Tải bản đầy đủ (.pdf) (101 trang)

Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên Trường Trung cấp Giao thông Vận tải Miền Bắc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.16 MB, 101 trang )


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC



NGUYỄN THỊ PHÚC



BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN
TRƢỜNG TRUNG CẤP GIAO THÔNG VẬN TẢI MIỀN BẮC



LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC










HÀ NỘI - 2013

2


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC





NGUYỄN THỊ PHÚC





BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN
TRƢỜNG TRUNG CẤP GIAO THÔNG VẬN TẢI MIỀN BẮC


Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC



Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Khắc Bình






HÀ NỘI – 2013

3
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài và lịch sử vấn đề nghiên cứu
Trong thời đại ngày nay, mặc dù khoa học công nghệ rất phát triển
nhƣng con ngƣời vẫn đóng vai trò then chốt quyết định sự phát triển của nền
văn minh nhân loại ấy. Bởi vì con ngƣời vừa là chủ thể vừa là động lực và là
mục tiêu của sự phát triển kinh tế - xã hội, do đó nhiệm vụ đào tạo nhân lực,
bồi dƣỡng nhân tài là quốc sách chiến lƣợc của nhiều quốc gia. Chính vì vậy,
trong công cuộc đổi mới, Đảng ta đã xác định “Giáo dục là quốc sách hàng
đầu, đầu tƣ cho giáo dục là đầu tƣ cho phát triển”. “Phát triển giáo dục - đào
tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH – HĐH
đất nƣớc, là điều kiện để phát huy nguồn lực con ngƣời, yếu tố cơ bản để phát
triển kinh tế - xã hội, tăng trƣởng kinh tế nhanh và bền vững ”.
Chất lƣợng giáo dục - đào tạo đƣợc nâng cao phụ thuộc nhiều yếu tố,
trong đó yếu tố có tính quyết định là đội ngũ nhà giáo, Điều 15 Luật Giáo dục
khẳng định “Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lƣợng
giáo dục”.
Với ý nghĩa và tầm quan trọng đó, Chỉ thị 40 CT/ TƢ của Ban Bí thƣ
đã đề ra nhiệm vụ nhƣ sau: “Tiến hành rà soát, sắp xếp lại đội ngũ giáo viên,
cán bộ quản lý giáo dục để có kế hoạch đào tạo, bồi dƣỡng đảm bảo đủ số
lƣợng và cân đối về cơ cấu; nâng cao trình độ về chuyên môn, nghiệp vụ, đạo
đức cho đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục”. Những chủ trƣơng, chính
sách của Đảng và Nhà nƣớc đã khẳng định rằng: chất lƣợng giáo dục - đào tạo
phụ thuộc rất lớn vào đội ngũ giáo viên.
Đứng trƣớc những thay đổi của sự nghiệp CNH - HĐHđất nƣớc; ngành
giao thông đƣờng bộ càng cần phải có một lực lƣợng lao động đƣợc đào tạo
nghề căn bản. Tuy nhiên, lực lƣợng lao động đƣợc đào tạo cơ bản còn hạn

chế, chất lƣợng chƣa cao đáp ứng đƣợc yêu cầu của xã hội trong thời kỳ hội
nhập nền kinh tế quốc tế.

4
Trƣờng Trung cấp GTVT miền Bắc là một trong những Trƣờng Trung
cấp chuyên nghiệp trực thuộc Tổng Cục đƣờng bộ Việt Nam – Bộ Giao thông
Vận tải chuyên đào tạo kỹ thuật viên đƣờng bộ phục vụ cho ngành giao
thông.Trong những năm qua Trƣờng Trung cấp GTVT miền Bắc đã xây dựng
đƣợc đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục có phẩm chất đạo đức, ý
thức chính trị tốt, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ ngày càng đƣợc nâng cao
góp phần vào sự nghiệp giáo dục - đào tạo và phát triển đất nƣớc.
Nhƣng trên thực tế, hiện nay chất lƣợng đội ngũ giáo viên của Nhà
trƣờng còn hạn chế, chƣa đáp ứng với thực tế phát triển của ngành, của đất
nƣớc cũng nhƣ khu vực. Ngoài việc tăng cƣờng cơ sở vật chất, thiết bị dạy
học thì vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên nhằm nâng cao chất lƣợng giáo
dục - đào tạo là một yêu cầu cấp bách đảm bảo cho chất lƣợng giáo dục - đào
tạo của nhà trƣờng đƣợc nâng cao, đáp ứng nhu cầu của sự phát triển kinh tế -
xã hội, của ngành Giao thông vận tải. Góp phần nâng cao chất lƣợng đội ngũ
giáo viên phục vụ cho công tác giáo dục - đào tạo của nhà trƣờng cũng nhƣ
góp vào một trong những quan điểm quản lý để nâng cao chất lƣợng đào tạo ở
các Trƣờng Trung cấp chuyên nghiệp khác trong ngành Giao thông Vận tải.
Xuất phát từ những lý do trên tôi chọn đề tài“Biện pháp phát triển đội
ngũ giáo viên Trường trung cấp Giao thông vận tải miền Bắc” làm đề tài
nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu khái quát lý luận về phát triển đội ngũ giáo viên,
phân tích thực trạng công tác phát triển đội ngũ giáo viên và đề xuất biện
pháp phát triển đội ngũ giáo viên của Trƣờng trung cấp Giao thông vận tải
miền Bắc.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển đội ngũ giáo
viên Trƣờng Trung cấp chuyên nghiệp.

5
- Nghiên cứu thực trạng công tác phát triển đội ngũ giáo viên Trƣờng
Trung cấp Giao thông vận tải miền Bắc.
- Đề xuất một số biện pháp tăng cƣờng phát triển đội ngũ giáo viên
nhằm nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực của nhà trƣờng.
4. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động quản lý đội ngũ giáo viên Trƣờng Trung cấp Giao thông vận
tải miền Bắc.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên Trƣờng Trung cấp Giao
thông vận tải miền Bắc.
5. Giả thuyết khoa học
Đội ngũ giáo viên trƣờng Trung cấp GTVT Miền Bắc trong những
nămqua đã đƣợc quan tâm phát triển để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đào tạo của
nhà trƣờng. Tuy nhiên đội ngũ giáo viên vẫn bộc lộ những bất cập nhất
định.Nếu đề xuất những biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề phù
hợp và có tính khả thi thì sẽ phát triển đƣợc độingũ giáo viên, góp phần nâng
cao chất lƣợng đào tạo của nhà trƣờng.
6. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu
- Tập trung trong khai thác một số biện pháp phát triển đội ngũ giáo
viên có liên quan đến chất lƣợng đào tạo cho ngành giao thông đƣờng bộ.
- Tập trung nghiên cứu một số biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên
nhằm nâng cao chất lƣợng đào tạo ở Trƣờng Trung cấp Giao thông Vận tải
Miền Bắc.
- Chỉ nghiên cứu cho cán bộ làm công tác quản lý lãnh đạo trong việc
phát triển đội ngũ giáo viên của Nhà trƣờng.

