Tải bản đầy đủ (.pdf) (115 trang)

Biện pháp quản lý tăng cường hoạt động tự học của sinh viên Viện Đại học Mở Hà Nội trong bước phát triển hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.36 MB, 115 trang )



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM





DƯƠNG HOÀI VĂN



BIỆN PHÁP QUẢN LÝ TĂNG CƯỜNG HỌAT ĐỘNG TỰ
HỌC CỦA SINH VIÊN VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
TRONG BƯỚC PHÁT TRIỂN HIỆN NAY



TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 60 14 05






HÀ NỘI 2008

LUẬN VĂN ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI





LỜI CẢM ƠN


Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
Ban Chủ nhiệm Khoa, các thầy, cô giáo và cán bộ Khoa Sư phạm - Đại
học Quốc Gia Hà Nội; các thầy giáo, cô giáo đã tham gia quản lý, giảng dạy
trong suốt quá trình học tập và làm luận văn; đặc biệt là PGS.TS Đặng Quốc
Bảo đã giúp đỡ và chỉ dẫn tận tình cho tác giả trong quá trình thực hiện và
hoàn thành luận văn.
Ban Giám hiệu và cán bộ giảng viên Viện Đại học Mở Hà Nội đã tạo
điều kiện cho tác giả hoàn thành khoá học và có những ý kiến đóng góp quý
báu trong quá trình học tập và làm luận văn.
Gia đình và bạn bè tạo mọi điều kiện thuận lợi để tác giả học tập và hoàn
thành luận văn.
Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù đã hết sức cố gắng, song luận văn
không tránh khỏi thiếu sót. Kính mong sự chỉ dẫn và góp ý của các thầy giáo,
cô giáo, các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cám ơn !

Hà Nội - 2008
Tác giả




Dƣơng Hoài Văn











1
MỤC LỤC

Mở đầu
Trang
1. Lý do chọn đề tài
6
2. Mục đích nghiên cứu đề tài
7
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
7
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
7
5. Giả thuyết khoa học
8
6. Phạm vi nghiên cứu
8
7. Phương pháp nghiên cứu
8
8. Cấu trúc luận văn


Chƣơng I: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tự học
10
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
10
1.2. Những vấn đề lý luận về sinh viên
12
1.2.1. Khái niệm "Sinh viên"
12
1.2.2. Đặc điểm tâm lý thanh niên – sinh viên
13
1.2.3. Xu hướng phát triển nhân cách sinh viên
15
1.3. Những vấn đề lý luận về tự học
16
1.3.1. Khái niệm “Tự học”
16
1.3.2. Các hình thức tự học
18
1.3.3. Hoạt động tự học của sinh viên
19
1.3.4. Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động tự học của sinh viên
21
1.3.5. Vai trò của tự học đối với sự phát triển nhân cách của sinh viên
23
1.3.6. Phương pháp dạy – tự học
24
1.4. Một số khái niệm về quản lý
29
1.4.1. Khái niệm “Quản lý”
29

1.4.2. Các chức năng quản lý
30
1.4.3. Quản lý giáo dục
32
1.4.4. Quản lý nhà trường
33
1.4.5. Quản lý quá trình dạy học
34


2
1.4.6. Quản lý hoạt động tự học
35
1.4.7. Các nhân tố tham gia vào quá trình quản lý hoạt động tự học
36
1.4.8. Biện pháp quản lý hoạt động tự học
41
Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động tự học của sinh viên Viện
Đại học Mở Hà Nội
43
2.1. Khái quát về Viện Đại học Mở Hà Nội
43
2.1.1. Quá trình thành lập trường
43
2.1.2. Cơ cấu tổ chức và đội ngũ
43
2.1.3. Ngành nghề đào tạo
44
2.2. Thực trạng hoạt động tự học của sinh viên Viện Đại học Mở Hà Nội
47

2.2.1. Nhận thức của sinh viên về vấn đề tự học
47
2.2.2. Thực trạng các hình thức tự học mà nhà trường đang làm
50
2.2.3. Thực trạng về những yếu tố ảnh hưởng đến việc tự học của sinh viên

54
2.2.4. Thực trạng về kết quả
56
2.3. Thực trạng về công tác quản lý của nhà trường đối với hoạt động
tự học của sinh viên
58
2.3.1. Công tác quản lý của Ban giám hiệu đối với quá trình dạy và
học trong nhà trường
58
2.3.2. Công tác quản lý của cán bộ, giảng viên đối với hoạt động tự
học của sinh viên trong các giờ chính khoá
59
2.3.3. Công tác quản lý của các phòng ban nhà trường đối với hoạt
động tự học của sinh viên
64
2.4. Đánh giá chung
64
Chƣơng 3: Biện pháp quản lý tăng cƣờng hoạt động tự học của
sinh viên Viện Đại học Mở Hà Nội
67
3.1. Một số nguyên tắc lựa chọn biện pháp
67
3.2. Các biện pháp quản lý nhằm tăng cường hoạt động tự học của sinh viên
69

3.2.1. Biện pháp 1 : Nâng cao nhận thức cho mọi lực lượng trong và
ngoài trường, đặc biệt cho sinh viên, về tầm quan trọng của tự học
69


3
3.2.2. Biện pháp 2 : Giúp đỡ cho sinh viên biết kế hoạch hóa thời
gian học tập , có ý chí tự học, tự nghiên cứu
72
3.2.3. Biện pháp 3 : Thúc đẩy giảng viên đổi mới phương pháp dạy
học theo hướng hỗ trợ cho sinh viên hăng hái tự học
74
3.2.4. Biện pháp 4 : Quy định trách nhiệm cụ thể cho các phòng ban
giúp sinh viên có điều kiện thuận lợi trong tự học
82
3.2.5. Biện pháp 5 : Tăng cường sự phối hợp đoàn thể trong trường
nhằm giúp cho sinh viên tự học có kết quả
84
3.2.6. Biện pháp 6 : Hoàn thiện các điều kiện vật chất, tài chính để
sinh viên thuận lợi trong tự học
88
3.3. Mối liên hệ giữa các biện pháp
92
3.4. Thăm dò sự nhận thức tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp
93
Kết luận và khuyến nghị
96
Kết luận
96
Khuyến nghị

98
Phụ lục I
101
Phụ lục II
104
Phụ lục III
106
Tài liệu tham khảo
108


4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1. Nhận thức của sinh viên về vấn đề tự học
48
Bảng 2.2. Tỷ lệ sinh viên tham gia tự học trong giờ học tại lớp
51
Bảng 2.3. Hoạt động tự học ngoài giờ lên lớp
52
Bảng 2.4. ý kiến phản hồi của sinh viên về khó khăn trong tự học
54
Bảng 2.5. Nhu cầu cần được hỗ trợ để thực hiện tự học
55
Bảng 2.6. Sinh viên đề nghị trang bị thêm kỹ năng tự học
55
Bảng 2.7. Đề nghị cải tiến môi trường học

