Tải bản đầy đủ (.pdf) (104 trang)

Biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Pháp trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội trong giai đoạn hiện nay.PDF

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.52 MB, 104 trang )

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài……………………………………………………….…..

1

2. Mục đích nghiên cứu…………………………………………………...…

3

3. Khách thể và nghiên cứu đối tượng………………………………...

3

4. Nhiệm vụ nghiên cứu…………………………………………….….......

3

5. Gi¶ thuyÕt khoa häc……………………………………………….………

4

6. Phạm vi đề tài nghiên cứu ………………………………………………

4

7. Phương pháp nghiên cứu………………………………………...………

4

8. Cấu trúc luận văn



4

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tự học của sinh
viên
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu ……………………………………

5

1.2. Những khái niệm cơ bản của đề tài

6

1.2.1. Khái niệm về sinh viên………………...………………………………

6

1.2.2. Khái niệm về tự học……………………………………………………

7

1.2.3. Khái niệm về quản lý………………………………………..…………

8

1.2.4. Khái niệm về quản lý giáo dục……………………………….………

12

1.2.5. Khái niệm về quản lý nhà trường……………………….…………


12

1.3. Quan niệm chung về hoạt động tự học

14

1.3.1. Nhiệm vụ, vai trò của sinh viên trong hoạt động tự học…………

14

1.3.2. Đặc điểm của sinh viên trong hoạt động tự học…………...………

16

1.3.3. Hoạt động dạy – học trong hoạt động tự học ……

16

1.4. Quản lý hoạt động tự học của sinh viên

18

1.4.1. Đặc điểm của công tác quản lý hoạt động tự học…………………

18

1.4.2. Mục tiêu quản lý hoạt động tự học………………………………..…

18


1.4.3. Nội dung quản lý hoạt động tự học……………………………….…

19


1.4.4. Biện pháp quản lý hoạt động tự học……………………………

20

1.4.5. Nhà trường tham gia quản lý quá trình tự học của sinh viên……

20

1.5. Những yêu cầu về tự học của sinh viên trong xu hướng đào

24

tạo theo tín chỉ ở trường đại học
1.5.1. Tín chỉ……………………………………………………………….……

24

1.5.2. Phương pháp dạy và học theo tín chỉ……………………………..…

25

1.5.3. Quản lý dạy và học theo học chế tín chỉ……………………………

26


1.5.4. Những yêu cầu về tự học trong phương thức đào tạo theo tín

27

chỉ
Chương 2: Thực trạng cơng tác quản lý hoạt động tự học của
sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn hoá Pháp – Trường Đại học
Ngoại ngữ - Đại học quốc gia hà nội
2.1. Khái quát về Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia

29

Hà nội
2.1.1. Quá trình thành lập trường…………………………………….……

29

2.1.2. Cơ cấu tổ chức và đội ngũ………………………………………….

30

2.1.3. Đặc điểm, đối tượng đào tạo của Trường Đại học Ngoại ngữ -

31

Đại học Quốc gia Hà nội…………………………………………………….
2.2. Thực trạng công tác quản lý của Trường, Khoa về hoạt động

31


tự học của sinh viên Khoa Ngôn ngữ và Văn hố Pháp
2.2.1. Tình hình chung…………………………………………………...……

31

2.2.2. Thực trạng hoạt động tự học của sinh viên Khoa Ngôn ngữ và

32

Văn hoá Pháp……………………………………………………………………
2.2.3. Thực trạng quản lý của trường, Khoa đối với hoạt động tự học

42

của sinh viên Khoa Ngôn ngữ và Văn hoá Pháp………………..………
2.2.4. Nhận xét chung về thực trạng ..
Chng 3: Biện pháp quản lý hoạt động tự học
của sinh viên Khoa Ngôn ngữ và Văn hoá Pháp
Tr-ờng Đại học Ngoại ngữ - Đại học quốc gia hà

49


nội trong giai đoạn hiện nay
3.1. Mt s nguyờn tc lựa chọn biện pháp

52

3.1.1. Nguyên tắc tính thừa kế………………………………………….……


52

3.1.2. Nguyên tắc tính thực tiễn……………………………………...………

52

3.1.3. Nguyên tắc tính hiệu quả…………………………………………...…

53

3.2. Các biện pháp quản lý hoạt động tự học

53

3.2.1. Nhóm biện pháp thứ 1: Nâng cao ý thức, xây dựng động cơ và

53

thái độ học tập đúng đắn cho sinh viên đối với hoạt động tự học……..
3.2.2. Nhóm biện pháp thứ 2: Tổ chức các hoạt động nhằm bồi

57

dưỡng và rèn luyện hệ thống kỹ năng tự học cho sinh viên……………
3.2.3. Nhóm biện pháp thứ 3: Đổi mới phương pháp giảng dạy của

66

giảng viên nhằm tăng cường tính tích cực tự học của sinh viên…….