- Chỉ nghiên cứu quá trình đào tạo trong lĩnh vực ngành hẹp đó là
ngành xây dựng và quản lý khai thác các công trình giao thông đƣờng bộ.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

6
Ý nghĩa lí luận:
Hệ thống hóa các vấn đề lí luận về phát triển đội ngũ giáo viên dạy
nghề cho ngành giao thông vận tải.
Ý nghĩa thực tiễn:
Kết quả nghiên cứu có thể áp dụng cho việc phát triển đội ngũ giáo
viên của nhà trƣờng và các cơ sở đào tạo nghề cho ngành giao thông vận tải
khác có thể áp dụng trong việc quản lí và phát triển đội ngũ giáo viên ngành
giao thông vận tải.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
8.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
Tham khảo các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu: nhằm tập
hợp và phân tích tài liệu, văn bản, sách, báo… các quan điểm lý luận có liên
quan đến vấn đề nghiên cứu.
8.2. Nhóm các phương pháp khảo sát điều tra
Phƣơng pháp này đƣợc thực hiện thông qua hệ thống phiếu hỏi và
phỏng vấn, quan sát để thu thập thông tin, phân tích các dữ liệu thực tiễn về
biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên Trƣờng Trung cấp GTVT miền Bắc.
8.3. Nhóm các phương pháp chuyên gia
Lấy ý kiến của các nhà quản lý trong và ngoài nhà trƣờng về những
vấn đề mà đề tài quan tâm nhằm tổng kết kinh nghiệm thực tiễn trong công
tác quản lý giáo viên nhà trƣờng, đồng thời có những đánh giá về các biện
pháp, khuyến nghị biện pháp quản lý nhằm phát triển đội ngũ giáo viên
nhằm góp phần nâng cao chất lƣợng lãnh đạo, quản lý, đào tạo nguồn nhân
lực của Trƣờng Trung cấp GTVT miền Bắc.
8.4. Nhóm các phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm

Phƣơng pháp này nhằm tổng kết kinh nghiệm về công tác phát triển đội
ngũ giáo viên trong những năm qua của Trƣờng Trung cấp GTVT miền Bắc
và các trƣờng TCCN&DN trực thuộc Tổng cục Đƣờng bộ Việt Nam nhằm thu
thập tƣ liệu thực tiễn về biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên ở các trƣờng.

7
8.5. Nhóm các phương pháp toán thống kê
Phƣơng pháp này dùng để xử lý các tài liệu đã thu thập đƣợc từ các
phƣơng pháp nghiên cứu nhƣ quan sát, điều tra hay thực nghiệm làm cho các
kết quả nghiên cứu trở nên chính xác, đảm bảo độ tin cậy.
9. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, cấu trúc
của luận văn chính đƣợc chia làm 3 chƣơng
Chương 1. Cơ sở lý luận về việc phát triển đội ngũ giáo viên Trƣờng Trung
cấp chuyên nghiệp.
Chương 2. Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên Trƣờng Trung cấp GTVT
miền Bắc.
Chương 3. Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên Trƣờng Trung cấp GTVT
Miền Bắc.

8
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƢỜNG
TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Quản lý là một hoạt động mang tính lịch sử xã hội, nhờ có hoạt động
quản lý mà hội loài ngƣời không ngừng vận động và phát triển. Các nhà triết
học tƣ sản cho rằng, quản lý có vai trò quyết định đến năng suất lao động;
Mác – Ăng ghen trong quá trình nghiên cứu nền sản xuất tƣ bản chủ nghĩa đã
rút ra kết luận: một trong những yếu tố quyết định đối với sự phát triển của

nền sản xuất tƣ bản là nhờ có vai trò của hoạt động quản lý.
Vận dụng và phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vai trò
của hoạt động quản lý, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Muốn
xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con ngƣời xã hội chủ nghĩa" cán bộ cách
mạng theo Hồ Chí Minh phải có tiêu chuẩn "vừa hồng, vừa chuyên" [22],
thực sự mối quan hệ đó là "đức" và "tài" trong nhân cách con ngƣời, trong đó
đức là gốc, còn năng lực của con ngƣời không phải là hoàn toàn tự nhiên mà
có, nó còn do học tập, công tác và rèn luyện mới thành.
Xuất phát từ quan điểm "coi con ngƣời là động lực trực tiếp của sự phát
triển và cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục là quốc sách hàng đầu".
Ngày nay đất nƣớc ta đã và đang hội nhập với thế giới một cách mạnh mẽ và
sâu rộng, thì lúc này vai trò của giáo dục đóng vai trò quyết định đối với sự
tồn tại và phát triển đất nƣớc. Theo quan điểm về giáo dục của UNESCO chỉ
rõ "Không có một sự tiến bộ nào, sự thành đạt nào có thể tách khỏi sự tiến bộ
và thành đạt trong lĩnh vực giáo dục của quốc gia đó. Những quốc gia nào coi
nhẹ giáo dục hoặc không đủ tri thức và khả năng cần thiết tiến hành sự nghiệp
giáo dục một cách hiệu quả thì số phận quốc gia đó xem nhƣ đã an bài và điều
đó còn tồi tệ hơn sự phá sản" [2, Tr.20]. Do vậy, để phát triển đội ngũ này
trong nhiều năm qua Đảng và Nhà nƣớc ta đã có những chủ trƣơng chính sách
đối với ngành giáo dục từ Trung ƣơng đến cở sở nhằm đẩy mạnh công tác đào

9
tạo, bồi dƣỡng đội ngũ cán bộ, giáo viên mà cụ thể là chỉ thị 40 của Ban bí
thƣ "về việc xây dựng, nâng cao chất lƣợng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản
lý giáo dục", nghị quyết đại hội Đảng cộng sàn Việt Nam lần XI cũng đã nêu
rõ: " Coi trọng công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức, trước hết là
cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý về đường lối, chính sách về kiến thức và kỹ
năng quản lý hành chính nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội trong đièu kiện cơ
chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế".
Trên cơ sở nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc,