56
Bảng 2.8. Kết quả học tập của sinh viên ngành Hướng dẫn du lịch ;
Quản trị du lịch ; Tin học năm học 2006 – 2007
57
Bảng 2.9. Nhận định của cán bộ giảng viên về hoạt động tự học
của
sinh viên
59
Bảng 3.1. Kiểm chứng tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp
93


5
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã quyết định đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức, tạo nền tảng để đưa nước ta cơ
bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Để
đáp ứng nguồn nhân lực có chất lượng phục vụ cho sự nghiệp Công nghiệp
hóa , hiện đại hóa đòi hỏi chúng ta phải phát triển giáo dục , thực sự coi giáo
dục là quốc sách hàng đầu. Nâng cao chất lượng giáo dục nhằm thực hiện
nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài là nhiệm vụ quan trọng,
thường xuyên là mối quan tâm hàng đầu của các nhà trường. Chất lượng giáo
dục - đào tạo phụ thuộc vào họat động dạy của thày và họat động học của trò.
Trong đó dưới sự tổ chức, lãnh đạo, điều khiển của thầy , trò tự giác, chủ
động, tích cực tự tổ chức quá trình nhận thức nhằm thực hiện các nhiệm vụ
học tập. Tự học – tự đào tạo là con đường phát triển suốt đời của mỗi người,
đó cũng là truyền thống quí báu của dân tộc Việt Nam, được thể hiện qua các
câu thành ngữ , tục ngữ “học một , biết mười”, “ Đi một ngày đàng học một

sàng khôn”, “học thầy không tầy học bạn”…Chất lượng và hiệu quả giáo
dục được nâng lên khi tạo ra được năng lực sáng tạo của người học , khi biến
quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục . Quy mô giáo dục được mở
rộng khi có phong trào toàn dân tự học .
Trong lịch sử giáo dục Việt Nam, vấn đề phát huy tính tích cực độc lập
của cá nhân người học cũng như họat động tự học luôn được quan tâm, đặc
biệt là nền giáo dục XHCN. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy “Về cách học,
phải lấy tự học làm cốt”.
Điều 5 Luật Giáo dục 2005 cũng đã quy định rõ “ Phương pháp giáo
dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người
học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say
mê học tập và ý chí vươn lên”.
Là một Đại học đa ngành nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, Viện
Đại học Mở Hà Nội đã có nhiều cố gắng nhằm nâng cao chất lượng đào tạo


6
nói chung, chất lượng dạy và học nói riêng. Tuy nhiên chất lượng học tập của
sinh viên còn nhiều hạn chế không đạt được kết quả như mong đợi. Tỉ lệ sinh
viên khá, giỏi còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của thị
trường lao động. Sinh viên vẫn còn thờ ơ với việc trang bị tri thức, lười đọc
sách, lười tìm kiếm tri thức…việc học tập còn mang tính chiếu lệ, sinh viên
chưa có được những phương pháp và kỹ năng học tập ở bậc đại học nên khả
năng tư duy, tự nghiên cứu, tự tìm tòi kiến thức còn rất yếu ; về vấn đề đổi
mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, sáng tạo, nâng
cao năng lực tự học cho sinh viên chưa được thực hiện đồng bộ, chưa thường
xuyên ; công tác quản lí, tổ chức của trường đối với hoạt động tự học của sinh
viên chưa được quan tâm đúng mức; số lượng giáo viên cơ hữu của trường
còn ít, đa phần là giáo viên thỉnh giảng…. Với tất cả những nguyên nhân nói
trên đã phần nào ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên còn thấp.

Chính vì vậy, việc tìm ra biện pháp tổ chức, quản lý hoạt động tự học
của sinh viên Viện Đại học Mở Hà Nội là một nhiệm vụ cấp thiết đối với
nhà trường trong giai đoạn hiện nay. Với những lý do nêu trên, chúng tôi
chọn đề tài :“ Biện pháp quản lý tăng cường hoạt động tự học của sinh
viên Viện Đại học Mở Hà Nội trong bước phát triển hiện nay.”
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất một số biện pháp
quản lý tăng cường hoạt động tự học nhằm nâng cao kết quả hoạt động tự học
của sinh viên Viện Đại học Mở Hà Nội.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Hoạt động tự học của sinh viên .
- Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp quản lý hoạt động tự học của
sinh viên Viện Đại học Mở Hà Nội.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài
- Nghiên cứu, khảo sát thực trạng hoạt động tự học, các biện pháp quản
lý tăng cường hoạt động tự học của sinh viên Viện Đại học Mở Hà Nội.


7
- Đề xuất các biện pháp tăng cường hoạt động tự học của sinh viên,
khảo nghiệm các biện pháp quản lý nhằm khẳng định tính cấp thiết và tính
khả thi của các biện pháp để nâng cao kết quả hoạt động tự học cuả sinh viên
Viện Đại học Mở Hà Nội.
5. Giả thuyết khoa học
Hiện nay hoạt động tự học của sinh viên Viện Đại học Mở Hà Nội còn
hạn chế. Thực trạng này do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan.
Nguyên nhân chủ quan là do sinh viên còn thiếu ý chí và nỗ lực ; nguyên nhân
khách quan là do công tác quản lý còn thiếu các tác động thích hợp. Nếu đề
xuất và áp dụng các biện pháp quản lý tăng cường hoạt động tự học của sinh

viên bao quát từ việc kế hoạch đến tổ chức, kiểm tra (bao quát được động cơ
nội lực của sinh viên, môi trường và có sự định hướng quản lí) thì chất lượng
hoạt động học tập của sinh viên sẽ được nâng cao và mục tiêu của nhà trường
sẽ được thực hiện tốt hơn.
6. Phạm vi nghiên cứu
Vì hạn chế về nguồn lực và thời gian, trong luận văn này chúng tôi chỉ
tập trung nghiên cứu đối với sinh viên chính quy hiện đang theo học tại Khoa
Du lịch và Khoa Tin học - Viện Đại học Mở Hà Nội (200 sinh viên hiện đang
học các năm thứ 2, thứ 3 và thứ 4) và nghiên cứu biện pháp quản lý tăng
cường hoạt động tự học của nhà trường.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu, phân tích tổng
hợp những tư liệu như: tư liệu về giáo dục học – tâm lý học, lý luận về quản
lý giáo dục, các văn bản về sinh viên.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp quan sát,
phương pháp điều tra bảng hỏi, phương pháp tổng kết kinh nghiệm,
phương pháp chuyên gia.
- Nhóm các phương pháp xử lý số liệu: Sử dụng các công thức toán học
như trung bình cộng, tính tổng số
8. Cấu trúc luận văn


