Tải bản đầy đủ (.pdf) (198 trang)

Quan niệm của C. Mác về tha hóa và ý nghĩa của nó đối với phát triển con người Việt Nam hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (995.35 KB, 198 trang )


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN





NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN




QUAN NIỆM CỦA C. MÁC VỀ THA HOÁ VÀ Ý
NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN CON
NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY



Chuyên ngành : CNDVBC & CNDVLS
Mã số : 62.22.80.05



LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC


NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS,TS Hồ Sĩ Quý
2. TS Nguyễn Anh Tuấn



HÀ NỘI - 2008

MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHO SỰ HÌNH
THÀNH QUAN NIỆM CỦA C. MÁC VỀ THA HOÁ 11
1.1. Cơ sở lý luận của quan niệm về tha hoá của C. Mác 11
1.2. Tính hai mặt của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa - cơ sở thực tiễn
cho nghiên cứu của C. Mác về tha hoá 35
CHƯƠNG 2: SỰ PHÂN TÍCH CỦA C. MÁC VỀ CÁC HÌNH
THỨC THA HOÁ VÀ CON ĐƯỜNG KHẮC PHỤC THA HOÁ ĐỂ
PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI 48
2.1. Những quan niệm chủ yếu của C. Mác về tha hoá 48
2.2. Các hình thức tha hoá chủ yếu 65
2.3. Bản chất và nguyên nhân của tha hoá 79
2.4. Quan niệm của C. Mác về con đường khắc phục tha hoá để phát
triển toàn diện con người 93
CHƯƠNG 3. VẬN DỤNG QUAN NIỆM CỦA C. MÁC VỀ CON
ĐƯỜNG KHẮC PHỤC THA HOÁ ĐỂ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 108
3.1. Hiện tượng tha hoá ở Việt Nam nhìn từ lý luận của C. Mác về tha hoá
109
3.2. Một số giải pháp chủ yếu nhằm khắc phục tha hoá để phát triển
con người Việt Nam hiện nay 144
KẾT LUẬN 171
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ
CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
TÀI LIỆU THAM KHẢO




1
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
1. Trong thế kỷ XX, nhờ tận dụng được những ảnh hưởng của cuộc cách
mạng khoa học và công nghệ và lợi dụng được những lợi thế trong tương quan
với hệ thống xã hội chủ nghĩa mà chủ nghĩa tư bản hiện đại đã có những thay đổi
to lớn và không kém phần bất ngờ. Thế giới tư bản chủ nghĩa đã tạo ra điều kiện
góp phần phát triển xã hội và giải quyết các mâu thuẫn vốn có của nó. Sự phát
triển mới của chủ nghĩa tư bản đã làm xuất hiện ý kiến cho rằng, liệu xã hội tư
bản chủ nghĩa có phải là xã hội làm tha hoá con người hay chính những điều kiện
vật chất trong xã hội tư bản hiện đại lại giúp cho con người được tự do phát triển
hơn.
Trong khi đó, sau hơn 70 năm tồn tại, phát triển, bên cạnh những thành
tựu đạt được, chủ nghĩa xã hội lại bộc lộ những mặt trái với mong đợi và trái
với mô hình lý thuyết của Mác. Một trong những mặt trái đó là sự tồn tại của
hiện tượng tha hoá. Tha hoá không chỉ là sản phẩm tàn dư của xã hội cũ, mà
còn là những hiện tượng nảy sinh từ cơ sở kinh tế – xã hội ngay trong lòng xã
hội mới. Chính sự quan liêu, yếu kém của bộ máy nhà nước là một trong
những nguyên nhân tạo ra tha hoá, cuối cùng dẫn đến sự khủng hoảng của cả
hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu.
Vấn đề là ở chỗ, học thuyết Mác về xã hội nói chung, quan niệm của
Mác về tha hoá nói riêng đúng hay không đúng và có giá trị như thế nào trong
điều kiện hiện tại. Để có cái nhìn khách quan về vấn đề này, việc trở lại
nghiên cứu một cách có hệ thống quan niệm của các nhà kinh điển mácxít về
vấn đề tha hoá là một yêu cầu bức thiết hiện nay. Điều đó, một mặt góp phần
làm rõ giá trị khoa học và giá trị thực tiễn của học thuyết Mác trong bối cảnh
lịch sử hiện nay, mặt khác góp phần lý giải tính khách quan của con đường


2
xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn
minh mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn.
2. Việt Nam đang thực hiện công cuộc đổi mới nhằm thực hiện mục
tiêu xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Sau hơn hai mươi năm thực hiện
đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng, chúng ta đã đạt được những thành
tựu to lớn và có ý nghĩa quan trọng. Nhờ đổi mới, Việt Nam đã vượt qua
khủng hoảng, bước vào thời kỳ ổn định và phát triển mới. Cùng với những
thành tựu trên lĩnh vực kinh tế, diện mạo đất nước đã có nhiều thay đổi tích
cực trên các lĩnh vực khác, tạo nên bước phát triển vượt bậc được cộng đồng
thế giới ghi nhận. Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường, trong khi có tác dụng
thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của đất nước, thì những mặt trái của nó trong
đời sống xã hội như phân hoá giàu nghèo, quan liêu, tham nhũng, tha hoá đạo
đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên… cũng trở thành những vấn
nạn nổi cộm thu hút sự quan tâm, lo lắng của toàn xã hội.
Trên thực tế, thực tiễn xây dựng đất nước đang đặt ra rất nhiều vấn đề
mà lý luận cần phải giải đáp: Nhận thức và đánh giá sự tha hoá trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay nghiêm trọng đến mức nào, để
có thái độ và phương pháp đối xử đúng với bản chất của nó trong xã hội Việt
Nam; bằng cách nào để hạn chế, loại bỏ những hiện tượng tiêu cực và tha hoá
trong đời sống xã hội, loại bỏ tình trạng quan liêu, biến chất trong một bộ
phận công chức bộ máy Đảng và Nhà nước
3. Thực tiễn thế giới và Việt Nam như vừa nêu đòi hỏi phải nhận thức
sâu sắc hơn nữa về lý luận tha hoá của các nhà kinh điển mácxít. Trong bối
cảnh hiện nay, quan điểm của các nhà kinh điển Mác - Lênin sẽ là căn cứ tin
cậy để chúng ta nhận thức và giải quyết các vấn đề về xây dựng chủ nghĩa xã
hội và phát triển con người Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn
cầu hóa và hội nhập quốc tế.