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng chiến lƣợc phát triển giáo dục 2001 -
2010 và tầm nhìn đến năm 2020, các giải pháp phát triển giáo dục đƣợc nêu
trong chiến lƣợc có giải pháp "Đổi mới quản lý giáo dục", trong đó xác định:
"Đổi mới cơ chế và phƣơng thức quản lý giáo dục theo hƣớng phân cấp một
cách hợp lý nhằm giải phóng và phát huy mạnh mẽ tiềm năng, sức sáng tạo,
tính chủ động và tự chịu trách nhiệm của mỗi cấp và mỗi cơ sở giáo dục, giải
quyết một cách có hiệu quả những bất cập của toàn hệ thống trong quá trình
phát triển". Cụ thể là: Xây dựng và chuẩn hóa đội ngũ giáo viên, đào tạo, bồi
dƣỡng, đào tạo lại và thƣờng xuyên đội ngũ cán bộ, giáo viên về kiến thức, kỹ
năng chuyên môn, kỹ năng quản lý và rèn luyện phẩm chất đạo đức đồng thời
điều chỉnh sắp xếp lại cán bộ theo yêu cầu mới phù hợp với năng lực và phẩm
chất của từng ngƣời.
Mục tiêu thƣờng xuyên là đào tạo, bồi dƣỡng và phát triển đội ngũ giáo
viên Trƣờng Trung cấp GTVT về kiến thức, khả năng chuyên môn, kỹ năng
quản lý có tính chuyên nghiệp cao, đủ sức thực hiện yêu cầu nhiệm vụ trƣớc mắt
cũng nhƣ lâu dài trong sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực cho ngành đƣờng bộ.
1.2. Một số khái niệm cơ bản đƣợc sử dụng trong luận văn
1.2.1. Giáo viên và đội ngũ giáo viên
1.2.1.1 Giáo viên
Giáo viên trong các cơ sở Giáo dục và đào tạo lànhững “Nhà sƣphạm, nhà
khoa học, nhà hoạt động chính trị xã hội” có nhiệm vụgiảngdạy và giáo dục

10
HS - SV, đồng thời họ phải có phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức. Ngƣời
GV phải ý thức đƣợc trách nhiệm công dân, phải nắm đƣợc chủ chƣơng ,
chính sách của Đảng và nhà nƣớc. Trong quá trình đào tạo , GV vừa là khách
thể quản lý và cũng là chủ thể quảnlý của quá trình đó. Theo điều 70 Luật Giáo
dục (2005) qui định:
1. Nhà giáo là ngƣời làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà
trƣờng, cơ sở giáo dục khác.

2. Nhà giáo phải có những tiêu chuẩn sau đây:
- Phẩm chất, đạo đức, tƣ tƣởng tốt;
- Đạt trình độ chuẩn đƣợc đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ;
- Đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp;
- Lý lịch bản thân rõ ràng.
3. Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên.
Nhƣ vậy, có thể hiểu giáo viên là nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy trong
các cơ sở giáo dục.
Theo quyết định số 538/TCCP-TC ngày 19/12/1995 của Ban tổ chức
Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ), giáo viên trong các trƣờng phổ thông, giáo dục
nghề nghiệp đƣợc xếp ở ba ngạch: giáo viên, giáo viên chính, giáo viên cao
cấp.
1.2.1.2. Đội ngũ giáo viên
- Đội ngũ: theo Từ điển bách khoa Việt Nam "Đội ngũ là khối đông ngƣời
cùng chức năng hoặc nghề nghiệp thành lực lƣợng" [31, Tr. 399]. Theo định
nghĩa này thì đội ngũ là sự gắn kết những cá thể vào với nhau, cùng có chung
mục đích, có lợi ích chung và ràng buộc với nhau bằng trách nhiệm pháp lý.
Đội ngũ giáo viên trƣờng TCCN bao gồm:
+ Cán bộ quản lý các cấp trong trƣờng học;
+ Nhà giáo (giáo viên, nghệ nhân, thợ lành nghề)
+ Nhân viên phục vụ các hoạt động giáo dục trong trƣờng học

11
Qua đó ta có thể hiểu đội ngũ của một tổ chức cũng chính là nguồn
nhân lực của tổ chức đó. Đó là những ngƣời có chung mục đích, lợi ích và
ràng buộc với nhau bằng trách nhiệm pháp lý, đó là sự gắn kết những cá thể
với nhau, hoạt động thông qua sự phân công và hợp tác lao động.
- Đội ngũ giáo viên: là tập hợp các nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy,
giáo dục trong các cơ sở giáo dục
Đội ngũ giáo viên nằm trong đội ngũ nhà giáo thuộc ngành giáo dục –

đào tạo. Do yêu cầu nhiệm vụ nên đội ngũ giáo viên có nhiều chủng loại:
Đội ngũ giáo viên tham gia công tác quản lý nhà trƣờng, tham mƣu cho
cấp ủy, lãnh đạo, ngành giáo dục – đào tạo hoạch định chính sách vĩ mô về
giáo dục – đào tạo nghề nghiệp và thực thi chính sách giáo dục – đào tạo.
Đội ngũ giáo viên tham gia công tác quản lý khoa, phòng, đơn vị thực
nghiệm, thực hành, tham mƣu cho lãnh đạo nhà trƣờng, tham gia quản lý hoạt
động chuyên môn, nâng cao chất lƣợng chuyên môn, thực hành, thực tập kỹ
năng nghề nghiệp, biên soạn giáo trình, giáo án, đề tài nghiên cứu khoa học,
quản lý giáo viên, học sinh trong đơn vị theo thẩm quyền, theo phân cấp quản
lý.
Đội ngũ giáo viên cơ hữu theo chuyên ngành thuộc biên chế của khoa,
phòng, đơn vị thực nghiệm, thực hành.
1.2.2. Phát triển và phát triển đội ngũ
1.2.2.1. Phát triển
Theo quan điểm triết học: Khái niệm phát triển là khái niệm chỉ sự vận
động theo chiều hƣớng tiến lên, cái mới, cái tiến bộ ra đời thay thế cái cũ, cái
lạc hậu.
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam: Phát triển là "biến đổi hoặc làm
cho nó biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp hay rộng, thấp đến cao, đơn giản đến
phức tạp" [31, Tr. 759]
Phát triển trong giáo dục đƣợc hiểu là quá trình học tập nhằm mở ra
cho những cá nhân những công việc mới dựa trên những định hƣớng tƣơng lai

