Tải bản đầy đủ (.pdf) (100 trang)

Phát triển kinh tế tư nhân ở Tỉnh Thái Bình giai đoạn 2001- 2010 và giải pháp đến năm 2020

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.44 MB, 100 trang )


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯ











-
2020













HÀ NỘI – 2012



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯ










-
2020


: 60 31 01







: TS. Đinh Quang Ty





HÀ NỘI – 2012
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Tình hình nghiên cứu 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 2
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3
5. Phƣơng pháp nghiên cứu 3
6. Đóng góp của luận văn 4
7. Kết cấu của luận văn 4
CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM
THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƢ NHÂN 5
1.1. KINH TẾ TƢ NHÂN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG
CỦA NHÂN LOẠI 5
1.1.1. Đặc điểm của kinh tế thị trƣờng nhìn từ góc độ sở hữu 5
1.1.2. Sự tồn tại khách quan và tính phổ biến của kinh tế tƣ nhân trong
các nền kinh tế thị trƣờng trên thế giới 10
1.1.3. Đặc điểm, bản chất và vai trò của kinh tế tƣ nhân 12
1.1.3.1. Về đặc điểm, bản chất của kinh tế tƣ nhân 12
1.1.3.2. Vai trò của kinh tế tƣ nhân 17
1.2. CHỦ TRƢƠNG, QUAN ĐIỂM, CHÍNH SÁCH ĐỔI MỚI CỦA
ĐẢNG VÀ NHÀ NƢỚC TA ĐỐI VỚI KINH TẾ TƢ NHÂN 22
1.2.1. Khái quát về chủ trƣơng, quan điểm, chính sách đối với kinh tế
tƣ nhân ở thời kỳ trƣớc đổi mới và hệ quả 22
1.2.2. Chủ trƣơng, quan điểm, chính sách đối với kinh tế tƣ nhân trong
thời kỳ đổi mới (từ Đại hội VI đến Đại hội XI của Đảng) và tác động
đến thực tế phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc. 24
1.3. KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ ĐỊA PHƢƠNG TRONG NƢỚC VỀ
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƢ NHÂN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ RÚT RA CHO
TỈNH THÁI BÌNH 29

1.3.1. Những trƣờng hợp đƣợc lựa chọn nghiên cứu 29
1.3.1.1. Kinh nghiệm của tỉnh Hưng Yên 29
1.3.1.2. Kinh nghiệm của tỉnh Bình Dương 30
1.3.2. Một số bài học rút ra cho tỉnh Thái Bình trong việc phát triển
kinh tế tƣ nhân 32
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỀN KINH TẾ TƢ NHÂN
CỦA TỈNH THÁI BÌNH GIAI ĐOẠN 2001 - 2010 34
2.1. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH THÁI BÌNH 34
2.1.1. Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Bình. 34
2.1.2. Nhận xét về điều kiện phát triển của kinh tế tƣ nhân trên địa bàn
tỉnh Thái Bình (so sánh với một số địa phƣơng lân cận) 36
2.2. KINH TẾ TƢ NHÂN Ở THÁI BÌNH TRONG GIAI ĐOẠN 2001 –
2010 VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LỚN ĐANG ĐẶT RA 37
2.2.1 Động thái phát triển của kinh tế tƣ nhân trên địa bàn tỉnh Thái
Bình giai đoạn 2001 – 2010 37
2.2.1.1. Về các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh của kinh tế tư nhân trên
địa bàn tỉnh Thái Bình 38
2.2.1.2. Về trình độ công nghệ, trình độ quản lý, khả năng thích ứng với
cơ chế thị trường. 41
2.2.1.3. Về một số doanh nghiệp tư nhân tiêu biểu trên địa bàn tỉnh 42
2.2.1.4. Đặc điểm chung về lực lượng doanh nhân ở Thái Bình hiện nay 46
2.2.2 Vai trò của kinh tế tƣ nhân trên địa bàn tỉnh Thái Bình giai đoạn
2001 – 2010 47
2.2.2.1 Vai trò trong việc giải quyết vấn đề việc làm 47
2.2.2.2 Vai trò trong việc huy động nguồn vốn đầu tư vào phát triển
sản xuất kinh doanh 49
2.2.2.3 Vai trò trong việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế 50
2.2.2.4 Vai trò trong việc tăng kim ngạch xuất khẩu và tạo nguồn thu
cho ngân sách 52
2.2.2.5 Vai trò trong việc thúc đẩy cạnh tranh. 52

2.2.3 Hạn chế của kinh tế tƣ nhân trên địa bàn tỉnh Thái Bình và
nguyên nhân 54
2.2.3.1. Về hạn chế 54
2.2.3.2. Nguyên nhân của hạn chế 58
3.1. BỐI CẢNH MỚI VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN KINH TẾ TƢ NHÂN 63
3.1.1. Bèi c¶nh ph¸t triÓn cña ®Êt n-íc sau 25 năm đổi mới và t¸c ®éng ®Õn
kinh tÕ t- nh©n 63
3.1.2. Bối cảnh phát triển mới của tỉnh và tác động đến kinh tế tƣ nhân 65
3.2. PHƢƠNG HƢỚNG, QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN KINH TẾ
TƢ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI BÌNH GIAI ĐOẠN 2011 - 2020 65
3.2.1. Về phƣơng hƣớng và quan điểm phát triển 65
3.2.2. Mục tiêu phát triển 69
3.3. NHỮNG GIẢI PHÁP MỚI THÚC ĐẨY SỰ PHÁT TRIỂN VÀ
NÂNG CAO VAI TRÒ, HIỆU QUẢ CỦA KINH TẾ TƢ NHÂN Ở
THÁI BÌNH GIAI ĐOẠN 2011 - 2020 69
3.3.1. Tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách đối với kinh tế tƣ nhân 69
3.3.1.1. Về chính sách đầu tư – tín dụng 70
3.3.1.2. Về chính sách thương mại 72
3.3.1.3. Về chính sách khoa học – công nghệ 74
3.3.1.4. Về chính sách phát triển nguồn nhân lực cho kinh tế tư nhân 75
3.3.2. Áp dụng các đòn bẩy lợi ích khuyến khích kinh tế tƣ nhân nâng
cao vai trò và hiệu quả phát triển 78
3.3.2.1. Đòn bẩy khuyến khích kinh tế tư nhân giải quyết việc làm 78
3.3.2.2. Đòn bẩy khuyến khích kinh tế tư nhân tăng quy mô đầu tư vốn
vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh mà tỉnh Thái Bình có lợi thế 79
3.3.2.3. Đòn bẩy khuyến khích kinh tế tư nhân đổi mới công nghệ, đa
dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm 80
3.3.2.4. Đòn bẩy khuyến khích kinh tế tư nhân xây dựng và bảo vệ nhãn
hiệu hàng hóa 81
3.3.3 Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nƣớc