3
Xuất phát từ những lý do đó, chúng tôi chọn “Quan niệm của C. Mác
về tha hoá và ý nghĩa của nó đối với phát triển con người Việt Nam hiện nay”
làm đề tài nghiên cứu của luận án này.
2. Tình hình nghiên cứu
Tha hoá là vấn đề được nhiều học giả trong giới nghiên cứu triết học
quan tâm. Ngay từ rất sớm, đầu những năm 20 (thế kỷ XX), những công trình
nghiên cứu về tha hoá đã xuất hiện. Năm 1923, trong công trình nghiên cứu
của G. Lucátsơ (Georg Lukacs): “Vật hoá và ý thức của giai cấp vô sản”
(Reification and the Consciousness of Proletariat), quan niệm về tha hoá đã
được nghiên cứu. Trong tác phẩm này Lucátsơ đưa ra quan niệm về “vật
hoá”, về ý thức của giai cấp công nhân đối với tha hoá và đấu tranh chống tha
hoá. Theo Lucátsơ thì vật hoá là sự tha hoá của lao động phát triển sang bản
thân ý thức khiến cho quan hệ giữa người với người chuyển sang quan hệ
giữa vật và vật, làm cho giai cấp công nhân không thể đứng lên chống lại tha
hoá. Ông cho rằng vật hoá chỉ là một loại ý thức giả, chỉ cần vạch trần ý thức
giả này ở góc độ lý luận thì có thể làm thức tỉnh được giai cấp công nhân có ý
thức về sứ mệnh lịch sử của mình.
Tiếp sau là loạt các công trình nghiên cứu quan niệm của Hêghen và
Mác về tha hoá: “Hêghen trẻ” (The Young Hegel) (1938) của Lucátsơ; “Sự
vật hoá con người và bái vật giáo hàng hoá” (Reification of People and the
Fetishism of commodities) (1943); “Lý thuyết tha hoá: Sự tiếp tục của Mác từ
Hêghen” (The Theory of alienation: Marxs debt to Hegel) của Raya
Dunayevskaya…
Vào cuối những năm 50 đầu những năm 60 của thế kỷ XX, các nhà
“Mác học” phương Tây và một số người theo “chủ nghĩa Mác phương Tây”
lại dấy lên việc nghiên cứu quan niệm của Mác về tha hoá và vấn đề tha hoá
trong chủ nghĩa xã hội. Mục đích của họ là: thứ nhất, muốn đồng nhất triết

4

học mácxít với lý luận tha hoá; thứ hai, họ thổi phồng hiện tượng “tha hoá”,
áp dụng vào cả chủ nghĩa xã hội.
Đáng chú ý nhất trong số những công trình nghiên cứu của các nhà triết
học phương Tây là những nghiên cứu của các học giả thuộc trường phái
Phranphuốc (Frankfurt School) ở Đức. Trường phái này đã tiếp tục mở rộng
lý luận “vật hoá” mà Lucatsơ nêu ra trong tác phẩm “vật hoá và ý thức của
giai cấp Vô sản” kết hợp với quan điểm thời kỳ đầu của Mác về tha hoá để
đưa ra lý luận mới về thống trị. Theo trường phái này thì thống trị có nghĩa là
vật hoá đã thẩm thấu vào ngóc ngách của cá tính con người, nó làm cho con
người không nhận ra được sự tha hoá của mình mà còn cảm thấy thoả mãn
với những điều kiện vật chất mà xã hội tư bản chủ nghĩa đem lại, do đó nó
ngăn cản cả hoạt động giải phóng giai cấp và giải phóng cá nhân. Đại biểu
tiêu biểu của trường phái này là H. Mácquidơ (Herbert Marcuse). Ông đã có
những nghiên cứu khá sâu quan niệm của Mác về tha hoá qua phần: “Mác
bàn về lao động tha hoá” (Marx on Alienated labour), trong tác phẩm “Lý
tính và cách mạng” (Reason & Revolution) (1941). Trong đó Mácquidơ phân
tích quan niệm của Mác về quá trình lao động, sự tha hoá lao động và sự thủ
tiêu lao động tha hoá. H. Mácquidơ là người phân tích khá sâu phép biện
chứng của Mác về sự phát triển xã hội. Trên cơ sở quan niệm của Mác về tha
hóa, Mácquidơ cũng như các nhà lý luận của trường phái Phranphuốc khẳng
định, quan niệm của Mác về sự tha hoá con người vẫn đúng trong xã hội tư
bản hiện đại. Mácquidơ cho rằng, trong xã hội ngày nay tuy cuộc sống vật
chất phong phú nhưng bản chất con người cũng bị tha hoá chưa từng có.
Trong hai tác phẩm sau đó: “Con người một chiều”(One – Dimentional Man)
(1964) và “Phản cách mạng và khởi nghĩa” (Counterrevolution and revolt)
(1972), Mácquidơ đã đưa ra cơ sở lý luận cho việc phê phán chủ nghĩa tư bản
cực quyền. Theo ông chủ nghĩa cực quyền hiện đại đã thành công trong việc

5
nuôi dưỡng “nhu cầu giả”. Nó lôi kéo mọi người chạy theo sự tiêu dùng vô

hạn, không mang lại cho con người hạnh phúc đích thực, biến những người
vừa có nhu cầu vật chất, vừa có nhu cầu tinh thần thành những con người một
chiều, hoàn toàn bị dục vọng vật chất chi phối. Điều tai hại là những thành
tựu vật chất của chủ nghĩa tư bản làm cho con người lầm tưởng rằng hiện thực
hiện hữu là xã hội tốt đẹp nhất cho mọi người, từ đó mà tự giác giúp cho chế
độ tư bản vận hành một cách có hiệu quả. Trong xã hội hiện đại con người
không tự giác nhận thấy cảnh ngộ tha hoá của mình, ảo giác tự chủ cá nhân đã
đánh lừa họ, khiến họ không nhận ra bản chất đích thực là cuộc sống của họ
bị thao túng. Chính điều đó làm cho con người tự giác từ bỏ nhu cầu giải phóng
khỏi mọi sự tha hoá, mọi sự thao túng.
Một mặt khẳng định quan niệm của Mác về tha hoá trong xã hội tư bản
chủ nghĩa vẫn đúng trong xã hội hiện đại, nhưng mặt khác trường phái
Phranphuốc cũng phủ nhận quan niệm của Mác về vai trò chủ thể lịch sử của
giai cấp vô sản. Họ đi tìm chủ thể của cách mạng từ bên ngoài xã hội. Đó là
những người ở thế giới thứ ba và những người thuộc “phái tả mới” trong xã
hội công nghiệp hiện đại mà thành viên chủ yếu là những người lang thang,
tầng lớp thanh niên trí thức và sinh viên.
Giới lý luận của các Đảng Cộng sản Pháp và Anh, cũng đưa ra những
nghiên cứu về vấn đề tha hoá trong quan niệm của Mác cũng như về vấn đề tha
hoá trong chủ nghĩa xã hội. Theo đó hình thành hai loại ý kiến khác nhau về vấn
đề tha hoá trong học thuyết Mác. Loại ý kiến thứ nhất cho rằng, “tha hoá” là
quan niệm trọng tâm của triết học, là một trong những chủ đề vĩnh cửu của triết
học, là “chất men trong tư tưởng của Mác”. Loại ý kiến thứ hai, phản đối ý kiến
trên và cho rằng không phải tư tưởng của Mác về tha hoá có vị trí như vậy.
Về vấn đề tha hoá trong chủ nghĩa xã hội cũng có hai loại quan điểm:
một loại quan điểm cho rằng đến chủ nghĩa xã hội đã có thể khắc phục được

6
tha hoá; một loại khác cho rằng, chỉ đến chủ nghĩa cộng sản thì tha hoá mới
được xoá bỏ.