12
của tổ chức. Từ những cách tiếp cận trên thì mọi sự vật, hiện tƣợng, con
ngƣời, xã hội hoặc là biến đổi để tăng số lƣợng, thay đổi nâng lên về chất
lƣợng hoặc
dƣới tác động của bên ngoài làm cho biến đổi gia tăng đều
đƣợc coi là sự
"phát triển". Con ngƣời là yếu tố hợp thành của tổ chức, quản

lý một tổ chức chủ yếu là quản lý con ngƣời, trong nhà trƣờng ĐNGVlà lực
lƣợng chủ yếu giữ vai trò quyết định trong việc thực hiện nhiệm vụ đào tạo.
Vì vậy phát triển ĐNGV là nhiệm vụ trọng tâm, quan trọng hàng đầu trong
chiến lƣợc phát triển nhà trƣờng.
1.2.2.2. Phát triển đội ngũ
Theo quan điểm phát triển đội ngũ của ngành giáo dục: "Phát triển đội
ngũ là làm sao để có một lực lƣợng những ngƣời làm giáo dục đủ về số lƣợng
và đảm bảo chất lƣợng (nhân cách) đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
của đất nƣớc nói chung và yêu cầu phát triển giáo dục nói riêng".
Phát triển đội ngũ là tổng thể các phƣơng pháp, biện pháp, cách thức,
chính sách để hoàn thiện và nâng cao chất lƣợng đội ngũ (đủ về số lƣợng, phù
hợp về cơ cấu, có trình độ chuyên môn và năng lực nghề nghiệp, phẩm chất
tốt) đáp ứng yêu cầu phát triển của tổ chức.
Một trong những nhiệm vụ quan trọng để phát triển giáo dục là phát triển
nguồn nhân lực. Trong phát triển nguồn nhân lực thì giáo viên đóng vai trò trung
tâm, là nhân tố quan trọng quyết định chất lƣơng đào tạo của nhà trƣờng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: "Cán bộ là cái gốc của mọi công
việc" ; từ xa xƣa Khổng Tử đã đúc kết cho hậu thế, cấu trúc nhân cách con
ngƣời bao gồm: "Nhân, nghĩa, trí, dũng mà cốt lõi của nó là "Tài" và "Đức".
Có tài mà không có không có đức sẽ trở thành vô dụng ngƣợc lại có đức mà
không có tài thì làm việc gì cũng khó. Sự hài hòa giữa đức và tài chính là đặc
điểm có ý nghĩa xã hội rộng lớn. Hồ Chí Minh nêu lên phẩm chất đạo đức cần
có của con ngƣời phải là "Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tƣ". Trong 4
thành phần đó "Cần" có nghĩa là siêng năng trong lao động, trong công việc
đƣợc phân công, biết khuyến khích ngƣời khác làm tốt công việc, "kiệm" là

13
không lãng phí của cải và thời gian của nhân dân, "chính" là việc đúng dù
nhỏ cũng phải làm, việc sai dù nhỏ cũng phải tránh; "liêm" là không tham ô,
luôn luôn giữ gìn của cải của công và của nhân dân.

Nhƣ vậy, phẩm chất nhân cách là những cấu trúc tâm lý tiềm ẩn mang
chức năng định hƣớng, chỉ đạo hoạt động của con ngƣời trong các quan hệ
nhất định. Phẩm chất nhân cách đƣợc hình thành, phát triển và hoàn thiện, bộc
lộ đầy đủ nhất thông qua hoạt động của con ngƣời.
Từ quan điểm của Hồ Chí Minh cho ta thấy rằng: Nhân cách của con
ngƣời nói chung, đội ngũ giáo viên nói riêng gồm 2 mặt "phẩm chất" và
"năng lực", 2 mặt này nó biểu hiện ở mọi lúc, mọi nơi trong quá trình dạy học
mà thể hiện rõ nét nhất là năng lực chuyên môn, khả năng điều khiển trong
phạm vi trƣờng học, uy tín trƣớc tập thể sƣ phạm, khả năng ứng biến trong
các tình huống sƣ phạm xã hội, trong đó vấn đề tổ chức thực hiện nhiệm vụ sẽ
sáng tỏ đƣợc năng lực ngƣời giáo viên. Bên cạnh đó ngƣời giáo viên còn phải
có phẩm chất về chính trị, tƣ cách đạo đức, tác phong sƣ phạm trƣớc tập thể
giáo viên, học sinh, phụ huynh và các lực lƣợng giáo dục khác ngoài nhà
trƣờng.
Công tác phát triển ĐNGV nhà trƣờng phải nhằm vào những mục tiêu cơ
bản là:
1. Chăm lo xây dựng ĐNGV để có đủ số lƣợng, đồng bộ về cơ cấu, loại
hình, vững vàng về trình độ, có phẩm chất chính trị vững vàng, có đạo đức và
thái độ nghề nghiệp tốt, tận tâm tận lực với nghề; đảm bảo chất lƣợng về mọi
mặt để ĐNGV thực hiện tốt nhất, có hiệu quả nhất chƣơng trình, kế hoạch đào
tạo và những mục tiêu chung của nhà trƣờng.
2. Phải làm cho ĐNGV luôn có đủ điều kiện, có khả năng sáng tạo
trong việc thực hiện tốt nhất những mục tiêu của nhà trƣờng, đồng thời tìm
thấy lợi ích cá nhân trong mục tiêu phát triển của tổ chức; phát triển ĐNGV là
phải làm tốt và phải tạo ra sự gắn bó, kết hợp chặt chẽ giữa công tác quy
hoạch, kế hoạch tuyển chọn, sử dụng, đào tạo, đào tạo lại, bồi dƣỡng và tạo

14
môi trƣờng thuận lợi cho ĐNGV phát triển. Phát triển ĐNGV bao quát tất cả
những gì ngƣời GV có thể trau dồi và phát triển để đạt đƣợc các mục tiêu của

bản thân và của nhàtrƣờng. Phát triển ĐNGV có thể xem nhƣ một quá trình
liên tục nhằm hoàn thiện hay thay đổi thực trạng hiện tại của đội ngũ, làm
cho ĐNGV không ngừng phát triển về mọi mặt, đáp ứng yêu cầu giảng dạy
tại nhà trƣờng trong xu hƣớng hội nhập, tiếp cận chuẩn nghề nghiệp GV của các
nƣớc tiên tiến. Phát triển ĐNGV đƣợc xem nhƣ một quá trình tích cực mang
tính hợp tác cao, trong đó ngƣời GV tự
phát triển sẽ đóng một vài trò quan
trọng trong sự trƣởng thành về nghề
nghiệp cũng nhƣ nhân cách của bản thân
trong sự hoà hợp cùng phát triển.
Xác định về phẩm chất, năng lực của đội ngũ giáo viên là cán bộ lãnh
đạo quản lý trường TCCN trong giai đoạn hiện nay:
- Giác ngộ về chính trị, nhiệt tình cách mạng, có trình độ lý luận trên cơ
sở chủ nghĩa Mác – Lê nin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh;
- Có trình độ chuyên môn vững vàng;
- Tận tụy trong công tác và sinh hoạt;
- Có sức khỏe tốt;
- Kiên trì giáo dục toàn diện;
- Biết chia sẻ với hoàn cảnh của đồng nghiệp và ngƣời học, hòa mình
với tập thể, tôn trọng, đối xử công bằng, hợp tình, hợp lý với mọi ngƣời.
Năng lực của đội ngũ giáo viên trường TCCN cần có là:
- Có trình độ văn hóa và chuyên môn tốt;
- Nắm vững chƣơng trình và phƣơng pháp giảng dạy, luôn tự học, tự
bồi dƣỡng, rèn luyện nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tay nghề;
- Có năng lực phân tích các hoạt động giáo dục;
- Có khả năng nghiên cứu khoa học, tổng kết kinh nghiệm, làm công tác
chủ nhiệm, quản lý chuyên môn, hoạt động khoa, phòng và quản lý hành chính.
Nhƣ vậy, để xác định phẩm chất năng lực của đội ngũ giáo viên trƣờng
TCCN là tổng hợp những phẩm chất nhân cách tiêu biểu của con ngƣời nói