đối với kinh tế tƣ nhân trên địa bàn tỉnh Thái Bình 83
3.3.3.1. Về cải thiện môi trường kinh doanh và đổi mới quản lý nhà
nước tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân của tỉnh phát triển có hiệu quả
hơn trong giai đoạn 2011-2020 83
3.3.3.2. Nâng cao vai trò của chính quyền địa phương 86
KẾT LUẬN 89
DANH MỤC TÀI LIỆUTHAM KHẢO 91


1

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
Nhìn tổng thể, sau 25 năm đổi mới, Việt Nam đã chuyển đổi thành
công từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế
thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Trong nền kinh tế mới này, chế độ sở
hữu và cơ cấu các thành phần kinh tế đƣợc đổi mới một cách cơ bản. Trƣớc
đây, sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể là
chủ yếu. Hiện nay, nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam đƣợc dựa trên nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, đan
xen hỗn hợp, gồm có: Kinh tế nhà nƣớc, kinh tế tập thể, kinh tế tƣ nhân, và
kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Kinh tế tƣ nhân đƣợc xác định có vai trò
quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế. Các loại hình doanh
nghiệp của tƣ nhân đƣợc khuyến khích phát triển không hạn chế về quy mô
trong mọi ngành nghề, lĩnh vực, kể cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh quan
trọng của nền kinh tế mà pháp luật không cấm.
Trong quá trình thực hiện đƣờng lối đổi mới của Đảng, kinh tế tƣ nhân
ở nƣớc ta đã phát triển khá mạnh, đặc biệt là từ năm 2001 đến nay. Những
đóng góp nổi trội của kinh tế tƣ nhân thể hiện ở chỗ đã tạo thêm nhiều việc

làm; huy động ngày càng nhiều nguồn vốn trong xã hội đầu tƣ vào sản xuất
kinh doanh; tỷ trọng của kinh tế tƣ nhân trong GDP ngày càng tăng; góp phần
chuyển dịch cơ cấu kinh tế; tăng kim ngạch xuất khẩu, thúc đẩy cạnh tranh, tăng
thêm số lƣợng công nhân và doanh nhân Việt Nam… Tuy nhiên, kinh tế tƣ nhân
ở nƣớc ta đến nay vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém: phần lớn có quy mô nhỏ,
vốn ít, công nghệ sản xuất lạc hậu, trình độ quản lí thấp, hiệu quả và sức cạnh
tranh yếu; mặt khác, hầu hết các doanh nghiệp tƣ nhân cũng đang khó tiếp cận
các nguồn lực - nhất là về vốn, còn gặp nhiều trở ngại về mặt bằng sản xuất kinh
doanh, về môi trƣờng pháp lí và môi trƣờng tâm lí xã hội
2

Là một bộ phận của nền kinh tế Việt Nam, Thái Bình có vị trí quan
trọng, gần các trung tâm kinh tế lớn của miền Bắc nhƣ Hải Phòng, Quảng
Ninh, Hải Dƣơng… và lại nằm trên trục đƣờng 10 nối liền với các cảng biển,
rất thuận tiện trong giao thông vận tải. Kinh tế tƣ nhân ở Thái Bình trong
những năm vừa qua đã có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển chung
của cả tỉnh: giải quyết việc làm, tạo nguồn thu cho ngân sách, thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn,…
Tuy nhiên, kinh tế tƣ nhân ở Thái Bình cũng còn nhiều hạn chế, yếu
kém, đặc biệt là trƣớc áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt của cơ chế thị
trƣờng. Hầu hết các doanh nghiệp tƣ nhân ở địa phƣơng này chỉ có quy mô
nhỏ, hiệu quả sản xuất kém, môi trƣờng kinh doanh còn nhiều bất cập, khả
năng tiếp cận các nguồn lực phát triển còn nhiều vƣớng mắc,
Tình hình nói trên đòi hỏi phải nghiên cứu, đánh giá đúng thực trạng,
tìm ra nguyên nhân, chỉ ra xu hƣớng phát triển của kinh tế tƣ nhân trên địa
bàn tỉnh Thái Bình; trên cơ sở đó xác định phƣơng hƣớng và các giải pháp
thích hợp để thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển, phát huy tốt hơn vai trò của
thành phần kinh tế này ở tỉnh Thái Bình trong những năm tới.
2. Tình hình nghiên cứu
Cho đến nay, ở nƣớc ta đã có nhiều công trình nghiên cứu về sự tồn tại

khách quan, vai trò, giải pháp phát triển kinh tế tƣ nhân trong quá trình xây
dựng và phát triển nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên, chƣa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn
diện về phát triển kinh tế tƣ nhân trên địa bàn tỉnh Thái Bình trong quá trình
đổi mới.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích
Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế tƣ nhân ở tỉnh Thái
Bình trong quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trƣờng (tập trung vào giai
3

đoạn 2001 - 2010); từ đó đề xuất phƣơng hƣớng và các giải pháp phát triển
thành phần kinh tế này trên địa bàn của địa phƣơng ở giai đoạn 2011 - 2020.
3.2. Nhiệm vụ
- Hệ thống hoá, góp phần làm rõ thêm một số vấn đề lý luận cơ bản;
chủ trƣơng, quan điểm, chính sách đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam và
Nhà nƣớc Việt Nam về kinh tế tƣ nhân; nghiên cứu kinh nghiệm của một số
tỉnh, thành phố trong nƣớc về phát triển kinh tế tƣ nhân trong thời kỳ đổi mới
và rút ra những vấn đề có thể tham khảo cho tỉnh Thái Bình.
- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế tƣ nhân ở tỉnh Thái
Bình trong quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trƣờng (tập trung vào giai
đoạn 2001 - 2010).
- Đề xuất và luận chứng cơ sở khoa học về phƣơng hƣớng và giải pháp
góp phần thúc đẩy kinh tế tƣ nhân ở tỉnh Thái Bình phát triển mạnh mẽ và có
hiệu quả hơn trong giai đoạn 2011 - 2020.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về sự phát triển kinh tế tƣ nhân ở Thái Bình trong
quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trƣờng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Tập trung nghiên cứu về sự phát triển kinh tế tƣ nhân
trong quá trình chuyển đổi trên địa bàn tỉnh Thái Bình.
- Về thời gian: Tập trung vào giai đoạn 2001 – 2010 và đặt trong tầm
nhìn đến năm 2020.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phƣơng pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, luận văn áp dụng một số phƣơng pháp nghiên cứu phù
hợp với đối tƣợng, nhiệm vụ đã xác định, nhƣ logic kết hợp với lịch sử, thống
4