Ở nước ta, đến những năm 90 của thế kỷ XX mới có những bài viết đầu
tiên về vấn đề tha hoá. Hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu trực tiếp và
chuyên biệt về các quan niệm tha hoá trước Mác, mà chỉ có một số công trình
lịch sử triết học, trong đó ít nhiều có đề cập đến quan niệm tha hoá của các triết
gia như tác phẩm: “Vấn đề tư duy trong triết học Hêghen”, Nxb, CTQG Hà
Nội, 1999, của Nguyễn Trọng Chuẩn, Đỗ Minh Hợp. Trong tác phẩm này, các
tác giả thông qua việc trình bày vấn đề tư duy với tư cách là vấn đề trung tâm
của triết học Hêghen đã đề cập đến quan niệm của Hêghen về sự tự tha hoá và
sự lột bỏ tha hoá như quá trình tự vận động, phát triển của ý niệm tuyệt đối.
Trong những năm gần đây đã xuất hiện một số bài viết về quan niệm
tha hoá của Mác. TS. Nguyễn Anh Tuấn trong bài: Quan niệm của C. Mác về
tha hoá - đăng trong tác phẩm “Con người và phát triển con người trong quan
niệm của C. Mác và Ph. Ăngghen”, Nxb CTQG HN, 2003 - đã phân tích sự
phát triển tư tưởng của Mác về tha hoá dựa vào những tác phẩm của ông theo
thời gian. Tác giả đã luận giải tương đối có hệ thống quan niệm về tha hoá
của Mác, đánh giá những tư tưởng của Mác về tha hoá. Ngoài bài viết trên,
tác giả Nguyễn Anh Tuấn còn đi sâu khai thác quan niệm về tha hoá lao động
qua bài Quan niệm của C. Mác về tha hoá lao động và bản chất con người
(qua “Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844”), Tạp chí Triết học, số 10, 2003,
tr. 24-28.
Cùng với hướng nghiên cứu trên còn có bài viết của tác giả Nguyễn
Thế Nghĩa: Quan niệm của C. Mác về tha hoá và sự giải phóng con người
khỏi tha hoá trong “Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844” đăng trong tạp chí
Triết học, số 10, 2003, tr. 18-23; và bài viết của tác giả Trương Hải Cường:

7
Quan niệm của C. Mác và Ph. Ăngghen về lao động bị tha hoá và sự tha hoá
của tôn giáo, đăng trong tạp chí Nghiên cứu tôn giáo số 6, 2001, tr. 3-6.
Các công trình nghiên cứu trên đã tập trung phân tích quan niệm của
Mác về lao động bị tha hoá và giải phóng con người khỏi tha hoá qua tác

phẩm “Bản thảo kinh tế – triết học năm 1844”. Qua phân tích vấn đề lao động
bị tha hoá, tác giả Trương Hải Cường có đề cập đến quan niệm của Mác về
vấn đề tha hoá tôn giáo.
Gần đây nhất, tác giả Phạm Văn Chung đã xuất bản tác phẩm “Triết
học Mác về lịch sử”, Nxb. CTQG, HN, 2006. Đây là công trình nghiên cứu
của tác giả về sự hình thành, phát triển quan niệm triết học Mác về lịch sử qua
các tác phẩm của Mác và Ăngghen. Khi phân tích quan niệm của Mác về lao
động sản xuất trong tác phẩm “Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844”, tác giả
có phân tích quan niệm về lao động bị tha hoá của Mác, nhưng những nghiên
cứu của tác giả này có định hướng rõ nét là hướng đến quan niệm triết học về
lịch sử của Mác chứ không đặt ra việc nghiên cứu quan niệm tha hoá của Mác
như một mục đích riêng.
Gần đây có bài viết của tác giả Trung Quốc Ngụy Tiểu Bình: Mối
quan hệ giữa sở hữu tư nhân và hiện tượng tha hoá, Tạp chí Triết học, số
2, năm 2008, tr.53- tr.60. Bài viết góp phần làm rõ mối quan hệ giữa sở
hữu tư nhân và hiện tượng tha hoá, trên cơ sở phân biệt các khái niệm: tha
hoá ngoại sinh và tha hoá nội sinh. Tuy nhiên, quan điểm về hai dạng tha
hoá trên được cắt nghĩa từ góc nhìn chủ quan của tác giả, còn cần một sự
tranh luận thêm.
Những công trình nghiên cứu trên đây đề cập trực tiếp đến quan niệm
tha hoá của Mác nhưng chủ yếu chỉ tập trung vào quan niệm của ông trong tác
phẩm “Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844”. Những nghiên cứu tổng quan
nhất về quan niệm tha hoá của Mác được tác giả Nguyễn Anh Tuấn phân tích,

8
tuy nhiên việc đi sâu phân tích bản chất và biểu hiện của những hình thức tha
hoá, chỉ ra lôgíc nội tại của chúng chưa được tác giả lưu tâm nhiều, vì vậy đây
là khía cạnh cần tiếp tục khai thác để làm rõ sự khác biệt về chất trong quan
niệm tha hoá của Mác với các triết gia trước ông.
Ngoài những công trình trên đây còn một số công trình khác có đề cập

đến quan niệm tha hoá của Mác, nhưng chưa được trình bày một cách hệ thống
về những vấn đề mà luận án quan tâm, như công trình “Quan niệm của Mác và
Ăngghen về con người và sự nghiệp giải phóng con người”, Nxb. CTQG. Hà
Nội, 2003, của tác giả Bùi Bá Linh. Hay công trình: “Marx nhà tư tưởng của cái
có thể”, hai tập, Viện thông tin khoa học xã hội xuất bản năm 1996 của học giả
Pháp, Michel VaDée. Đây không phải là công trình mà tác giả khảo cứu riêng về
vấn đề tha hoá, nhưng những tư tưởng của Mác về tha hoá qua một số tác phẩm
kinh điển cũng được tác giả đề cập đến khi luận giải tư tưởng của Mác về tự do.
Ngoài ra còn một số công trình nghiên cứu khác đề cập ở những góc độ
khác nhau đến giá trị nhân văn, nhân đạo của học thuyết Mác.
Riêng đề tài tha hoá trong chủ nghĩa xã hội thì ở nước ta còn có rất
ít công trình nghiên cứu, cho đến nay bàn trực tiếp về vấn đề tha hoá trong
chủ nghĩa xã hội mới chỉ có bài viết của Hồ Ngọc Hương: Tha hoá và chủ
nghĩa xã hội, đăng trên tạp chí Triết học, số 3, 1989, tr. 32- 38. Trên cơ sở
phân tích sự tha hoá trong chủ nghĩa xã hội hiện thực tác giả đã phác thảo
một số biểu hiện của tha hoá ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội. Những phân tích của tác giả chủ yếu giới hạn ở những biểu
hiện của tha hoá trong thời kỳ phát triển nền kinh tế kế hoạch hoá, tập
trung quan liêu bao cấp.
Ngoài ra, năm 2002, dịch giả Nguyễn Quang A đã dịch sang tiếng Việt
cuốn: “Hệ thống xã hội chủ nghĩa” của tác giả Kornai Janos. Đây không phải
là công trình lý luận về vấn đề tha hoá trong chủ nghĩa xã hội mà tác giả chủ

