Tải bản đầy đủ (.pdf) (70 trang)

320 Các giải pháp mở rộng và phát triển hoạt động kinh doanh dịch vụ tại ngân hàng công thương, chi nhánh 6 TP.HCM đến năm 2010

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (855.76 KB, 70 trang )

1
LỜI MỞ ĐẦU

cần thiết của việc nghiên cứu đề tài.
1. Sự

Thực hiện chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng
Xã hội chủ nghĩa, trong thời kỳ cơng nghiệp hố, hiện đại hố hệ thống ngân hàng
thương mại Việt Nam khơng ngừng đổi mới và lớn mạnh, trong thời gian qua ngành
Ngân hàng Việt Nam đã có sự phát triển vượt bậc. Cơ cấu ngân hàng ngày càng đa
dạng gồm Ngân hàng Thương Mại Quốc Doanh trực thuộc NHNN, Các hệ thống
NH Thương Mại Cổ phần, Ngân hàng Liên Doanh, Văn phòng đại diện, Chi nhánh
của Ngân hàng nước ngoài, Ngân hàng Chính Sách Xã Hội, Hợp tác xã tín dụng,
Công ty tài chính…. Các loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung cung cấp cho nền kinh
tế ngày càng hiện đại, góp phần tích cực trong việc hỗ trợ các đơn vị kinh tế trong nước
phát triển.
Trong các loại hình dịch vụ ngân hàng, dịch vụ tín dụng giữ vai trò chủ đạo tại
các tổ chức tín dụng, thu nhập từ dịch vụ tín dụng ln chiếm tỷ trọng chủ yếu, đặc
biệt tại các ngân hàng trong nước. Cùng với sự mở rộng thêm các dịch vụ mới trong
thời gian qua của các ngân hàng, chất lượng dịch vụ ngày càng được cải thiện. Qua đó
góp phần khẳng định tính đa dạng về phương tiện thanh tốn thay tiền mặt và khơng
ngừng hồn thiện cơng nghệ ngân hàng hiện đại hướng về các nhu cầu tiện ích đa dạng
của mọi tầng lớp nhân dân. Sự lớn mạnh và thay đổi nhanh chóng theo chiều hướng
ngày càng hiện đại phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế để hồn thành nhiệm vụ quan trọng
trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước trước những thời cơ và thách
thức của xu thế hội nhập và tồn cầu hóa.
Ngân hàng Cơng Thương – Chi nhánh 6 là đơn vị trực thuộc Ngân hàng Cơng
Thương Việt Nam có chức năng kinh doanh nhiều loại hình dịch vụ, cung cấp đầy đủ
các loại dịch vụ cho các cá nhân, đơn vị thuộc mọi thành phần kinh tế. Trong các loại
hình dịch vụ, hoạt động tín dụng mang lại nguồn thu chủ yếu cho Ngân hàng Cơng
Thương – Chi nhánh 6 ( chiếm đến 98 % thu nhập ). Cùng với xu thế thế hội nhập quốc


tế, ngành ngân hàng Việt Nam trong đó có Ngân hàng Cơng thương Việt Nam cần tăng
cường hợp tác để phát triển sản phẩm và dịch vụ ngân hàng tiên tiến khai thác thị
Luận văn thạc sĩ kinh tế
2
trường
phục vụ đời sống con người, đây cũng là chủ trương của lãnh đạo Ngân hàng
Công Thương Việt Nam từng bước mở rộng và phát triển dịch vụ ngân hàng, giảm dần
tỷ trọng thu từ dịch vụ tín dụng trong cơ cấu nguồn thu của ngân hàng.
2. Mục tiêu nghiên cứu.
Đề tài tập trung tìm hiểu thực trạng hoạt động kinh doanh dịch vụ tại NHCT-
CN6, qua đó tìm ra các giải pháp nhằm mở rộng họat động kinh doanh dịch vụ cho
ngân hàng.
3
. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :
Đối tượng nghiên cứu : của luận văn là
-
thực trạng hoạt động dịch vụ ( trừ dịch
vụ tín dụng ) của Ngân hàng Công thương VN – Chi nhánh 6 và định hướng phát triển
dịch vụ ngân hàng. Luận văn sẽ tập trung vào vấn đề lý luận và thực tiễn về thực trạng
hoạt động và định hướng phát triển các dịch vụ ngân hàng, nhằm nâng cao khả năng
cạnh tranh của Ngân hàng Công thương Việt Nam nói chung và Chi nhánh 6 nói riêng.
Sử dụng và phát huy tối đa các nguồn lực hiện có (vốn, nhân lực, cơ sở hạ tầng, công
nghệ …) để mở rộng tiện ích ngân hàng hỗ trợ cho các hoạt động của cá nhân, doanh
nghiệp trong nền kinh tế được diễn ra thuận lợi góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển.
- Phạm vi nghiên cứu : đề tài được đặt trong bối cảnh các ngân hàng trong nước
đang chuẩn bị các nguồn lực về vốn, nhân lực, công nghệ mới để mở rộng thêm
nhiều dịch vụ, tiện ích ngân hàng mới, qua đó nâng cao khả năng cạnh của ngân hàng
Việt Nam, chuẩn bị những bước tích cực để tham gia hội nhập vào tổ chức thương mại
thế giới. Để minh họa cho vấn đề nghiên cứu luận văn liên hệ trực tiếp đến thực trạng
hoạt động dịch vụ ( trừ dịch vụ tín dụng ) của NHCT– CN6.