3.2.4. Nhóm biện pháp thứ 4: Đảm bảo cơ sở vật chất, trang thiết bị
phục vụ hoạt động tự học của sinh viên…………………………….……

70

3.2.5. Nhóm biện pháp thứ 5: Đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá
chất lượng học tập của sinh viên nhằm kích thích hoạt động tự học.

71

3.2.6. Nhóm biện pháp thứ 6: Tổ chức tốt công tác thi đua khen
thưởng nhằm thúc đẩy hoạt động tự học của sinh viên……………..…

74

3.3. Mối liên hệ giữa các biện pháp quản lý hoạt động tự học

76

3.4. Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp

78

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận…………………………………………………………………….

83

2. Khuyến nghị…………………………………………………......................


84

TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………

86

PHỤ LỤC


BẢNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT

Bộ Giáo dục và Đào tạo

: ĐT & ĐT

Ban cán sự

: BCS

Đại học Quốc gia Hà nội

: ĐHQGHN

Giáo viên chủ nhiệm

: GVCN

Hoạt động tự học

: HĐTH


Học sinh sinh viên

: HSSV

Khoa Ngơn ngữ và Văn hố Pháp

: Khoa NN & VH Pháp

Ký túc xá

: KTX

Nghiên cứu khoa học

: NCKH

Phịng Chính trị và Cơng tác Học sinh sinh viên

: Phòng CT & HSSV

Phương pháp giảng dạy

: PPGD

Sinh viên

: SV

Tiến sĩ


: TS

Thi đua khen thưởng

: TĐKT


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chúng ta đang sống trong thời đại của cuộc cách mạng khoa học và cơng
nghệ đang phát triển mạnh mẽ như vũ bão thì việc tích cực hoạt động của mỗi
thành viên trong xã hội để nắm bắt những thông tin khoa học là vấn đề cần thiết
hơn bao giờ hết.
Để hoà nhập vào làn sóng phát triển mạnh mẽ đó, chúng ta bước vào
những năm đầu của thế kỷ XXI thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.
Yêu cầu mới, nhiệm vụ mới đặt ra trong đó nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược vơ
cùng quan trọng đó là sự hình thành, phát triển con người năng động, tự chủ,
sáng tạo. Với thực tiễn này đòi hỏi mỗi cá nhân trong xã hội, thế hệ trẻ nói
chung, sinh viên nói riêng muốn tồn tại, phát triển thì khơng thể chỉ dựa vào
những kiến thức tiếp nhận được từ sự truyền đạt từ thầy cơ giáo , mà địi hỏi mỗi
người phải có năng lực tự học tập, tự nghiên cứu, tự chiếm lĩnh những kiến thức
một cách thường xuyên, liên tục, suốt đời.
Tự học là một yêu cầu không thể thiếu đối với mỗi cơng dân nói chung,
thế hệ trẻ, sinh viên nói riêng. Tự học là một thuộc tính vốn có của con người, là
con đường phát triển nội lực của mỗi cá nhân, của dân tộc, động lực chính của
q trình giáo dục - đào tạo. Sinh thời, Hồ Chủ tịch đã từng nói: “ Về cách học,
phải lấy tự học làm cốt”. Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng công tác giáo dục đào tạo, coi đó là điều kiện tiên quyết để thực hiện cơng nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước. Nghị quyết Đại hội lần VIII của Đảng đã chỉ rõ: “ Tập trung sức nâng
cao chất lượng dạy và học, tạo ra năng lực tự học sáng tạo của mỗi học sinh”.

Đại hội lần thứ IX của Đảng lại tiếp tục chỉ đạo ngành GD - ĐT : “ Phát huy tinh
thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh – sinh viên, đề cao năng lực tự
học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề…”. Khi bàn về vấn đề tự học, giáo sư Tạ
1