kê, xử lý các số liệu, tƣ liệu; phân tích, tổng hợp, so sánh, mô hình hóa; kế
thừa các kết quả nghiên cứu đã có…
6. Đóng góp của luận văn
- Phân tích đặc điểm của kinh tế tƣ nhân nhìn từ góc độ sở hữu để thấy
đƣợc tầm quan trọng của sở hữu tƣ nhân.
- Phân tích sự tồn tại khách quan và chỉ ra tính phổ biến của kinh tế tƣ
nhân trong nền kinh tế thị trƣờng thế giới.
- Nghiên cứu việc phát triển kinh tế tƣ nhân của các tỉnh Hƣng Yên và
Hải Dƣơng để rút ra bài học kinh nghiệm cho Thái Bình.
- Dự báo những tác động về mặt kinh tế- xã hội tới sự phát triển của
kinh tế tƣ nhân trên địa bàn tỉnh Thái Bình.
- Đƣa ra những giải pháp mới thúc đẩy sự phát triển và nâng cao vai trò
hiệu quả của kinh tế tƣ nhân ở Thái Bình giai đoạn 2011- 2020.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn đƣợc kết cấu thành 03 chƣơng:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về phát
triển kinh tế tƣ nhân
Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế tƣ nhân ở tỉnh Thái Bình trong
giai đoạn 2001 – 2010
Chương 3: Phƣơng hƣớng, giải pháp phát triển kinh tế tƣ nhân trên địa

bàn tỉnh Thái Bình trong giai đoạn 2011 – 2020
5

CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƢ NHÂN

1.1. KINH TẾ TƢ NHÂN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG
CỦA NHÂN LOẠI
1.1.1. Đặc điểm của kinh tế thị trƣờng nhìn từ góc độ sở hữu
Lịch sử phát triển của xã hội loài ngƣời là lịch sử phát triển không
ngừng của lực lƣợng sản xuất và phân công lao động xã hội, đồng thời cũng là
quá trình thay thế lẫn nhau của các phƣơng thức sản xuất xã hội. Nhƣng bất
cứ nền sản xuất xã hội nào cũng đều phải giải quyết ba vấn đề cơ bản: Sản
xuất cái gì, sản xuất nhƣ thế nào, sản xuất cho ai? Để giải quyết những vấn đề
này, về cơ bản, có ba kiểu tổ chức kinh tế - xã hội, đó là kinh tế tự nhiên, kinh
tế kế hoạch hóa tập trung và kinh tế hàng hóa mà giai đoạn phát triển cao của
nó là kinh tế thị trƣờng.
Kinh tế hàng hóa ra đời từ kinh tế tự nhiên, trên cơ sở phân công lao
động xã hội phát triển và sự tách biệt về kinh tế của những ngƣời sản xuất.
Đó là phƣơng thức tổ chức hoạt động kinh tế - xã hội, ở đó ngƣời sản xuất ra
sản phẩm không phải để thỏa mãn nhu cầu trực tiếp của mình, mà nhằm để
trao đổi, để bán trên thị trƣờng. Kinh tế hàng hóa ra đời từ rất sớm và đã từng
tồn tại trong nhiều phƣơng thức sản xuất. Hình thức đầu tiên của nó là kinh tế
hàng hóa giản đơn, đã đƣợc hình thành và phát triển từng bƣớc trong xã hội
chiếm hữu nô lệ, và tiếp tục phát triển cao hơn trong xã hội phong kiến. Khi
quan hệ hàng hóa – tiền tệ phát triển mạnh trong thời kỳ tan rã của phƣơng
thức sản xuất phong kiến, một số nƣớc tiên tiến nhất ở Tây Âu đã đi đầu trong
việc quá độ sang chủ nghĩa tƣ bản. Đây cũng là quá trình chuyển từ kinh tế
hàng hóa giản đơn sang kinh tế hàng hóa tƣ bản chủ nghĩa. Với sự ra đời và

6

phát triển của chủ nghĩa tƣ bản, kinh tế hàng hóa giản đơn phát triển thành
kinh tế thị trƣờng.
Kinh tế thị trƣờng nhƣ chúng ta đã biết là kinh tế hàng hóa đạt đến trình
độ xã hội hóa cao và trình độ kỹ thuật cao, trong đó toàn bộ hay hầu hết các
yếu tố đầu vào và đầu ra của nền sản xuất xã hội đều phải thông qua thị
trƣờng. Kinh tế thị trƣờng tồn tại trong xã hội chiếm hữu nô lệ, phong kiến,
trong chế độ tƣ bản chủ nghĩa và cả trong chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong các
thời kỳ lịch sử và ở những nƣớc khác nhau, kinh tế thị trƣờng có những đặc
điểm riêng cụ thể; nhƣng dù ở đâu và lúc nào cũng phải vận động, phát triển theo
những nguyên tắc phổ biến có tính quy luật, trong đó nổi bật là: tự do trong sản
xuất kinh doanh (tự do đầu tƣ), tự do trong quan hệ trao đổi (tự do thƣơng mại),
tự do trong tiêu dùng (mua hàng hóa hay không mua, mua ở đâu, của ai là do
ngƣời tiêu dùng tự quyết định); cạnh tranh trong nội bộ từng ngành, cạnh tranh
giữa các ngành bên trong nền kinh tế thị trƣờng của một nƣớc, cạnh tranh giữa
các nƣớc cùng sử dụng phƣơng tiện kinh tế thị trƣờng…
Lịch sử phát triển của nền kinh tế thị trƣờng đến nay cho thấy nó có
mặt ở nhiều chế độ kinh tế - xã hội khác nhau, mà điều kiện tiên quyết cho sự
tồn tại và phát triển của nó là sự hiện diện của nhiều hình thức sở hữu. Sở hữu là
quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời trong quá trình sản xuất, phản ánh quá
trình chiếm hữu của cải vật chất, mà ở đó sở hữu về tƣ liệu sản xuất giữ vai
trò quyết định. Sở hữu là mặt cơ bản của quan hệ sản xuất, vận động và biến
đổi cùng với hệ thống kinh tế - xã hội, đặc biệt là có quan hệ mật thiết với quá
trình phát triển của lực lƣợng sản xuất xã hội .
Khi nhà nƣớc xuất hiện, các quan hệ sở hữu đƣợc thể chế hoá bằng
pháp luật, hình thành nên chế độ sở hữu. Chế độ sở hữu quy định các quyền:
sử dụng, định đoạt, chuyển nhƣợng, cho thuê, thừa kế, thế chấp…, và là cơ sở
kinh tế và pháp lý để bảo đảm việc thực hiện các lợi ích của các chủ thể kinh
7