8
Luận văn gồm 108 trang ; ngoài phần mở đầu, kết luận , khuyến nghị , tài liệu
tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn dự kiến trình bày trong 3 chương :
- Chương 1 : Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tự học
- Chương 2 : Thực trạng quản lý hoạt động tự học của sinh
viên Viện Đại học Mở Hà Nội
- Chương 3 : Biện pháp quản lý tăng cƣờng hoạt động tự học
của sinh viên Viện Đại học Mở Hà Nội



























CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC

1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu



9
1.1.1. Từ xưa việc học tập vẫn luôn được xem trọng. Đó chính là con
đường quan trọng trong việc tu dưỡng, rèn luyện, ý chí, khả năng; là con
đường lập thân, lập nghiệp. Trên con đường học tập đó, bao giờ vấn đề tự học
cũng được xem trọng. Tự học trong học tập là vô cùng cần thiết. Chính tự học
mới giúp người học biến tri thức tiếp thu thành tri thức của chính bản thân
mình. Tự học xây nền móng tri thức vững chắc, tạo sự liên kết hơp lý trong hệ
thtống kiến thức, giúp việc tiếp tục học tập được thuận lợi, dễ dàng và kiến
thức được phát triển bền vững theo chiều rộng lẫn chiều sâu.
Khổng Tử (551 - 479 trCN), nhà tư tưởng nổi tiếng và nhà sư phạm vĩ
đại của Trung Quốc, về phương pháp giáo dục ông đã đề cao việc tự học, tự
luyện, tu nhân, chú trọng phát huy mặt tích cực, sáng tạo, năng lực nội sinh.
Khổng Tử thường chú ý việc dạy sát đối tượng, kết hợp học và hành, lý thuyết
gắn liền với thực tiễn, chủ trương phát triển hứng thú, động cơ ý chí của
người học. Đề cập đến vấn đề học tập, Khổng Tử xác định "Học nhi thời tập
chí", việc học tập theo ông phải gắn liền với thực hành để thông suốt được
những điều đã học. Ông đề cập và nhấn mạnh mối quan hệ tác động giữa việc
học tập và tư duy trong học tập, cho đó là hai yếu tố ràng buộc không thể
thiếu của một vấn đề: "Học nhi bất tư tắc vong, tư nhi bất học tắc đãi". Ông
cho rằng học mà không nghĩ thì mờ tối, nghĩ mà không học thì khó nhọc, mất
công. Do vậy, với ông việc học tập và tự học là cần thiết và gắn bó mật thiết
với nhau. Cho nên để đạt hiệu quả trong học tập, Khổng Tử khuyên người học
cần chú ý đến thực hành, tự học, tự suy nghĩ và nghiên cứu. Vấn đề này trong
luận ngữ đã có triển khai sâu sắc, cụ thể hơn và cũng đã phát triển thành tư
tưởng quan niệm "Biết mà học, thích mà học, vui say mà học". Các nhà giáo
dục Phương Tây cũng đã nhấn mạnh về việc phát huy khả năng và hiệu quả
học tập của người học từ ý thức tự giác học, thực hành suy luận, nghiên cứu,
tìm tòi, khám phá.

Từ những phần đã trình bày, chúng ta thấy tuy vẫn còn có một số khác
biệt trong nhận định của các nhà giáo dục về vai trò và biện pháp thực hiện
giáo dục nhưng tất cả đều có sự thống nhất trên quan niệm đánh giá cao về vai


10
trò tự giác trong học tập của người học. Các ý kiến cũng xác định động lực
của tự học được hình thành từ tình cảm, từ ý thức của người học. Nhà trường,
gia đình, môi trường chung là những yếu tố có khả năng tác động để giúp cho
nhu cầu này được hình thành, phát triển và nâng cao. Nhà trường bao giờ
cũng đóng vai trò khơi gợi, hình thành phát triển và nâng cao ý thức tự học.
Do vậy, với các nhà giáo dục trước đây, xây dựng biện pháp hiệu quả trong
quản lý giáo dục nhằm nâng cao hoạt động tự học cho người học là một việc
làm quan trọng và cần thiết.
1.1.2. Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến vấn đề giáo dục, vấn đề
học tập và rèn luyện. Có nhiều bài phát biểu, bài viết trong những thời điểm,
hoàn cảnh lịch sử khác nhau nhưng bao giờ Bác cũng nhấn mạnh đến tác
dụng và hiệu quả to lớn của việc học tập và rèn luyện. Bác cho rằng học tập
giúp con người tiến bộ, nâng cao phẩm chất, mở rộng hiểu biết, làm thay đổi
hiệu quả lao động. Đặc biệt, Bác rất nhấn mạnh đến tác dụng của tự học. Tại
Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất về công tác huấn luyện và học tập khai mạc
ngày 6 tháng 5 năm 1950 Bác đã khuyên học viên " Không phải có thầy thì
học, thầy không đến thì đùa. Phải biết tự động học tập". Trong công tác
huấn luyện cán bộ, Bác cũng nhắc nhở về cách học tập : “Lấy tự học làm cốt.
Do thảo luận và chỉ đạo góp vào " [25, 226]. Như vậy, theo Bác việc tự học
giữ vai trò rất quan trọng, có tác dụng quyết định cho kết quả học tập. Việc tự
học phải xuất phát từ động lực thôi thúc của chính bản thân người học, nhưng
vẫn cần sự hỗ trợ, tác động từ môi trường học tập, cần sự chỉ đạo hướng dẫn
của nhà trường, của người thầy.
Các văn bản của Nghị quyết Trung ương II khoá VIII, Nghị quyết đại

hội Đảng lần thứ X, Luật Giáo dục trước đây và hiện nay cũng đã xác định rất
rõ về vai trò quan trọng của việc tự học trong học sinh, sinh viên. Thông tư số
36/TT - GD ngày 8 tháng 11 năm 1980 của Bộ Giáo dục quy định chế độ đối
với cán bộ ngành giáo dục đang làm công tác quản lý, chỉ đạo và nghiên cứu
ở các cơ quan, trường học tham gia công tác đào tạo đã nêu: "Khuyến khích
cán bộ có ý thức học tập nghiên cứu nâng cao trình độ chuyên môn, tiếp cận