Quang Bửu cũng đã viết: “ Tự học là khởi nguồn của phong cách tự đào tạo
đồng thời là cái nôi nuôi dưỡng sự sáng tạo. Ai giỏi tự học ngay từ khi ngồi trên
ghế nhà trường, người đó sẽ tiến xa.”
Tự học đã trở thành vấn đề cấp thiết đối với giáo dục và đào tạo nước ta.
Hoạt động tự học có ý nghĩa quyết định biến q trình đào tạo thành quá trình tự
đào tạo.
Đặc biệt đối với trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà nội là
một trong ba trường thành viên của Đại học Quốc gia Hà nội đang chuẩn bị
chuyển đổi từ học chế niên chỉ sang học chế tín chỉ thì vấn đề tự học càng trở
nên là vấn đề đặc biệt quan tâm, để đào tạo ra được những “ sản phẩm” hoàn
hảo, những con người sẽ làm chủ tương lai đất nước. Để hoàn thành sứ mệnh
vinh quang ấy thì trong quá trình học tập, những sinh viên này, cần phải có khả
năng tự học, tự nghiên cứu để nâng cao trình độ, tự cập nhật tri thức, biết cách
biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo.
Tự học của sinh viên là một khâu quan trọng khơng thể tách rời q trình
đào tạo ở nhà trường đặc biệt với sinh viên sư phạm ngoại ngữ. Nhưng qua thực
tiễn công tác cùng với những quan sát và kết quả điều tra, đánh giá chúng tôi
nhận thấy sinh viên chưa thực sự tự giác trong học tập, rất thờ ơ với việc trang bị
kiến thức, học tập còn mang tính chiếu lệ, chỉ cốt để trải qua thi cử. Nguyên nhân
một phần cũng do sinh viên chưa có được những phương pháp và kỹ năng học
tập ở bậc đại học do vậy kết quả tự học của sinh viên còn thấp.
Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà nội trong các hội thảo
về nâng cao chất lượng học tập của sinh viên, hội nghị nghiên cứu khoa học
cũng đã nhiều năm đề cập đến vấn đề tự học của sinh viên … và làm thế nào để

kích thích sinh viên ngoại ngữ tích cực hơn nhằm nâng cao kết quả học tập của
sinh viên. Đồng thời cũng đã có một số giải pháp như: đổi mới phương pháp
giảng dạy theo hướng phát huy tính tích cực, tính sáng tạo, đặc biệt là cơng tác
2


quản lý, tổ chức của trường đối với hoạt động tự học song các biện pháp đó chưa
được chú ý và quan tâm đúng mức nên kết quả vẫn không được như mong muốn.
Do vậy ngoài việc đổi mới phương pháp dạy học thì việc xây dựng một số biện
pháp trong công tác quản lý để nâng cao hoạt động tự học cho sinh viên của
trường là một vấn đề cấp thiết.
Chính vì vậy tơi đã chọn hướng nghiên cứu với tên đề tài: “Biện pháp
quản lý hoạt động tự học của sinh viên khoa Ngơn ngữ và Văn hố Pháp
trường Đại học Ngoại ngữ - Đaị học Quốc gia Hà nội trong giai đoạn hiện
nay”.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất một số biện pháp quản
lý hoạt động tự học của sinh viên nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ở khoa
Ngơn ngữ và Văn hố Pháp trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà
nội trong giai đoạn hiện nay.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu: Quản lý quá trình dạy học ở Khoa Ngơn ngữ và Văn
hố Pháp trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà nội.
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên
khoa Ngơn ngữ và Văn hố Pháp trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia
Hà nội.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận về quản lý hoạt động tự học của sinh viên.
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động tự học của sinh viên khoa Ngơn
ngữ và Văn hố Pháp trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà nội.

- Đề xuất các biện pháp tăng cường hoạt động tự học của sinh viên nhằm nâng
cao chất lượng đào tạo ở khoa Ngơn ngữ và Văn hố Pháp trường Đại học Ngoại
ngữ - Đại học Quốc gia Hà nội trong giai đoạn hiện nay.
3


5. Giả thuyết khoa học
Nếu áp dụng các biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên một
cách khoa học, hệ thống và phù hợp thì chất lượng hoạt động học tập của sinh
viên sẽ được nâng cao và đáp ứng mục tiêu đào tạo của nhà trường trong giai
đoạn hiện nay.
6. Phạm vi đề tài nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động tự học của sinh viên ở Khoa
Ngơn ngữ và Văn hố Pháp Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà
Nội từ năm 2002-2003 đến nay.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:
- Thu thập, nghiên cứu, phân tích xử lý tài liệu.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp quan sát, phương pháp điều tra bảng hỏi, phương pháp tổng kết
kinh nghiệm, phương pháp chun gia.
7.3. Nhóm phương pháp hỗ trợ:
Sử dụng tốn học thống kê để xử lý số liệu.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
luận văn dự kiến trình bày trong 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tự học của sinh viên
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động tự học của sinh viên khoa Ngơn ngữ và
Văn hố Pháp trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà nội
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên khoa Ngơn ngữ và