tế. Quan hệ sở hữu còn chứa đựng nội dung kinh tế - xã hội gắn liền với quan
hệ tổ chức - quản lý; với quan hệ phân phối thông qua các lợi ích kinh tế.
Hình thức sở hữu là cơ sở khách quan của chế độ sở hữu tƣơng ứng với
những trình độ phân công lao động xã hội và trình độ phát triển của lực lƣợng
sản xuất. Xã hội loài ngƣời đã trải qua nhiều hình thức sở hữu khác nhau, từ
sở hữu bộ lạc đến các hình thức sở hữu tƣ nhân và sở hữu xã hội. Trên thực
tế, cho đến nay, chỉ tồn tại ba hình thức sở hữu cơ bản: sở hữu công cộng, sở
hữu tƣ nhân (sở hữu tƣ nhân nhỏ và sở hữu tƣ nhân tƣ bản chủ nghĩa), sở hữu
hỗn hợp. Trong một hình thái kinh tế - xã hội, sự tồn tại cùng lúc nhiều hình
thức sở hữu là một tất yếu khách quan. Sự tác động lẫn nhau giữa sở hữu và
các hình thức kinh tế đƣợc nối liền qua khâu trung gian là lợi ích kinh tế. Sự
tƣơng tác lẫn nhau giữa các lợi ích điều chỉnh các hình thức sở hữu cho phù
hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lƣợng sản xuất, khơi dậy động
lực, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Sở hữu không phải là động lực trực tiếp
nhƣng chính quan hệ sở hữu lại quyết định bản chất, cơ cấu hệ thống lợi ích
kinh tế và trở thành nguồn gốc sâu xa của động lực kinh tế.
Nhƣ vậy, xét từ góc độ sở hữu thì kinh tế thị trƣờng có những đặc điểm sau:
- Kinh tế thị trường tất yếu phải dựa trên sự tồn tại khách quan của
nhiều hình thức sở hữu, trong đó quan trọng nhất là sở hữu tư nhân. Lịch sử
phát triển của kinh tế thị trƣờng cho thấy nó có mặt ở nhiều chế độ kinh tế -
xã hội khác nhau mà điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển của nó là
sự hiện diện của nhiều hình thức sở hữu. Trong một nền kinh tế, có nhiều hình
thức sở hữu, nhiều chủ thể kinh tế, sẽ tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ thúc đẩy
kinh tế phát triển. Động lực chung của mọi nền kinh tế thị trƣờng là lợi ích
kinh tế - nói cách khác, là lợi nhuận. Khả năng tạo ra lợi nhuận cao hay thấp
lại phụ thuộc chặt chẽ vào tính hợp lý và minh bạch của quan hệ sở hữu. Khi
các nguồn lực đầu tƣ là sở hữu của tƣ nhân, thì các nhà đầu tƣ tƣ nhân phải
8


bằng mọi cách để bảo đảm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đó nhằm tạo ra
lợi nhuận và lợi nhuận siêu ngạch. Lịch sử của kinh tế thị trƣờng hơn 200
năm qua ở các nƣớc tƣ bản chủ nghĩa phát triển cho thấy, khu vực kinh tế tƣ
nhân bao giờ cũng có hiệu quả cao hơn so với khu vực kinh tế nhà nƣớc trong
việc sử dụng các nguồn lực đầu tƣ.
- Bắt nguồn từ tính xác định và minh bạch của quan hệ sở hữu, lợi ích
kinh tế được hình thành và trở thành động lực thúc đẩy các chủ thể kinh tế
phát triển sản xuất kinh doanh. Với tƣ cách là ngƣời sở hữu, mọi chủ thể hoạt
động trong kinh tế thị trƣờng đều hƣớng vào mục tiêu lợi ích mà trƣớc hết là
lợi ích kinh tế của chính mình. Bởi vậy, trong nền kinh tế thị trƣờng lợi nhuận
đƣợc coi là mục đích, là động lực của hoạt động kinh doanh và cạnh tranh là
môi trƣờng và điều kiện tất yếu.
- Trên cơ sở tồn tại khách quan của nhiều hình thức sở hữu, đặc biệt là
sở hữu tư nhân, cơ chế thị trường hình thành và chịu sự chi phối, điều tiết của
các quy luật kinh tế: quy luật giá trị, quy luật cung - cầu, quy luật cạnh tranh,
quy luật lƣu thông tiền tệ…
- Do được đảm bảo về phương diện sở hữu, các chủ thể thị trường đều
có tính độc lập. Ngƣời sản xuất – kinh doanh có quyền tự do kinh doanh, tự
chủ trong việc ra các quyết định sản xuất cái gì, sản xuất nhƣ thế nào và sản
xuất cho ai; họ có quyền tự quyết định lựa chọn loại hình tổ chức và quản lý
sản xuất – kinh doanh thích hợp; độc lập trong gánh vác rủi ro và tự chịu
trách nhiệm lỗ - lãi trong sản xuất kinh doanh; theo đó, họ phải lấy lợi nhuận
làm động lực và mục tiêu của hoạt động kinh tế. Còn ngƣời tiêu dùng đƣợc
chủ động trong lựa chọn hàng hóa trên thị trƣờng và đƣợc xem là “thƣợng
đế”, ngƣời quyết định “ bỏ phiếu” cho việc mở rộng hay thu hẹp việc sản
xuất, kinh doanh một mặt hàng nào đó.
9

- Tính đa sở hữu là cơ sở để thị trường giữ vai trò quyết định phân bổ
các nguồn lực của xã hội. Các yếu tố đầu vào và đầu ra của sản xuất phải

đƣợc lƣu thông tự do trên thị trƣờng. Muốn vậy, hệ thống thị trƣờng các loại
phải đƣợc hình thành đồng bộ và vận hành trôi chảy theo tín hiệu của thị
trƣờng, gồm: Thị trƣờng tƣ liệu sản xuất, hàng tiêu dùng và các sản phẩm
dịch vụ; thị trƣờng tài chính; thị trƣờng sức lao động; thị trƣờng đất đai và bất
động sản; thị trƣờng khoa học và công nghệ… Để các thị trƣờng này vận hành
thông suốt và làm tròn chức năng quyết định phân phối tài nguyên thì phải có
chủ thể thị trƣờng đông đảo, nhằm khắc phục tình trạng cơ cấu độc quyền từ
phía ngƣời bán hoặc từ phía ngƣời mua. Điều đó gắn liền với hệ thống pháp
luật đảm bảo quyền tự do sản xuất – kinh doanh và tự do tiêu dùng của các
chủ thể thị trƣờng.
- Bắt nguồn từ quyền tự do trong hoạt động sản xuất – kinh doanh cuả
các chủ thể sở hữu, giá cả hàng hóa, dịch vụ hình thành tự do trên thị trường,
phụ thuộc vào hao phí lao động xã hội cần thiết và sự điều tiết của cung cầu
thị trường. Theo đó, tính cạnh tranh của nền kinh tế đƣợc đề cao, tạo động lực
phát triển, điều tiết và điều chỉnh các hoạt động kinh tế, để các nguồn lực có
hạn của xã hội đƣợc phân bổ hợp lý, hiệu quả. Mọi sự can thiệp của con
ngƣời không tƣơng thích với thị trƣờng trong việc hình thành giá đều dẫn tới
bóp méo các tín hiệu thị trƣờng và làm tổn hại đến sự vận hành trôi chảy và
hiệu quả của cả nền kinh tế.
- Sự tồn tại khách quan của nhiều hình thức sở hữu, mà trong đó “ hạt
nhân” là sở hữu tư nhân cũng đóng vai trò là cơ sở để tạo nên thuộc tính nổi bật
của nền kinh tế thị trường – đó là nền kinh tế mở (cả bên trong và với bên ngoài),
thị trƣờng dân tộc thông suốt, gắn liền với thị trƣờng quốc tế. Điều đó xuất phát từ
quyền đƣợc tự do kinh doanh của các chủ thể thị trƣờng và tính lƣu động của các
nguồn lực xã hội: Vốn, hàng hóa, sức lao động do thị trƣờng điều tiết.
10