11
với kiến thức khoa học hiện đại của thế giới, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi
cho cán bộ hiểu được tình hình thực tế của công tác đào tạo, từ đó có những
suy nghĩa biện pháp tốt hơn trong công tác quản lý, chỉ đạo và nghiên cứu".
1.1.3. Những công trình nghiên cứu gần đây
Trong những năm gần đây, có nhiều công trình nghiên cứu về tự học
của các học giả, các nhà nghiên cứu giáo dục như Đặng Vũ Hoạt, Hà Thế
Ngữ, Tạ Quang Bửu, Nguyễn Cảnh Toàn, Phan Trọng Luận, Nguyễn Ngọc
Bảo, Thái Duy Tuyên, Hà Thị Đức,… Những công trình nghiên cứu này đều
xác nhận vai trò thiết yếu của tự học trong quá trình học tập và rèn luyện để
hội nhập. Những công trình nghiên cứu này cũng đã đề cập đến những biện
pháp hiệu quả trong vấn đề quản lý và đầu tư nâng cao chất lượng tự học, xác
định những yêu cầu cơ bản để tiến hành và thực hiện việc tự học. Đặc biệt,
các công trình nghiên cứu đều quan tâm đến những yêu cầu đổi mới phương
pháp dạy và học, cải tiến khung chương trình đối với nội dung phù hợp, điều
chỉnh hợp lý giữa thời gian và tự học, bổ sung, trang bị phương tiện học tập
hiệu quả. Một trong những cải tiến quan trọng đó vẫn nhằm vào việc tạo ra
hiệu quả tự học bằng việc nhà trường tạo nên những kích thích huấn luyện
tinh thần, thái độ và quyết tâm tự học cho người học.
Các đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ trong những năm gần đây thuộc
ngành quản lý giáo dục cũng đã đề cập đến vấn đề tự học, tự nghiên cứu của
học sinh, sinh viên trong từng hoàn cảnh nhà trường cụ thể, của từng môi

trường đào tạo ngành nghề chuyên biệt. Những luận văn này đã đóng góp
trong các công tác quản lý của nhà trường với hoạt động tự học nói riêng và
của giáo dục nói chung.
1.2. Những vấn đề lý luận về sinh viên
1.2.1. Khái niệm “Sinh viên”
Thuật ngữ "Sinh viên" có nguồn gốc từ tiếng La tinh "students" có
nghĩa là người làm việc học tập nhiệt tình, hăng say, người tìm kiếm khám
phá kho tàng tri thức của nhân loại. Nó được dùng cùng nghĩa với từ "student"


12
của tiếng Anh để chỉ những người đang theo học ở bậc đại học, cao đẳng và
để phân biệt với học sinh các trường phổ thông.
Khái niệm sinh viên được dùng rộng rãi với nghĩa: Sinh viên là đại biểu
của một nhóm xã hội đặc biệt gồm những người đang trong quá trình chuẩn
bị tri thức, nghề nghiệp, để trở thành các chuyên gia hoạt động, lao động
trong một lĩnh vực nhất định thuộc các ngành kinh tế, văn hoá, xã hội [14,20]
X.L Rubinstein quan niệm: "Sinh viên là đại biểu của một nhóm xã hội
đặc biệt được đào tạo trong các trường Đại học, Cao đẳng để chuẩn bị cho
hoạt động lao động và sản xuất vật chất cho xã hội. Nhóm sinh viên rất cơ
động tổ chức theo một mục đích xã hội nhất định nhằm chuẩn bị thực hiện vai
trò xã hội với trình độ nghề nghiệp cao trong các lĩnh vực xã hội. Sinh viên là
nguồn lực bổ xung cho đội ngũ tri thức được đào tạo trở thành những người
lao động có tay nghề cao, tham gia hoạt động xã hội tích cực" [29,90].
Từ khái niệm trên, ta có thể hiểu: Sinh viên Việt Nam là những người
đang học tập tại các trường Đại học, Cao đẳng trong và ngoài nước nhằm
đáp ứng nguồn lao động có tri thức, có tay nghề cao đáp ứng nguồn nhân lực
cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Sinh viên Việt Nam có những đặc điểm sau:
- Là những người đã tốt nghiệp PTTH hoặc bổ túc văn hoá hoặc THCN

có lứa tuổi từ 18 - 23 được trang bị đầy đủ hệ thống những tri thức khoa học
phổ thông cơ bản hiện đại.
- Đây là lớp người có sức khoẻ, nhạy bén, năng động, tiếp thu nhanh,
nhận thức của họ rất phát triển, biết kế thừa và phát huy truyền thống văn hoá
của dân tộc và của nhân loại.
- Có xu hướng tích cực hoá xã hội, có tính tự lập, độc lập và tự giác
cao, có nhu cầu tự khẳng định, tự đánh giá toàn diện về bản thân mình.
- Đối với xã hội đây là nhóm người được quan tâm đặc biệt vì họ là thế
hệ tương lai của đất nước, là thế hệ cách mạng cho đời sau.
1.2.2. Đặc điểm tâm lý thanh niên - sinh viên


13
Sinh viên là một nhóm xã hội đặc biệt đang trong quá trình chuẩn bị
tích luỹ tri thức nghề nghiệp để trở thành các chuyên gia giỏi hay những
người lao động có tay nghề cao đáp ứng nguồn nhân lực có trí tuệ phục vụ
cho sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Nhóm xã hội này thuộc lứa tuổi
từ 18 - 23 tuổi.
* Về mặt sinh lý:
Sự phát triển cơ thể đã hoàn chỉnh và ổn định. Hệ thần kinh cao cấp đã đạt
đến mức trưởng thành. Nhiều yếu tố bẩm sinh di truyền được phát triển cao dưới
những điều kiện môi trường sống và môi trường giáo dục. Khả năng hoạt động
trí tuệ của sinh viên vượt xa hoạt động trí tuệ của học sinh phổ thông.
* Về mặt tâm lý:
- Một đặc điểm tâm lý quan trọng của lứa tuổi này là sự phát triển tự ý
thức. Tự ý thức là một loại đặc biệt của ý thức có chức năng điều chỉnh nhận
thức và thái độ đối với bản thân. Đó là quá trình tự quan sát, tự phân tích, tự
kiểm tra, tự đánh giá về hoạt động và kết quả tác động của bản thân, về tư
tưởng, tình cảm, phong cách, đạo đức, hứng thú vv là sự đánh giá toàn diện
về chính bản thân và vị trí của mình trong cuộc sống. Tự ý thức chính là điều