Văn hố Pháp trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà nội trong giai
đoạn hiện nay

4


Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA
SINH VIÊN
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Trong lịch sử phát triển giáo dục, tự học là vấn đề được quan tâm nghiên
cứu từ lâu về cả lý luận và thực tiễn, nhằm phát huy vai trò của người học và
nâng cao chất lượng của hoạt động tự học. Song từng giai đoạn lịch sử nhất định,
ở mỗi quốc gia nhất định tự học được nghiên cứu đề cập dưới nhiều khía cạnh
khác nhau.
Khổng Tử (551-479 trước công nguyên), nhà tư tưởng nổi tiếng và nhà sư
phạm vĩ đại của Trung Quốc, về phương pháp giáo dục ông đã đề cao việc tự
học, tự luyện, tu nhân, chú trọng phát huy mặt tích cực, sáng tạo, năng lực nội
sinh. Khổng Tử thường chú ý việc dạy sát đối tượng, kết hợp học và hành, lý
thuyết gắn liền với thực tiễn, chủ trương phát triển hứng thú, động cơ ý chí của
người học. Đề cập đến vấn đề học tập, Khổng Tử xác định “ Học nhi thời tập
chí”, việc học tập theo ơng phải gắn liền với thực hành để thơng suốt những điều
đã học. Ơng đề cập và nhấn mạnh mối quan hệ tác động giữa việc học tập và tư
duy trong học tập, ông cho đó là hai yếu tố rang buộc khơng thể thiếu của một
vấn đề :
“ Học nhi bất tư tắc võng, tư nhi bất học tất đãi”. Ông cho rằng học mà khơng
nghĩ thì mờ tối, nghĩ mà khơng học thì khó nhọc, mất cơng. Do vậy, với ơng việc
học tập và tự học là cần thiết và gắn bó mật thiết với nhau.
Chủ tịch Hồ Chí Minh, một tấm gương sáng ngời về ý chí quyết tâm trong
tự học, tự rèn luyện. Người luôn cho rằng học tập giúp con người tiến bộ, nâng
cao phẩm chất, mở rộng hiểu biết, làm thay đổi hiệu quả lao động. Người đã

động viên toàn dân: “ Phải tự nguyện, tự giác xem công việc học tập là nhiệm vụ
của người cách mạng, phải cố gắng hồn thành cho được do đó mà tích cực, tự

5


động hồn thành kế hoạch học tập” . Người cịn chỉ rõ “ Về việc học lấy tự học
làm cốt. Do thảo luận và chỉ đạo góp vào”. [ 30,116]
Trong khoa học, đã có nhiều cơng trình nghiên cứu rất cơng phu về vấn đề
tự học như: “ Q trình dạy – tự học” của Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn, Giáo sư
Vũ Văn Tảo; “ Luận bàn và kinh nghiệm về tự học” của Giáo sư Nguyễn Cảnh
Toàn; “ Tự học – chìa khố vàng của giáo dục” của Giáo sư Phan Trọng Luận và
cịn rất nhiều các cơng trình nghiên cứu về tự học của các giáo sư, các nhà giáo
dục học như Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Ngọc Bảo, Hà Thị Đức…và
rất nhiều luận văn thạc sỹ Quản lý giáo dục trong những năm gần đay đề cập đến
nhiều khía cạnh về hoạt động tự học và các biện pháp quản lý, tổ chức hoạt động
tự học nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Tuy nhiên hoạt
động tự học của sinh viên Khoa Pháp vẫn còn là một vấn đề bỏ ngỏ, chưa có
cơng trình nào nghiên cứu. Vì vậy trong luận văn này tác giả tập trung vào việc
xây dựng các biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên khoa Pháp
Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt
động tự học và nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường.
1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Khái niệm về sinh viên:
Thuật ngữ “ sinh viên” có nguồn gốc từ tiếng La tinh “ student”: có nghĩa
là người làm việc, học tập nhiệt tình, người tìm kiếm, khai thác tri thức. Nó được
dùng tương đương với từ “ student” trong tiếng Anh để chỉ những người đang
theo học ở bậc đại học, được phân biệt với học sinh – trẻ em đang học ở phổ
thông.
Theo X.L. Rubinsen quan niệm: “ sinh viên” là đại biểu của một nhóm xã

hội đặc biệt được đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng để chuẩn bị cho
hoạt động lao động và sản xuất vật chất cho xã hội. Nhóm sinh viên rất cơ động
được tổ chức thoe một mục đích xã hội nhất định nhằm chuẩn bị thực hiện vai
6