- Trên cơ sở thừa nhận, tôn trọng sự tồn tại tất yếu của nhiều hình thức
sở hữu, và nhất là sở hữu tư nhân trong nền kinh tế thị trường, các chính phủ
quản lý vĩ mô nền kinh tế: Do bản thân cơ cấu thị trƣờng có tính tự phát, khó

đảm bảo đƣợc sự cạnh tranh hoàn hảo và khắc phục những bất ổn về xã hội,
nên trong nền kinh tế thị trƣờng hiện đại cần có sự quản lý của nhà nƣớc để
khắc phục các khuyết tật của thị trƣờng. Chính phủ tập trung thực hiện quản
lý các cân đối vĩ mô, sử dụng rộng rãi các công cụ, kế hoạch định hƣớng, hệ
thống luật pháp, chính sách và các đòn bẩy kinh tế mà không can thiệp sâu
vào hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
1.1.2. Sự tồn tại khách quan và tính phổ biến của kinh tế tƣ nhân
trong các nền kinh tế thị trƣờng trên thế giới
Xã hội loài ngƣời trải qua nhiều hình thức sở hữu khác nhau, từ sở hữu
bộ lạc đến các hình thức sở hữu tƣ nhân và sở hữu xã hội. Trên thực tế, cho
đến nay, chỉ tồn tại ba hình thức sở hữu cơ bản: Sở hữu công cộng, sở hữu tƣ
nhân và sở hữu hỗn hợp. Trong đó, sở hữu tƣ nhân, xét về nguồn gốc lịch sử
là hình thức sở hữu tồn tại lâu dài qua nhiều phƣơng thức sản xuất. Nó là hệ
quả trực tiếp của quá trình phát triển lực lƣợng sản xuất và của quyền tự do cá
nhân, phát huy mọi tiềm năng vốn có của mỗi cá nhân. Sở hữu tƣ nhân là
quan hệ sở hữu xác nhận quyền hợp pháp của tƣ nhân trong chiếm hữu, quyết
định cách thức tổ chức sản xuất, chi phối và hƣởng lợi từ kết quả của quá
trình sản xuất. Cho đến nay, những động lực do sở hữu tƣ nhân tạo ra khó có
hình thức nào thay thế đƣợc nó. Sở hữu tƣ nhân về quá trình sản xuất là cơ sở
ra đời khu vực kinh tế tƣ nhân. Thực tế cho thấy chƣa có nƣớc nào thành công
trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trƣờng lại thiếu khu vực kinh tế tƣ
nhân. Kinh tế thị trƣờng tồn tại dƣới nhiều mô hình khác nhau ở các quốc gia.
Chẳng hạn nhƣ mô hình kinh tế thị trƣờng xã hội ở Cộng hòa liên bang Đức,
mô hình kinh tế thị trƣờng kiểu Thụy Điển, mô hình kinh tế thị trƣờng kiểu
11

Nhật Bản, mô hình kinh tế thị trƣờng tự do kiểu Ăng lô – xắc xông ở Anh và
Mỹ, mô hình kinh tế thị trƣờng xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc, mô hình kinh
tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam… Song các mô hình
kinh tế thị trƣờng đều có đặc điểm chung là sự hình thành, phát triển đều phải

dựa trên tính chất tƣ nhân của sản xuất, hay nói cách khác là dựa trên sự đa
dạng hóa các chủ thể kinh tế. Nền kinh tế thị trƣờng phát triển càng cao, các
loại chủ thể kinh tế hay các hình thức sở hữu tƣ liệu sản xuất càng đa dạng.
Điều đó đem lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế: cho phép khai thác những tiềm
năng đa dạng của nền kinh tế; tạo quan hệ cạnh tranh; thúc đẩy cải tiến kỹ
thuật, phát triển lực lƣợng sản xuất; ngƣời tiêu dùng đƣợc quan tâm…
Sự đa dạng hóa các hình thức sở hữu tạo điều kiện phát huy mọi tiềm
năng, nguồn lực vào phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy tính chủ động sáng tạo,
linh hoạt của các chủ thể kinh tế ( phản ứng nhanh nhạy, kịp thời nắm bắt nhu
cầu của thị trƣờng, thƣờng xuyên cải tiến phƣơng pháp quản lý, áp dụng tiến bộ
khoa học kỹ thuật…). Do đó làm cho nền kinh tế phát triển năng động hơn.
Nhƣ vậy, kinh tế tƣ nhân tồn tại một cách khách quan và phổ biến trong
các nền kinh tế thị trƣờng trên thế giới, nó là một động lực thúc đẩy sản xuất
xã hội phát triển trong nền kinh tế thị trƣờng. Ngƣợc lại, nền kinh tế thị
trƣờng chính là môi trƣờng hoạt động và phát triển của các thành phần kinh tế
trong đó có kinh tế tƣ nhân. Hầu hết các nƣớc tƣ bản chủ nghĩa đều lấy khu
vực kinh tế tƣ nhân làm nền tảng, là “ xƣơng sống” của nền kinh tế thị trƣờng;
tạo điều kiện ngày càng thuận lợi thúc đẩy khu vực này phát triển, qua đó
không ngừng tăng cƣờng sức mạnh kinh tế quốc gia, mở rộng nguồn thu cho
ngân sách quốc gia để đầu tƣ ngày càng lớn cho phát triển lực lƣợng sản xuất,
phát triển giáo dục và đào tạo, y tế, quốc phòng, an ninh, giải quyết các phúc
lợi xã hội đa dạng khác và phát triển nền kinh tế mới – kinh tế tri thức… Nhƣ
vậy, bằng cách dựa hẳn vào và khai thác ngày càng triệt để vai trò, nhất là khả
12

năng sinh lợi cao của khu vực tƣ nhân, chính các nƣớc tƣ bản chủ nghĩa phát
triển nhất trên thế giới hiện nay đã nâng cao dần trình độ xã hội hóa của nền
kinh tế thị trƣờng, tạo lâp đƣợc trên thực tế những tiền đề, điều kiện vật chất
cho chủ nghĩa xã hội và những “thành tố” mang tính chất xã hội chủ nghĩa thể
hiện ở việc phát triển con ngƣời, chăm sóc các đối tƣợng thuộc các nhóm