9
yếu phân tích tổng quan về kinh tế xã hội chủ nghĩa, trong đó có đề cập đến
hệ thống quyền lực trong chủ nghĩa xã hội. Nhưng những phân tích của tác
giả là một minh chứng cho thấy trong chủ nghĩa xã hội sự tha hoá trong lĩnh
vực kinh tế, chính trị là có thực. Tuy nhiên, nhiều nhận định của tác giả trong
tác phẩm này còn cần thiết phải tranh luận thêm.
Có thể nói, tha hoá không phải là vấn đề mới nhưng những công trình

nghiên cứu về tha hoá ở nước ta chủ yếu mới dừng ở mức bài báo, vì vậy hệ
vấn đề lý luận về tha hoá cần được đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống
hơn. Hơn nữa, về một vấn đề không mới nhưng những ý kiến được bày tỏ
trong những điều kiện lịch sử khác nhau hay góc độ tiếp cận khác nhau, thì
vẫn luôn xuất hiện những ý kiến mới.
Như nhiều học giả khẳng định, lý luận Mác - Lênin không phải là thứ xơ
cứng giáo điều, bản thân các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác cũng không có ý
định giải quyết toàn bộ mọi vấn đề đã được đưa ra mà chỉ vạch phương pháp
luận cho việc nhận thức và giải quyết những vấn đề đó. Như trên đã nói, đang
còn rất ít công trình nghiên cứu về tha hoá trong chủ nghĩa xã hội và nếu có cũng
lại xuất hiện ở thời điểm cách xa hiện nay. Những vấn đề do thực tiễn xây dựng
đất nước đang đặt ra rất cấp thiết, nhất là khi chúng ta đang phát triển nền kinh tế
thị trường định hướng XHCN, muốn làm sáng tỏ vấn đề đó chúng ta cần trở lại
với quan điểm của các nhà kinh điển mácxít về vấn đề tha hoá, khắc phục tha
hoá. Trên cơ sở nhận thức một cách sâu sắc quan điểm của Mác chúng ta sẽ có
cơ sở vững chắc để luận giải hợp lý về thực tiễn Việt Nam, góp phần thúc đẩy
sự nghiệp xây dựng đất nước, phát triển con người Việt Nam giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
Mục đích: Làm rõ tư tưởng của C. Mác về tha hoá, về điều kiện và con
đường khắc phục tha hoá để phát triển con người; trên cơ sở đó luận án tìm

10
hiểu về những biểu hiện của tha hoá ở Việt Nam, khuyến nghị một số giải
pháp khắc phục tha hoá nhằm mục tiêu phát triển con người.
Nhiệm vụ:
- Nghiên cứu những cơ sở lý luận và thực tiễn của sự hình thành quan
niệm của C. Mác về tha hoá.
- Phân tích quan niệm của C. Mác về tha hoá và những biểu hiện của
tha hoá, con đường khắc phục tha hoá để phát triển con người.
- Vận dụng quan niệm của C. Mác, bước đầu tìm hiểu vấn đề tha hoá

trong xã hội Việt Nam và khuyến nghị một số giải pháp chủ yếu nhằm khắc
phục tha hoá để phát triển con người Việt Nam giai đoạn hiện nay.
4. Đối tƣợng nghiên cứu
a. Những tư tưởng cơ bản của C. Mác về tha hoá
b. Hiện tượng tha hóa ở Việt Nam hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận án là học thuyết Mác - Lênin về con người và
bản chất con người, về xã hội và phát triển xã hội.
Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử. Phương pháp chủ yếu được dùng trong luận án là phân tích - tổng hợp,
thống nhất lôgíc - lịch sử, đi từ trừu tượng đến cụ thể
6. Đóng góp của luận án
- Về lý luận: Luận án góp phần luận giải một cách có hệ thống quan
niệm về tha hoá của Mác; luận giải trên phương diện lý luận vấn đề tha hoá
trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH. Luận án góp phần khẳng định tính đúng
đắn và giá trị nhân văn của học thuyết Mác trong thời đại ngày nay
- Về thực tiễn: Luận án góp phần làm rõ hiện tượng tha hoá và ý nghĩa
của việc khắc phục tha hoá đối với phát triển con người Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay.

11
7. Kết cấu của luận án: Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài
liệu tham khảo, luận án gồm ba chương 8 tiết.




12
Chương1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHO SỰ HÌNH THÀNH
QUAN NIỆM CỦA C. MÁC VỀ THA HOÁ


1.1. Cơ sở lý luận của quan niệm về tha hoá của C. Mác
1.1.1. Quan niệm trước C. Mác về tha hoá
Mác không phải là người đầu tiên trong lịch sử triết học nghiên cứu về
vấn đề tha hoá, vì vậy quan niệm của ông về tha hoá phần nào cũng là sự kế
thừa tư tưởng của những người đi trước.
Dựa theo cuốn “Từ điển triết học” ( Nxb Tiến bộ Matxcơva, 1986) thì
nguồn gốc tư tưởng về tha hoá có thể tìm thấy ở những đại diện của phong
trào Khai sáng Pháp (Rútxô) và Đức (Gơtơ, Sinlơ). “Về mặt khách quan, tư
tưởng đó biểu hiện sự phản kháng tính chất phản nhân văn của các quan hệ tư
hữu” [142, tr.529]. Về sau vấn đề tha hoá đã được nghiên cứu trong triết học
của Hêghen và Phoiơbắc, có thể coi chúng là cơ sở lý luận trực tiếp của quan
niệm của Mác về tha hoá.
* Quan niệm của G. Hêghen về tha hoá.
Phạm trù “tha hoá” được bắt đầu hình thành trên nền hệ vấn đề chính trị
- xã hội về sở hữu và nhà nước trong các tác phẩm của các nhà triết học duy
vật Pháp thế kỷ XVII - XVIII, trong các suy tư của các nhà lý luận khi bàn về
“Khế ước xã hội”. Đấu tranh giai cấp ở thời kỳ cách mạng tư sản thế kỷ XVII
(ở Anh) và trước cách mạng tư sản Pháp thế kỷ XVIII đã kích thích các nhà
triết học xây dựng khái niệm “tha hoá”.
Khi khái niệm “tha hoá” bắt đầu được hình thành trong chủ nghĩa duy
tâm cổ điển Đức như là phạm trù triết học, thì trước đó đã có những quan
niệm về tha hoá kinh tế - xã hội do các nhà triết học Pháp thế kỷ XVIII nêu ra
trong sự phê phán các quan hệ phong kiến. Nói riêng, trong số các nhà triết
học Đức, Phíchtơ là người đầu tiên dùng khái niệm “tha hoá”. Nhờ khái niệm

