Tải bản đầy đủ (.doc) (79 trang)

Giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Hoàng Mai

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (793.03 KB, 79 trang )

Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân
hàng
MỤC LỤC
Ở Việt Nam, theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của NHNN Việt Nam quy
định về Phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý RRTD và quyết định số
18/2007/QĐ-NHNN ban hành ngày 25/4/2007 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy
định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng, dự phòng để xử lý RRTD trong hoạt động ngân hàng
của TCTD ban hành kèm theo Quyết định số 493/2005/QĐ- NHNN ngày 22/04/2005. Nợ xấu là
các khoản nợ thuộc về nhóm 3, 4 và 5 được quy định tại điều 6 bao gồm: 17
Phòng ngừa nợ có vấn đề 50
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích Ngọc Lớp :LTĐH8 NHA
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân
hàng
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NHNo&PTNT Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam
Agribank Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
TCTD Tổ chức tín dụng
RRTD Rủi ro tín dụng
TSĐB Tài sản đảm bảo
GTCG Giấy tờ có giá
TG Tiền gửi
SXKD Sản xuất kinh doanh
CBTD Cán bộ tín dụng
CNTT Công nghệ thông tin
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích Ngọc Lớp :LTĐH8 NHA
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân
hàng
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Ở Việt Nam, theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của NHNN Việt Nam quy


định về Phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý RRTD và quyết định số
18/2007/QĐ-NHNN ban hành ngày 25/4/2007 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy
định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng, dự phòng để xử lý RRTD trong hoạt động ngân hàng
của TCTD ban hành kèm theo Quyết định số 493/2005/QĐ- NHNN ngày 22/04/2005. Nợ xấu là
các khoản nợ thuộc về nhóm 3, 4 và 5 được quy định tại điều 6 bao gồm: 17
Phòng ngừa nợ có vấn đề 50
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích Ngọc Lớp :LTĐH8 NHA
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân
hàng
LỜI NÓI ĐẦU
1. Sự cấp thiết của đề tài
Hoạt động tín dụng đã và đang là một trong những hoạt động kinh doanh chủ
yếu, quan trọng và đem lại nguồn thu chính của các ngân hàng thương mại. Tuy nhiên,
cùng với việc đem lại thu nhập cao cho ngân hàng thì tín dụng lại là lĩnh vực có rủi ro
cao nhất. Hậu quả của rủi ro tín dụng đối với các ngân hàng thường rất nặng nề: làm
tăng chi phí của ngân hàng, thu nhập lãi bị chậm lại hoặc không thu hồi được, cùng với
đó là sự thất thoát vốn vay, tình hình tài chính của ngân hàng bị xấu đi, và hơn thế nữa
là làm tổn hại đến vị thế và uy tính của ngân hàng trên thị trường.
Rủi ro tín dụng tồn tại song song với hoạt động tín dụng, chúng ta không thể
loại bỏ được hoàn toàn rủi ro tín dụng mà chỉ có thể áp dụng các biện pháp để
phòng ngừa và hạn chế tổn thất khi có rủi ro xảy ra. Đứng trên quan điểm quản lý
toàn bộ hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng, một tỷ lệ
tổn thất dự kiến đối với hoạt động tín dụng phải luôn được xác định trong chiến
lược hoạt động chung của ngân hàng. Khi ngân hàng kinh doanh với một mức tổn
thất thấp hơn hoặc bằng tỷ lệ tổn thất dự kiến thì đó là sự thành công trong lĩnh vực
quản lý rủi ro của ngân hàng. Ngân hàng phải dùng nhiều biện pháp để tác động đến
hoạt động tín dụng để hạn chế tối đa rủi ro tín dụng nhằm góp phần đạt tới mục tiêu
hoạt động tín dụng an toàn, hiệu quả mà vẫn đảm bảo được tốc độ tăng trưởng.
Thực tiễn hoạt động tín dụng của Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông
thôn chi nhánh Hoàng Mai trong thời gian qua cho thấy rủi ro tín dụng vẫn còn ở

mức cao thể hiện qua các chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lệ nợ xấu, đặc biệt là sự gia
tăng trong nợ nhóm 5. Do đó, yêu cầu đặt ra là làm thế nào để ngân hàng có thể
kiểm soát rủi ro tín dụng một cách hiệu quả hơn nữa để có thể giảm thiểu rủi ro tín
dụng đến mức thấp nhất có thể nhằm tăng thêm lợi nhuận cho ngân hàng, góp phần
nâng cao uy tín và tạo ra vị thế của ngân hàng trong tình hình cạnh tranh như hiện
nay. Đó là lý do em chọn đề tài cho chuyên đề tốt nghiệp của mình là “Giải pháp
nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát
triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Hoàng Mai”.
2. Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về RRTD trong hoạt động kinh doanh
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích Ngọc Lớp: LTĐH8 NHA
4
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân
hàng
NHTM.
- Phân tích đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng, rủi ro tín dụng, nguyên
nhân dẫn đến rủi ro tín dụng và các phương pháp quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi nhánh Hoàng Mai.
- Trên cơ sở lý luận và phân tích thực trạng rủi ro tín dụng, từ đó đưa ra những
giải pháp, kiến nghị nhằm tăng cường, nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý rủi
ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi nhánh Hoàng
Mai.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: hoạt động tín dụng, rủi ro tín dụng và công tác quản
lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi nhánh
Hoàng Mai
- Phạm vi nghiên cứu:
 Không gian: Nghiên cứu quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Hoàng Mai.
 Thời gian: Nghiên cứu quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn chi nhánh Hoàng Mai giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2012.
4. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng biện pháp duy vật biện chứng, kết hợp với các phương pháp thống kê,
so sánh, phân tích, đi từ cơ sở lý thuyết đến thực tiễn nhằm giải quyết và làm sáng
tỏ mục đích đặt ra trong bài. Bên cạnh đó, đề tà cũng vận dụng kết quả nghiên cứu
của các công trình nghiên cứu khoa học để làm phong phú và sâu sắc hơn các cơ sở
khoa học và thực tiễn của đề tài.
5. Kết cấu của chuyên đề
Nội dung của chuyên đề được trình bày trong 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh
doanh ngân hàng.
- Chương 2: Thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng tại NHNo&PTNT chi
nhánh Hoàng Mai
- Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng tại
NHNo&PTNT chi nhánh Hoàng Mai.
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích Ngọc Lớp: LTĐH8 NHA
5
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân
hàng
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÂN HÀNG
1.1 Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng
1.1.1 Khái niệm về tín dụng ngân hàng
“Tín dụng là một nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng thương mại, trong đó ngân
hàng thương mại (bên cho vay) thỏa thuận chuyển giao tài sản (tiền hoặc hiện vật)
cho khách hàng (bên đi vay) sử dụng trong một thời gian nhất định, khi đến hạn
thanh toán, bên đi vay có trách nhiệm vô điều kiện trong hoàn trả gốc ban đầu và
trả thêm phần lãi cho bên cho vay”.
Hoạt động tín dụng phải đảm bảo một số điều kiện của một hợp đồng tín dụng là:

- Thứ nhất, thời hạn, lãi suất và hạn mức hoàn trả của hợp đồng. Sau khoảng
thời gian ghi trong hợp đồng, người vay cần phải hoàn trả vốn và lãi cho ngân hàng.
- Thứ hai, vốn vay phải đảm bảo được sử dụng đúng mục đích. Khoản vay
phải dựa trên phương án sản xuất kinh doanh nhằm phòng tránh rủi ro đạo đức
trong quá trình giải ngân.
- Thứ ba, vốn vay phải được đảm bảo bằng tài sản tương đương. Tài sản đảm
bảo có thể là: vốn vay ngân hàng, tài sản cầm cố hoặc thế chấp, bảo lãnh
1.1.2 Khái niệm rủi ro tín dụng
Có nhiều cách tiếp cận về rủi ro dưới nhiều góc độ khác nhau và các cách tiếp
cận này đã thống nhất quan điểm: “Rủi ro là khả năng có thể xảy ra các biến cố
không lường trước và thường gây ra các hậu quả xấu”. Rủi ro luôn xuất hiện bất
ngờ và đe dọa sự sống còn của các doanh nghiệp. Thường thì những hoạt động kinh
doanh mang lại lợi nhuận càng cao thì rủi ro càng lớn. Do đó muốn có lợi nhuận
càng cao thì ngân hàng cần phải chấp nhận mức rủi ro có thể xảy ra và đặc biệt là
biết tìm biện pháp hạn chế, phòng ngừa nhằm giảm thiểu thiệt hại do rủi ro gây ra.
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích Ngọc Lớp: LTĐH8 NHA
6
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân
hàng
Là một đơn vị hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, NHTM thường
xuyên phải đối mặt với rất nhiều loại rủi ro: rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro hối
đoái, rủi ro thanh toán và các loại rủi ro khác. Trong điều kiện hiện nay, mặc dù các
NHTM đang gia tăng các loại hình dịch vụ kinh doanh song tín dụng vẫn là hoạt
động thường xuyên, cơ bản nhất của ngân hàng, cùng với đó luôn tồn tại rủi ro tín
dụng, loại rủi ro gây ra hậu quả nặng nề nhất đối với hoạt động ngân hàng.
Theo điều 2 của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để
xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD ban hành theo quyết
định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc NHNN định nghĩa
rằng: “ Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng do
khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình

theo cam kết”.
Như vậy rủi ro tín dụng là kết quả của việc ngân hàng cấp tín dụng cho khách
hàng và ngân hàng nhận được sự cam kết của khách hàng sẽ thanh toán cả gốc lẫn
lãi đầy đủ khi đến hạn. Tuy nhiên vì một lý do nào đó mà khách hàng lại không
muốn trả nợ hoặc không có khả năng trả nợ theo đúng cam kết, khi ấy tổn thất tiềm
tàng mà ngân hàng phải gánh chịu chính là rủi ro tín dụng. RRTD không chỉ giới
hạn ở hoạt động cho vay mà còn ở nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng khác
như: bảo lãnh, cam kết, chấp thuận tài trợ thương mại, cho vay trên thị trường liên
ngân hàng, những chứng khoán có giá (trái phiếu, cổ phiếu…), trái quyền, Swaps,
tín dụng thuê mua, đồng tài trợ…
Rủi ro tín dụng là một tất yếu mà các ngân hàng không thể loại bỏ ra khỏi hoạt
động tín dụng của mình, họ buộc phải chấp nhận sự tồn tại của rủi ro tín dụng và cố
gắng tìm các phương pháp để hạn chế đến mức thấp nhất có thể xảy ra. Đặc biệt,
khi thế giới đang trong quá trình toàn cầu hóa thì hoạt động của ngân hàng càng trở
nên phong phú và không chỉ giới hạn trong phạm vi quốc gia mà còn hướng ra thị
trường quốc tế. Khi đó, các hoạt động tín dụng sẽ có nhiều rủi ro hơn thì yêu cầu về
phương thức quản trị rủi ro là vấn đề trọng tâm trong quản lý của các NHTM hiện
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích Ngọc Lớp: LTĐH8 NHA
7
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân
hàng
nay. Đồng thời, sự tăng cường kiểm soát quốc tế như Hiệp ước Basel do ủy ban
Basel ban hành, đặt ra yêu cầu các ngân hàng cần có những biện pháp hữu hiệu để
hạn chế rủi ro và đáp ứng được những tiêu chuẩn quy định.
1.1.3 Phân loại rủi ro tín dụng
1.1.3.1 Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được
phân chia thành rủi ro danh mục và rủi ro giao dịch:
 Rủi ro danh mục (Porfolio risk): là một hình thức của rủi ro tín dụng mà
nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của
ngân hàng, gồm 2 loại là rủi ro nội tại (Intrinsis risk) và rủi ro tập trung

(Concentration risk) :
- Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng
biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ
đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn.
- Rủi ro tập trung: là trường hợp NH tập trung vốn cho vay quá nhiều đối
với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng
một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc
cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao
 Rủi ro giao dịch (Transaction risk): là một hình thức của rủi ro tín dụng
mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và
xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro lựa
chọn, rủi ro bảo đảm, rủi ro nghiệp vụ.
- Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín
dụng của ngân hàng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả
để ra quyết định cho vay.
- Rủi ro bảo đảm: phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản
trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản bảo đảm, chủ thể bảo đảm, cách thức đảm
bảo và mức cho vay trên giá trị của TSĐB.
- Rủi ro nghiệp vụ : là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và
hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích Ngọc Lớp: LTĐH8 NHA
8
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân
hàng
thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề.
1.1.3.2 Căn cứ vào khả năng trả nợ cho ngân hàng trên cả hai khía
cạnh: thời gian và số lượng, rủi ro tín dụng gồm hai loại rủi ro đọng vốn
và rủi ro mất vốn:
 Rủi ro đọng vốn: xảy ra khi khách hàng không thể trả nợ đúng hạn
đã thỏa thuận với ngân hàng hay nói cách khác khách hàng đã trì hoãn trả nợ.