trị xã hội với trình độ nghề nghiệp cao trong các lĩnh vực xã hội, sinh viên là
nguồn lực bổ sung cho đội ngũ tri thức được đào tạo thành người lao động có tay
nghề cao tham gia hoạt động tích cực.
Quy chế cơng tác HSSV trong các trường đào tạo của Bộ Giáo dục và đào
tạo thì: “ sinh viên” là người đang học trong hệ Đại học và cao đẳng.
Từ đó ta có thể hiểu : sinh viên Việt nam là những người đang học tập tại
các trường Đại học – Cao đẳng trong cả nước nhằm đáp ứng nguồn lao động có
tri thức, có tay nghề cao phục vụ cho cơng cuộc cơng nghiệp hố, hiện đại hoá
đất nước..
1.2.2. Khái niệm về tự học
Tự học là học khi có thầy và cả khi khơng có thầy, người học biết tự xác
định mục tiêu, tự lập kế hoạch, tự đánh giá việc học tập của bản thân. Tự học là
học mà khơng cần có sự giám sát bên ngồi. Tự học là “ tự động học tập”, nó thể
hiện tính tự giác, tích cực, tự lực rất cao trong quá trình lĩnh hội khái niệm khoa
học của người học.
Theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn: “ Tự học – là tự mình động não, suy
nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ ( quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) và
có khi cả cơ bắp ( khi phải sự dụng cơng cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi
cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan ( tính trung thực, khách
quan, có chí tiến thủ, khơng ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, chiếm lĩnh
một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của
mình.” [ 36,59]
Theo tác giả Vũ Văn Tảo: “ Sự học dù dưới dạng nào, tại trường, lớp hoặc
ngồi trường lớp, có thầy hướng dẫn hoặc khơng có thầy, có sự hỗ trợ của các

phương tiện kỹ thuật, của công nghệ thông tin hoặc chưa, đều phải là sự tự
học…Học là một q trình trong đó chủ thể tự biến đổi mình, tự làm phong phú

7


mình bằng cách thu lượm và xử lý thơng tin từ mơi trường sống xung quanh
mình”. [ 36,55]
1.2.3. Khái niệm về quản lý
Thuật ngữ “ quản lý” ( từ Hán Việt) gồm hai q trình tích nhau. Q
trình “ quản” gồm coi sóc, gìn giữ, duy trì ở trạng thái “ ổn định”. Quá trình “ lý”
gồm sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ thống ( tổ chức) vào thế “ phát triển”.
Nếu chỉ “quản” thì tổ chức dễ trì trệ, nếu chỉ “lý” thì tổ chức phát triển khơng
bền vững. Do đó trong “ quản” phải có “lý” và ngược lại để làm cho hệ thống ở
thế cân bằng động, vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong môi trường
tương tác giữa các nhân tố bên trong và các nhân tố bên ngoài tổ chức. [ 1 ,1]
Quản lý là sự điều khiển một hệ thống hoạt động xã hội ở tầm vĩ mô cũng
như vi mơ vì vậy có nhiều cách tiếp cận khác nhau, ở mỗi cách tiếp cận có những
định nghĩa khác nhau:
K. Marx đã từng nói đến sự cần thiết của quản lý: “ Bất kỳ một lao động
xã hội nào được tiến hành trên một quy mô tương đối lớn cũng đều cần có sự
quản lý, nó xác lập mối quan hệ hài hồ giữa các cơng việc riêng rẽ và thực tiễn
những chức năng chung nhất xuất phát từ sự vận động của toàn cơ cấu sản xuất (
khác với vận động của từng bộ phận độc lập trong nền sản xuất ấy. Một nghệ sĩ
vĩ cầm thì tự điều khiển mình, cịn dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”. Như
vậy quản lý là điều khiển, là chỉ huy, là tổ chức, là hướng dẫn, là phối hợp q
trình hoạt động của con người trong các nhóm xã hội.
Các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “ Hoạt
động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý ( người
quản lý) đến khách thể quản lý ( người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm cho

tổ chức vận hành và đạt mục đích của tổ chức”. [ 10 ,1 ]