13
đó Phichtơ đã diễn đạt sự kiện sinh ra “không phải Tôi”, xa lạ và đối lập với
“Tôi”, nhưng lại được tạo lập bởi chính “Tôi”.
Ở Phíchtơ và những người kế tục gần gũi với đường hướng triết học

của ông, tha hoá biểu thị bước chuyển của tinh thần vào trạng thái vật chất xa
lạ với nó và sự sắp đặt bởi tồn tại khác đó của tinh thần thành những gông
cùm cho chính nó. Nội dung kinh tế - xã hội của “tha hoá” lúc đó còn bị thần
bí hoá và che đậy. Thông qua tính đa ngữ nghĩa của từ Fremd - xa lạ và xa
cách (tức là bị mất tình chí cốt, thậm chí thành thù địch), Phíchtơ đi đến một
kết cấu tha hóa khác so với ở Rútxô, mà Hêghen là người tiếp tục phát triển.
Có thể nói rằng, những kết quả mà Hêghen đạt được là đỉnh cao nhất
trong số các nghiên cứu triết học đã được tiến hành trong lịch sử triết học
trước Mác. “Tha hoá” là một trong những phạm trù vừa mang tính hệ thống,
vừa mang tính năng động quan trọng nhất của triết học Hêghen. Nó mang tính
hệ thống theo nghĩa là chiếm cứ một vị trí xác định trong hệ thứ bậc các phạm
trù của triết học Hêghen, nó xuất hiện không phải một lần mà ở tất cả các tác
phẩm trong đó Hêghen trình bày triết học Tinh thần. Còn nó mang tính năng
động theo nghĩa thâm nhập vào toàn bộ hệ thống của ông như là một trong
những “đòn bảy phương pháp luận” để xây dựng hệ thống.
Thuật ngữ “tha hoá” (entfremdung), chưa được Hêghen dùng trước khi
viết “Hiện tượng học tinh thần”, tuy nhiên trong các tác phẩm trước đó, ông
cũng đã có những ý tưởng về khái niệm này. Trong bài viết về “Tình yêu”
(Liebe), ông xem Tình yêu (Sau này là “sự sống” và trong “Hiện tượng học
tinh thần” là „tinh thần”) là tiến trình từ sự thống nhất sơ khai, ấu trĩ trải qua
sự đối lập đến sự tái hợp nhất tối hậu. “Tình yêu” khôi phục sự thống nhất
giữa những cá nhân, giữa cá nhân và thế giới nhưng không hoàn toàn thủ tiêu
cá nhân.

14
Sau đó, trong bài viết về đạo Kytô, ông xem sự xung đột bên trong con
người giữa “tình cảm” và “trí tuệ” là giai đoạn tất yếu của sự phát triển tinh
thần, nhưng cho rằng chúng chỉ có thể tái hợp nhất trong tôn giáo, vì trong tôn
giáo “Tình yêu và phản tư được hợp nhất”. Tôn giáo cho phép con người vượt
lên khỏi cuộc sống hữu hạn để hợp nhất với “sự sống vô tận”, hay với “tinh

thần” bao trùm cả vũ trụ.
Thuật ngữ “tha hoá” được Hêghen dùng và diễn đạt khá rõ nét ngay ở
tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần”.
Mác gọi “Hiện tượng học tinh thần” của Hêghen là cội nguồn thực sự
và “bí ẩn” của học thuyết Hêghen, tức là cái chìa khoá mà có được nó ta có
thể mở toang cánh cửa đi vào nội dung quý giá của học thuyết này. Điều này
cũng hoàn toàn đúng với vấn đề tha hoá. Trên thực tế trong tác phẩm này của
Hêghen đã có những phác thảo về phép biện chứng của bước chuyển mang
tính tha hoá từ chân lý thành sai lầm, lý tính thành giác tính, thống trị - bị trị,
tự do - lệ thuộc và nô lệ.
Theo Hêghen, tinh thần tuyệt đối trực tiếp hay gián tiếp bị tha hoá
thành tự nhiên, thành các thể chế và các đồ vật do con người tạo ra. Và tất cả
các quá trình tha hoá đó dường như là mặt trái của sự vận động của ý niệm
tuyệt đối về chính mình, sự vận động đến sự hiện thân trọn vẹn như là sự tự
nhận thức. Quá trình vận động, phát triển của ý niệm tuyệt đối được Hêghen
lý giải là quá trình tự tha hoá và lột bỏ tha hoá của nó. Có thể tóm lược quá
trình đó như sau: Ý niệm tuyệt đối tự tha hoá để trở thành giới tự nhiên, sau
đó tinh thần lại tự vượt bỏ hình thức giới tự nhiên và phóng chiếu sự tồn tại
của nó trong lịch sử – xã hội, trong văn hoá tinh thần và tự kết thúc sự vận
động của nó ở giai đoạn ý thức cá nhân, giai đoạn ý thức xã hội. Và giai đoạn
cao nhất là lúc ý niệm tuyệt đối kết thúc quá trình tự vận động của nó dưới
hình thức tôn giáo, nghệ thuật và triết học.

15
Cách luận giải của Hêghen về tha hoá tương ứng với nguyên tắc của
ông về đồng nhất tư duy và tồn tại hoá ra giống hệt như quá trình bản thể luận
phổ quát. Từ sơ đồ bản thể luận phổ quát trên đây thì chính sự khách quan hoá
của tinh thần là bản thân sự tha hoá. Đó cũng chính là phương thức bảo tồn sự
tồn tại của chính ý niệm tuyệt đối. Và bất kỳ quá trình nào trong số chúng -
nhận thức luận hay bản thể luận, thì theo Hêghen, cũng đều nhất định diễn ra

thông qua mặt đối lập của mình và sau đó tha hoá nhất định phải được vượt
bỏ và khắc phục: tinh thần quay trở về với chính mình qua đầy rẫy những đớn
đau cực hình và những thử thách trải nghiệm đầy thông thái. Chân lý đạt tới
tính trọn vẹn và tuyệt đối, thế giới được lý tính rọi sáng hoàn toàn. Lập trường
của Hêghen trong vấn đề tha hoá đầy lạc quan, có thể cảm thấy điều đó khắp
nơi trong “Hiện tượng học tinh thần”.
Chính trong “Hiện tượng học tinh thần”, Hêghen đã khảo sát sơ đồ nổi
tiếng về sự cải biến mang tính tha hoá của “thống trị” thành “bị trị” và sự
chuyển hoá “Nô” thành mặt đối lập của mình. Hêghen mô tả biện chứng của
tính tự trị và tính phi tự trị của tự ý thức qua các hình tượng “chủ nhân” và
“người làm công bị cưỡng bức”. Các hình tượng đó hoà quyện vào mạng lưới
các biến cố lịch sử - triết học phức tạp: đấu tranh giữa chủ và người làm công
- đó vừa là “chiến tranh” kiểu Hêracơlít, vừa là “đấu tranh của tất cả chống lại
tất cả” kiểu Hốpxơ… Nhưng trong mọi biến thiên thăng trầm của mối quan hệ
qua lại đó giữa Chủ và Nô vốn cũng có thể được đặt một cách tự nhiên vào hệ
thống các khái niệm của xã hội phong kiến, thì sơ đồ đó vẫn mang một ý bài
phong kiến xác định. Tuy nhiên, cũng cần nhận ra việc ở Hêghen còn ẩn dấu
cả những lời chỉ trích xã hội tư sản [Xem 55, tr.434– 455].
Trong cuộc đấu tranh giữa “Chủ” và “Nô”, quá trình biện chứng của sự
tha hoá và sự “vượt bỏ” tha hoá luôn diễn ra kế tiếp nhau. Cuộc đấu tranh đó
được Hêghen diễn giải dưới hình thức cuộc tranh cãi, đấu tranh giữa các tự ý