Điều này ảnh hưởng đến kế hoạch sử dụng vốn của ngân hàng, gây cản trở và
khó khăn cho việc chi trả người gửi tiền, tăng chi phí cho ngân hàng
 Rủi ro mất vốn: xảy ra khi khách hàng không trả được một phần hoặc
toàn bộ nợ vay, làm cho dòng tiền của ngân hàng giảm sút đồng thời doanh
thu bị chậm lại hoặc mất đi.
1.1.4 Nguyên nhân rủi ro tín dụng
Hoạt động tín dụng luôn chứa đựng rất nhiều rủi ro, việc đi sâu nghiên cứu
nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng phần nào giúp cho các ngân hàng có thể hạn
chế xảy ra rủi ro, đồng thời có chiến lược quản trị rủi ro tín dụng phù hợp.
1.1.4.1. Nguyên nhân thuộc về phía ngân hàng
Có nhiều yếu tố gây ra rủi tín dụng mà nguyên nhân thuộc về ngân hàng có thể
kể ở đây:
- Chiến lược kinh doanh của ngân hàng: Tùy theo chiến lược kinh doanh cụ
thể mà các ngân hàng sẽ có khẩu vị rủi ro khác nhau. Có ngân hàng chấp nhận một
mức độ rủi ro cao hơn nhằm thu được nguồn lợi nhuận lớn hoặc thị phần lớn, trong
khi đó có ngân hàng khác.
- Các hệ thống đánh giá và quản lý rủi ro tín dụng chưa đạt được yêu cầu về sự
tổng hợp, chặt chẽ, thống nhất và hợp lý.
- Bản thân các ngân hàng khi phát sinh các khoản nợ xấu thường không phản
ánh vào tài khoản và chuyển thành nợ khó đòi bởi vì như vậy sẽ ảnh hưởng đến
thành tích của ngân hàng, làm cho bảng cân đối của ngân hàng “không đẹp”. Điều
này dẫn đến ngân hàng tiếp tục gia hạn cho khách hàng nhiều lần, cho khách hàng
đảo nợ và từ đó không thực hiện thu nợ đúng theo hợp đồng tín dụng đã ký kết.
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích Ngọc Lớp: LTĐH8 NHA
9
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân
hàng
- Hệ thống thông tin chưa đầy đủ, cập nhật và chính xác khiến cho quá trình
đánh giá rủi ro gặp nhiều khó khăn. Ngân hàng chưa có được thông tin đầy đủ về
toàn bộ thị trường của khách hàng. Ngân hàng không có những kênh thông tin chính

xác để kiểm tra về khách hàng như qua các cơ quan, báo chí, ngân hàng khác, Ngân
hàng không đánh giá được chính xác mối quan hệ đã và đang có của doanh nghiệp
với các định chế tài chính khác, chủ yếu là các NHTM do doanh nghiệp có thể đồng
thời đi vay nhiều NHTM.
- Áp lực cạnh tranh trong hoạt động tín dụng: Hiện nay khi các ngân hàng
bước vào cuộc cạnh tranh gay gắt và quyết liệt, các khoản tín dụng được chấp nhận
dễ dàng hơn với mục đích tăng thêm thị phần cho ngân hàng, song nó cũng mang lại
nhiều rủi ro hơn.
- Xuất phát từ cán bộ tín dụng khi chưa có nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng
của việc hạn chế rủi ro tín dụng, chưa đánh giá chính xác về khách hàng và khả
năng trả nợ của họ, về ngành nghề, tiềm năng và vị trí của ngành trong nền kinh tế,
xu hướng phát triển của ngành trong tương lai. Đạo đức nghề nghiệp của cán bộ
khiến cho việc xem xét các khoản vay không được khách quan, đúng đắn khi cố
tình làm sai quy trình tín dụng để mưu lợi cá nhân, định giá tài sản thế chấp không
đúng với giá trị thực hay trực tiếp thu nợ gốc và lãi của khách hàng nhưng không
nộp lại cho ngân hàng hay làm hồ sơ giả để vay tiền, chiếm đoạt tài sản của ngân
hàng,…
1.1.4.2. Nguyên nhân thuộc về khách hàng
Những nguyên nhân xuất phát chủ yếu từ năng lực quản lý của khách hàng,
bao gồm: khả năng quản lý trong lĩnh vực kinh doanh không tốt dẫn đến thua lỗ và
không có khả năng trả nợ ngân hàng. Sự yếu kém trong việc tính toán những bất
trắc có thể xảy ra trong tương lai, sự không minh bạch về tài chính của khách hàng
gây khó khăn cho ngân hàng trong việc đánh giá rủi ro.
Những nguyên nhân xuất phát từ sự không tuân thủ các điều kiện trong hợp
đồng tín dụng mà khách hàng đã ký với ngân hàng như sự cố ý gian lận để lừa đảo
ngân hàng, sử dụng vốn vay không đúng mục đích, cố ý không trả nợ ngân hàng
đúng hạn nhằm sử dụng vốn vay trong thời gian dài hơn. Đây không phải là do hoạt
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích Ngọc Lớp: LTĐH8 NHA
10
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân

hàng
động kinh doanh của doanh nghiệp không có hiệu quả mà là do thời gian cho vay
không phù hợp. Trong trường hợp này, ngân hàng nên xem xét kỹ và có thể gia hạn
cho doanh nghiệp, tạo điều kiện cho khách hàng thanh toán nợ đầy đủ cho ngân
hàng.
Đối với từng khách hàng khác nhau thuộc các ngành nghề khác nhau thì mức
độ rủi ro khác nhau, vì thế trong chiến lược kinh doanh của mình, các NHTM cần
lựa chọn và xác định khách hàng mục tiêu, ngành nghề mục tiêu, đối tượng mà
NHTM hướng đến, từ đó ngân hàng sẽ có những nghiên cứu, tìm hiểu sâu rộng về
ngành hàng, thị trường cũng như tiềm năng phát triển của ngành trong tương lai.
1.1.4.3. Các nguyên nhân liên quan đến môi trường hoạt động kinh doanh
- Do thiên tai, hỏa hoạn, những sự kiện bất ngờ xảy ra.
- Tình hình an ninh, chính trị trong nước cũng như khu vực không ổn định.
- Khủng hoảng hoặc suy thoái kinh tế, lạm phát, sự mất cân bằng cán cân
thanh toán quốc tế dẫn đến tỷ giá hối đoái biến động bất thường.
- Môi trường pháp lý không thuận lợi, vấn đề lỏng lẻo trong quản lý vĩ mô.
1.1.5 Tổn thất do rủi ro tín dụng gây ra
Rủi ro tín dụng luôn tiềm ẩn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng và đã
gây ra những hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng nhiều mặt đến sự phát triển của
kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia và nó còn có thể lan rộng ra phạm vi toàn cầu.
1.1.5.1. Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đến hoạt động kinh doanh của ngân
hàng
Đối với ngân hàng:
Khi RRTD xảy ra, ngân hàng không thu được nợ trong khi đó vẫn phải trả
gốc và lãi cho nguồn tiền huy động khi đến hạn. Điều này sẽ làm cho ngân hàng
mất cân đối trong việc thu chi, vòng quay vốn tín dụng giảm khiến cho hiệu quả
kinh doanh của ngân hàng giảm, chi phí của ngân hàng tăng cao so với dự kiến.
Nếu một khoản vay nào đó bị mất khả năng thu hồi thì ngân hàng phải sử
dụng vốn của mình để trả cho người gửi tiền, đến một chừng mực nào đó ngân hàng
không có đủ nguồn vốn để trả cho người gửi tiền thì ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng

mất khả năng thanh toán. Điều này rất dễ đẩy ngân hàng đến thua lỗ hoặc bên bờ
vực phá sản nếu không có biện pháp xử lý, khắc phục kịp thời.
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích Ngọc Lớp: LTĐH8 NHA
11
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân
hàng
Đối với hệ thống ngân hàng:
Các ngân hàng và các tổ chức tín dụng trong một quốc gia có mối liên hệ rất
chặt chẽ với nhau và với các tổ chức kinh tế, xã hội và các cá nhân trong nền kinh
tế. Do vậy, nếu một ngân hàng có kết quả hoạt động xấu, đặc biệt trong trường hợp
mất khả năng thanh toán và phá sản sẽ có những tác động dây chuyền ảnh hưởng
xấu đến toàn bộ hệ thống ngân hàng và các bộ phân kinh tế khác. Nếu không có sự
can thiệp kịp thời của NHNN và Chính phủ thì tâm lý lo sợ mất tiền sẽ lây lan đến
toàn bộ người gửi tiền và họ sẽ đồng loạt rút tiền tại các NHTM làm cho các ngân
hàng khác vô hình chung cũng rơi vào tình trạng mất khả năng thanh khoản.
1.1.5.2. Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đến nền kinh tế - xã hội
Khi một ngân hàng gặp phải RRTD hay bị phá sản sẽ khiến cho toàn bộ hệ
thống ngân hàng gặp phải khó khăn và ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp khi không đáp ứng được nhu cầu vay vốn. Hơn nữa sự
khủng hoảng trong hệ thống ngân hàng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ nền kinh
tế. Nó làm cho nền kinh tế bị suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp gia
tăng, xã hội mất ổn định.
1.1.5.3. Trong quan hệ kinh tế đối ngoại
Làm ảnh hưởng đến vị thế và hình ảnh của hệ thống ngân hàng - tài chính
quốc gia cũng như toàn bộ nền kinh tế của quốc gia đó.
Tóm lại, rủi ro tín dụng của ngân hàng xảy ra sẽ ảnh hưởng ở các mức độ khác
nhau, nhẹ nhất là ngân hàng bị giảm lợi nhuận do phải trích lập dự phòng, không
thu hồi được lãi cho vay, nặng nhất khi ngân hàng không thu được vốn gốc và lãi
vay, nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn đến ngân hàng bị lỗ và mất vốn. Nếu tình trạng
này kéo dài không khắc phục được, thậm chí ngân hàng bị phá sản, gây hậu quả

nghiêm trọng cho nền kinh tê nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng. Chính vì
thế, yêu cầu đặt ra là các nhà quản trị ngân hàng cần phải hết sức thận trọng và có
những biện pháp thích hợp nhằm giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng.
1.2 Quản trị rủi ro tín dụng
1.2.1 Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích Ngọc Lớp: LTĐH8 NHA
12
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân
hàng
Quản trị rủi ro là một quá trình tác động có tổ chức và định hướng của các nhà
quản trị ngân hàng lên đối tượng quản trị và khách thể kinh doanh nhằm mục đích
phòng ngừa, hạn chế và giảm thiểu rủi ro trong quá trình hoạt động, từ đó nâng cao
mức độ an toàn, tăng khả năng sinh lời và đạt được mục tiêu trong trung và dài hạn
của từng ngân hàng.
Hiểu một cách đơn giản thì quản trị rủi ro là quá trình mà NHTM áp dụng các
nguyên lý, các phương pháp và kinh nghiệm quản trị rủi ro của các ngân hàng đã
áp dụng thành công, từ đó phòng ngừa, hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng, đầu
tư, các hoạt động kinh doanh khác nhằm nâng cao uy tín của ngân hàng.
Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình nhận biết, đo lường, quản lý rủi ro tín
dụng trong quá trình cho vay, theo dõi giám sát, phát hiện và xử lý kịp thời rủi ro tín
dụng để đảm bảo quyền lợi cho ngân hàng.
Mục tiêu của quản trị rủi ro tín dụng là đảm bảo hiệu quả cho hoạt động tín
dụng, hạ thấp rủi ro tín dụng, nâng cao mức độ an toàn cho kinh doanh của mỗi
ngân hàng qua các chính sách, biện pháp quản lý, giám sát hoạt động tín dụng một
cách khoa học và hiệu quả.
1.2.2 Sự cần thiết của công tác quản trị rủi ro tín dụng
1.2.2.1. Rủi ro tín dụng luôn tồn tại song song với quá trình kinh doanh
của các ngân hàng
Trong nền kinh tế thị trường luôn tồn tại các quy luật kinh tế như quy luật giá
trị, quy luật cung-cầu, quy luật cạnh tranh, ngoài những quy luật thì những rủi ro

trong sản xuất kinh doanh của nền kinh tế đã trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến
hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM.
Các ngân hàng và định chế tài chính phi ngân hàng trước hết là trung gian tài
chính, đứng giữa và đứng trong vòng vây của bốn nhóm những người có vốn và cần
vốn trong nền kinh tế bao gồm: hộ gia đình, doanh nghiệp, Chính phủ và các nhà
đầu tư nước ngoài. Sản phẩm mà các NHTM mua, bán, kinh doanh trên thị trường
là các dịch vụ lưu chuyển vốn và các tiện ích khác của Ngân hàng. Trong hoạt động
tín dụng, mặc dù hệ số an toàn vốn đạt tới 9% thì so với tài sản có, số vốn chủ sở
hữu của bản thân ngân hàng là không nhiều. Nói một cách ngắn gọn hơn đó là hoạt
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích Ngọc Lớp: LTĐH8 NHA
13
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân
hàng
động kinh doanh của các NHTM là dùng uy tín để thu hút nguồn vốn và dùng năng
lực quản trị rủi ro để sử dụng nguồn vốn và phát triển các dịch vụ khác với tư cách
là người “đứng giữa” các lực lượng cung và cầu về các dịch vụ ngân hàng. Do đó,
hoạt động kinh doanh của ngân hàng bao gồm rất nhiều loại rủi ro trong đó có rủi ro
tín dụng. Vì thế, nhiều ý kiến cho rằng các ngân hàng cần phải đảm bảo cơ hội kinh
doanh trên mối quan hệ giữa rủi ro-lợi ích nhằm tìm ra những cơ hội đạt được
những lợi ích xứng đáng với mức rủi ro có thể chấp nhận được. NHTM sẽ hoạt
động tốt nếu mức rủi ro mà ngân hàng gánh chịu là hợp lý và kiểm soát được.
1.2.2.2. Hiệu quả kinh doanh của các NHTM phụ thuộc vào mức độ rủi ro
Trong hoạt động kinh doanh, NHTM có nhiều yếu tố khách quan và chủ quan
mang lại rủi ro, nhiều yếu tố bất khả kháng nên không thể tránh khỏi rủi ro. Vì ngân
hàng là một doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ nên thường xuyên phải
đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro. Ngân hàng muốn có lợi nhuận cao thì phải chấp
nhận rủi ro cao nên phải quản lý rủi ro trong một phạm vi cho phép. Nếu rủi ro tín
dụng cao thì ngân hàng phải trích lập dự phòng rủi ro cao, từ đó làm giảm lợi nhuận
của ngân hàng.
1.2.2.3. Quản trị rủi ro tốt là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng

hoạt động kinh doanh của các NHTM
Trong quản trị NHTM, quản trị rủi ro là một nội dung quan trọng mà các cấp
lãnh đạo, quản lý, điều hành phải đặc biệt quan tâm. Rủi ro tín dụng cao không chỉ
làm tăng chi phí của ngân hàng mà còn ảnh hưởng đến các kế hoạch kinh doanh của
ngân hàng. Do đó, các nhà quản trị NHTM cần được trang bị kiến thức về quản trị
rủi ro, cập nhật các thông tin kinh tế, có đội ngũ tham mưu chuyên nghiệp, kiểm
soát và kiểm toán nội bộ hiệu quả, tạo điều kiện phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín
dụng, nâng cao hiệu quả kinh doanh.
1.2.3 Nội dung quản trị rủi ro tín dụng
1.2.3.1. Nhận biết rủi ro tín dụng
Trong hoạt động kinh doanh của mình, ngân hàng luôn đối mặt với nhiều rủi
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích Ngọc Lớp: LTĐH8 NHA
14
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân
hàng
ro. Tuy nhiên, những rủi ro đó thường có dấu hiệu để nhận biết, mặc dù có rủi ro có
dấu hiệu rõ ràng, nhưng có những rủi ro biểu hiện rất mờ nhạt. Vì vậy, việc phát
hiện sớm rủi ro để có những biện pháp xử lý kịp thời sẽ làm giảm tổn thất cho ngân
hàng.
Để nhận biết rủi ro tín dụng có thể xảy ra, các cán bộ tín dụng ngân hàng cần
luôn theo dõi, giám sát quá trình vay nợ của khách hàng từ đó phát hiện ra các
nhóm dấu hiệu sau:
Nhóm 1: Nhóm có dấu hiệu liên quan đến vấn đề khó khăn về tài chính của
khách hàng.
Khó khăn trong việc thanh toán lương cho các cán bộ công nhân viên, sự
biến động của số dư tài khoản, đặc biệt là số dư tài khoản tiền gửi.
Tăng mức sử dụng bình quân các tài khoản.
Thường xuyên yêu cầu ngân hàng hỗ trợ nguồn vốn lưu động từ nhiều
nguồn khác nhau.
Nhu cầu vay vốn tăng bất thường, mức độ vay thường xuyên hơn.

Thanh toán chậm các khoản gốc và lãi đến hạn.
Các phương thức tài trợ: sử dụng nhiều nguồn tài trợ ngắn hạn cho các hoạt
động dài hạn, sử dụng các nguồn tài trợ với chi phí cao.
Nhóm 2: Nhóm có dấu hiệu liên quan đến phương pháp quản lý của khách
hàng.
 Thay đổi thường xuyên cơ cấu của hệ thống quản trị, ban điều hành. Hệ
thống quản trị và ban điều hành thường xuyên bất đồng về mục đích, công tác quản
trị, điều hành độc quyền, độc đoán.
 Doanh nghiệp được hoạch định bởi Ban điều hành ít kinh nghiệm hay ban
quản trị tham gia quá sâu vào vấn đề hàng ngày, thiếu quan tâm đến lợi ích của các
cổ đông, chủ nợ.
 Thường xuyên luân chuyển nhân viên.
 Lập kế hoạch xác định mục tiêu kém, xuất hiện các hành động nhất thời,
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích Ngọc Lớp: LTĐH8 NHA
15
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân
hàng
không có khả năng giải quyết với những thay đổi bất thường.
Nhóm 3: Nhóm có các dấu hiệu liên quan đến chính sách ưu tiên trong
kinh doanh.
 Dấu hiệu hội chứng hợp đồng lớn, khách hàng vay vốn ấn tượng bởi một
hoặc một số hợp đồng lớn, có tên tuổi nhưng sau này sẽ phụ thuộc vào chúng.
 Sự cấp bách không thích hợp, chẳng hạn như do áp lực nội bộ dẫn đến việc
tung sản phẩm, dịch vụ ra thị trường quá sớm, các hạn mức về thời gian kinh doanh
đưa ra không thực tế, tạo ra sự mong đợi trên thị trường không đúng lúc.
Nhóm 4: Nhóm các dấu hiệu thuộc vấn đề thương mại và kỹ thuật.
 Khó khăn trong vấn đề phát triển sản phẩm, cường độ đổi mới sản phẩm
giảm dần.Có biểu hiện cắt giảm chi phí sửa chữa, thay thế máy móc.
 Thay đổi trên thị trường: tỷ giá, lãi suất, thị hiếu của người tiêu dùng, chậm
cập nhật kỹ thuật mới, có thêm nhiều đối thủ cạnh tranh, mất nhiều khách hàng lớn.

 Những thay đổi từ các chính sách của Nhà nước, đặc biệt là chính sách
thuế, điều kiện thành lập và hoạt động.
 Sản phẩm của khách hàng mang tính thời vụ cao.
Nhóm 5: Nhóm các dấu hiệu về xử lý thông tin tài chính, kế toán.
 Chuẩn bị không đầy đủ số liệu tài chính, chậm trễ hoặc trì hoãn.
 Sự gia tăng không cân đối về tỷ lệ nợ, sóo khách hàng nợ tăng nhanh và
thơờ hạn thanh toán của con nợ kéo dài.
 Khả năng tiền mặt, tính thanh khoản giảm.
 Thường xuyên không đạt mức kế hoạch về sản xuất và bán hàng.
1.2.3.2. Đo lường rủi ro tín dụng
Tín dụng là hoạt động chủ yếu của ngân hàng, nguồn mang lại thu nhập chính
cho ngân hàng. Ngân hàng cần quản lý tốt rủi ro tín dụng không chỉ để tăng lợi
nhuận mà còn góp phần tăng giá trị cho ngân hàng. Do đó, ngân hàng cần phải
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích Ngọc Lớp: LTĐH8 NHA
16
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân
hàng
lượng hóa rủi ro tín dụng, để từ đó có những biện pháp xử lý hiệu quả.
Lượng hoá rủi ro tín dụng là việc xây dựng mô hình thích hợp để lượng hóa
mức độ rủi ro của khách hàng, từ đó xác định mức bù rủi ro và giới hạn tín dụng an
toàn tối đa đối với khách hàng, cũng như để trích lập dự phòng rủi ro. Một trong các
cách đo lường đấy là đo lường mức độ rủi ro trên danh mục cho vay trên cơ sở tính
toán và phân tích các chỉ tiêu sau:
 Nợ quá hạn và tỉ lệ nợ quá hạn.
Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và lãi đã quá hạn.
Ngân hàng nào có tỉ lệ nợ quá hạn cao thì rủi ro lớn hơn vì với những khoản nợ quá
hạn không thu hồi được sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình khai thác và sử dụng
vốn của ngân hàng, phá vỡ kế hoạch kinh doanh và đặc biệt nó ảnh hưởng đến khả
năng thanh toán của tổ chức tín dụng. Tỉ lệ nợ quá hạn càng cao thì rủi ro càng
cao.