kiện để phát triển và hoàn thiện nhân cách, hướng nhân cách theo các yêu cầu
của xã hội.
- Sự phát triển trí tuệ ở giai đoạn này được đặc trưng bởi sự nâng cao
năng lực trí tuệ, phát triển tư duy sâu sắc, sinh viên có khả năng giải quyết
những nhiệm vụ trí tuệ ngày một khó khăn, sinh viên có tiến bộ rõ rệt trong
lập luận logic, trí tưởng tượng, khả năng hình thành ý tưởng trừu tượng, khả
năng phán đoán. Nhu cầu hiểu biết về học tập được nâng cao.
- Về mặt tình cảm: Là thời kỳ sinh viên có nhiều xúc cảm, nhiều tình
huống mới nảy sinh đòi hỏi sinh viên phải có những phán đoán, những quyết
định chín chắn.
* Về mặt xã hội:
Sinh viên có nhu cầu mở rộng mối quan hệ xã hội, quan tâm nhiều đến
việc phát triển kỹ năng mới, cách ứng xử mới, tác phong đĩnh đạc để đối diện


14
với môi trường xã hội ngày một mở rộng. Sinh viên đã quan tâm tới kế hoạch
đường đời, tự xác định và lựa chọn nghề nghiệp cho mình.
Đây là giai đoạn chuyển từ sự chín muồi về thể lực sang trưởng thành
về phương diện xã hội, là giai đoạn hình thành và ổn định tính cách, đặc biệt
họ có vai trò xã hội của người lớn. Sinh viên bắt đầu có kế hoạch riêng cho
hoạt động của mình và độc lập trong phán đoán và hành vi. Họ xác định con
đường sống tương lai, tích cực nắm vững nghề nghiệp và bắt đầu thể nghiệm
mình trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Điều đó có nghĩa là sinh viên bắt đầu
có tính độc lập, tính tự lập và tính tự quản cao.
1.2.3. Xu hƣớng phát triển nhân cách sinh viên
* Sự phát triển nhân cách của sinh viên là một quá trình biện chứng của sự
nảy sinh và giải quyết các mâu thuẫn, là quá trình chuyển từ các yêu cầu bên
ngoài thành yêu cầu của bản thân sinh viên và là quá trình tự vận động và hoạt
động tích cực của chính bản thân người sinh viên. Các mâu thuẫn chính là :

+ Mâu thuẫn giữa ước mơ của sinh viên với khả năng, điều kiện và
kinh nghiệm để thực hiện ước mơ đó.
+ Mâu thuẫn giữa mong muốn học tập chuyên sâu những môn học phù
hợp với sở thích và yêu cầu thực hiện toàn bộ chương trình.
+ Mâu thuẫn giữa số lượng thông tin dội vào sinh viên vô cùng phong
phú với khả năng, điều kiện để xử lý thông tin.
* Sự phát triển nhân cách của sinh viên được diễn ra theo các hướng cơ
bản sau :
+ Niềm tin, xu hướng nghề nghiệp, các năng lực cần thiết được củng cố
và phát triển.
+ Các quá trình tâm lý, đặc biệt là quá trình nhận thức được "nghề
nghiệp hoá".
+ Tình cảm, nghĩa vụ, tinh thần trách nhiệm, tính độc lập được nâng
cao, cá tính và lập trường sống của sinh viên được bộc lộ rõ nét.
+ Kỳ vọng đối với nghề nghiệp tương lai của sinh viên được phát triển.


15
+ Sự trưởng thành về mặt xã hội, tinh thần và đạo đức, những phẩm chất
nghề nghiệp và sự ổn định chung về mặt nhân cách của sinh viên được phát triển.
+ Khả năng tự giáo dục của sinh viên được nâng cao.
+ Tính độc lập và sẵn sàng đối với hoạt động nghề nghiệp tương lai
được củng cố.
Tóm lại, lứa tuổi sinh viên là giai đoạn đã phát triển các yếu tố về sinh
lý, những đặc điểm tâm lý và xã hội. Họ là những người đã trưởng thành cả
về mặt thể chất, nhận thức và tâm lý. Thời kỳ này sinh viên đã phát triển tính
tự ý thức, tự giác, tích cực, tính tự lập, tự quản cao nhằm thực hiện những kế
hoạch và dự định của bản thân. Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, sinh viên có
thể chủ động, tích cực và tự giác tự học, tự nghiên cứu đạt kết quả.
1.3. Những vấn đề lý luận về tự học

1.3.1. Khái niệm “Tự học”
Có nhiều tác giả nghiên cứu về tự học, mỗi tác giả có những quan điểm
khác nhau, sau đây là một số quan điểm :
Thông thường khái niệm "Tự học" được hiểu là "Tự học lấy một mình
trong sách chứ không có thầy dạy" (Theo Thanh Nghị, trong Việt Nam tân từ
điển), cũng có thể hiểu là "Tự đi tìm lấy kiến thức có nghĩa là tự học".
Tuy nhiên, theo tác giả Nguyễn Hiến Lê, trong quyển "Tự học, một nhu
cầu thời đại" ông lại cho rằng khái niệm "Tự học" nếu được hiểu là "không ai
bắt buộc mà mình tự tìm tòi, học hỏi để hiểu biết thêm" và có thầy hay không,
ta không cần biết. Người tự học hoàn toàn làm chủ mình, muốn học môn nào
tuỳ ý, muốn học lúc nào cũng được, đó mới là điều kiện quan trọng”, ông
cũng trích dẫn để làm rõ hơn về khái niệm và tầm quan trọng của tự học "mỗi
người đều nhận hai thứ giáo dục: Một thứ, do người khác truyền cho, một thứ
quan trọng hơn nhiều, do mình tự kiếm lấy". [23, 39].
Theo tác giả Phạm Viết Vượng thì "Tự học là hình thức học ngoài giờ
lên lớp bằng nỗ lực cá nhân theo kế hoạch học tập chung và không có mặt
trực tiếp của giáo viên. Tự học thường được tiến hành tại gia đình hay thư
viện, cách học là hoàn toàn độc lập theo phương pháp tự nghiên cứu. Nội