8


Theo Harold Koontz: “ Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự
phối hợp nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu
của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một mơi trường mà trong đó con người
có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự
bất mãn cá nhân ít nhất. Với tư cách thực hành thì cách quản lý là một nghệ
thuật, cịn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học. [ 23,33]
Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “ Quản lý là sự tác động có tổ chức, định
hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý về mặt chính trị, văn hố, xã
hội, kinh tế...bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các
phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự
phát triển của đối tượng”.[ 19,7]
Nghiên cứu các định nghĩa trên chúng ta có thể thấy mặc dù các tác giả có
các quan niệm khác nhau về quản lý nhưng họ đều thống nhất:
Quản lý luôn luôn tồn tại với tư cách là một hệ thống gồm các yếu tố chủ
thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý); khách thể quản lý (người bị quản
lý, đối tượng quản lý) gồm con người, trang thiết bị kỹ thuật, vật ni, cây trồng
và mục đích hay mục tiêu chung của công tác quản lý do chủ thể quản lý áp đặt
hay do yêu cầu khách quan của xã hội hoặc do có sự cam kết, thoả thuận giữa
chủ thể quản lý và khách thể quản lý, từ đó nảy sinh các mối quan hệ tương tác
với nhau giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý.
Bản chất của hoạt động quản lý là cách thức tác động (tổ chức, điều khiển,
chỉ huy) hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ
chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu quả mong muốn và đạt được mục
tiêu đề ra.
Như vậy quản lý là một hoạt động mang tính tất yếu của xã hội. Chủ thể

quản lý và khách thể quản lý luôn ln có quan hệ tác động qua lại và chịu tác
9


động của môi trường. Con người là yếu tố trung tâm của hoạt động quản lý vì thế
quản lý vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật. Người quản lý phải nhạy
cảm, linh hoạt, sáng tạo và mềm dẻo.
* Các chức năng quản lý
Chức năng của quản lý là tập hợp các nhiệm vụ mà chủ thể quản lý phải
thực hiện để đạt mục đích, mục tiêu quản lý đề ra. Có nhiều cách phân chia về
choc năng của quản lý nhưng cơ bản thống nhất ở bốn chức năng dưới đây:
+ Chức năng lập kế hoạch
Lập kế hoạch là quá trình ấn định những nhiệm vụ, những mục tiêu và
phương pháp tốt nhất, để thực hiện những mục tiêu nhiệm vụ đó.
Lập kế hoạch là phương pháp tiếp cận hợp lý để đạt những mục tiêu định
trước, là chức năng cơ bản nhất trong các chức năng quản lý vì nó gắn liền với
việc lựa chọn chương trình hành động trong tương lai.
Kế hoạch là văn bản, trong đó xác định mục tiêu, mục đích của một tổ
chức và những con đường, các biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục
đích đó. Chức năng kế hoạch hố có ba nội dung cơ bản là:
- Xác định, hình thành mục tiêu (phương hướng) đối với tổ chức;
- Xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn lực của
tổ chức để đạt được các mục tiêu này.
- Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được các mục tiêu, xác
định các hoạt động ưu tiên.
+ Chức năng tổ chức
Tổ chức thực hiện kế hoạch là quá trình sắp xếp và phân phối các nguồn
nhân lực để thực hiện hoá các mục tiêu đã đề ra, là sự sắp đặt một cách khoa học

10



cho con người, công việc một cách hợp lý, là sự phối hợp các tác động bộ phận
tạo nên một tác động tích hợp mà hiệu quả của nó lớn hơn nhiều so với tổng số
các hiệu quả của các tác động thành phần. Công tác tổ choc bao gồm:
- Xác định cấu trúc của bộ máy
- Tiếp nhận và phân phối các nguồn lực theo cấu trúc bộ máy.
- Xác lập cơ chế phối hợp giữa các bộ phận, các thành viên trong tổ chức.
+ Chức năng chỉ đạo
Chỉ đạo là quá trình điều khiển, điều hành, tác động, huy động và giúp đỡ
con người, tổ choc trong hệ thống thực hiện nhiệm vụ. Chỉ đạo là quá trình tác
động, liên kết các thành viên trong tổ chức, tập hợp, động viên họ hồn thành
những cơng việc nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức.
Nội dung của chức năng chỉ đạo bao gồm:
- Chỉ huy, ra lệnh
- Động viên khen thưởng
- Theo dõi, giám sát
- Uốn nắn, sửa chữa, chỉnh lý.
+ Chức năng kiểm tra
Để hoàn thành choc năng lãnh đạo, người lãnh đạo hệ thống cần thiết và
phảI thực hiện chức năng kiểm tra của quản lý. Lãnh đạo mà khơng kiểm tra thì
coi như khơng lãnh đạo
Kiểm tra theo lý thuyết hệ thống chính là thiết lập mối liên hệ ngược trong
quản lý. Có 3 yếu tố cơ bản của công tác kiểm tra:
- Xây dựng chuẩn thực hiện.