15
chung và nhà giáo nói riêng. Đây chính là cơ sở lý luận để tác giả điều tra làm
rõ thực trạng và đề xuất biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên Trƣờng Trung
cấp GTVT miền Bắc.
1.2.3. Quản lý
Quản lý là một dạng lao động xã hội, gắn liền và phát triển cùng với
lịch sử phát triển của loài ngƣời. Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân
công, hợp tác lao động. Chính sự phân công, hợp tác lao động nhằm đạt hiệu
quả, năng suất cao hơn trong công việc đòi hỏi phải có sự chỉ huy, phối hợp,
điều hành, kiểm tra, chỉnh lý. Đây là hoạt động để ngƣời lãnh đạo tập hợp sức
mạnh của các thành viên trong nhóm, trong tổ chức đạt đƣợc mục tiêu đề ra.
Nói về điều này, Các-Mác từng viết: “Một ngƣời chơi vĩ cầm riêng rẽ thì tự
điều khiển mình nhƣng một giàn nhạc thì cần có một nhạc trƣởng” [8,
tr.30].
Tùy theo các cách tiếp cận mà có các quan niệm về quản lý, thông
thƣờng khi đƣa ra khái niệm quản lý các tác giả thƣờng gắn với một loại hình
quản lý cụ thể.
Quản lý là một trong những hoạt động cơ bản nhất của con ngƣời.
Ngay từ khi con ngƣời bắt đầu hình thành các nhóm để thực hiện mục tiêu mà
họ không thể đạt đƣợc với tƣ cách cá nhân riêng lẻ, thì cách quản lý đã là một
yếu tố cần thiết để đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân.
C. Marx đã từng coi việc xuất hiện của quản lý nhƣ một dạng đặc thù
của con ngƣời đƣợc gắn liền với sự quan tâm và hợp tác lao động, nhƣ là kết
quả tất yếu của sự chuyển nhiều quá trình lao động cá biệt, tản mạn, độc lập
với nhau thành một quá trình lao động xã hội đƣợc phối hợp lại. Điều đó
chứng tỏ rằng việc quản lý là thiết yếu trong mọi sự hợp tác có tổ chức cũng
nhƣ ở mọi cấp độ của tổ chức trong một cơ sở.
Vậy quản lý là gì? Cho đến nay có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về
khái niệm quản lý.
Theo Bùi Sỹ khái quát vấn đề quản lý giáo dục nghề nghiệp thành các

cách tiếp cận sau đây:

16
- Quản lý là đạt kết quả thông qua con ngƣời. Đây là một định nghĩa
muốn nhấn mạnh đến yếu tố con ngƣời trong quản lý.
- Quản lý là một tiến trình theo đó một tập thể hợp tác với nhau,
hƣớng các hoạt động của mình vào mục đích chung. Định nghĩa này muốn
nhấn mạnh đến tính phân công và hợp tác của lao động tập thể vì mục đích
chung.
- Quản lý là sự lãnh đạo hệ thống trên cơ sở hoạch định, tổ chức, phối
hợp, điều khiển và kiểm tra công việc nhằm đạt đƣợc các mục tiêu đã đề ra.
Định nghĩa này muốn nói đến sự lãnh đạo hệ thống bằng các chức năng quản
lý.
- Quản lý là những hoạt động có tính tổ chức dựa trên cơ sở nhận thức
và vận dụng các qui luật khách quan nhằm đƣa ra các quyết định và thực hiện
các quyết định đó. Đây là một định nghĩa đƣợc tiếp cận theo lý thuyết ra
quyết định, coi quyết định là mấu chốt của quản lý, đồng thời định nghĩa này
cũng nhấn mạnh tính khoa học của quản lý.
- Quản lý là một nghệ thuật: nghệ thuật khai thác các tiềm năng của sản
xuất kinh doanh. Định nghĩa này lại nghiêng sang tính nghệ thuật của thực
hành quản lý.
- Quản lý là những hoạt động bao gồm các mặt chính trị, kinh tế, xã
hội, pháp lý, tƣ tƣởng, tâm lý và các mặt khác với các cách kết hợp khác
nhau. Định nghĩa này muốn nói lên tính đa dạng và tác dụng tổng hợp của các
mặt hoạt động của quản lý.
- Quản lý là sự tác động có hƣớng của chủ thể quản lý đến đối tƣợng
quản lý nhằm thu đƣợc những kết quả tốt nhất với mục tiêu đã định trƣớc.
Định nghĩa này muốn nói tới tính chất hành động vì mục tiêu quản lý.
Từ các điểm chung của định nghĩa, có thể hiểu: Quản lý là sự tác động
có tổ chức, có hƣớng đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm sử

dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt đƣợc mục

17
tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trƣờng. Sự tác động này đƣợc thể
hiện qua sơ đồ sau:




.



Sơ đồ 1: Mô hình quản lý

Nhƣ vậy, hiệu quả quản lý phụ thuộc vào các yếu tố: Chủ thể, khách
thể, mục tiêu, phƣơng pháp và công cụ quản lý. Chủ thể quản lý có thể là một
cá nhân, một nhóm hay một tổ chức. Công cụ quản lý (mệnh lệnh, quyết định,
các văn bản luật, chính sách ) là phƣơng tiện tác động của chủ thể quản lý tới
khách thể quản lý. Còn phƣơng pháp quản lý có thể hiểu là cách thức tác động
của chủ thể đến khách thể. Mục tiêu của tổ chức đƣợc xác định theo nhiều
cách khác nhau, phụ thuộc vào hình thức, lĩnh vực hoạt động và phong cách
quản lý trong tổ chức. Mục tiêu có thể do chủ thể quản lý áp đặt, song cũng
do sự cam kết giữa chủ thể và khách thể quản lý.
Quản lý nguồn nhân lực là nhiệm vụ của một tổ chức, gồm 3 phạm trù:
- Quản lý việc đào tạo, bồi dƣỡng nhân lực, bao gồm: Giáo dục đào tạo,
bồi dƣỡng và tự bồi dƣỡng.
- Sử dụng hợp lý đội ngũ nhân lực, bao gồm: Tuyển dụng, sử dụng, đề
bạt, sàng lọc một cách hợp lý để đáp ứng yêu cầu phát triển của tổ chức.
- Tạo môi trƣờng thuận lợi để nhân lực phát triển (bao gồm việc tạo ra

môi trƣờng làm việc thuận lợi, môi trƣờng sống lành mạnh, cũng nhƣ xây
dựng các chính sách và môi trƣờng pháp lý phù hợp để nhân lực phát triển).