4. Phương pháp nghiên cứu :
-Phương pháp phân tích, tổng hợp : Các bộ phận dịch vụ của Ngân hàng Công
Thương Chi nhánh 6 sẽ được phân tích thành các bộ phận riêng biệt, vận dụng phương
pháp đánh giá tổng hợp kết hợp với hệ thống hóa để có thể nhận định đầy đủ về tình
hình hoạt động chung và nêu ra các điểm mạnh, điểm yếu trong việc cung cấp dịch vụ
ngân hàng cho khách hàng, để đánh giá khả năng cạnh tranh của ngân hàng trong thời
điểm hiện tại và định hướng phát triển trong tương lai.
- Phương pháp so sánh đối chiếu : đối chiếu giữa lý luận và thực tiển để tìm ra
và giải quyết những khó khăn thách thức trong việc mở rộng các loại hình dịch vụ mới
Luận văn thạc sĩ kinh tế
3
và nâng cao chất lượng dịch vụ phục vụ khách hàng , so sánh khả năng cạnh tranh của
Ngân hàng Công Thương Chi nhánh 6 và các ngân hàng khác trên cùng địa bàn để tìm
ra sự khác biệt. Qua đó giúp ta đánh giá được năng lực hiện tại của Ngân hàng Công
Thương Chi nhánh 6- TPHCM.
-Ngoài ra luận văn còn vận dụng phương pháp thống kê , thu thập và phân tích
số liệu để làm rõ những nội dung liên quan.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài :
Đề tài đi sâu nghiên cứu thực trạng cung cấp dịch vụ tại Ngân hàng Công thương
chi nhánh 6, qua đó có thể giúp Ban lãnh đạo ngân hàng có cái nhìn tổng thể về thị
trường dịch vụ ngân hàng, khả năng cạnh tranh và đường hướng phát triển trong tương
lai. Ngoài ra luận văn còn đề ra một số giải pháp để mở rộng và nâng cao chất lượng
dịch vụ ngân hàng phục vụ khách hàng giúp ngân hàng hoạt động có hiệu quả hơn.
6. Những điểm nổi bật của luận văn :
- Luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống một số vấn đề lý luận về các loại
hình dịch vụ ngân hàng và định hướng phát triển dịch vụ ngân hàng tiên tiến khai thác
thị trường
phục vụ đời sống con người.
- Luận văn đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển thị trường dịch vụ ngân hàng
nâng cao khả năng cạnh tranh của Ngân hàng Công Thương Việt Nam nói chung và

Chi nhánh 6 nói riêng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Góp phần hỗ trợ Nhà
nước để điều tiết nền kinh tế vĩ mô góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
7. Kết cấu của luận văn.
-Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn sẽ được
trình bày thành 3 chương như sau :
Chương 1 : Cơ sở lý luận về các dịch vụ ngân hàng
Chương 2 : Thực trạng hoạt động kinh doanh dịch vụ tại Ngân hàng Công thương
– Chi nhánh 6 – TPHCM hiện nay.
Chương 3: Các giải pháp mở rộng và phát triển hoạt động kinh doanh dịch vụ tại
Ngân hàng Công Thương – Chi nhánh 6 TPHCM từ nay đến 2010.


Luận văn thạc sĩ kinh tế
4
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC DỊCH VỤ NGÂN HÀNG

1.1.
Khái niệm về dịch vụ ngân hàng.
- Dịch vụ ngân hàng là các lọai sản phẩm mà ngân hàng cung cấp cho các khách
hàng của mình ( cá nhân và tổ chức ).
- Dịch vụ ngân hàng ngày càng phát triển cho phép hỗ trợ đáng kể cho nghiệp vụ
khai thác nguồn vốn, mở rộng các nghiệp vụ đầu tư. Ngòai ra, khi cung cấp dịch vụ cho
các khách hàng ngân hàng sẽ nhận được các khỏan phí dịch vụ, hoa hồng …
- Kinh doanh dịch vụ ngân hàng, không những làm cho các ngân hàng thương
mại trở thành ngân hàng đa năng mà còn qua họat động dịch vụ sẽ tạo ra một phần thu
nhập khá lớn với chi phí thấp. Trong thực tế, ngân hàng nào hướng vào mở rộng họat
động kinh doanh dịch vụ thì kết quả họat động kinh doanh sẽ tốt hơn, tỷ suất lợi nhuận
sẽ cao hơn. Tuy nhiên chỉ những ngân hàng lớn, hiện đại , mạng lưới rộng, quan hệ đại
lý với nhiều ngân hàng trong và ngòai nước ... mới có khả năng và điều kiện để phát

triển các lọai hình dịch vụ ngân hàng.
- Các dịch vụ của ngân hàng thương mại không thể tách rời, độc lập nhau mà
chúng có mối quan hệ hỗ tương với nhau trong quá trình kinh doanh của ngân hàng.
1.2.
Các hoạt động kinh doanh dịch vụ ngân hàng.
1.2.1.
Dịch vụ huy động vốn.
Vốn huy động là tài sản bằng tiền của các chủ sở hữu (bao gồm của pháp nhân
và thể nhân) mà ngân hàng đang tạm thời quản lý và sử dụng .Đây là nguồn vốn chủ
yếu và quan trọng nhất của bất kì một NHTM nào , tính chất quan trọng của vốn huy
động được thể hiện ở chỗ nó không chỉ chiếm tỉ trọng lớn trong tổng nguồn vốn của các
ngân hàng mà vì nó là tiền nhàn rỗi của xã hội được huy động và tập trung để sử dụng
có hiệu quả cho các yêu cầu của nền kinh tế-xã hội. Vốn huy động của ngân hàng bao
gồm:
- Nhóm 1: Vốn huy động họat kì, bao gồm tiền gửi không kì hạn của các tổ chức
kinh tế, cá nhân, tiền gửi không kì hạn của các tổ chức tín dụng khác. Chủ tài khỏan
đuợc quyền lập thư chuyển tiền, phát hành Sét rút tiền từ tài khỏan một cách tự do,
không phải báo trước . Các đơn vị, cá nhân gửi tiền vào tài khỏan này không nhằm mục
đích hưởng lãi mà nhằm phục vụ nhu cầu giao dịch thanh tóan cho chính mình. Vì vậy
Luận văn thạc sĩ kinh tế
5
đối với lọai vốn này lãi suất không phải là công cụ chính để thu hút nguồn vốn này, mà
công cụ chính là dịch vụ mà ngân hàng cung cấp kèm theo có đơn giản, thuận lợi an
tòan và nhanh chóng kịp thời hay không.
Thông thường khách hàng sẽ lựa chọn ngân hàng để mở tài khỏan là những ngân
hàng có quy mô lớn, mạng lưới rộng khắp, có hệ thống dịch vụ ngân hàng hiện đại.
- Nhóm 2: Vốn huy động định kì, gồm tiền gửi định kì ,tiền gửi tiết kiệm của cá
nhân, tổ chức, tiền phát hành kì phiếu,trái phiếu…đặc điểm của lọai nguồn vốn này là
khách hàng chỉ được rút tiền khi đáo hạn (tuy nhiên trong điều kiện bình thường, các
ngân hàng vẫn cho phép khách hàng rút tiền trước hạn).