16
dung công việc tự học và học bài cũ, chuẩn bị bài mới và làm các bài tập vận
dụng kiến thức, làm các bài tập sáng tạo khác". [35, 33].
Theo tác giả Nguyễn Đức Trí thì "Tự học" là "Hoạt động độc lập, chủ
yếu mang tính chất cá nhân của học sinh, sinh viên trong quá trình nhận thức
học tập để cải biến nhân cách, nó vừa là phương tiện, vừa là mục tiêu của
quá trình đào tạo nói chung ở nhà trường. Có hai loại tự học là tự học trong
giờ lên lớp và tự học ngoài giờ. Hoạt động tự học của học sinh, sinh viên
trong giờ lên lớp thường được thực hiện dưới sự hướng dẫn của giảng viên
bộ môn như là một bộ phận, một bước, một hình thức tổ chức của quá trình

dạy học. Hoạt động tự học ngoài lớp có thể được thực hiện ở ký túc xá hoặc ở
nhà, theo cá nhân hoặc theo nhóm. Đây là hoạt động chủ yếu của sinh viên
sau giờ lên lớp, được hướng dẫn hoặc tự phát nhưng rất cần được tổ chức và
quản lý chặt chẽ để đảm bảo chất lượng dạy học và giáo dục" [33, 49].
Theo tác giả Lê Khánh Bằng: "Tự học (self learning) là tự mình suy
nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ, các phẩm chất tâm lý để chiếm lĩnh một
lĩnh vực khoa học nhất định". [3]
Theo tác giả Nguyễn Văn Đạo: "Tự học phải là công việc tự giác của
mỗi người do nhận thức được đúng vai trò quyết định của nó đến sự tích luỹ
kiến thức cho bản thân, cho chất lượng công việc mình đảm nhiệm, cho sự
tiến bộ của xã hội". [10,11]
Theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn: "Tự học - là tự mình động não, suy
nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp )
và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình,
rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung
thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại,
lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi vv ) để
chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó
thành sở hữu của mình". [31,621]
Từ những quan điểm về tự học nêu trên, chúng tôi đi đến định nghĩa về
tự học như sau: Tự học là quá trình cá nhân người học tự giác, tích cực, độc


17
lập tự chiếm lĩnh tri thức ở một lĩnh vực nào đó trong cuộc sống bằng hành
động của chính mình nhằm đạt được mục đích nhất định.
1.3.2. Các hình thức tự học
Hoạt động tự học diễn ra dưới nhiều hình thức và mức độ khác nhau:
- Hình thức 1: Cá nhân tự mày mò theo sở thích và hứng thú độc lập
không có sách và sự hướng dẫn của giáo viên.

Hình thức này gọi là tự nghiên cứu của các nhà khoa học. Kết quả của
quá trình nghiên cứu đi đến sự sáng tạo và phát minh ra các tri thức khoa học
mới, đây thể hiện đỉnh cao của hoạt động tự học. Dạng tự học này phải được
dựa trên nền tảng một niềm khảo sát, say mê khám phá tri thức mới và đồng
thời phải có một vốn tri thức vừa rộng vừa sâu. Tới trình độ tự học này người
học không thầy, không sách mà chỉ cọ xát với thực tiễn vẫn có thể tổ chức có
hiệu quả hoạt động tự học của mình.
- Hình thức 2: Tự học có sách nhưng không có giáo viên bên cạnh.
Ở hình thức tự học này có thể diễn ra ở hai mức:
+ Tự học theo sách mà không có sự hướng dẫn của thầy:
Trường hợp này người học tự học để hiểu, để thấm các kiến thức trong
sách qua đó sẽ phát triển về tư duy. Tự học hoàn toàn với sách là cái đích mà
mọi người phải đạt đến để xây dựng một xã hội học tập suốt đời.
+ Tự học có thầy ở xa hướng dẫn:
Mặc dù thầy ở xa những vẫn có các mối quan hệ trao đổi thông tin giữa
thầy và trò bằng các phương tiện trao đổi thông tin thô sơ hay hiện đại dưới
dạng phản ánh và giải đáp các thắc mắc, làm bài, kiểm tra, đánh giá
- Hình thức 3: Tự học có sách, có thầy giáp mặt một số tiết trong ngày
sau đó sinh viên về nhà tự học dưới sự hướng dẫn gián tiếp của giáo viên.
+ Trong quá trình học tập trên lớp, thầy với vai trò là nhân tố hỗ trợ, là
chất xúc tác thúc đẩy và tạo điều kiện để trò tự chiếm lĩnh tri thức. Trò với vai
trò là chủ thể của quá trình nhận thức: tự giác, tích cực, say mê, sáng tạo tham
gia vào quá trình học tập. Mối quan hệ giữa thầy và trò chính là mối quan hệ


18
giữa Nội lực và Ngoại lực. Ngoại lực dù quan trọng đến mấy cũng chỉ là chất
xúc tác thúc đẩy Nội lực phát triển.
+ Trong quá trình tự học ở nhà, tuy người học không giáp mặt với thầy
nhưng dưới sự hướng dẫn gián tiếp của thầy, người học phải phát huy tính

tích cực, tự giác, chủ động tự sắp xếp kế hoạch huy động mọi trí tuệ và kỹ
năng của bản thân để hoàn thành những yêu cầu do giáo viên đề ra. Tự học
của người học theo hình thức này liên quan trực tiếp với yêu cầu của giáo
viên, được giáo viên định hướng về nội dung, phương pháp tự học để người
học thực hiện. Như vậy, ở hình thức tự học thứ 3 này quá trình tự học của
sinh viên có liên quan chặt chẽ với quá trình dạy học, chịu sự tác động của
nhiều yếu tố trong đó có yếu tố tổ chức và quản lý quá trình dạy học của giáo
viên và quá trình tự học của sinh viên.
Do mục đích và nội dung nghiên cứu, đề tài chủ yếu tập trung nghiên
cứu biện pháp quản lý tăng cường hoạt động tự học của sinh viên trong và
ngoài giờ lên lớp dưới sự hướng dẫn của giáo viên trong quá trình dạy học
nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ở Viện Đại học Mở Hà Nội.
1.3.3. Hoạt động tự học của sinh viên
* Đặc điểm hoạt động tự học của sinh viên
Sinh viên là đối tượng đã có ý thức phát triển, được trang bị những kiến
thức cơ bản có khả năng thực hiện hoạt động tự học, tự nghiên cứu, tự lĩnh
hội tri thức. Khả năng tư duy của sinh viên đã phát triển ở mức độ cao. Quá
trình học tập của sinh viên khác với quá trình học tập của học sinh phổ thông.
Những tri thức mà sinh viên lĩnh hội được chủ yếu liên quan tới lĩnh vực nghề
nghiệp, sinh viên bắt đầu tập dượt nghiên cứu tài liệu, nghiên cứu các vấn đề
khoa học, nó cao hơn và phức tạp hơn so với quá trình học tập của học sinh phổ
thông. Chính vì vậy, trong quá trình học tập sinh viên phải có tính tích cực, độc
lập rất cao mới có thể tiếp cận và làm quen với phương pháp học tập mới.
Nét đặc trưng cơ bản trong hoạt động học tập của sinh viên là sự tập
trung căng thẳng về trí tuệ, sự hứng thú, say mê về cảm xúc và thái độ đúng
đắn trong học tập. Hoạt động tự học của sinh viên có vai trò quan trọng quyết


