giá trị
thặng dư thành tư bản, hay là quá trình tư bản hóa giá trị thặng dư.
_Các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích lũy tư bản: gồm 2 nhân tố.
Một là : trường hợp khối lượng giá trị thặng dư không đổi thì quy mô của tích
lũy tư bản phụ thuộc vào tỷ lệ phân chia khối lượng giá trị thặng dư đó thành 2
quỹ: quỹ tích lũy và quỹ tiêu dùng của nhà tư bản. Đương nhiên tỷ lệ quỹ này tăng
lên thì tỷ lệ quỹ dành cho quỹ kia sẽ giảm đi.
Hai là: nếu tỷ lệ phân chia đo đã được xác định, thì quy mô tích lũy tư bản phụ
thuộc vào khối lượng giá trị thặng dư. Trong trường hợp này khối lượng giá trị
thặng dư bị phụ thuộc vào những nhân tố sau đây:
Trình độ bóc lột sức lao động bằng biện pháp: tăng cường độ lao động, kéo dài
ngày lao động , cắt giảm tiền lương của công nhân . Có nghĩa là thời gian công
nhân sáng tạo ra giá trị càng được kéo dài ra nhưng chi phí càng được cắt giảm, do
vậy khối lượng giá trị thặng dư càng lớn và quy mô tích lũy tư bản càng lớn.
Trình độ năng suất lao động xã hội: năng suất lao động xã hội càng tăng lên sẽ
có thêm những yếu tố vật chất để biến giá trị thặng dư thành tư bản mới, nên làm
tăng quy mô tích lũy.
Sự chênh lệch giữa tư bản được sử dụng và tư bản đã tiêu dùng: Trong quá trình
sản xuất tư liệu lao động (máy móc, thiết bị) tham gia toàn bộ vào quá trình sản
xuất , nhưng giá trị của chúng lại chỉ bị khấu hao từng phần . Như vậy là mặc dù đã
mất dần giá trị, nhưng trong suốt thời gian hoạt động, máy móc vẫn có tác dụng
như khi còn đủ giá trị. Sự hoạt động này của máy móc được xem như là sự phục vụ
không công. Máy móc,thiết bị càng hiện đại, thì sự chênh lệch giữa tư bản được sử
dụng và tư bản tiêu dùng càng lớn , do đó sự phục vụ không công càng lớn, tư bản
25 | P a g e
lợi dụng được những thành tựu của lao động quá khứ càng nhiếu, nhờ vậy quy mô

tích lũy tư bản càng lớn.
Quy mô của tư bản ứng trước: Với trình đô bóc lột không thay đổi thì khối
lượng giá trị thặng dư do khối lượng tư bản khả biến quyết định. Do đó quy mô của
tư bản ứng trước, nhất là bộ phận tư bản càng lớn, thì khối lượng giá trị thặng dư
bóc lột được càng lớn, tạo điều kiện tăng thêm quy mô của tích lũy tư bản.

×