16
thức đối lập lẫn nhau, làm cho “cá nhân chống cá nhân”. Cuộc đấu tranh của
chúng đạt đến đỉnh điểm căng thẳng và “mối quan hệ (Verhalnis) [hay “tình
huống”] của hai Tự - ý thức được quy định theo kiểu chúng tự chứng tỏ
(bewahren) và chứng tỏ cho nhau thông qua cuộc chiến đấu mất còn” [55,
tr. 441]. Kẻ thất bại trong cuộc chiến này nếu như chưa chết, sẽ trở thành Nô.
Người nào phải phục tùng ý chí của kẻ khác, sẽ phải có ý thức nô lệ, còn ông
chủ phấn chấn thấy rằng, giờ đây ông ta đã có quyền hoàn toàn không thể bị

chia xẻ cho những người làm công bị khuất phục và toàn quyền sai khiến bắt
phục vụ các nhu cầu của mình. Còn “Nô” với tư cách cá nhân bị tha hóa đã
trở nên bất lực và thấy rằng, họ chỉ còn lại mỗi việc là lao động không phải
cho mình mà cho kẻ khác. Hêghen cũng chỉ rõ trong cương vị là “Chủ”, người
đó hoàn toàn có quyền hưởng thụ những sản phẩm trong quá trình sản xuất và
đạt được sự thoả mãn trong việc hưởng thụ nó, nhưng kẻ đó không thể thoả
mãn nhu cầu của mình một cách đơn độc mà phải phụ thuộc vào kẻ sản xuất
ra vật, tức là “Nô”. Điều đó có nghĩa là giờ đây “tính không độc lập tự chủ”
chuyển hoá từ vật sang chủ, bởi lẽ chủ đã biến thành phụ thuộc vào hoạt động
sản xuất của kẻ tôi tớ của mình, trong khi đó kẻ tôi tớ (“Nô”) càng ngày càng
trở nên độc lập - tự chủ và tự bản thân đang hoá ra làm chủ tình hình. Bây giờ
cá nhân “chủ” đã bị tha hoá, còn “nô” được giải phóng khỏi tha hoá, quan hệ
giữa bọn họ bị lật ngược, chuyển hoá thành mặt đối lập, chủ dường như bị
biến thành “nô” còn “nô” thành “chủ”. Sự việc ở giai đoạn phát triển này của
các quan hệ đi đến chỗ là:
Việc làm nô, khi hoàn tất tiến trình, sẽ chuyển thành cái đối lập với
những gì nó đang tồn tại trực tiếp, [nghĩa là] với tư cách là ý thức bị đẩy
ngược lại vào trong chính nó, nó [ý thức làm Nô] sẽ đi vào trong chính
mình và tự đảo hóa ngược lại (umkehren) thành sự độc lập - tự chủ chân
thực [55, tr. 449].

17
Không cần thiết phải phê phán chi tiết toàn bộ cái kết cấu trừu tượng,
phần nhiều là xa rời thực tế về các dữ kiện lịch sử của cuộc đấu tranh giữa các
cá nhân ở đây chỉ diễn ra ở địa hạt tinh thần, chỉ có các “tự ý thức” đấu tranh
với nhau, chính xác hơn là các phạm trù đã được nhân cách hoá đấu tranh với
nhau. Trong kết cấu đó Hêghen đã cố dung hoà các mặt đối lập: tha hóa được
“vượt bỏ” bởi nhận thức, còn sự đối kháng lẫn nhau - bởi “sự thừa nhận” tinh
thần khác lạ. Sự phê phán những hư cấu như thế của Hêghen đã được nhiều
tác giả tiến hành. Đối với chúng tôi quan trọng là làm thế nào đồ thức tha hoá

đã nêu lại được chính Hêghen đặt vào sơ đồ rộng hơn của tha hoá lao động và
sự loại trừ tha hoá đó, tức là “giải tha hoá” lao động.
Trong “Hiện tượng học tinh thần”, Hêghen khảo sát lao động như là
quá trình hai mặt. Một mặt, tinh thần con người bị trói buộc xiềng xích trong
lao động, diễn ra sự tha hoá nó thành lao động và mặt khác, thành kết quả của
lao động. Thực chất, không phải tha hoá lao động, mà đúng ra tất cả chỉ có tha
hoá tinh thần thành lao động.
Thành quả của lao động - đặc biệt là đối với các cá nhân khác - thực là
“một hiện thực xa lạ, ở bên ngoài; và họ phải thay thế nó bằng hiện thực của
riêng họ để thông qua việc làm, họ có được ý thức về sự thống nhất của họ
với hiện thực…”; “trong thành quả của mình, ý thức nhận ra sự đối lập giữa
việc làm và tồn tại” [55, tr. 824; 825]. Lao động làm đối tượng hoá các sức
mạnh bản chất của cá nhân con người, và hẳn điều đó có nghĩa là, ở mức độ
này hay khác làm cho chúng không chỉ rời xa ở khoảng cách nhất định khỏi
tinh thần, mà chủ yếu là thành xa lạ với nó.
Lao động làm phát triển con người, và Hêghen cho rằng gốc rễ của mọi
lao động đã bắt nguồn từ tinh thần (mọi lao động ở Hêghen đều là quá trình
tinh thần), cho nên lao động cũng có nghĩa là quá trình tự sản xuất con người,

18
tôn cao họ lên. Đồng thời cả giới tự nhiên hoang dã được tha hoá về bản thể
từ lâu trước lao động cũng được nâng cao đến tinh thần.
Như vậy, sự tha hoá tinh thần con người (ngầm hiểu là lao động tinh
thần thuần tuý hoá thành những thao tác đối tượng - vật thể) thành các sản
phẩm của lao động hoá ra ở Hêghen đồng thời là quá trình ngược lại trong đó
tinh thần đã hoàn thiện và đang hoạt động hoặc là đã bắt đầu được giải phóng
khỏi sự tha hoá hoặc là chuẩn bị sẵn sàng cho sự giải phóng đó, và đồng thời
“cuốn” về mình giới tự nhiên vô cơ và hữu cơ. Sự tha hoá của tinh thần thành
lao động không chỉ mang trong mình dấu ấn của sự giải phóng đang đến gần
khỏi tha hoá, mà còn tự bản thân đặt khởi đầu cho sự giải phóng tương lai đó.