“yếu thế” thông qua hệ thống chính sách an sinh xã hội… Tuy nhiên, đối với
ngay cả các nƣớc tƣ bản chủ nghĩa phát triển nhất hiện nay, khoảng cách để
có thể đi tới chủ nghĩa xã hội đích thực nhƣ Mác dự báo cũng còn rất xa.
Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ điểm xuất phát rất thấp với nền
kinh tế nông nghiệp lạc hậu, chiến tranh tàn phá nặng nề. Trƣớc mắt, Việt
Nam phải phát triển những cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội bằng cách
thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần. Việt Nam muốn phát triển thành công nền kinh tế thị
trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa tất yếu phải đa dạng hóa các hình thức sở
hữu, tồn tại nhiều thành phần kinh tế trong đó có kinh tế tƣ nhân. Chính vì thế
từ Đại hội Đảng VI (1986) đến Đại hội XI (2011), Đảng Cộng sản Việt Nam
đã khẳng định một cách nhất quán chủ trƣơng, chính sách đa dạng hóa các
hình thức sở hữu, tạo cơ sở cho nền kinh tế thị trƣờng ở Việt Nam phát triển
theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa.
1.1.3. Đặc điểm, bản chất và vai trò của kinh tế tƣ nhân
1.1.3.1. Về đặc điểm, bản chất của kinh tế tư nhân
Xung quanh quan niệm về kinh tế tƣ nhân hay khu vực kinh tế tƣ nhân,
hiện nay có nhiều ý kiến chƣa thống nhất. Theo quan niệm phổ biến trên thế
giới, nền kinh tế thị trƣờng thƣờng đƣợc phân chia thành hai khu vực: Kinh tế
nhà nƣớc và kinh tế tƣ nhân. Kinh tế tƣ nhân là khu vực kinh tế đƣợc hình
thành và phát triển dựa trên nền tảng chủ yếu là sở hữu tƣ nhân về tƣ liệu sản
xuất và lợi ích cá nhân. Ở nƣớc ta, có quan niệm cho rằng, kinh tế tƣ nhân
13

đồng nghĩa với kinh tế tƣ bản tƣ nhân. Có quan niệm đồng nhất kinh tế tƣ
nhân với kinh tế ngoài quốc doanh. Có quan niệm cho rằng kinh tế có 100%
vốn nƣớc ngoài (thuộc sở hữu tƣ nhân) nằm trong kinh tế tƣ nhân. Ở Việt
Nam, Đại hội X của Đảng, xác định khu vực kinh tế tƣ nhân gồm: kinh tế cá
thể, tiểu chủ và kinh tế tƣ bản tƣ nhân hoạt động với hình thức hộ kinh doanh
cá thể và các loại hình doanh nghiệp của tƣ nhân. Trong đó, kinh tế cá thể,

tiểu chủ dựa trên sở hữu tƣ nhân về tƣ liệu sản xuất quy mô nhỏ, dựa vào sức
lao động của chính họ giá trị thặng dƣ không đáng kể. Kinh tế tƣ bản tƣ nhân
là loại hình kinh tế dựa trên sở hữu tƣ nhân lớn về tƣ liệu sản xuất của một
hay nhiều chủ, có sử dụng lao động làm thuê, hoạt động độc lập, chủ thể tƣ
bản đồng thời là chủ doanh nghiệp. Đến Đại hội XI, tất cả các bộ phận này
đƣợc “gộp” lại, gọi chung là kinh tế tƣ nhân.
Sở hữu tƣ nhân có quy mô lớn ra đời trên cơ sở tích tụ tƣ bản và sử
dụng nhiều lao động làm thuê. Phần lớn giá trị thặng dƣ (m) đƣợc nó tích luỹ
để tái sản xuất mở rộng nhằm mục đích không ngừng phát triển sản xuất kinh
doanh và tạo ra ngày càng nhiều hơn giá trị thặng dƣ (m). Theo Luật
Doanh nghiệp năm 1999, sau đó đƣợc hoàn thiện thành Luật Doanh
nghiệp năm 2005, có hiệu lực vào 01/07/2006, thì việc tổ chức quản lý
sản xuất của kinh tế tƣ bản tƣ nhân đƣợc biểu hiện ở mô hình doanh
nghiệp gồm có: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty
hợp doanh, doanh nghiệp tƣ nhân.
Về quan hệ phân phối, trong kinh tế tƣ nhân, các hình thức tổ chức sản
xuất kinh doanh khác nhau có quan hệ phân phối khác nhau. Đối với kinh tế
cá thể, do dựa vào sức lao động của bản thân nên sản phẩm và kết quả lao
động chủ yếu thuộc về hộ gia đình hay cá nhân. Đối với kinh tế tƣ bản tƣ
nhân, chủ sở hữu tƣ liệu sản xuất chiếm phần sản phẩm thặng dƣ (m) và
ngƣời lao động đƣợc hƣởng phần sản phẩm tất yếu (v). Khi nền kinh tế phát
14

triển theo chiều rộng, các yếu tố khoa học – công nghệ và quản lý chƣa có vai
trò quan trọng mà dựa vào khai thác tài nguyên và sức lao động thì quan hệ
phân phối chủ yếu dựa trên sự đóng góp về vốn, tƣ liệu sản xuất, sức lao động
làm cho toàn bộ sản phẩm thặng dƣ thuộc về nhà tƣ bản. Trong nền kinh tế thị
trƣờng hiện đại, các yếu tố khoa học công nghệ, tổ chức quản lý của chủ
doanh nghiệp, trình độ và tay nghề của ngƣời lao động cùng với thị
trƣờng…đóng vai trò ngày càng quan trọng. Chủ doanh nghiệp không còn là

ngƣời sở hữu duy nhất, bên cạnh đó, vai trò điều tiết phân phối của nhà nƣớc
tăng lên thì quan hệ phân phối trong các doanh nghiệp trở nên phức tạp hơn,
bằng nhiều hình thức khác nhau. Dù kinh tế tƣ nhân có nhiều trình độ phát
triển khác nhau nhƣng có bản chất chung là sở hữu tƣ nhân về tƣ liệu sản
xuất, về các nguồn lực sản xuất. Những doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế
tƣ nhân có đặc trƣng mang tính bản chất là họ sử dụng đồng vốn của chính họ
và họ có quyền đƣợc hƣởng thành quả lao động do họ làm ra. Tự bỏ vốn, tự tổ
chức, tự chủ trong kinh doanh và tự bù lỗ là nguyên tắc hoạt động của các loại
hình kinh tế tƣ nhân. Đó là điểm khác biệt quan trọng giữa khu vực kinh tế tƣ
nhân và khu vực kinh tế nhà nƣớc, là đặc trƣng cốt lõi của kinh tế tƣ nhân.
Tuy nhiên kinh tế tƣ nhân cũng bộc lộ mặt tiêu cực là bóc lột giá trị thặng dƣ
mà mức độ bóc lột phụ thuộc vào bản chất của chế độ chính trị, vì vậy vẫn
còn tồn tại một bộ phận doanh nghiệp tƣ nhân chạy theo lợi nhuận mù quáng
gây thiệt hại cho xã hội.
Xét về nguồn gốc, sở hữu tƣ nhân và kinh tế tƣ nhân ra đời là kết quả
tất yếu của sự phát triển lực lƣợng sản xuất. Sự phát triển của lực lƣợng sản
xuất là nguồn gốc cơ bản và trực tiếp ra đời của chế độ tƣ hữu.
Từ đó, nhìn chung, kinh tế tư nhân có những đặc điểm cơ bản:
- Kinh tế tư nhân gắn liền với lợi ích cá nhân mà lợi ích cá nhân trong
lịch sử phát triển của xã hội loài ngƣời là động lực trƣớc hết và chủ yếu thúc
15

đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Do đó, kinh tế tƣ nhân có sức sống mãnh
liệt, nó xuất hiện một cách tự nhiên để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con
ngƣời nên luôn chứa đựng bên trong những nhân tố ổn định tự có và ngay
trong môi trƣờng đào thải khắc nghiệt kinh tế tƣ nhân vẫn tồn tại. Trong các
nền kinh tế không có sự cấm đoán đối với kinh tế tƣ nhân thì các doanh
nghiệp thuộc loại hình tế tƣ nhân đƣợc hình thành rất linh hoạt, dễ dàng, thích
ứng theo nguyên tắc “ở đâu có cầu, ở đó có cung”.
- Kinh tế tư nhân với mô hình tiêu biểu là doanh nghiệp của tư nhân là

tổ chức kinh doanh của nền sản xuất hàng hoá ở giai đoạn cao.
Sự ra đời và phát triển của kinh tế tƣ nhân, gắn liền với kinh tế hàng
hoá. Cùng với sự phát triển của sở hữu tƣ nhân và phân công lao động xã hội,
kinh tế hàng hoá ra đời. Kinh tế hàng hoá có hai giai đoạn phát triển: Kinh tế
hàng hoá giản đơn và kinh tế thị trƣờng. Trong nền sản xuất hàng hoá giản
đơn, khu vực kinh tế tƣ nhân có quy mô nhỏ chiếm tỉ trọng lớn gắn liền với
sản xuất nhỏ mà gia đình là đơn vị cơ bản dựa trên cơ sở huyết thống hoặc
công trƣờng thủ công. Khi kinh tế hàng hoá giản đơn phát triển thành kinh tế
hàng hoá tƣ bản chủ nghĩa (thực chất là kinh tế thị trƣờng) có nền tảng là sở
hữu tƣ nhân tƣ bản chủ nghĩa về tƣ liệu sản xuất, hoạt động trên cơ sở thuê
mƣớn lao động, thì kinh tế tƣ nhân phát triển mạnh mẽ với quy mô lớn và khả
năng ứng dụng khoa học và công nghệ ngày càng sâu rộng, cao, trở thành
động lực phát triển của nền kinh tế tƣ bản chủ nghĩa gắn liền với sản xuất lớn,
hiện đại dựa trên cơ sở của mô hình tổ chức doanh nghiệp có mục tiêu cao
nhất và cuối cùng là tạo ra giá trị thặng dƣ và không ngừng chuyển giá trị
thặng dƣ thành tích luỹ tăng thêm của sự phát triển kinh tế. Trong điều kiện
chủ nghĩa tƣ bản, sự thống trị của kinh tế tƣ nhân không làm cho sở hữu tƣ
nhân cá thể và các hoạt động của kinh tế tiểu chủ bị thủ tiêu mà ngƣợc lại vẫn
tồn tại và phát triển. Sự phát triển của lực lƣợng sản xuất và của kinh tế thị
16

trƣờng đã làm phong phú, phức tạp thêm các hình thức biểu hiện của sở hữu
tƣ nhân và kinh tế tƣ nhân. Sự đan xen của sở hữu nhà nƣớc với sở hữu tƣ
nhân ngày càng phổ biến, nền kinh tế có thêm các loại hình sở hữu hỗn hợp.
Lịch sử ra đời và phát triển của kinh tế tƣ nhân cho thấy hình thức điều
tiết tự nhiên của các hoạt động kinh tế tƣ nhân là cơ chế thị trƣờng. Cơ chế thị
trƣờng hiện đại là dạng thức sinh tồn của kinh tế tƣ nhân mà điển hình là mô
hình tổ chức doanh nghiệp - sản phẩm tự nhiên của cơ chế thị trƣờng - tự nó
lớn lên trong cơ chế thị trƣờng nên nó có một sức sống mạnh mẽ. Ngƣợc lại,
bất kỳ một nền kinh tế nào hoạt động theo cơ chế thị trƣờng đều phải thừa

nhận và khuyến khích mô hình tổ chức doanh nghiệp của kinh tế tƣ nhân nhƣ
là một tự nhiên. Trong cơ chế thị trƣờng - một kiểu tổ chức kinh tế mà ngƣời
tiêu dùng và nhà sản xuất tác động lẫn nhau thông qua thị trƣờng – các hoạt
động của chủ thể đều phải tuân theo và phù hợp với những quy luật kinh tế
nên năng động và hiệu quả, chỉ những doanh nghiệp thích ứng đƣợc mới tồn
tại và phát triển, ngƣợc lại thì phá sản, qua đó các nguồn lực xã hội đƣợc sử
dụng ngày càng có hiệu quả. Trong khi đó, kinh tế quốc doanh đƣợc sinh ra
bởi các mục đích chính trị, vận hành theo mệnh lệnh của Nhà nƣớc gắn với cơ
chế kế hoạch hóa tập trung, dù đƣợc hƣớng dẫn, động viên, chỉ thị phải ứng
xử theo cơ chế thị trƣờng nhƣng vẫn khó thích ứng. Vì vậy, phát triển kinh tế
thị trƣờng chính là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển kinh tế tƣ nhân nói
riêng và nền kinh tế nói chung. Ngƣợc lại, sự phát triển của kinh tế tƣ nhân là
nền tảng của kinh tế thị trƣờng.
Kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay có đặc điểm khác so với kinh tế tư
nhân ở các nước tư bản chủ nghĩa, thể hiện ở các mặt nhƣ sau:
- Sự tái lập kinh tế tƣ nhân ở nƣớc ta là sản phẩm của đổi mới, là kết
quả của chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, là bộ phận hữu cơ
của nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Các chủ hộ kinh
17

doanh cá thể và doanh nghiệp phần lớn xuất thân từ những đảng viên, đoàn
viên, cán bộ quân đội, tầng lớp tri thức sinh ra và trƣởng thành trong chế độ
mới. Ngƣời lao động cũng đƣợc hình thành trong xã hội mới. Lực lƣợng xã
hội tham gia kinh tế tƣ nhân là đông đảo các tầng lớp nhân dân. Trong các
doanh nghiệp, đã và đang hình thành tổ chức chính trị - xã hội do Đảng Cộng
sản Việt Nam tổ chức và lãnh đạo.
- Kinh tế tƣ nhân ở nƣớc ta phát triển theo định hƣớng do Đảng Cộng
sản Việt Nam đề ra đƣợc thể chế hoá thành hệ thống chính sách, pháp luật của
Nhà nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thể hiện ý chí nhân dân và vì
lợi ích của đông đảo nhân dân.