Đối với vốn huy động định kì, người gửi tiền có mục đích xác định là hưởng
lãi.Vì vậy họ sẽ chọn ngân hàng có lãi suất cao hơn, chứ không đòi hỏi hệ thống dịch
vụ hiện đại như đối với nguồn vốn họat kì. Với lý do đó, các ngân hàng thường sử dụng
công cụ lãi suất để tập trung nguồn vốn này. Cạnh tranh lãi suất để thu hút nguồn vốn
này là cuộc cạnh tranh hợp lý và gay gắt.
- Việc huy động và sử dụng nguồn vốn huy động phải tuân thủ 3 nguyên tắc cơ
bản là hòan trả, bí mật và trả lãi.
+ Hòan trả: là nguyên tắc cao nhất,theo đó các NHTM phải có trách nhiệm hòan
trả cho khách hàng khi có yêu cầu hoặc khi đáo hạn.
Để hòan trả cho khách hàng, các ngân hàng cần có biện pháp sử dụng vốn an
tòan, có hiệu quả.Trong trường hợp do kinh doanh thua lỗ, ngân hàng bị phá sản thì
việc hòan trả tiền được áp dụng bằng cơ chế bảo hiểm tiền gửi.Theo cơ chế này,tất cả
các ngân hàng có nhận tiền gửi của khách hàng đều bắt buộc phải mua bảo hiểm tiền
gửi tại tổ chức bảo hiểm tiền gửi của chính phủ với tỉ lệ phí bảo hiểm từ 0,02% đến
0,2%/năm (ở Viêt Nam tỉ lệ này là 0,15%/năm,ở Mỹ là 3cent cho 100USD)
+ Bí mật: Đây là nguyên tắc quan trọng đồng thời cũng là đòi hỏi khách quan
của khách hàng, theo nguyên tắc này các ngân hàng phải có trách nhiệm giữ bí mật tài
khỏan của khách hàng (gồm số dư, số ghi nợ, số ghi có ) trừ trường hợp đặc biệt, có yêu
cầu riêng của cơ quan điều tra. Giữ bí mật về tài khỏan và sự họat động trên tài khỏan
của khách hàng trở thành một trong những tiêu chuẩn của hệ thống ngân hàng hiện đại.
+ Trả lãi : Ngân hàng có trách nhiệm không những hòan trả vốn gốc mà còn phải
có trách nhiệm trả lãi cho khách hàng, bất kể ngân hàng họat động có lãi hay không,
Luận văn thạc sĩ kinh tế
6
nguyên tắc này đảm bảo cho người gửi tiền vừa bảo tồn được giá trị (vốn) vừa có thu
nhập đích đáng.

1.2.2.
Các dịch vụ thanh toán, thu chi hộ cho khách hàng.
Ở Việt Nam hiện đang áp dụng các thể thức thanh tóan sau đây :

-Séc .
-Ủy nhiệm chi –hoặc lệnh chi .
-Ủy nhiệm thu – hoặc nhờ thu.
-Thư tín dụng .
1.2.2.1. Thanh toán bằng Séc .
- Khái niệm về Séc .
Séc là lệnh trả tiền của chủ tài khỏan được lập trên mẫu do ngân hàng nhà nước
qui định , yêu cầu đơn vị thanh tóan trích một số tiền từ tài khỏan tiền gửi của mình để
trả cho người thụ hưởng có tên ghi trên séc hoặc trả cho người cầm séc .
Như vậy, Séc là một chi phiếu , lập trên mẫu in sẵn cho chủ tài khỏan phát hành
giao trực tiếp cho người bán để thanh tóan tiền vật tư, hàng hóa, chi phí, dịch vụ .v.v.
Các lọai séc sử dụng trong thanh tóan .
- Căn cứ vào tính chất chuyển nhượng séc được chia làm hai lọai :
+ Séc ký danh : là séc ghi rõ họ tên , địa chỉ của cá nhân hoặc pháp nhân thụ
hưởng séc . Lọai séc này được chuyển nhượng theo luật bằng phương pháp ký hậu
chuyển nhượng . Việc chuyển nhượng phải ghi rõ họ tên , địa chỉ cá nhân, hoặc tên, địa
chỉ pháp nhân được chuyển nhượng vào mặt sau của tờ séc .
+ Séc vô danh : là lọai séc không ghi tên cá nhân hoặc tên pháp nhân thụ hưởng
séc . Trên tờ séc sẽ ghi :”yêu cầu trả lại cho người cầm séc”. Lọai séc này được chuyển
nhượng tự do tức là bằng cách trao tay . Lọai này tạm thời chưa sử dụng ở Việt Nam .
- Căn cứ tính chất sử dụng : séc được chia làm hai lọai :
+ Séc chuyển khỏan : đây là lọai séc chỉ được dùng để thanh tóan theo lối
chuyển khỏan bằng cách ghi có vào các tài khỏan liên quan. Séc chuyển khỏan được
gạch hai đường song song chéo góc phía trên bên trái tờ séc , hoặc được đóng dấu có
chữ “CHUYỂN KHỎAN” ở mặt trước tờ séc .
Luận văn thạc sĩ kinh tế
7
+ Séc tiền mặt : đây là lọai séc mà người thụ hưởng được quyền rút tiền mặt tại
đơn vị thanh tóan .
1.2.2.2. Thanh tóan bằng ủy nhiệm chi – hoặc lệnh chi.