Như thế là nảy sinh hai xu hướng chế định lẫn nhau kiến giải vai trò
của lao động con người: lao động trói buộc tinh thần bằng tính đối tượng vật
chất, nhưng cũng chính nó làm cho tinh thần trở thành chủ nhân của tự nhiên
và hoá thân mình thành tự nhiên. Hêghen nêu không rõ lắm sự khác biệt và
tương tác lẫn nhau giữa hai xu hướng đó. Ngay cả ở những tác phẩm muộn
hơn về sau điều này cũng không được soi tỏ rõ ràng.
Hêghen biết rõ mặt tiêu cực của lao động trong xã hội tư sản, trong đó
“rất nhiều người buộc phải lao động mang tính ngu xuẩn, không lành mạnh và
không được đảm bảo - lao động trong các nhà máy, công trường thủ công,
hầm mỏ…” [156, tr. 222].
Hêghen viết rằng, sự tăng trưởng của công nghiệp không chỉ dẫn đến
sự gia tăng của cải, mà cũng còn dẫn đến cả sự chia cắt và hạn chế của lao
động đặc thù và do đó, dẫn đến sự phụ thuộc và bần cùng hoá của giai cấp bị
buộc chặt vào lao động đó. Điều đó cũng gắn với việc họ mất khả năng cảm
nhận và hưởng thụ hơn nữa tự do và đặc biệt là những ưu thế tinh thần của xã
hội công dân.

19
Kết cục Hêghen thực sự thừa nhận rằng “Xã hội công dân cho ta thấy
trong các mặt đối lập đó và trong sự giao hoà của chúng không chỉ bức tranh
của sự xa xỉ quá bất thường, một sự thừa mứa, mà còn của sự bần cùng và
một quái thai chung cho cả thể chất và tinh thần” [156, tr.213].
Hêghen coi tất cả các mặt đối lập đó là những hậu quả tiêu cực của sự
phân công lao động và tha hóa trong “xã hội công dân”, nhưng ông lại không
thấy cội nguồn của chúng (bao gồm cả nguồn gốc của tha hoá) là ở chế độ sở
hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, và thế cũng có nghĩa là không thấy được những
mặt tiêu cực hơn, không phát hiện ra sự tha hoá của chính lao động. Phải gần
một phần tư thế kỷ nữa trôi qua thì tha hoá lao động mới được Mác trẻ làm rõ.
Như vậy, trong đặc trưng hai mặt của các chức năng xã hội của lao
động Hêghen vẫn chưa làm rõ vấn đề tha hoá ở lĩnh vực thực tiễn lao động

sản xuất của con người. Hêghen không ít lần tuyên bố rằng, “bản thân vật chất
không chứa đựng bất kỳ chân lý nào cả”. Theo ông, chủ nghĩa duy vật là một
sai lầm, bởi lẽ thể hiện như là ý thức bị vật hoá, bị tha hoá. Thực ra thì chính
chủ nghĩa duy tâm và phương án thô thiển của nó – tôn giáo mới là sự tha hoá
chân lý thành sai lầm.
Những diễn biến của “ý thức bất hạnh” là một trong những nút điểm
tuần tự quan trọng nhất của “Hiện tượng học tinh thần”. Và về thực chất ở đây
là tập hợp những nấc thang và phương án phát triển khác nhau của tha hoá
qua các biến thể phong kiến và tư sản. Trong số các mẫu hình tha hoá đó thì
tình trạng của thời Khai sáng và của hình tượng kèm theo nó giữ một vai trò
quan trọng. Theo Hêghen, sự đào luyện văn hoá mang tính khai sáng cùng với
sự hạn chế của niềm tin thơ ngây của nó vào sức mạnh vạn năng của tri thức
lý tính, với những quan niệm hời hợt của nó về những phương cách đạt tới thể
chế xã hội lý tưởng và với sự bất lực trước cái ác xã hội, đã là một trong số
các hiện tượng tha hoá.

20
Việc Hêghen phê phán sự tha hóa phong kiến đã tạo điều kiện làm rõ
những mặt tích cực của hệ tư tưởng khai sáng phản phong, trong khi đó thì
việc phê phán sự tha hoá mang tính tư sản lại tương thích với chuyện Hêghen
xếp chính Khai sáng vào số các hiện tượng tha hoá.
Trước Hêghen sự kiện triết học khai sáng Pháp từng là sự chuẩn bị tư
tưởng cho cuộc đấu tranh cách mạng cuối thế kỷ XVIII, đã được biết rộng
rãi, và những người hay nêu và bàn luận nhiều nhất về nó không phải là
những người bảo vệ cuộc cách mạng này, mà là những nhà tư tưởng theo
đuổi sự phục hồi chế độ phong kiến quý tộc. Quan điểm của Hêghen đặc
biệt ở chỗ, sự phê phán của ông đối với Khai sáng là phê phán sự phát
triển xã hội tư sản sơ kỳ không phải từ lập trường bảo vệ chế độ phong
kiến, mà từ lập trường phản phong. Hơn thế cả khai sáng Pháp lẫn hệ tư
tưởng chính trị Giacôbanh đều được ông hiểu như là hai nấc khoét sâu của

sự tha hoá tinh thần.
Các nhà Khai sáng chuẩn bị cuộc cách mạng chính trị, còn những
người Giacôbanh, theo ý Hêghen lại biến khủng bố cách mạng thành tự mục
đích vô nghĩa. Hêghen coi dân chủ cách mạng như là “sự mất trí của thời đại
mới”, trong đó dân chúng không biết là đang tạo ra cái gì, cũng không biết là
đang muốn gì. Dưới ngòi bút của Hêghen tính sáng tạo và lòng dũng cảm
cách mạng bị khoác cái áo ngang bướng nổi loạn của tinh thần chủ quan vốn
đang tạm thời bị tha hoá khỏi cơ sở thực thể của mình, tự nâng lên chống lại
nó và còn chưa thấu hiểu nghĩa vụ của mình phải hòa hoãn với nó.
Nhưng việc phê phán hệ tư tưởng Khai sáng không buộc Hêghen phải
khước từ phê phán các hình thức tha hoá tôn giáo. “Ý thức nô lệ” qua nhiều
hình thái trung gian đạt tới giai đoạn “ý thức bất hạnh” tự xé lẻ trong Thiên
Chúa giáo, ở đó “Ý THỨC BẤT HẠNH (DAS UNGLUCKLICHE
BEWUSSTSEIN) là ý thức về chính mình nhƣ là về cái bản chất bị nhân