- Kinh tế tƣ nhân ở nƣớc ta trong thời kỳ đổi mới đã mang những yếu
tố có tính chất xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng vào giải phóng lực
lƣợng sản xuất thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế và tham gia giải quyết nhiều vấn
đề xã hội bức xúc.
- Các doanh nghiệp của kinh tế tƣ nhân thông qua hoạt động của mình
góp phần tăng cƣờng khối đại đoàn kết dân tộc, gắn kết các giai tầng xã hội vì
mục tiêu chung: dân giàu, nƣớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Quan hệ trực tiếp giữa chủ doanh nghiệp với công nhân, ngƣời lao động trong
từng doanh nghiệp không còn là quan hệ đối kháng mà mang tính chất hợp tác.
1.1.3.2. Vai trò của kinh tế tư nhân
Ở nƣớc ta, tƣ duy về vị trí, vai trò của kinh tế tƣ nhân gắn liền với quá
trình đổi mới cũng là quá trình Đảng ta nhận thức ngày càng đầy đủ hơn về
kinh tế tƣ nhân trong nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa
trong điều kiện quan hệ sản xuất thống trị trong xã hội không phải là quan hệ
sản xuất tƣ bản chủ nghĩa và do Nhà nƣớc xã hội chủ nghĩa quản lý dƣới sự
lãnh đạo của Đảng. Từ chỗ là một khu vực kinh tế phải “cải tạo” đến đƣợc
công nhận ( Nghị quyết Trung ƣơng 6 khoá VI ngày 29/3/1989, chính thức sử
18

dụng khái niệm kinh tế tƣ nhân) đƣợc khuyến khích phát triển, đƣợc xem là
một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân và khẳng định
phát triển kinh tế tƣ nhân là vấn đề chiến lƣợc lâu dài trong phát triển nền
kinh tế hàng hóa nhiều thành phần định hƣớng xã hội chủ nghĩa; đƣợc xác
định rõ vị trí góp phần quan trọng trong thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trọng
tâm là phát triển kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nâng cao nội lực của
đất nƣớc trong hội nhập kinh tế quốc tế (Nghị quyết Trung ƣơng 5 khoá 9
tháng 3/2002). Đại hội XI của Đảng (1/2011) đã khẳng định: Kinh tế tƣ nhân
có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế. Đồng thời
nhấn mạnh: Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận
hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa,

bình đẳng trƣớc pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành
mạnh. Văn kiện Đại hội XI đã vạch rõ định hƣớng cơ bản: Phát triển mạnh
các hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp tƣ nhân. Đồng thời
xoá bỏ mọi rào cản, tạo tâm lý xã hội và môi trƣờng kinh doanh thuận lợi cho
các loại hình doanh nghiệp của tƣ nhân, phát triển không hạn chế quy mô
trong mọi ngành nghề, lĩnh vực, kể cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh quan
trọng của nền kinh tế mà pháp luật không cấm. Về đối tƣợng tham gia vào
khu vực kinh tế tƣ nhân, đã mở rộng hơn: Mọi công dân có quyền tham gia
các hoạt động đầu tƣ, kinh doanh với quyền sở hữu tài sản và quyền tự do
kinh doanh đƣợc pháp luật bảo hộ; có quyền bình đẳng trong đầu tƣ, kinh
doanh, tiếp cận các cơ sở, nguồn lực kinh doanh, thông tin và nhận thông tin.
Về chính sách phát huy các nguồn lực, Đại hội XI chủ trƣơng: Khuyến khích
phát triển các loại hình doanh nghiệp, các hình thức tổ chức sản xuất kinh
doanh với sở hữu hỗn hợp, nhất là các doanh nghiệp cổ phần. Hoàn thiện cơ
chế, chính sách để phát triển mạnh kinh tế tƣ nhân theo quy hoạch và quy
định của pháp luật, thúc đẩy hình thành các tập đoàn kinh tế tƣ nhân, khuyến
19

khích tƣ nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nƣớc. Thu hút đầu tƣ
nƣớc ngoài có công nghệ hiện đại, thân thiện môi trƣờng và tăng cƣờng sự
liên kết với các doanh nghiệp trong nƣớc. Thực hiện Chƣơng trình quốc gia
về phát triển doanh nghiệp gắn với quá trình cơ cấu lại doanh nghiệp. Hỗ trợ
phát triển mạnh các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tạo điều kiện để hình thành
các doanh nghiệp lớn, có sức cạnh tranh trên thị trƣờng.
Từ khi đổi mới đến nay vai trò của kinh tế tƣ nhân ngày càng đƣợc thể
hiện rõ, đặc biệt là đối với sự phát triển của nền kinh tế thị trƣờng và đời sống
xã hội ở Việt Nam.
Vai trò của kinh tế tư nhân đối với sự phát triển của nền kinh tế thị
trường, thể hiện ở những điểm sau:
- Sự phát triển của kinh tế tƣ nhân là nền tảng của kinh tế thị trƣờng.

Điều kiện tiên quyết cho sự hình thành và phát triển của nền kinh tế thị trƣờng
là đa dạng hóa các hình thức sở hữu, tồn tại nhiều thành phần kinh tế, trong
đó kinh tế tƣ nhân là thành phần rất quan trọng. Bất kỳ một nền kinh tế nào
hoạt động theo cơ chế thị trƣờng đều phải thừa nhận và khuyến khích mô hình
tổ chức doanh nghiệp của kinh tế tƣ nhân nhƣ là một tự nhiên. Các doanh
nghiệp tƣ nhân gắn liền với lợi ích kinh tế sát sƣờn của mình nên họ luôn
năng động sáng tạo và hoạt động đạt hiệu quả cao. Sự tham gia của các
doanh nghiệp tƣ nhân trong nền kinh tế thúc đẩy các chủ thể kinh tế khác
cùng cạnh tranh phát triển nhờ đó vừa cho phép khai thác có hiệu quả cao
tiềm lực vốn, tay nghề, tƣ liệu sản xuất … của mỗi cá nhân trong xã hội để
kích thích năng lực nội sinh, tạo động lực thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế, tận
dụng triệt để những ƣu thế của thị trƣờng, vừa hạn chế đƣợc những khuyết
tật của kinh tế thị trƣờng.
- Sự tồn tại của kinh tế tƣ nhân trong nền kinh tế thị trƣờng còn góp
phần thúc đẩy cho phân công lao động xã hội phát triển, hàng hóa tạo ra ngày

×