Tổng nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn = x 100
(%) Tổng dư nợ
 Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu
Ở Việt Nam, theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của
NHNN Việt Nam quy định về Phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý
RRTD và quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ban hành ngày 25/4/2007 về việc sửa
đổi, bổ sung một số điều của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng, dự
phòng để xử lý RRTD trong hoạt động ngân hàng của TCTD ban hành kèm theo
Quyết định số 493/2005/QĐ- NHNN ngày 22/04/2005. Nợ xấu là các khoản nợ
thuộc về nhóm 3, 4 và 5 được quy định tại điều 6 bao gồm:
 Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn)
- Các khoản nợ quá hạn từ 91-180 ngày;
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích Ngọc Lớp: LTĐH8 NHA
17
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân
hàng
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều
chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2;
- Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng
trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng;
 Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ)
- Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày;
- Các khoản nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày
theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai;
 Nhóm 5 (Nợ có khả năng bị mất vốn)
- Nợ quá hạn trên 360 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn 90 ngày trở lên theo
thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả
nợ được cơ cấu lại lần thứ hai;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá
hạn hoặc đã quá hạn;
- Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý;
Tỷ lệ nợ xấu cũng là một chỉ tiêu để đánh giá chất lượng tín dụng của tổ
chức tín dụng. Nếu tỉ lệ này càng cao thì RRTD càng cao vì đây là những khách
hàng có dấu hiệu khó khăn về tài chính nên gặp khó khăn trong việc trả nợ cho ngân
hàng:
Nợ xấu
Tỉ lệ nợ xấu= x 100
(%) Tổng dư nợ
 Tỉ lệ nợ có khả năng mất vốn
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích Ngọc Lớp: LTĐH8 NHA
18
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân
hàng
Dư nợ có khả năng mất vốn
Tỉ lệ nợ có khả năng mất vốn = x 100
(%) Tổng dư nợ
 Tỷ lệ trích lập dự phòng RRTD
Dự phòng RRTD
Tỉ lệ trích lập dự phòng RRTD= x
100
(%) Tổng dư nợ kì báo cáo dự phòng RRTD
Tại Việt Nam, việc trích lập dự phòng RRTD của các ngân hàng đều theo
quyết định 493/2005/QĐ-NHNN và quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN. Trong đó
tùy vào việc phân loại nợ vào nhóm nào mà có tỷ lệ trích lập tương ứng theo
nguyên tắc: thời gian quá hạn càng cao thì tỉ lệ trích lập càng lớn. Cụ thể: Nhóm 1
là 0%, nhóm 2 là 5%, nhóm 3 là 20%, nhóm 4 là 50%, nhóm 5 là 100%. Tỷ lệ

trích lập dự phòng RRTD càng lớn thì RRTD càng lớn.
 Mức độ tập trung tín dụng
 Mức độ tập trung tín dụng theo ngành nghề kinh doanh là mức độ dồn vốn
tín dụng theo danh mục ngành nghề kinh tế. Mức độ này còn tuỳ thuộc vào nhiều
nhân tố như chính sách tín dụng, mục tiêu của NH trong từng thời kỳ và trạng thái
nền kinh tế và định hướng chung của Nhà nước.
 Mức độ tập trung theo khu vực địa lý là việc dồn vốn tín dụng cho một
hoặc một số khu vực địa lý nào đó trong nước hay nước ngoài
1.2.3.3. Các biện pháp quản trị nhằm hạn chế rủi ro tín dụng của các
NHTM
 Xây dựng chiến lược quản trị rủi ro.
Đây là điều kiện tiên quyết trong hoạt động quản trị rủi ro tín dụng. Trong
điều kiện nền kinh tế thị trường biến động phức tạp, yêu cầu đặt ra với mỗi ngân
hàng là cần phải có chiến lược rõ ràng trong việc quản trị rủi ro tín dụng, bởi vì đó
là “kim chỉ nam” cho hoạt động tín dụng. Một chiến lược rõ ràng, chính xác trong
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích Ngọc Lớp: LTĐH8 NHA
19
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân
hàng
dự báo đảm bảo cho các ngân hàng có thể linh hoạt trong phòng ngừa và xử lý
những rủi ro tín dụng có thể xảy ra. Hơn nữa, nó còn góp phần định hướng cho các
hoạt động tín dụng trong tương lai đảm bảo mục tiêu an toàn và lợi nhuận cao.
 Xây dựng chính sách tín dụng.
Một chính sách tín dụng hợp lý phải được xây dựng dựa trên các căn cứ:
- Thị trường mục tiêu của ngân hàng, nguồn lực vật chất, trình độ của đội ngũ
nhân viên là nhân tố tác động đến khả năng hoạt động của ngân hàng trên những
khu vực thị trường nhất định.
- Nguồn vốn của ngân hàng bao gồm cả vốn huy động và vốn chủ sở hữu. Tùy
thuộc vào quy mô nguồn vốn mà ngân hàng có thể lựa chọn kỳ hạn đầu tư, loại hình
cho vay phù hợp.

- Các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước ảnh hưởng đến nhu cầu tín dụng
của thị trường. Vì thế, ngân hàng cần phải có sự phù hợp thống nhất đối với các
điều chỉnh vĩ mô của Chính phủ.
 Thực hiện đúng, tuân thủ chặt chẽ quy trình tín dụng.
- Thực hiện tốt công tác phân tích tín dụng và xác định mức độ rủi ro tín dụng.
Việc phân tích, thẩm định tín dụng được thực hiện trước, trong và sau khi cho vay,
đây là yêu cầu bắt buộc với mỗi khoản vay nhằm đảm bảo tính chính xác, đảm bảo
khoản vay đến đúng đối tượng sử dụng vốn có hiệu quả. Quá trình này chỉ chấm dứt
khi khoản vay được hoàn trả đúng thời hạn và đầy đủ nợ gốc và nợ lãi.
- Thực hiện đầy đủ khâu đảm bảo tín dụng. Các yêu cầu về tài sản đảm bảo sẽ
giúp ngân hàng hạn chế rủi ro trong trường hợp khách hàng không thực hiện đầy đủ
các cam kết trong hợp đồng vay vốn. Đối với cho vay có bảo đảm bằng tài sản,
ngân hàng nên đánh giá chính xác tính sở hữu của tài sản có nằm trong tình trạng
tranh chấp hay không, đánh giá thị trường của tài sản để xác định mức độ hao mòn
của tài sản. Đối với cho vay có bảo lãnh, ngân hàng cần đánh giá được năng lực
quản lý, năng lực tài chính, ý thức sẵn sàng thanh toán của khách hàng.
- Thực hiện tốt quy trình giám sát tín dụng. Cán bộ tín dụng phải theo sát quá
trình sử dụng vốn của khách hàng có đúng mục đích hay không và để kiểm tra việc
bảo quản vật tư hàng hóa hình thành từ vốn vay, tình hình tài sản bảo đảm, tiến độ
thực hiện dự án,…có đúng cam kết trong hợp đồng hay không. Với việc giám sát
các khoản tín dụng sẽ giúp ngân hàng phát hiện và xử lý kịp thời những khoản nợ
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích Ngọc Lớp: LTĐH8 NHA
20
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân
hàng
có vấn đề, từ đó hạn chế được những rủi ro có thể xảy ra.
 Phân tán rủi ro tín dụng.
Đây là vấn đề mà mỗi ngân hàng bắt buộc phải duy trì trong suốt quá trình
hoạt động. Ngân hàng phải thực hiện theo chỉ thị về giới hạn trong cho vay (<15%
vốn tự có ), dựa trên những đánh giá về TSĐB ( <70% giá trị TSĐB), thực hiện