CÔNG CỤ
PHƯƠNG
PHÁP

MỤC TIÊU
CHỦ THỂ
QUẢN LÝ
KHÁCH THỂ
QUẢN LÝ

18
Tóm lại, quản lý phát triển ĐNGV là những tác động của chủ
thể quản lý đến đối tƣợng và khách thể quản lý nhằm phát triển ĐN
GV đủ
về số lƣợng, đồng bộ về cơ cấu, vững mạnh về trình độ, có bản
lĩnh chính trị, có thái độ nghề nghiệp tốt, tận tụy với nghề để thực hiện có
hiệu quả mục tiêu đào tạo và đáp ứng yêu cầu phát triển của nhà trƣờng. Quản
lý thông qua việc xây dựng quy hoạch, tổ chức lãnh đạo thực hiện và kiểm tra
các nội dung về tuyển dụng, đào tạo, bồi dƣỡng, chế độ chính sách và tạo môi
trƣờng sƣ phạm cho ĐNGV.
1.2.4. Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường
1.2.4.1. Quản lý giáo dục
Là hoạt động điều hành phối hợp các lực lƣợng xã hội nhằm đẩy mạnh
công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu hiện nay. [25, Tr.16].
Theo nghĩa hẹp: "Quản lý giáo dục, quản lý trƣờng học là một chuỗi tác
động hợp lý (có mục đích, tự giác, có kế hoạch, có hệ thống) mang tính tổ
chức sƣ phạm của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh đến

những lực lƣợng giáo dục trong và ngoài nhà trƣờng nhằm huy động họ cùng
cộng tác, phối hợp tham gia vào mọi hoạt động của nhà trƣờng nhằm làm cho
qui trình này vận hành tới việc hoàn thành những mục đích dự kiến" [25,
Tr.17]. Một số tác giả khác lại cho rằng: Quản lý giáo dục là tác động có ý
thức, có mục đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu
của hệ thống nhằm mục đích bảo đảm giáo dục XHCN cho thế hệ trẻ, đảm
bảo sự phát triển hài hòa và toàn diện của họ, trên cơ sở nhận thức đúng và sử
dụng các qui luật chung vốn có của XHCN cũng nhƣ các qui luật khách quan
của quá trình dạy học – giáo dục của sự phát triển thể chất và tâm lý trẻ em
thiếu nhi cũng nhƣ thanh niên.
Qua ý kiến của các tác giả nêu trên, kết hợp với nhận thức cũng nhƣ
trong hoạt động thực tiễn có thể khẳng định bản chất của quản lý giáo dục là
quá trình tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý và các

19
thành tố tham gia vào hoạt động giáo dục nhằm thực hiện đƣợc mục tiêu giáo
dục.
Quản lý giáo dục là quản lý con ngƣời, nhƣng là con ngƣời có trình độ
văn hóa cao, vì vậy đòi hỏi trong quản lý giáo dục phải có những nguyên tắc
hợp lý, những luận điểm cơ bản để chỉ đạo.
Cũng nhƣ quản lý nói chung, quản lý giáo dục có 3 chức năng cơ bản:
- Chức năng kế hoạch hóa: Là việc soạn thảo, thông qua và xây dựng
đƣợc hệ thống những chủ trƣơng, những quyết định quản lý.
- Chức năng tổ chức, chỉ đạo: Là thực hiện các quyết định quản lý bằng
cách xây dựng cấu trúc tổ chức của đối tƣợng quản lý tạo nên sự liên kết trong
tổ chức và tuyển chọn, sắp xếp bồi dƣỡng cán bộ làm cho mục tiêu trở nên có
ý nghĩa tăng tính hiệu quả về mặt tổ chức. Chỉ dẫn, động viên, điều chỉnh và
phối hợp các lực lƣợng giáo dục theo sự phân công trên cơ sở kế hoạch đã
định.
- Chức năng kiểm tra đánh giá: Là việc xem xét đánh giá đúng đắn tình

hình thực hiện công việc so với yêu cầu đề ra.
Từ những quan điểm nêu trên ta nhận thấy: Bản chất của hoạt động
quản lý giáo dục là quản lý các hệ thống giáo dục, là sự tác động có mục đích,
có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức của chủ thể quản lý đến đối tƣợng quản lý
theo những qui luật khách quan nhằm đƣa hoạt động sƣ phạm đạt tới kết quả
mong muốn. Quá trình quản lý là quá trình hoạt động của chủ thể quản lý
nhằm thực hiện tổng hợp các chức năng quản lý để đƣa hệ thống quản lý đến
mục tiêu.
1.2.4.2. Quản lý nhà trường
Luật giáo dục (2005) điều 58 qui định: Nhà trƣờng có nhiệm vụ tổ chức
giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu, chƣơng
trình giáo dục, xác nhận hoặc cấp văn bằng, chứng chỉ theo thẩm quyền; quản
lý nhà giáo, cán bộ nhân viên, tuyển sinh và quản lý học sinh, huy động, quản
lý, sử dụng các nguồn lực theo qui định của pháp luật nhằm thực hiện mục

20
tiêu giáo dục; phối hợp với gia đình ngƣời học, tổ chức cá nhân trong hoạt
động giáo dục, tổ chức cho nhà giáo, cán bộ nhân viên cà ngƣời học tham gia
các hoạt động xã hội và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo qui định
của pháp luật.
Quản lý nhà trƣờng thực chất là quản lý việc dạy và học, vì vậy quản lý
nhà trƣờng theo Phạm Minh Hạc: "Quản lý nhà trƣờng là thực hiện đƣờng lối
giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đƣa nhà trƣờng
vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục đào tạo đối
với ngành giáo dục với thể hệ trẻ và từng học sinh" [14, Tr.97].
Trên cơ sở đó ta có thể hiểu quản lý trƣờng TCCN là: Tập hợp những
tối ƣu (đầu tƣ, tham gia hỗ trợ, phối hợp, huy động, can thiệp ) của chủ thể
quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và cán bộ khác.
Việc quản lý nhà trƣờng thực chất là quản lý các quan hệ giữa nhà
trƣờng và xã hội