11


- Đánh giá việc thực hiện trên chính sách so với chuẩn..

- Nếu có sự chênh lệch thì cần điều chỉnh hoạt động.
Bốn chức năng của quản lý có mối quan hệ mật thiết với nhau tạo thành
một chu trình quản lý. Chu trình quản lý bao gồm bốn giai đoạn với sự tham gia
của hai yếu tố quan trọng thơng tin và quyết định. Trong đó thơng tin có vai trò
là huyết mạch của hoạt động quản lý đồng thời cũng là tiền đề của một quá trình
quản lý tiếp theo.

Chu trình quản lý được thể hiện ở sơ đồ sau

Lập kế hoạch

Kiểm tra

TT QL

Tổ chức

Chỉ đạo

1.2.4. Khái niệm về quản lý giáo dục
Cũng như khái niệm quản lý, khái niệm quản lý giáo dục cũng có nhiều
định nghĩa khác nhau

12


Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “ Quản lý giáo dục là hệ thống những
tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp với quy luật của chủ thể quản lý nhằm
làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng. Thực hiện
được các tính chất của nhà trường XHCN, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy

học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục đến mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái
mới về chất. [ 34,35]
Như vậy, quản lý giáo dục chính là q trình tác động có định hướng của
nhà quản lý giáo dục trong việc vận dụng nguyên lý, phương pháp chung nhất
của khoa học nhằm đạt được những mục tiêu đề ra. Những tác động đó thực chất
là những tác động khoa học đến nhà trường, làm cho nhà trường tổ chức một
cách khoa học, có kế hoạch quá trình dạy và học theo mục tiêu đào tạo.
1.2.5. Khái niệm về quản lý nhà trường
Trường học là tổ chức giáo dục cơ sở mang tính nhà nước và xã hội, trực
tiếp làm công tác giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ, trực tiếp tham gia vào quá trình
thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất
nước.
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “ Quản lý nhà trường là thực hiện đường
lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà
trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu
đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh.” [ 20, 61]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “ Việc quản lý nhà trường phổ thơng (
có thể mở rộng ra việc quản lý giáo dục nói chung) là quản lý hoạt động dạy và
học tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần
dần tiến tới mục tiêu giáo dục”. [34,71]
Quản lý nhà trường thực chất là quản lý giáo dục trên tất cả các mặt; các
khía cạnh liên quan đến hoạt động giáo dục trong phạm vi nhà trường. Đó là một
13


hệ thống những hoạt động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể
quản lý giáo dục để đạt tới mục tiêu giáo dục đặt ra đối với ngành giáo dục trong
từng giai đoạn phát triển của đất nước. Quản lý nhà trường gồm:
- Quản lý chương trình dạy-học và giáo dục của nhà trường;
- Quản lý học sinh (quản lý các hoạt động của học sinh);

- Quản lý giáo viên, phát triển nghề nghiệp của người thày;
- Quản lý cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, thư viện của nhà trường, đảm bảo cho
nhà trường hoạt động để đạt được mục tiêu giáo dục đề ra.
1.3. Quan niệm chung về hoạt động tự học
1.3.1. Vị trí, vai trị của sinh viên trong tự học
Hoạt động tự học ln giữ vai trị quan trọng trong q trình học tập và
phát triển của mỗi người. Bàn về vai trị của tự học ngun Tổng bí thư Đỗ Mười
đã phát biểu: “ Tự học tự đào tạo là con đường phát triển suốt đời mỗi con người
trong điều kiện kinh tế xã hội nước ta hiện nay và mai sau, đó cũng là truyền
thống quý báu của người Việt nam và dân tộc Việt nam. Chất lượng và hiệu quả
giáo dục được nâng cao khi tạo ra được năng lực sáng tạo của người học, khi
biến được quá trình giáo dục thành tự giáo dục,” [32]
Tự học là cốt lõi của việc học, tự học là phải tự lực cánh sinh, khơng ai
có thể học hộ người khác được. Trong cuộc hội thảo khoa học ngành Tâm lý của
Trường Đại học Sư phạm đã nhấn mạnh rằng: “ Khơng ai có thể đưa ra một kiến
thức từ ngồi vào đầu óc người học nếu người đó khơng tích cực học tập. Sự lĩnh
hội kiến thức luôn luôn là kết quả của quá trình hoạt động nhận thức riêng của
tưng học sinh sinh viên, mặc dù hoạt động này được giáo viên chỉ đạo, hướng
dẫn”. [ 24 ]

14


Chủ tịch Hồ Chí Minh một tấm gương sáng người về tự học cũng đánh
giá tầm quan trọng của tự học “ Về cách học tập phải lấy tự học làm cốt”. Q
trình tự học như thế có thể hiểu là sự chuyển hố q trình giáo dục thành q
trình tự giáo dục, là sự biến đổi bản thân mình trở nên có thêm giá trị bằng nỗ
lực của chính mình để chiếm lĩnh những giá trị mới lấy từ bên ngồi là một hành
trình nội tại được cắm bởi mốc kiến thức, phương pháp tư duy và thực hiện tự
phê bình để hiểu bản thân mình.