19
định tới quá trình nhận thức, nó mang đầy đủ những đặc trưng cơ bản của

hoạt động tự học nói chung, đó là quá trình sinh viên tự giác, tự lực, tích cực
dưới sự hướng dẫn của giáo viên để sinh viên có thể chiếm lĩnh những tri thức
khoa học ở một lĩnh vực chuyên môn nào đó bằng hành động của chính mình
nhằm đạt được mục tiêu đào tạo. Thực chất hoạt động tự học của sinh viên
chính là bản thân sinh viên tự giác, tích cực tham gia vào hoạt động nhận
thức, sinh viên huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lý, chức năng tư
duy trong quá trình lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo.
* Các hình thức tự học của sinh viên
Trong quá trình dạy học, sinh viên tiến hành hoạt động tự học dưới
nhiều hình thức khác nhau:
- Tự học dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên trong quá trình dạy
học trên lớp.
- Tự học ngoài giờ lên lớp dưới sự điều khiển và hướng dẫn gián tiếp của
giáo viên thông qua các bài tập nhận thức mà giáo viên cho sinh viên thực hiện.
- Tự học hoàn toàn độc lập theo hứng thú và sở thích riêng của bản thân
sinh viên mà không có sự hướng dẫn và điều khiển của giáo viên, những tri
thức đó nằm ngoài chương trình đào tạo của nhà trường.
Tất cả các hình thức tự học trên của sinh viên đều nhằm mục đích chiếm
lĩnh, lĩnh hội những tri thức mới, làm giầu thêm vốn tri thức của bản thân.
* Hoạt động tự học của sinh viên diễn ra theo các mức độ khác nhau
- Ở giai đoạn đầu sinh viên tiến hành hoạt động tự học một cách thụ
động, miễn cưỡng, gò bó. Sinh viên ít chủ động, tự giác, tích cực tham gia
vào hoạt động tự học nếu không có sự kiểm tra, giám sát, thúc dục của giáo
viên và các lực lượng giáo dục khác. Đây là giai đoạn đầu tiên của hoạt động
tự học, sinh viên chưa phát huy được tính tự giác, tích cực trong học tập, học
theo kiểu gò ép, đối phó do vậy kết quả học tập của sinh viên bị hạn chế.
- Đến một giai đoạn nhất định khi bản thân sinh viên đã tích luỹ được
một lượng kiến thức nhất định, khả năng tư duy của sinh viên phát triển ở
mức độ cao hơn. Ở giai đoạn này những tri thức bản thân sinh viên tích luỹ



20
được đã đủ sức trở thành những công cụ, những phương tiện phục vụ đắc lực
cho việc tiếp thu những tri thức khoa học mới. Lúc này sinh viên đã có đầy đủ
năng lực để tự học, tự nghiên cứu trong quá trình học tập, dần dần thông qua
hoạt động tự học sẽ hình thành cho sinh viên niềm tin, sự say mê vào khả
năng tự học của mình, sinh viên sẽ tích cực tham gia vào hoạt động tự học với
tinh thần tự giác cao nhất mà không cần một ai nhắc nhở.
Qua những vấn đề nêu trên, ta thấy hoạt động tự học của sinh viên có
phạm vi rất rộng, từ việc tự học ở trên lớp dưới sự hướng dẫn, tổ chức, điều
khiển của giáo viên, tự học ngoài giờ lên lớp dưới sự hướng dẫn, điều khiển
gián tiếp của giáo viên hay việc tự học hoàn toàn độc lập theo sở thích, hứng
thú của bản thân. Tất cả các hình thức đó đều nhằm mục đích lĩnh hội tri thức,
kỹ năng, kỹ xảo cho bản thân sinh viên.
1.3.4. Các yếu tố ảnh hƣởng tới hoạt động tự học của sinh viên
Hoạt động tự học của sinh viên không tách rời các điều kiện tác động,
bao gồm hai yếu tố chính: Yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan.
* Yếu tố khách quan
Yếu tố khách quan là những yếu tố tác động từ bên ngoài bao gồm:
- Đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước, Bộ GD&ĐT, các nghị
quyết, các chỉ thị, các thông tư, hướng dẫn có liên quan tới quá trình giáo
dục - đào tạo của thầy và trò nhà trường.
- Nội dung, chương trình đào tạo của nhà trường.
- Phương pháp giảng dạy của giáo viên nhằm phát huy tính tích cực,
độc lập, tự giác học tập của người học.
- Các điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị phục vụ cho
hoạt động dạy và học của thầy và trò nhà trường.
- Thời gian dành cho tự học: Hoạt động tự học đòi hỏi phải có quỹ thời
gian phù hợp do vậy sinh viên phải bố trí kế hoạch tự học thật phù hợp và
khoa học mới đảm bảo quá trình tự học đạt hiệu quả.

- Tổ chức, quản lý sinh viên tự học: Mặc dù hoạt động tự học của sinh
viên mang tính tự giác, độc lập cao nhưng cũng không thể tách rời công tác tổ


21
chức, quản lý. Để nâng cao tính tích cực, tự giác học tập của sinh viên, các
trường đã tiến hành đổi mới phương pháp giảng dạy, thực hiện nghiêm túc
quy chế thi và kiểm tra, quản lý nghiêm túc và chặt chẽ giờ tự học của sinh
viên, thực hiện nghiêm túc quy chế đánh giá kết quả học tập và rèn luyện của
SV, đổi mới công tác thi đua khen thưởng, chế độ học bổng vv nhằm
khuyến khích, động viên sinh viên tích cực, tự giác tự học.
- Các yếu tố của môi trường xã hội bên ngoài cũng có nhiều ảnh hưởng tới
hoạt động tự học của sinh viên như vấn đề tìm việc làm sau khi ra trường vv
- Sự tác động của gia đình như sự quan tâm của các bậc bố mẹ, truyền
thống học tập của gia đình đều có ảnh hưởng không nhỏ tới ý thức tự học
của sinh viên.
* Yếu tố chủ quan
Các yếu tố chủ quan (yếu tố bên trong) quyết định trực tiếp đến kết quả
của hoạt động tự học. Trong quá trình tự học yếu tố "nội lực" của cá nhân
người học là yếu tố cơ bản nhất quyết định chất lượng và hiệu quả của hoạt
động tự học. Sự trợ giúp của yếu tố "ngoại lực" chỉ có tác dụng hỗ trợ và kích
thích các yếu tố "nội lực" phát triển.
Đối với sinh viên để hoạt động tự học và nghiên cứu đạt kết quả cao
đòi hỏi bản thân sinh viên phải trang bị cho mình một hệ thống kiến thức cơ
bản, hệ thống các kỹ năng tự học, nắm bắt và sử dụng thành thạo các phương
pháp tự học hiện có.
"Nội lực" tự học của sinh viên bao gồm:
- Những yếu tố chủ quan với tư cách là thành phần cấu trúc của hoạt
động tự học như: Nhận thức tự học, thái độ tự học, các kỹ năng tự học.
- Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động tự học với tư cách là tiềm năng tự