đồng bộ với chỉ tiêu an toàn vốn tối thiểu trong hoạt động kinh doanh, yêu cầu
khách hàng phải mua bảo hiểm cho các tài sản hình thành từ vốn vay và TSĐB.
Không nên tập trung cho vay quá nhiều vào một đối tượng, một địa bàn, một ngành
mà cần phải đa dạng hóa danh mục cho vay nhằm phân tán rủi ro, tăng cường khả
năng xử lý linh hoạt các tình huống có thể xảy ra. Đồng thời cũng cần phải sử dụng
nghiệp vụ cho vay hợp vốn nhằm mục đích san sẻ rủi ro cho các đơn vị khác.
 Sử dụng các công cụ ngoại bảng.
Đây là biện pháp hạn chế rủi ro rất hữu hiệu của ngân hàng, nó không những
có thể hạn chế rủi ro mà còn mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. Các công cụ thị
trường phái sinh này đòi hỏi phải có hệ thống, bao gồm các hợp đồng quyền chọn,
kỳ hạn, tương lai, hoán đổi.
Trên cơ sở các hoạt động tín dụng và hoạt động kinh doanh, mỗi ngân hàng
cần đưa ra các chính sách sử dụng các công cụ phái sinh dựa trên những phân tích,
đánh giá về tình hình biến động của thị trường. Nếu phân tích sai về thị trường sẽ
dẫn đến rủi ro cao hơn, giảm lợi nhuận ngân hàng đồng thời tồn tại các rủi ro thanh
toán các khoản lỗ mà các công cụ này gây ra.
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị rủi ro tín dụng
Mục đích của quản trị rủi ro tín dụng là phòng ngừa, hạn chế rủi ro từ đó tối đa
hóa lợi nhuận của ngân hàng và duy trì rủi ro tín dụng trong phạm vi có thể chấp
nhận được. Tuy nhiên, trong quá trình quản trị rủi ro, có nhiều nhân tố tác động đến
quá trình này khiến cho việc quản trị rủi ro tín dụng gặp nhiều khó khăn, và có thể
làm giảm hiệu quả của công tác quản trị. Sau đây là một số nhân tố ảnh hưởng đến
quá trình quản trị rủi ro tín dụng.
 Công nghệ thông tin: Do công nghệ và trang thiết bị ngân hàng còn yếu
kém cho nên việc thu thập và xử lý thông tin về doanh nghiệp còn nhiều hạn chế
dẫn đến những đánh giá không chính xác. Những thông tin từ hồ sơ xin vay của
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích Ngọc Lớp: LTĐH8 NHA
21
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân
hàng

doanh nghiệp, những thông tin do ngân hàng lưu trữ và những thông tin do ngân
hàng tìm hiểu bên ngoài có thể chỉ phản ánh một phần về doanh nghiệp, cần thiết
phải phân tích và tìm hiểu kỹ càng hơn mới có thể đánh giá được toàn diện về
doanh nghiệp. Chính vì vậy, công nghệ lạc hậu, thiếu thông tin cũng trở thành một
nhân tố xuất phát từ phía ngân hàng, ảnh hưởng tới quá trình quản lý RRTD của
ngân hàng.
 Cơ chế giám sát nội bộ: Cơ chế giám sát hoạt động tín dụng cũng là một
nhân tố tác động đến quản lý RRTD của ngân hàng. Ngân hàng thực hiện kiểm tra,
giám sát tốt sẽ hạn chế và khắc phục kịp thời những sai sót trong quá trình thực hiện
công tác tín dụng qua đó hạn chế được rủi ro. Sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ
phận trong ngân hàng cũng đem lại hiệu quả tốt hơn, nó vừa có tác dụng kiểm tra,
vừa cung cấp bổ sung những thông tin cần thiết không những để hoàn thiện chính
sách tín dụng chung của cả ngân hàng mà đối với từng khoản vay do được giám sát
chặt chẽ sẽ giảm thiểu tối đa rủi ro xảy ra.
 Chuyên môn hoá cán bộ tín dụng: Các doanh nghiệp vay vốn là những loại
hình doanh nghiệp khác nhau, lĩnh vực ngành nghề kinh doanh, quy mô hoạt động
khác nhau, đều ảnh hưởng rất lớn tới công tác phân tích đánh giá của ngân hàng.
Đối với ngành nghề kinh doanh khác nhau thì đặc trưng của từng ngành là khác
nhau nên các chỉ tiêu tài chính dùng đánh giá có những mức chuẩn không giống
nhau. Với loại hình doanh nghiệp khác nhau thì mức độ phức tạp của các báo cáo
tài chính cũng khác nhau, hình thức, chu kỳ, phương thức kinh doanh khác nhau.
Do đó cán bộ tín dụng sẽ gặp khó khăn bởi phần lớn hiện nay, các cán bộ tín dụng
không được chuyên môn hoá, phần lớn các bước cũng như các quy trình tín dụng
đều do một cán bộ làm. Như vậy, với một loại hình doanh nghiệp khác nhau, ngành
nghề khác nhau, thì cán bộ lại làm việc khác nhau. Điều đó có thể gây khó khăn về
mặt quản lý cho cán bộ tín dụng, qua đó làm tăng rủi ro của khoản vay.
 Các yếu tố về quy trình tín dụng, mô hình tín dụng
+ Quy trình tín dụng: Quy trình tín dụng có ý nghĩa quan trọng trong việc hạn
chế sai sót khi cho vay và giảm thiểu khả năng xảy ra RRTD. Quy trình tín dụng sẽ
quy định rõ từng khâu công việc và trách nhiệm cụ thể của các cán bộ có liên quan.

+ Mô hình đánh giá RRTD: Mỗi ngân hàng phải hình thành và đưa vào một
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích Ngọc Lớp: LTĐH8 NHA
22
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân
hàng
mô hình đánh giá rủi ro cụ thể để có thể quản lý RRTD một cách thống nhất và hiệu
quả. Mô hình này phải phù hợp với tính chất, quy mô và độ phức tạp của các hoạt
động thuộc ngân hàng đó.
 Quy định về kế toán, kiểm toán: Việc hoàn thiện các quy định về chế độ kế
toán, kiểm toán là một nhân tố khách quan ảnh hưởng tới khả năng quản lý rủi ro
của ngân hàng. Với việc thống nhất cũng như minh bạch các tài liệu kế toán sẽ giúp
cho ngân hàng có thể tăng cường giám sát các khoản cho vay của mình, nắm rõ hơn
tình hình của doanh nghiệp cả trước lẫn sau khi cấp tín dụng. Qua đó, ngân hàng sẽ
có các biện pháp hiệu quả nhằm phối hợp cùng doanh nghiệp, hạn chế được các rủi
ro có thể xảy ra.
 Cơ chế giám sát của NHNN: Việc giám sát của NHNN là rất quan trọng,
bởi chỉ khi đặt dưới sự giám sát chặt chẽ của NHNN, NHTM mới làm tốt, hiệu quả
công tác quản lý RRTD. Lúc này, các chính sách, các quy định cũng như quy trình
quản lý RRTD mới được thực hiện đầy đủ. Đặc biệt, hiện nay trên thế giới, các tiêu
chuẩn về Basel II đã và đang được coi là một chuẩn mực cho các ngân hàng thực
hiện.
 Sự phát triển của thị trường tài chính: Với một thị trường tài chính phát
triển, bên cạnh kênh tín dụng ngân hàng sẽ có các hình thức huy động vốn khác như
huy động từ cổ phiếu hoặc trái phiếu Việc phát triển thị trường tài chính không
những hạn chế RRTD từ phía doanh nghiệp mà còn nâng cao khả năng quản lý
RRTD của ngân hàng.
 Từ phía khách hàng vay vốn: khách hàng gian lận, cố tình làm sai, làm giả
hồ sơ, tài liệu. Vì ngân hàng thu thập thông tin chủ yếu từ khách hàng vay vốn và
trung tâm thông tin tín dụng CIC nhưng thông tin từ CIC không thường xuyên, do
đó nguồn thông tin chủ yếu vẫn là từ khách hàng vay vốn. Vì vậy nếu khách hàng