Quản lý nhà trƣờng bao gồm:
- Quản lý sƣ phạm (quản lý các quá trình giáo dục)
- Quản lý các nguồn lực (cơ sở vật chất, tài chính và nhân lực)
Nhƣ vậy có thể nói nhà trƣờng là một xã hội thu nhỏ nó gồm có 3 thành
tố chính: con ngƣời, vật chất và tinh thần. Sự liên kết giữa 3 thành tố này diễn
ra trong không gian và thời gian tạo thành các quá trình xã hội; quá trình xã
hội này chính là quá trình giáo dục.
Quá trình giáo dục là một hệ thống bao gồm 6 thành tố:
1 - Mục đích giáo dục (MĐ)
2 - Nội dung giáo dục (ND)
3 - Phƣơng pháp giáo dục (PP)
4 – Giáo viên (GV)
5 - Học sinh (HS)
6 - Phƣơng tiện giáo dục (PT)

21
Trong 6 thành tố này thì thành tố 1,2,3 là thành tố tinh thần; 4,5 là
thành tố con ngƣời; 6 là thành tố vật chất. Các thành tố này có mối liên hệ
chặt chẽ với nhau tạo thành quá trình giáo dục.
Quản lý quá trình giáo dục và đào tạo chính là tác động của nhà quản lý
(chủ thể quản lý) với các thành tố trên làm cho chúng gắn kết chặt chẽ và cùng
phát triển theo hƣớng mục tiêu của nhà quản lý đề ra (mục tiêu đào tạo).
1.2.4.3. Quản lý trường trung cấp chuyên nghiệp
Vị trí của trƣờng Trung cấp chuyên nghiệp: Điều 2 điều lệ Trƣờng
trung cấp chuyên nghiệp qui định: Trƣờng TCCN là cơ sở giáo dục nghề
nghiệp thuộc hệ thống giáo dục quốc dân. Trƣờng có tƣ cách pháp nhân, có
con dấu và tài khoản riêng.
Mục tiêu, nội dung, phƣơng pháp, chƣơng trình, giáo trình của giáo dục
TCCN theo luật giáo dục 2005 qui định:
* Mục tiêu của giáo dục TCCN: Đào tạo ngƣời lao động có kiến thức,

kỹ năng nghề nghiệp ở các trình độ khác nhau, có đạo đức, lƣơng tâm nghề
nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe nhằm tạo điều
kiện cho ngƣời lao động có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp
tục học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu phát
triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh.
Trung cấp chuyên nghiệp nhằm đào tạo ngƣời lao động có kiến thức,
kỹ năng thực hành cơ bản của một nghề, có khả năng làm việc độc lập và có
tính sáng tạo, ứng dụng công nghệ vào công việc.
- Nội dung giáo dục nghề nghiệp: phải tập trung đào tạo năng lực thực
hành nghề nghiệp, coi trọng giáo dục đạo đức, rèn luyện sức khỏe, rèn luyện
kỹ năng theo yêu cầu đào tạo của từng nghề, nâng cao trình độ học vấn theo
yêu cầu đào tạo.

22
- Phương pháp giáo dục nghề nghiệp: phải kết hợp rèn luyện kỹ năng
thực hành với giảng dạy lý thuyết để giúp ngƣời học có khả năng hành nghề
và phát triển nghề nghiệp theo yêu cầu của từng công việc.
- Chương trình giáo dục nghề nghiệp: thể hiện mục tiêu giáo dục nghề
nghiệp; qui định chuẩn kiến thức, kỹ năng , phạm vi và cấu trúc nội dung giáo
dục nghề nghiệp, phƣơng pháp và hình thức đào tạo, cách thức đánh giá kết
quả đào tạo đối với mỗi môn học, ngành, nghề, trình độ đào tạo của giáo dục
nghề nghiệp; bảo đảm yêu cầu liên thông với các chƣơng trình giáo dục khác.
- Giáo trình giáo dục nghề nghiệp: cụ thể hóa các yêu cầu về nội dung
kiến thức, kỹ năng qui định trong chƣơng trình giáo dục đối với mỗi môn học,
ngành, nghề, trình độ đào tạo của giáo dục nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu về
phƣơng pháp giáo dục nghề nghiệp.
1.3. Quan điểm của Đảng, Nhà nƣớc ta về phát triển giáo dục, phát triển nhà
trƣờng và đội ngũ cán bộ làm công tác giáo dục
1.3.1. Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam
Nghị quyết Trung ƣơng 2 khóa VIII của Đảng, đánh giá 10 năm đổi

mới của giáo dục và đào tạo, sau khi nhấn mạnh 4 thành tựu đạt đƣợc đã nêu
một trong những yếu kém của giáo dục và đào tạo là "Công tác quản lý giáo
dục – đào tạo có những mặt yếu kém bất cập trong nhƣ trong chỉ đạo thực
hiện một số chủ trƣơng đổi mới trong việc thanh tra, kiểm tra chất lƣợng, cơ
chế quản lý giáo dục và đào tạo chƣa hợp lý đồng thời nêu bốn giải pháp
chính để thực hiện mục tiêu phát triển giáo dục – đào tạo đến năm 2020, trong
đó có giải pháp "Đổi mới công tác quản lý giáo dục"
Kết luận hội nghị BCH Trung ƣơng lần thứ 6 (khóa IX) đã chỉ rõ trong
năm giải pháp mà toàn Đảng, toàn dân đến nay đã và đang tiếp tục thực hiện
Nghị quyết Trung ƣơng 2 (khóa VIII) là xây dựng và triển khai chƣơng trình
"Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục toàn diện". Chính phủ
cũng đã xây dựng chƣơng trình hành động thực hiện kết luận Hội nghị Trung
ƣơng 6 trong đó có nội dung xây dựng và triển khai chƣơng trình này. Yêu

23
cầu của việc xây dựng và triển khai chƣơng trình là: "Xây dựng đội ngũ nhà
giáo – cán bộ quản lý giáo dục một cách toàn diện". ngày 15/6/2004 Ban bí
thƣ Trung ƣơng Đảng ra chỉ thị số 40/CT-TW về việc xây dựng nâng cao chất
lƣợng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục, trong chỉ thị đã nêu rõ một số
nhiệm vụ: "Tiến hành rà soát, sắp xếp lại đội ngũ nhà giáo, CBQL giáo dục để
có kế hoạch đào tạo, bồi dƣỡng đảm bảo đủ số lƣợng và cân đối về cơ cấu;
nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức cho đội ngũ nhà giáo và
CBQL giáo dục".
1.3.2. Chính sách của Nhà nước
Chỉ thị 18/2001/CT- TTg của Thủ tƣớng Chính phủ, hoàn thành trƣớc năm
2005 việc sàng lọc và bố trí lại những cán bộ giáo dục không còn đủ điều kiện
công tác trong ngành giáo dục, giải quyết chế độ trƣớc tuổi cho các nhà giáo, các
cấp học chƣa đạt chuẩn, năng lực giảng dạy yếu Với nhận thức "Giáo dục và
đào tạo là chìa khóa mở của tƣơng lai" và "Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng
đầu", Nhà nƣớc phát triển giáo dục nhằm "Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực,