Ủy nhiệm chi là lệnh chi do chủ tài khỏan lập trên mẫu in sẵn để yêu cầu ngân
hàng hoặc kho bạc nơi mình mở tài khỏan , trích một số tiền nhất định từ tài khỏan của
mình để trả cho người thụ hưởng về tiền hàng hóa dịch vụ … hoặc chuyển vào một tài
khỏan khác của chính mình .
Với cách sử dụng thuận tiện, đơn giản, ủy nhiệm chi được dùng để thanh tóan
các khỏan hàng hóa, dịch vụ hoặc chuyển tiền một cách rộng rãi và phổ biến trong cả
nước không phân biệt trong cùng hệ thống hay khác hệ thống ngân hàng.
1.2.2.3. Thanh tóan bằng ủy nhiệm thu hoặc nhờ thu.
Ủy nhiệm thu là một thể thức thanh tóan được tiến hành trên cơ sở giấy ủy
nhiệm thu và các chứng từ hóa đơn do người bán lập và chuyển đến ngân hàng để yêu
cầu thu hộ tiền từ người mua về hàng hóa đã giao, dịch vụ đã cung ứng phù hợp với
những điều kiện thanh tóan đã ghi trong hợp đồng kinh tế .
Ủy nhiệm thu được áp dụng phổ biến trong mọi trừơng hợp với điều kiện hai bên
mua và bán phải thống nhất với nhau và phải thông báo bằng văn bản cho ngân hàng về
việc áp dụng thể thức ủy nhiệm thu để ngân hàng làm căn cứ tổ chức thực hiện thanh
tóan .
1.2.2.4. Thanh tóan bằng thư tín dụng .
- Khái niệm : Thư tín dụng là một tờ lệnh của ngân hàng phục vụ bên mua (
theo đề nghị của người mua ) đối với ngân hàng phục vụ bên bán để tiến hành trả tiền
cho người bán theo các chứng từ của người bán xuất trình về hàng hóa đã giao , dịch vụ
đã được cung ứng cho bên mua , phù hợp với các khỏan đã ghi trong thư tín dụng .
- Một số qui định cụ thể :
+ Thư tín dụng được dùng để thah tóan giữa các bên mua và bán khác địa
phương trong hệ thống ngân hàng trong trường hợp bên bán đòi hỏi bên mua phải đảm
bảo vốn để chi trả ngay sau khi giao hàng hóa , dịch vụ .
+ Mỗi thư tín dụng chỉ được dùng để thanh tóan với một người bán duy nhất (
tức là với một người thụ hưởng).
+Mức tiền tối thiểu của một thư tín dụng là 10 triệu đồng .
Luận văn thạc sĩ kinh tế
8

+Thời hạn hiệu lực của một thư tín dụng là 3 tháng kể từ ngày ngân hàng bên
mua nhận mở thư tín dụng
1.2.3.
Dịch vụ kinh doanh ngoại hối.
1.2.3.1. Nghiệp vụ giao ngay
- Đây là nghiệp vụ mua bán ngọai tệ giao ngay với tỷ giá được xác định tại thời
điểm ký hợp đồng.
- Thông thường, trong nghiệp vụ giao ngay, thời gian cần thiết để các bên mua
bán hòan tất việc chuyển tiền và thanh tóan chậm nhất là sau hai ngày làm việc.
Trong nghiệp vụ giao ngay , cần phân biệt:
- Ngày thỏa thuận (ngày hợp đồng).Đây là thời điểm mà hai bên mua bán ngọai
tệ thỏa thuận những điều khỏan của hợp đồng mua bán ngọai tệ giao ngay .Thời gian
này là sau hai ngày làm việc. Nếu bên nào chậm trễ trong việc chuyển tiền , thanh
tóan đều sẽ bị phạt chậm trả theo qui định.
1.2.3.2. Nghiệp vụ giao kì hạn.
Giao kỳ hạn là một giao dịch mua bán ngọai tệ mà mọi điều kiện của nó được
xác định tại thời điểm kí hợp đồng, nhưng sẽ được thực hiện sau một thời hạn nhất
định trong tương lai (từ 1 đến 12 tháng).
Nghiệp vụ giao kỳ hạn vừa cho phép đáp ứng nhu cầu ngọai tệ trong tương lai
một cách chắc chắn vừa là một trong những biện pháp để ngăn ngừa và hạn chế rủi ro
về hối đóai.
1.2.3.3. Nghiệp vụ giao hóan đổi. (Swap)
Hóan đổi là nghiệp vụ giao dịch kinh doanh ngọai hối chuyển đổi giữa hai chủ
thể bằng cách phối hợp việc mua bán hai đồng tiền với điều kiện giao ngay với một
giao dịch đối khỏan đồng thời cũng với hai đồng tiền đó theo một kỳ hạn nhất định
.Một cách đơn giản , Swap được hiểu như là một sự phối hợp giữa mua bán giao ngay
với mua bán có kỳ hạn là cam kết song phương giữa hai ngân hàng với việc mua bán
ngọai tệ trả ngay và sẽ hòan lại vốn theo một kỳ hạn được xác định. Swap có lợi cho
cả các bên tham gia là đều thỏa mãn các nhu cầu về ngọai tệ để kinh doanh mà không
phải đi vay trên thị trường tiền tệ ,đồng thời , do tính chất hóan đổi (mua- bán ,bán –

mua) nên rủi ro trong nghiệp vụ này sẽ bị triệt tiêu.
1.2.3.4. Nghiệp vụ quyền chọn .
Luận văn thạc sĩ kinh tế
9
Nghiệp vụ quyền chọn là nghiệp vụ kinh doanh ngọai tệ của ngân hàng , trong
đó ngân hàng sẽ ký hợp đồng quyền chọn với khách hàng của mình về việc mua hoặc
bán ngọai tệ theo một số lượng , tỷ giá và thời hạn nhất định, nhưng dành quyền chọn
cho khách hàng. Nghĩa là dành cho khách hàng quyền quyết định (quyền chọn) là có
thực hiện hay không thực hiện hợp đồng mua bán ngọai tệ đã ký (hợp đồng quyền
chọn ).
Quyền chọn được chia làm hai lọai :
+ Quyền

chọn mua : khách hàng sẽ ký hợp đồng mua ngọai tệ với ngân hàng của
mình , nếu đến khi đến hạn thực hiện hợp đồng , tỷ giá thực tế trên thị trường có lợi (
tăng cao so với tỷ giá hợp đồng ) thì khách hàng sẽ mua ngọai tệ theo hợp đồng, nếu
tỷ giá thực tế trên thị trường không có lợi cho mình (giảm nhiều so với tỷ giá hợp
đồng) thì khách hàng sẽ không thực hiện hợp đồng đã ký để mua ngọai tệ giao ngay
sẽ có lợi hơn . Tuy nhiên, khách hàng sẽ mất tiền đặt cọc của hợp đồng quyền chọn
mua (phí quyền chọn ).
+ Quyền chọn bán : khách hàng sẽ ký một hợp đồng quyền chọn bán ngọai tệ với
ngân hàng của mình , khi đến hạn thực hiện hợp đồng , nếu tỷ giá thực tế nhỏ hơn thì
khách hàng sẽ thực hiện bán ngọai tệ theo hợp đồng, nếu ngược lại tỷ giá thực tế cao
hơn thì khách hàng sẽ bỏ hợp đồng quyền chọn để bán ngọai tệ theo tỷ giá thị trường
sẽ có lợi hơn.
1.2.3.5. Nghiệp vụ kinh doanh ngọai tệ giao sau.
Kinh doanh ngọai tệ giao sau là việc giao dịch của các hợp đồng mua bán ngọai
tệ giao sau, sau đây gọi tắt là hợp đồng giao sau . Hợp đồng giao sau được Thị
Trường Tiền Tệ Quốc Tế đưa ra lần đầu tiên năm 1972 ở Chicago nhằm cung cấp cho
những nhà đầu cơ một phương tiện kinh doanh và cho những người ngại rủi ro một