học của sinh viên như: Yếu tố bẩm sinh di truyền, vốn tri thức cơ bản phong
phú ban đầu và một số kỹ năng tự học ban đầu nhất định.
- Yếu tố về sức khoẻ của cá nhân: Hoạt động tự học là hoạt động căng
thẳng mất nhiều năng lượng thần kinh do vậy hoạt động này đòi hỏi sinh viên
phải có sức khoẻ tốt thì mới đảm bảo cho hoạt động tự học đạt hiệu quả.


22
Tóm lại: Hoạt động tự học của sinh viên chịu ảnh hưởng của nhiều yếu
tố tham gia chi phối. Các yếu tố chủ quan với tư cách là thành phần cấu trúc
của hoạt động tự học đóng vai trò cốt lõi. Các yếu tố khách quan cũng có vai
trò quan trọng chi phối hoạt động tự học, là chất xúc tác, chất kích thích mạnh
mẽ thúc đẩy sự cố gắng, ý chí quyết tâm của người học, giúp sinh viên đạt kết
quả cao trong hoạt động tự học. Nắm được các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt
động tự học của sinh viên sẽ giúp cho nhà quản lý có những giải pháp hữu
hiệu nhằm hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực, khơi dậy và phát huy những
ảnh hưởng tích cực nhằm thúc đẩy hoạt động tự học của sinh viên phát triển.
1.3.5. Vai trò của tự học đối với sự phát triển nhân cách của sinh viên
Tâm lý học đã chỉ ra rằng: Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới sự hình
thành và phát triển nhân cách của mỗi người: Yếu tố bẩm sinh di truyền, yếu
tố môi trường hoàn cảnh, yếu tố giáo dục và hoạt động của mỗi cá nhân. Mỗi
yếu tố đều có một ảnh hưởng, môt vai trò riêng trong đó hoạt động của cá
nhân đóng vai trò quyết định tới sự hình thành và phát triển nhân cách.
Trong hoạt động giáo dục việc tạo ra kiến thức cho người học gắn liền
với quá trình tự nhận thức của chính họ. Kiến thức chỉ có thể được thông qua
hoạt động tư duy của người học. Nếu chúng ta coi mối quan hệ giữa dạy học
của giáo viên với tự học của sinh viên là mối quan hệ giữa "Ngoại lực" và
"Nội lực" thì "Ngoại lực" dù có quan trọng đến đâu cũng chỉ là nhân tố hỗ trợ,
thúc đẩy và tạo điều kiện thuận lợi cho "nội lực" phát triển, còn chính"Nội
lực" mới là nhân tố quyết định đến sự phát triển nhân cách người học. Sự phát

triển nhân cách của người học đạt kết quả cao nhất khi "Nội lực" và "Ngoại
lực" cộng hưởng được với nhau. Trong quá trình dạy học tác động dạy của
thầy dù là quan trọng đến mức "Không thày đố mày làm nên" vẫn chỉ là ngoại
lực hỗ trợ, thúc đẩy, xúc tác và tạo điều kiện cho trò tự học, tự phát triển và
trưởng thành.
Để đánh giá tầm quan trọng của hoạt động tự học Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã dạy "Về cách học tập phải lấy tự học làm cốt". Quá trình tự học như
thế có thể hiểu là sự chuyển hoá quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo


23
dục, là sự biến đổi bản thân mình trở nên có thêm giá trị bằng nỗ lực của
chính mình để chiếm lĩnh những giá trị mới lấy từ bên ngoài, là một hành
trình nội tại được cắm mốc bởi kiến thức, phương pháp tư duy và thực hiện tự
phê bình để tự hiểu bản thân mình.
Như vậy, tự học - hoạt động tự giác của cá nhân trong quá trình học
tập- đóng vai trò quyết định đến sự hình thành và phát triển nhân cách người
sinh viên bởi nhân cách người sinh viên chính là vốn tri thức nghề nghiệp, kỹ
năng và phẩm chất đạo đức được hình thành trong qúa trình học tập và rèn
luyện tại trường cao đẳng và đại học.
1.3.6. Phƣơng pháp dạy - tự học
1.3.6.1. Khái niệm về quá trình dạy - tự học và phương pháp dạy - tự học
Trong quá trình dạy học nếu người học là chủ thể, tự mình tìm ra kiến
thức bằng hành động của chính mình với sự hợp tác của các bạn và sự hướng
dẫn của thầy. Thầy dạy cho trò tự học, tự nghiên cứu nhằm biến quá trình dạy
học thành quá trình tự học, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo
thì đó chính là quá trình dạy - tự học.
Quá trình dạy - tự học là một hệ thống toàn vẹn gồm 3 thành tố cơ bản:
Thầy (dạy), Trò (tự học), Tri thức. Ba thành tố này luôn tương tác với nhau,
thâm nhập vào nhau, quy định lẫn nhau theo những quy luật riêng nhằm kết

hợp chặt chẽ quá trình của thầy với quá trình tự học của trò làm cho dạy học
cộng hưởng với tự học tạo ra chất lượng và hiệu quả trong giáo dục.
Phương pháp dạy học là cách thức đặc thù nhằm tổ chức các mối liên
hệ giữa 3 thành tố: Thầy, Trò, Tri thức. Nếu từng thành tố làm trung tâm thì
sẽ có từng phương pháp dạy học khác nhau. Nếu lấy việc học làm trung tâm
tức là học trò giữ vai trò chủ thể tự mình tìm ra kiến thức bằng hành động của
chính mình (tức tự học) thì ta có phương pháp dạy - tự học. [30, 178]
1.3.6.2. Các đặc trưng cơ bản của hệ phương pháp dạy - tự học
Hệ phương pháp dạy - tự học có 4 đặc trưng cơ bản sau:
* Ngoài học, chủ thể của hoạt động tự học, tự mình tìm ra kiến thức
cùng với cách tìm ra kiến thức bằng hành động của chính mình.

×