cố tình gian lận thì ngân hàng không thể kiểm soát được mức độ rủi ro của khoản
vay.
1.3 Kinh nghiệm quản trị rủi ro tín dụng của một số nước trên thế giới và
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích Ngọc Lớp: LTĐH8 NHA
23
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân
hàng
bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
1.3.1 Kinh nghiệm quản trị rủi ro tín dụng của một số nước trên thế giới
Cuộc khủng hoảng tài chính-ngân hàng 1997-1998 xuất phát từ Châu Á đã
làm cho nhiều ngân hàng trong khu vực và thế giới bị phá sản, kể cả các ngân hàng
có bề dày hoạt động lâu đời. Ngày nay, với hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính
toàn cầu cùng sự kiện nhiều ngân hàng trên thế giới công bố nợ xấu và thua lỗ cho
thấy tình hình thị trường tài chính luôn gặp phải rất nhiều biến cố và rủi ro. Trước
tình hình đó, có những ngân hàng đã thực hiện nhiều biện pháp để sẵn sàng đối phó
với khủng hoảng tín dụng thế giới. Sau đây là một số kịnh nghiệm quản lý rủi ro tín
dụng tại một số ngân hàng của một số nước trên thế giới.
1.3.1.1. Kinh nghiệm của ngân hàng DBS Bank – Singapore
DBS Bank là một ngân hàng đa năng, có quy mô lớn nhất ở Singapore. DBS
Bank được đánh giá là một trong những ngân hàng dẫn đầu trong dịch vụ ngân hàng
bán lẻ. Năm 2012, ngân hàng được nhận giải thưởng là ngân hàng quản trị rủi ro
xuất sắc nhất Châu Á.
Quản lý rủi ro là một trong những chiến lược dài hạn của DBS Bank được
thực hiện và quán triệt ở nhiều cấp. Ngân hàng đã có nhiều chính sách nhằm giảm
thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng như thuê công ty tư vấn hỗ trợ quản trị rủi ro,
xây dựng hội đồng xử lý rủi ro, chú trọng đầu tư con người và công nghệ cho hệ
thống quản trị rủi ro.
Chính sách tín dụng của DBS Bank được xây dựng trên nguyên tắc chung của
Basel, nhất quán và chi phối toàn bộ hoạt động tín dụng.
Ngân hàng đã thành lập hội đồng xử lý rủi ro, chịu trách nhiệm đưa ra các

quyết định như xác định danh mục đầu tư, quyết định hạn mức cho vay, kiểm tra
tình trạng tín dụng đối với những khoản vay lớn mang tính rủi ro. Ngoài ra còn có
nhiệm vụ cập nhật, thay đổi chính sách tín dụng, chính sách hạn mức phù hợp với
sự biến động của kinh tế chính trị vùng, ngành.
Mỗi đối tượng cho vay được tính điểm bởi hệ thống xếp hạng rủi ro. Việc xếp
hạng dựa vào một số tiêu chí như tình hình tài chính, điều kiện kinh doanh, thị phần
vốn và trình độ quản lý.
1.3.1.2. Kinh nghiệm của Thái Lan
Thái Lan là một nước trong khu vực Đông Nam Á có điều kiện kinh tế gần
giống Việt Nam. Mặc dù có bề dày hoạt động hàng trăm năm nhưng vào năm 1997-
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích Ngọc Lớp: LTĐH8 NHA
24
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân
hàng
1998, hệ thống ngân hàng Thái Lan vẫn bị chao đảo bởi cơn khủng hoảng tài chính
tiền tệ. Trước tình hình đó, các ngân hàng Thái Lan đã có một loạt thay đổi căn bản
trong hệ thống, đó là:
 Mô hình tổ chức hoạt động tín dụng tách bạch, phân công rõ chức năng của
từng bộ phận và tuân thủ các khâu trong quy trình giải quyết các khoản vay. Có thể
thấy rõ điều này ở Bangkok Bank và Sian Commercial Bank.
 Tuân thủ nghiêm ngặt các vấn đề có tính nguyên tắc trong tín dụng và quan
tâm nhiều đến thông tin của khách hàng như hiệu quả kinh doanh, mục đích vay,
dòng tiền và khả năng trả nợ, thực trạng tài chính…
 Tiến hành chấm điểm khách hàng trước khi quyết định cho vay.
 Tuân thủ thẩm quyền phán quyết tín dụng theo mức tăng dần phán quyết
của một người, của một nhóm người hoặc hội đồng quản trị.
 Giám sát chặt chẽ các khoản vay sau khi cho vay bằng cách tiếp tục thu
thập thông tin về khách hàng, định kỳ giám sát tình hình hoạt động kinh doanh của
khách hàng.
1.3.2. Bài học kinh nghiệm cho các ngân hàng Việt Nam

 Mô hình tổ chức hoạt động tín dụng cần phải tách bạch, phân công rõ
ràng chức năng nhiệm vụ của các bộ phận và tuân thủ các khâu trong quy trình giải
quyết các khoản vay để có thể giải quyết nhanh việc cấp tín dụng mà vẫn đảm bảo
chất lượng các khoản vay và tăng trách nhiệm của mỗi cán bộ tín dụng.
 Cần xem xét tính xác thực của thông tin tín dụng, hoàn thiện hệ thống tìm
kiếm và cập nhật thông tin liên quan đến khách hàng, xem xét, thẩm định kỹ theo
các bước đã quy định trước khi quyết định tín dụng. Trong đó, nội dung quan trọng
là đánh giá và dự phòng các khả năng xảy ra rủi ro.
 Xây dựng chính sách và quy trình để nhận dạng, đo lường, kiểm soát và
hạn chế rủi ro tín dụng. Những chính sách và quy định này cần phải chỉ ro rủi ro tín
dụng trong từng khoản tín dụng và từng cấp độ quản lý danh mục.
 Xây dựng mô hình xếp hạng khách hàng chi tiết, cụ thể giúp các ngân hàng
đưa ra quyết định kịp thời và hiệu quả.
 Giám sát khỏan vay bằng cách thu thập thông tin từ khách hàng, rà soát
đánh giá tình hình nợ một cách thường xuyên, định kỳ phân loại, nắm rõ thực trạng
dư nợ, danh mục tín dụng của ngân hàng và có biện pháp xử lý kịp thời các tình
huống rủi ro có thể xảy ra.
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích Ngọc Lớp: LTĐH8 NHA
25

×