công cụ phòng tránh rủi ro hối đóai. Hợp đồng giao sau là một thỏa thuận mua bán
một số lượng ngọai tệ đã biết theo tỷ giá cố định tại thời điểm hợp đồng có hiệu lực
và việc chuyển giao ngọai tệ được thực hiện vào một ngày trong tương lai được xác
định bởi sở giao dịch. Tuy nhiên , khác với hợp đồng có kỳ hạn , hợp đồng giao sau
chỉ sẵn sàng cung cấp đối với một vài lọai ngọai tệ mà thôi . Chẳng hạn, thị trường
Chicago chỉ cung cấp hợp đồng giao sau với sáu lọai ngọai tệ mạnh đó là GBP , CAD,
EUR , JPY , CHF , và AUD. Thị trường giao sau thực chất chính là thị trường có kỳ
Luận văn thạc sĩ kinh tế
10
hạn được tiêu chuẩn hóa về lọai ngọai tệ giao dịch, số lượng ngọai tệ giao dịch và
ngày chuyển giao ngọai tệ .
1.2.4.
Dịch vụ thanh toán xuất nhập khẩu
1.2.4.1. Khái niệm.
Thanh tóan xuất nhập khẩu là quá trình thực hiện các khỏan thu và các khỏan chi
đối ngọai giữa các nước với nhau để hòan tất các khỏan về xuất nhập hàng hóa , dịch vụ
, đầu tư vốn , vay nợ ,viện trợ .v.v… dưới các hình thức khác nhau bằng bù trừ hoặc
chuyển ngân.
Nói cách khác, thanh tóan xuất nhập khẩu là việc chi trả tiền lẫn nhau giữa các
quốc gia nhằm hòan thành các quan hệ về kinh tế, thương mại , hợp tác khoa học kỹ
thuật , xã hội , ngọai giao .v.v…
Thanh tóan xuất nhập khẩu có thể được thực hiện giữa các chính phủ, giữa các
cơ quan nhà nước, giữa các tổ chức, cá nhân hoặc giữa họ với nhau, nhưng tất cả đều
được thực hiện qua trung gian thanh tóan không thể thiếu, đó là “Ngân hàng”.Như vậy
Ngân hàng nói chung (Ngân hàng quốc tế, Ngân hàng trung ương các nước, các Ngân
hàng lớn được tham gia các giao dịch quốc tế ) là những tổ chức giữ vai trò chủ yếu để
thúc đẩy quá trình thanh tóan quốc tế phát triển nhanh chóng thuận lợi, an tòan và đảm
bảo quyền lợi cho các bên tham gia.
1.2.4.2. Phương tiện thanh tóan .
Trong thanh tóan xuất nhập khẩu người ta sử dụng nhiều lọai phương tiện khác

nhau theo thỏa thuận giữa các bên tham gia .Các phương tiện thanh tóan này gồm :
* Hối phiếu.
* Chi phiếu – Séc.
* Giấy chuyển ngân.
* Thẻ tín dụng.
* Thư bảo đảm – Hay giấy bảo đảm của NH.
1.2.4.3. Phương thức thanh tóan .
Trong thanh tóan quốc tế các phương thức như : tín dụng chứng từ , ủy thác thu ,
chuyển tiền và thanh tóan bù trừ .
* Phương thức thanh tóan tín dụng chứng từ .
Luận văn thạc sĩ kinh tế
11
Đây là một phương thức thanh tóan sử dụng rộng rãi và phổ biến hiện nay . Đặc
biệt trong quan hệ ngọai thương tín dụng chứng từ được sử dụng để trả tiền hàng hóa và
dịch vụ giữa các nhà sản xuất nhập khẩu .
Theo phương thức này, Ngân hàng phục vụ người nhập khẩu (Ngân hàng nước
nhập khẩu ) theo yêu cầu của người nhập khẩu sẽ lập và chuyển đến Ngân hàng phục
vụ người xuất khẩu (Ngân hàng hàng nước xuất khẩu ) một văn bản cam kết trả tiền cho
người xuất khẩu thông qua ngân hàng nước xuất khẩu, nếu người xuất khẩu thực hiện
đúng các điều kiện đã qui định trong văn bản đó, về việc xuất hàng cho người nhập
khẩu (lọai văn bản đó gọi là thư tín dụng - L/C ). Nhận được thư tín dụng ngân hàng
nước xuất khẩu sẽ xác nhận và chuyển đến cho người xuất khẩu, để người xuất khẩu
giao hàng hóa cho người nhập khẩu. Sau đó người xuất khẩu xuất trình các chứng từ
hóa đơn, vận đơn và hối phiếu … (gọi tắt là bộ chứng từ ) để chứng minh việc xuất
hàng đã được theo qui định của L/C qua ngân hàng nước xuất khẩu để chuyển đến ngân
hàng nước nhập khẩu . ngân hàng (có thể là ngân hàng nước xuất hoặc nhập hoặc một
ngân hàng bất kỳ) sẽ tiến hành thanh tóan cho người xuất khẩu theo đúng qui định của
L/C.
* Phương thức thanh tóan ủy thác thu.
Ủy thác thu còn gọi là nhờ thu cũng là một phương thức sử dụng khá rộng rãi.