Trong quá trình học tập nếu biết bồi dưỡng được ý chí và năng lực tự học
cần thiết thì sẽ khơi dậy ở sinh viên tiềm năng to lớn vốn có trong họ, tạo nên
động lực nội sinh của quá trình học tập, vượt lên trên các tác động bên ngoài như
các biện pháp thi đua, khen thưởng và trách phạt. Khả năng tự học chính là nhân
tố nội lực, nhân tố quyết định chất lượng đào tạo. Tuy nhiên nói như vậy khơng
có nghĩa là hạ thấp vai trò, trách nhiệm của giảng viên, cán bộ quản lý và tập thể
sinh viên trong nhà trường vì chính các lực lượng này có tác dụng lớn lao trong
việc động viên, hướng dẫn, quản lý sinh viên tự học một cách bền vững, có hiệu
quả, đúng hướng.
Tóm lại, tự học, tự đào tạo ngày càng có vai trị quan trọng đối với giáo
dục nói chung và nhu cầu nắm vững tri thức của mỗi cá nhân nói riêng và là một
hoạt động tất yếu của con người nói chung và của sinh viên nói riêng. Muốn vậy
thế hệ trẻ cần có những năng lực đặc biệt quan trọng, đó là năng lực tự học. Do
vậy việc tìm ra các biện pháp hữu hiệu để tổ chức có hiệu quả hoạt động tự học
cho sinh viên là hết sức cần thiết và mang ý nghĩa thiết thực đối với lợi ích trước
mắt và lâu dài, nó không chỉ giúp sinh viên rèn luyện và nâng cao khả năng độc
lập, sáng tạo trong học tập, trong cuộc sống mà cịn góp phần tích cực thúc đẩy
sự phát triển của nên giáo dục nước nhà.

15


1.3.2. Đặc điểm của sinh viên trong tự học
Sinh viên là đối tượng đã có ý thức phát triển, được trang bị những kiến
thức cơ bản có khả năng thực hiện hoạt động tự học, tự nghiên cứu, tự lĩnh hội tri
thức. Khả năng tư duy của sinh viên đã phát triển ở mức độ cao. Quá trình học
tập của sinh viên khác với quá trình học tập của học sinh phổ thông. Những tri
thức mà sinh viên lĩnh hội được chủ yếu liên quan tới lĩnh vực nghề nghiệp. Do
vậy sinh viên bắt đầu tập dượt nghiên cứu tài liệu, nghiên cứu các vấn đề khoa
học, nó cao hơn và phức tạp hơn so với quá trình học tập của học sinh phổ thơng.

Chính vì vậy, trong q trình học tập sinh viên phải có tính tích cực, độc lập rất
cao mới có thể tiếp cận, làm quen với phương pháp học tập mới.
Nét đặc trưng cơ bản về hoạt động học tập của sinh viên là sự tập trung
căng thẳng về trí tuệ, sự hứng thú, say mê về cảm xúc và thái độ đúng đắn trong
học tập. Hoạt động tự học của sinh viên có vai trị quan trọng quyết định tới q
trình nhận thức, nó mang đủ những đặc trưng cơ bản của hoạt động tự học nói
chung, đó là q trình sinh viên tự giác, tự lực, tích cực dưới sự hướng dẫn của
giáo viên để sinh viên có thể chiếm lĩnh những tri thức khoa học ở một lĩnh vực
chun mơn nào đó bằng hành động của chính mình nhằm đạt được mục tiêu đào
tạo.
1.3.3. Hoạt động dạy – học ở đại học
Dạy là q trình hoạt động của thầy , thơng qua sự truyền đạt nội dung mà
chỉ đạo ( tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra) hoạt động của trò, nhằm làm cho trị
đạt tới mục đích dạy học. [34, 91]
Học là q trình hoạt động của trị, trong đó trị dựa vào sự chỉ đạo của
thầy, tự điều khiển lĩnh hội tự giác tích cực tự lực của bản thân, nhằm đạt được
mục đích dạy học. [34, 92]

16



×