21
đôi, chỉ [tự] mâu thuẫn [với chính mình]” [55, tr. 491]. Trong “Hiện tượng
học tinh thần”, Hêghen cương quyết coi toàn bộ hệ tư tưởng Thiên Chúa giáo
dưới mọi màu sắc là hệ tư tưởng bị tha hoá từ bên trong.
Tư duy của nó như là sự sùng mộ không gì hơn là những tiếng chuông
ngân loạn xạ, hay một vầng hương trầm ấm áp [nhưng] mù mịt, một lối
“tư duy” theo kiểu âm nhạc không đạt đến được độ cao của khái
niệm… ở đây chỉ có sự vận động bên trong của tâm thức (Gemuth)
[sự xúc cảm] thuần tuý; tâm thức này xúc cảm về chính nó, nhưng
như là xúc cảm một cách đau đớn về sự phân đôi [giằng xé của tâm
hồn]. Đó là sự vận động của một sự hoài vọng (Sehnsucht) vô hạn…
[55, tr. 501-502].
Và rất có thể những lời đả phá lừng danh của Mác trẻ về tôn giáo
trên các trang “Niên giám Pháp - Đức” đã bắt nguồn không chỉ từ câu nói
của Cantơ về tôn giáo như là “thuốc phiện”. Những lời của Mác về tôn

giáo như là “tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức” [78, tr. 570] hao hao
giống với những lời vừa dẫn ra trên đây của Hêghen trẻ. Trong “Triết học
tôn giáo” của Hêghen về già người ta đã không thể tìm thấy điều gì tương
tự như thế. Ông cố đưa tôn giáo vào đồ thức vận động của tinh thần tuyệt
đối đến chính mình.
Giờ đây tất cả những dạng tha hoá đã được ghi nhận và khảo sát ở trên
theo mức độ quan trọng của chúng ở Hêghen trẻ đã lần lượt chiếm cứ vị trí
của mình trên những thang bậc tha hoá phổ biến của “tinh thần thế giới”. Sự
tha hoá trong hệ thống quan hệ “chủ” và “nô” đã được gán ép phần nhiều vào
khuôn khổ của sự cảm nhận thế giới cổ đại, sau đó một cách nhất quán kế tiếp
nhau là các trạng thái tha hoá thế giới quan khắc kỷ, hoài nghi và Thiên Chúa
giáo. Không thứ nào trong số chúng mang lại sự giải phóng cho con người và

22
tinh thần của nó. Tiếp theo trong “Hiện tượng học tinh thần” là các phần
“Cộng đồng thú vật mang tính tinh thần”, “Sự đào luyện văn hoá”, “Ngôn ngữ
của Khai sáng”; “tự do tuyệt đối” và “sợ hãi” khủng bố Giacôbanh như là các
giai đoạn khoét sâu mãi sự tha hoá.
Trong “Hiện tượng học tinh thần”, Hêghen đã truyền bá sự tha hoá
(vốn dần dần gia tăng mức độ căng thẳng và bi kịch) ra gần như toàn bộ, nếu
không phải là toàn bộ lịch sử loài người. Mác viết: ở Hêghen
Những phần nói về “ý thức bất hạnh”, về “ý thức trung thực”, về đấu
tranh của “ý thức cao quý và ý thức thấp hèn”…, bao gồm trong nó -
mặc dầu dưới hình thức bị tha hoá - những yếu tố có tính chất phê phán
của trọn nhiều lĩnh vực như tôn giáo, nhà nước, sinh hoạt công dân…
[92, tr. 225-226].
Tư tưởng về tính phổ quát của tha hoá tương ứng với ý tưởng của
Hêghen trong “Triết học lịch sử” (1830) muốn chỉ ra làm thế nào mà quá trình
lịch sử được sinh ra từ mâu thuẫn giữa tính quy luật nội tại của tinh thần thế
giới và hoạt động của con người bị thần bí hoá thông qua “sự láu lỉnh lý tính”.

Không phải ngẫu nhiên mà Lênin trong “Bút ký triết học” đã thừa nhận ở
Hêghen có những mầm mống của chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Gán sự tha hoá cho toàn bộ lịch sử nhân loại, Hêghen còn áp đặt nó cho
tất cả các lĩnh vực hoạt động con người. Không ngạc nhiên là, cả trong lịch sử
tôn giáo ông cũng đã vạch ra các hình thái tha hoá tôn giáo và mọi hình thái
của nó đều là bị tha hoá cả. Nhưng do chủ nghĩa duy tâm của ông mà con
người tự ý thức “sau khi thừa nhận tôn giáo là sản phẩm của sự tự tha hoá,
con người vẫn cho rằng mình được xác nhận trong tôn giáo với tính cách là
tôn giáo” [92, tr. 237].
Hêghen không vạch ra những đặc thù kinh tế - xã hội của từng giai
đoạn lịch sử tha hoá. Ngay cả ở học thuyết về tinh thần khách quan trong

23
“Triết học tinh thần”, “Triết học pháp quyền” và “Triết học lịch sử”, khi nói
đến thời đại của mình và ngầm hiểu rất rõ các thể chế xã hội tư sản, pháp
quyền tư sản, đạo đức và luân lý, thì ông vẫn ưa dùng thuật ngữ “xã hội công
dân” hơn. Thuật ngữ đó luôn đa nghĩa: đó vừa là xã hội “dân sự” vừa là xã hội
“tư sản”. Bởi thế không phải vô cớ mà Hêghen ghép cả một số hình thức
chính trị tiền tư sản (kiểu quân chủ - quý tộc) mà ông ưa thích vào số các
nguyên tắc của xã hội tư sản. Đồng thời ông phê phán tha hoá không chỉ ở xã
hội phong kiến hậu kỳ, mà ngay cả ở xã hội tư sản.
Hêghen cũng không thể xác định chính xác phương thức “vượt bỏ”
tất cả các dạng tha hoá thông qua nhận thức. Do bản thân tri thức chỉ trở
nên khá hoàn thiện ở thang bậc cao nhất của “tinh thần tuyệt đối” trong
triết học và nói cho chặt chẽ, chỉ trong triết học duy tâm tuyệt đối của
Hêghen, cho nên chỉ có giới thượng lưu triết học của nhân loại mới có thể
có được tự do tối thượng, nghĩa là tự giải phóng hoàn toàn khỏi tha hoá.
Chỉ có nhà triết học duy tâm và hơn thế là nhà duy tâm khách quan mới có
quyền nói rằng, tinh thần đã khép kín sự vận động sinh thành của mình
trong tri thức, mới trở nên trưởng thành, mạnh mẽ và tự do, mới hoàn toàn

vượt bỏ được sự tha hoá. Theo Mác, ở Hêghen hoá ra là “tồn tại con người
đích thực của tôi là tồn tại của tôi trong triết học” [92, tr. 239]. Nhưng đó
đã là lập trường duy tâm, không tưởng và đồng thời còn xa mới là dân chủ.
Hêghen tin tưởng rằng thế giới đang đứng trước ngưỡng cửa xoá bỏ hoàn
toàn tha hoá. Nhưng ông lại không thể chỉ ra những phương cách hiện thực
đạt tới điều đó. Trong mọi trường hợp cũng phải đánh giá đúng linh cảm
của Hêghen: ông đi đến kết luận rằng, “ý thức thuần tuý” tư sản không thể
khắc phục được bất kỳ khiếm khuyết trần thế nào [ Xem 55, tr. 1046-1053].
Sự thất vọng của Hêghen trước ý thức khai sáng ở mức độ nhất định
cũng là sự thất vọng của ông trước “chuẩn mực” tư sản. Ông đã cảm thấy sự

×