Trong phương thức này người xuất khẩu (người bán ) chủ động đòi tiền người nhập
khẩu ( người mua ) bằng cách gửi đến ngân hàng phục vụ giấy đòi tiền và các chứng từ
liên quan sau khi đã chuyển giao hàng hóa dịch vụ cho người nhập khẩu. Ngân hàng
này tiếp tục chuyển bộ chứng từ đòi tiền đến ngân hàng phục vụ người nhập khẩu, căn
cứ vào đó ngân hàng phục vụ người nhập khẩu sẽ chuyển chứng từ hàng hóa cho
người nhập khẩu sau khi đã thu được tiền ( hoặc đã chứng nhận hối phiếu ) của người
nhập khẩu, ngay sau đó chuyển tiền (họăc hối phiếu đã chấp nhận) cho người xuất khẩu
thông qua ngân hàng phục vụ người xuất khẩu sau khi đã thu một khỏan lệ phí nhất
định.
Trong nhờ thu kèm chứng từ cần phân biệt hai điều kiện ( hay lọai thanh tóan )
qui định cho người nhập khẩu ( người mua) sẽ nhận được chứng từ hàng hóa với điều
kiện thanh tóan kèm theo .
- Điều kiện D/P:
Luận văn thạc sĩ kinh tế
12
Điều kiện D/P còn gọi là điều kiện “ chứng từ đối thanh tóan” nghĩa là người
nhập khẩu phải tiến hành trả tiền ( trả ngay ) rồi mới nhận được chứng từ hàng hóa. Hối
phiếu dùng trong trường hợp này là hối phiếu trả ngay .
-Điều kiện D/A:
Điều kiện D/A còn gọi là “điều kiện chứng từ đối chấp nhận” . Nghĩa là người
nhập khẩu chấp nhận trả tiền vào hối phiếu có kỳ hạn là được ngân hàng trao cho chứng
từ hàng hóa .
Điều kiện D/P còn gọi là “trả ngay” còn điều kiện D/A là “ trả theo chấp thuận”.
* Phương thức chuyển tiền :
Trong phương thức này, người chuyển tiền ( người nhập khẩu, người mua…)
chủ động yêu cầu ngân hàng phục vụ mình ( ngân hàng chuyển ) chuyển một số tiền
nhất định để trả cho người nào đó ở nước ngòai .
Phương thức này được dùng phổ biến trong các trường hợp chi trả khác như tiền
bồi thường thiệt hại , tiền thừa , các khỏan dịch vụ …
* Phương thức ghi số:

Đây là phương thức thanh tóan mang tính chất bù trừ giữa hai bên xuất nhập
khẩu. Theo phương thức này hai bên xuất nhập khẩu sẽ mở tài khỏan cho nhau để ghi
những khỏan tiền phải chi trả nhau .
Phương thức này thường chỉ áp dụng giữa những nhà xuất nhập khẩu quen biết
tin cậy và quan hệ thường xuyên với nhau.
Các phương thức nói trên dùng phổ biến trong dao dịch thương mại quốc tế,
trong thanh tóan phi mậu dịch , người ta sử dụng phổ biến phương thức thanh tóan bằng
séc hoặc các phương tiện hiện đại khác (tiền điện tử , thẻ tín dụng).
1.2.5. Nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng.
1.2.5.1. Khái niệm bảo lãnh ngân hàng.
Bảo lãnh ngân hàng là cam kết của Ngân hàng bảo lãnh được lập trên một văn
bản để cam kết với bên có quyền ( gọi là bên thụ hưởng bảo lãnh). Nếu khi đến hạn bên
có nghĩa vụ ( bên được bảo lãnh ) không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các cam
kết đã nêu trong hợp đồng, thì mình với tư cách là ngân hàng bảo lãnh sẽ thực hiện
nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh.
1.2.5.2. Các lọai bảo lãnh ngân hàng:
Luận văn thạc sĩ kinh tế
13
-Bảo lãnh dự thầu ;
-Bảo lãnh thực hiện hợp đồng ;
-Bảo lãnh thanh tóan ;
-Bảo lãnh bảo hành ;
-Bảo lãnh hòan thanh tóan / Bảo lãnh tiền ứng trước ;
-Bảo lãnh vay vốn ;
-Các lọai bảo lãnh khác .
1.2.5.3. Các hình thức phát hành bảo lãnh :
-Phát hành bảo lãnh bằng thư / điện.
-Phát hành bảo lãnh đối ứng.
-Phát hành bảo lãnh trên cơ sở bảo lãnh đối ứng của tổ chức tín dụng khác.
-Xác nhận bảo lãnh.

-Thông báo thư bảo lãnh.
1.2.5.3. Điều kiện bảo lãnh :
- Có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự , năng lực hành vi dân sự và chịu trách
nhiệm dân sự theo qui định của pháp luật ;
- Có mục đích bảo lãnh hợp pháp .
1.2.5.4. Các hình thức đảm bảo bảo lãnh :
-Ký quỹ bằng tiền ;
-Cầm cố sổ tiết kiệm , kỳ phiếu ,trái phiếu ;
-Cầm cố / thế chấp tài sản ;
-Bảo lãnh của bên thứ ba;
-Các biện pháp bảo đảm khác theo quy định của pháp luật.
1.2.5.5. Phí dịch vụ : là số tiền mà bên được bảo lãnh phải trả cho ngân hàng bảo
lãnh theo hợp đồng bảo lãnh.
-Biểu phí có nhiều mức phù hợp ;
-Có chính sách ưu đãi đối với khách hàng có quan hệ lâu dài, uy tín .
-Có 2 loại phí có ký quỹ và không có ký quỹ.
1.2.6.Kinh doanh thẻ và dịch vụ ngân hàng điện tử
- Thẻ Ngân hàng là một phương tiện thanh tóan tiên tiến , hiện đại do ngân hàng
phát hành thẻ phát hành và cấp cho khách hàng theo hợp đồng đã ký kết , để khách
Luận văn thạc sĩ kinh tế
14
hàng sử dụng thẻ trong việc thanh tóan tiền hàng hóa , dịch vụ , hoặc rút tiền mặt tại các
máy trả tiền tự động (ATM).
- Ở các nước có nền kinh tế phát triển với một nền công nghệ Ngân hàng hiện
đại, thì thẻ thanh tóan được sử dụng rất rộng rãi và phổ biến. Ở Việt Nam, do yêu cầu
đẩy nhanh công tác thanh tóan, mở rộng phạm vi thanh tóan cho phù hợp với sự phát
triển của nền kinh tế - xã hội trong giai đọan hiện nay; mặt khác do sự phát triển mạnh
mẽ của hệ thống ngân hàng Việt Nam với việc từng bước trang bị hệ thống thông tin
hiện đại tiên tiến … đã cho phép áp dụng các công cụ thanh tóan mới hiện đại để bổ
sung cho những công cụ thanh tóan trong nền kinh tế. Trong sự đòi hỏi đó, Thống đốc