bồi dƣỡng nhân tài" thì vấn đề nâng cao chất lƣợng giáo dục và dạy học là yêu
cầu bức thiết, trong đó đội ngũ giáo viên đóng vai trò trung tâm.
Quan điểm giáo dục phải đi trƣớc thời đại, phải đón đầu sự phát triển
xã hội. Một trong những nhiệm vụ quan trọng của giáo dục là phát triển
nguồn nhân lực. Trong phát triển nguồn nhân lực thì đội ngũ giáo viên là quan
trọng và rất cần thiết, nó mang tính quyết định, ảnh hƣởng trực tiếp đến chất
lƣợng, hiệu quả giáo dục. Học giả Nguyễn Minh Hạc đã khẳng định:"Nói tới
giáo dục là nói tới triển vọng, viễn cảnh, nếu làm giáo dục mà chỉ nghĩ tới
trƣớc mắt, không nghĩ tới phạm trù tƣơng lai, chắc chắn là không có thành
công hay ít nhất là không có thành tựu thật". [13, Tr.19]
1.3.3. Nội dung quản lý đội ngũ giáo viên
Quản lý đội ngũ giáo viên là một trong những nội dung chủ yếu của
QLNN về GD&ĐT nói chung và đối với cơ sở GDCN nói riêng.

24
Quản lý đội ngũ giáo viên cũng phải thực hiện đầy đủ các nội dung của
QLNN, ngoài ra cần phải nhận thức sâu sắc ĐNGV là đội ngũ tri thức, có
trình độ học vấn và nhân cách phát triển ở mức độ cao, nên trong quá trình
quản lý, phát triển đội ngũ giáo viên cần lƣu ý:
- Phải làm sao cho ĐNGV phát huy đƣợc tính chủ động, sáng tạo và
tiềm năng của mỗi giáo viên, để họ có thể cống hiến ở mức độ cao nhất cho
việc thực hiện mục tiêu giáo dục.
- Phải hƣớng ĐNGV vào việc phục vụ lợi ích của tổ chức, của cộng
đồng và của xã hội, đồng thời phải đảm bảo đƣợc những lợi ích về mặt tinh
thần và vật chất với mức độ thỏa đáng cho mỗi cá nhân giáo viên.
- Phải đáp ứng đƣợc mục tiêu trƣớc mắt và mục tiêu lâu dài phát triển
trong tƣơng lai của tổ chức.
- Quản lý ĐNGV phải đƣợc thực hiện theo qui chế, qui định của nhà
nƣớc, của Bộ, ngành chủ quản.
1.3.3.1. Qui hoạch đội ngũ giáo viên

Đây là nội dung QL quan trọng nhất, đảm bảo nhu cầu nguồn lực giáo
viên, đáp ứng đƣợc nhu cầu đòi hỏi của nhà trƣờng.
Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ và chiến lƣợc phát triển nhà trƣờng,
đồng thời phân tích thực trạng ĐNGV về số lƣợng, cơ cấu, chất lƣợng, các
điều kiện bên trong (cơ sở vật chất, trang thiết bị, tài chính ) và các yếu tố
bên ngoài (bối cảnh kinh tế, xă hội, nhu cầu và yêu cầu của xă hội về nguồn
nhân lực do nhà trƣờng đào tạo ra ) nhà trƣờng xác định số lƣợng, cơ cấu,
trình độ, tiêu chuẩn và tiến hành qui hoạch ĐNGV sao cho đảm bảo ổn định
và phát triển tổ chức.
1.3.3.2. Tuyển dụng, sử dụng đội ngũ giáo viên
Quá trình tuyển dụng phải dựa vào kế hoạch phát triển nhân lực của
nhà trƣờng. Phải tuyển dụng ĐNGV đáp ứng với các tiêu chuẩn chung của
nhà nƣớc, của ngành và qui định riêng của nhà trƣờng phù hợp với từng vị trí
công tác.

25
Để lựa chọn đƣợc ĐNGV, nhà trƣờng phải thực hiện công khai kế
hoạch trên các phƣơng tiện thông tin đại chúng, với các tiêu chuẩn rõ ràng về
trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, vị trí công tác, chế độ ƣu tiên, thời gian, địa
điểm tuyển dụng với các hình thức tuyển dụng phù hợp nhƣ xét tuyển hoặc
thi tuyển.
Quá trình sử dụng ĐNGV phải hợp lý, đúng chuyên môn, nghiệp vụ và
vị trí đã dự tuyển, phải chú ý định hƣớng cho ĐNGV hòa nhập tốt với nhà
trƣờng, nhất là những giáo viên mới tuyển dụng, giúp họ làm quen với nhà
trƣờng, giới thiệu với đồng nghiệp và những cộng sự giúp đỡ tập sự, những
việc sẽ đảm nhận. Trong quá trình công tác có thể thực hiện điều động, luân
chuyển giáo viên đảm bảo phù hợp với năng lực sở trƣờng của họ.
1.3.3.3. Đánh giá, sàng lọc đội ngũ giáo viên
Đánh giá giáo viên là một khâu không thể thiếu đƣợc trong quản lý
ĐNGV. Đánh giá giáo viên chịu áp lực của hai loại lợi ích: cá nhân và tập thể,

chính vì vậy việc đánh giá giáo viên phải chính xác, nhằm ủng hộ, thúc đẩy cho
sự phát triển của cá nhân giáo viên và sự phát triển đi lên của nhà trƣờng.
Đánh giá giáo viên phải toàn diện về các mặt phẩm chất, năng lực
chuyên môn, nghiệp vụ sƣ phạm và bằng nhiều kênh nhƣ tự đánh giá, CBQL
các cấp kiểm tra kết quả công tác so với yêu cầu nhiệm vụ của từng vị trí
công tác, đánh giá qua HSHV, qua đồng nghiệp.
Đánh giá giáo viên chính xác làm cơ sở để xây dựng kế hoạch đào tạo,
bồi dƣỡng giáo viên hàng năm đồng thời sử dụng ĐNGV hợp lý nhƣ: bổ
nhiệm, đề bạt, thuyên chuyển, sa thải
1.3.3.4. Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên
Đào tạo, bồi dƣỡng là hoạt động cơ bản và chủ yếu để không ngừng
nâng cao trình độ, năng lực, phẩm chất ngƣời giáo viên. Quá trình đào tạo, bồi
dƣỡng ĐNGV phải phù hợp với kế hoạch phát triển nhân lực của nhà trƣờng.
Đào tạo, bồi dƣỡng ĐNGV bao gồm các hoạt động đào tạo và đào tạo lại, bồi
dƣỡng và tự bồi dƣỡng của các cấp quản lý nhà trƣờng và chính ĐNGV. Do

×