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ký quyết định số 371/QĐ-NH1 ngày 19-10-1999
ban Quy chế phát hành sử dụng và thanh tóan thẻ Ngân hàng .
Các lọai thẻ Ngân hàng :
- Căn cứ vùng phạm vi sử dụng .Thẻ Ngân hàng chia làm hai lọai :
+ Thẻ nội địa : đây là lọai thẻ Ngân hàng được phát hành tại Việt Nam , được
sử dụng trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam .
+ Thẻ quốc tế : là lọai thẻ do ngân hàng phát hành thẻ tại Việt Nam được sử
dụng ngòai phạm vi lãnh thổ Việt Nam hoặc được phát hành ở nước ngòai sử dụng tại
Việt Nam.
- Căn cứ vào tính chất sử dụng . Thẻ ngân hàng chia làm hai lọai :
+ Thẻ thanh tóan (còn gọi là thẻ ký quỹ thanh tóan ): Lọai thẻ này áp dụng
rỗng rãi cho mọi đối tượng khách hàng ở trong và ngòai nước. Với điều kiện là khách
hàng phải mở tài khỏan tại ngân hàng phát hành thẻ và phải lưu ký tiền trên tài khỏan
này một số dư nhất định theo quy định ngân hàng phát hành thẻ. Chủ thẻ được sử dụng
thẻ này để thanh tóan tiền hàng hóa, dịch vụ, hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số dư tài
khỏan tiền gửi của mình tại ngân hàng phát hành thẻ .
+ Thẻ tín dụng ( Credit card): Thẻ tín dụng là lọai thẻ áp dụng cho những
khách hàng có đủ điều kiện được ngân hàng phát hành thẻ tin tưởng và cho vay theo
hạn mức tín dụng. Đối với thẻ tín dụng, chủ thẻ không phải ký quỹ trên tài khỏan tiền
gửi, nhưng được phép sử dụng thẻ để trả tiền hàng hóa, dịch vụ, hoặc rút tiền trong
phạm vi hạn mức tín dụng đã được ngân hàng phát hành thẻ chấp thuận theo hợp đồng.
Luận văn thạc sĩ kinh tế
15
Chủ thẻ sau khi sử dụng thẻ phải thanh tóan nợ gốc và lãi cho ngân hàng phát hành thẻ
trong thời hạn quy định.
1.2.7.
Tư vấn về tài chính và đầu tư
- Dịch vụ tư vấn về tài chính là việc Ngân hàng tham gia tư vấn cho các khách
hàng (doanh nghiệp, cá nhân) trong công tác quản lý tài chính, tổ chức tài chính để đầu
tư mở rộng sản xuất kinh doanh và tham gia đầu tư vào nền kinh tế. Ngòai ra, các ngân

hàng còn tư vấn tài chính hỗ trợ các Doanh nghiệp phát hành cổ phiếu, trái phiếu …
- Dịch vụ đầu tư : Trong nghiệp vụ này, ngân hàng sẽ dùng nguồn vốn của mình
và nguồn vốn ổn định khác đầu tư dưới các hình thức như : Hùn vốn, mua cổ phần của
các Công ty, mua trái phiếu Chính phủ, chính quyền địa phương …
Tất cả các hành động đầu tư đều nhằm mục đích mang lại thu nhập, mặt khác
nhờ họat động đầu tư mà các rủi ro trong kinh doanh ngân hàng được phân tán.
1.2.8. Một số lọai hình dịch vụ khác
Phát triển các dịch vụ tài chính phi ngân hàng (kinh doanh bảo hiểm; kinh doanh
chứng khoán- môi giới; bảo lãnh phát hành; quản lý tiền mặt; quản lý danh mục đầu tư;
lưu ký; bảo quản tài sản; dịch vụ quản lý tài sản theo uỷ quyền của khách hàng; kinh
doanh vàng…) coi đây là các dịch vụ bổ trợ quan trọng trong chiến lược kinh doanh
của các ngân hàng Việt Nam nhằm đa dạng hoá cơ cấu nguồn thu, đa dạng hoá hoạt
động kinh doanh, mở rộng cơ sở khách hàng góp phần nâng cao khả năng chuyển đổi,
phòng ngừa rủi ro, tăng thu nhập cho ngân hàng. Từ đó, hình thành nên hệ thống dịch
vụ ngân hàng trọn gói, đa dạng đáp ứng nhu cầu của xã hội về dịch vụ tài chính để
khuyến khích các tổ chức, cá nhân tiết kiệm và đầu tư có hiệu quả các tài sản tiết kiệm
trên cơ sở mở rộng quyền tiếp cận dịch vụ tài chính, ngân hàng và cơ hội kinh doanh.
1.3.
Sự cần thiết khách quan phải mở rộng, phát triển các hoạt động kinh doanh
dịch vụ ngân hàng và kinh nghiệm một số nước trên thế giới.
1.3.1.
Sự cần thiết khách quan phải mở rộng, phát triển các hoạt động kinh doanh dịch
vụ ngân hàng.
Việc mở rộng và phát triển các hoạt động kinh doanh dịch vụ ngân hàng là cần
thiết vì các dịch vụ ngân hàng góp phần mang lại lợi ích chung cho nền kinh tế, cho các
khách hàng và cả bản thân ngân hàng.
Luận văn thạc sĩ kinh tế
16
- Đối với nền kinh tế: Thông qua dịch vụ ngân hàng, làm tăng quá trình chu
chuyển vốn tiền tệ trong nền kinh tế, khai thác và sử dụng các nguồn vốn trong nền

kinh tế có hiệu quả. Các nguồn vốn nhà rỗi trong xã hội sẽ được tập trung lại để đáp
ứng cho nhu cầu họat động kinh tế xã hội, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh, các
họat động tiêu dùng và phát triển kinh tế. Nhờ vào những tiện ích của các lọai hình dịch
vụ mà ngân hàng cung cấp giúp các họat động trong xã hội được diễn ra nhanh chóng,
tiết kiệm được nhiều khỏan chi phí. Chẳng hạn theo Ngân hàng Nhà nước, chi phí cho
in ấn, vận chuyển, kiểm đếm, bảo quản tiền mặt là rất lớn. Việc thanh toán không dùng
tiền mặt sẽ giảm lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế góp phần giảm chi phí cho xã
hội. Mặt khác, mỗi một doanh nghiệp, cá nhân đều giữ một lượng tiền mặt nhất định để
chờ sử dụng. Nếu khách hàng gửi vào ngân hàng để thanh toán bằng chuyển khoản thì
số tiền này sẽ giảm. Ngân hàng sẽ huy động thêm nhiều nguồn vốn để đầu tư cho nền
kinh tế.
- Đối với các khách hàng là Doanh nghiệp : tham gia vào quá trình sản xuất kinh
doanh, các dịch vụ ngân hàng tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh được
diễn ra thuận lợi, nhịp nhàng, giúp cho đồng vốn luân chuyển nhanh, đẩy nhanh tốc độ
sản xuất lưu thông hàng hóa. Trên cơ sở đó nâng cao hiệu quả họat động của khách
hàng.
- Đối với các khách hàng dân cư : việc phát triển các sản phẩm dịch vụ ngân
hàng trên nền tảng công nghệ hiện đại giúp người dân làm quen với các sản phẩm dịch
vụ ngân hàng tiên tiến phục vụ cho những nhu cầu đa dạng của con người và làm cho
người dân không còn cảm thấy xa lạ với những khái niệm ngân hàng tự động. Điều này
đặc biệt cần thiết đối với nước ta nơi mà thanh tóan bằng tiền mặt được xem là rất phổ
biến.
- Đối với các ngân hàng thương mại: việc mở rộng các lọai hình dịch vụ theo
hướng đa dạng, nhiều tiện ích sẽ tạo điều kiện thu hút thêm nhiều khách hàng, qua đó
đem lại cho cho ngân hàng ngân hàng những khỏan thu nhập lớn về phí dịch vụ, đồng
thời tận dụng được nguồn vốn trong thanh tóan của khách hàng đang lưu ký trên tài
khỏan thanh tóan, ký quỹ. Hiện nay, các ngân hàng đang hoàn thiện và nâng cao chất
lượng dịch vụ trên nền tảng công nghệ tiên tiến, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu thanh toán
không dùng tiền mặt cho doanh nghiệp và cá nhân thông qua hệ thống Internet banking,
Luận văn thạc sĩ kinh tế

17
home banking, phone banking, dịch vụ thanh toán và chuyển tiền qua hình thức ủy
nhiệm thu-chi, séc, nhờ thu...; dịch vụ thanh toán bằng thẻ ngân hàng. Qua đó, yêu cầu
các ngân hàng phải nâng cao qui trình phục vụ để tăng khả năng họat động đáp ứng nhu
cầu ngày càng cao của khách hàng và nâng cao khả năng cạnh tranh của bản thân các
ngân hàng thương mại góp phần làm vững mạnh nền tài chính nước nhà.
1.3.2.
Kinh nghiệm một số nước trên thế giới
Các lọai hình dịch vụ ngân hàng trên thế giới được phát triển cùng với sự phát
triển của nền tảng công nghệ ngân hàng, trong đó Mỹ, các quốc gia Châu Âu, Úc là
những nước đi đầu, tiếp đến là Nhật Bản, Hàn Quốc, Hong Kong, Singapore, Đài Loan.
Ngòai các dịch vụ truyền thống, ngày nay các lọai dịch vụ được mở rộng và đa dạng.
Đáng kể nhất là sự ra đời của các lọai thẻ ( ATM, Visa, Master Card …)
và các hình
thức giao dịch điện tử như ( Internet banking, Mobile banking, home banking….).
- Ngoài chức năng rút tiền mặt thẻ ATM còn là phương tiện thanh tóan hiện đại
và hiệu quả được sử dụng thanh tóan các dịch vụ thông thường như thanh toán cước
phí điện, nước, điện thọai, cước dịch vụ viễn thông, truy vấn thông tin tài khoản,
chuyển khoản thanh tóan ...
- Dịch vụ giao dịch điện tử nhằm mục đích giúp cho cuộc sống của vốn bận rộn
của khách hàng dễ dàng hơn. Dịch vụ Internet Banking cho phép khách hàng có thể sử
dụng nhiều loại dịch vụ ngân hàng với mức độ an toàn được quốc tế công nhận vào bất
cứ thời điểm nào (24 giờ trong ngày/7 ngày trong tuần), từ bất kỳ nơi nào trên thế giới.
Với dịch vụ Internet Banking, khách hàng có thể thực hiện được hàng loạt các dịch vụ
như: kiểm tra số dư tài khoản, chuyển khoản thanh tóan, yêu cầu báo cáo tài khoản và
yêu cầu sổ séc. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ thông tin, các
loại hình giao dịch được qua Internet Banking sẽ ngày càng được mở rộng hơn.
Trên thế giới, Thụy sĩ là một trong những nước có nền tảng dịch vụ và công
nghệ ngân hàng lâu đời và phát triển mạnh. Các ngân hàng ở đây rất ít nhân viên giao
dịch do nước này không dùng tiền mặt, mọi giao dịch của người dân đều qua tài khoản,

thanh toán qua Internet, mobile... ở bất cứ đâu cũng làm được. Nếu có đến ngân hàng,
họ chỉ sử dụng các phương tiện tự động, không cần nhân viên giao dịch. Vì vậy mở
rộng các lọai hình dịch vụ ngân hàng chỉ phát triển trọn vẹn khi nền kinh tế sử dụng
thanh tóan chuyển khoản phát triển, tiền mặt được quản lý tốt.
Luận văn thạc sĩ kinh tế
18
Một kinh nghiệm khác của Mỹ về mở rộng và phát triển dịch vụ ngân hàng cải
thiện cuộc sống con người là hỗ trợ cho tài chính siêu nhỏ. Đây là tâm điểm của các
chương trình viện trợ của Hoa Kỳ trong hơn 25 năm qua. Cơ quan Phát triển Quốc tế
Hoa Kỳ (USAID) hàng năm cung cấp trên 100 triệu đô-la cho các dự án tạo ra các dịch
vụ tài chính siêu nhỏ có quy mô lớn, hiệu quả và lâu dài để phục vụ người nghèo ở các
nước đang phát triển và có nền kinh tế chuyển đổi.
Hoa Kỳ bổ sung đầu tư trực tiếp cho phát triển dịch vụ tài chính siêu nhỏ thông
qua hỗ trợ đối với các tổ chức tài chính quốc tế (IFIs) như Ngân hàng Thế giới, Công ty
Tài chính Quốc tế (IFC) và các ngân hàng phát triển khu vực. Một số tổ chức tài chính
quốc tế trong đó có Ngân hàng Phát triển Liên châu Mỹ, Ngân hàng Phát triển châu Á
và Ngân hàng Tài thiết và Phát triển châu Âu đã có kinh nghiệm lâu dài trong việc hỗ
trợ các dịch vụ tài chính cho doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ.
Kết quả đầu tư của USAID trong thời gian qua đầy ấn tượng (xem bảng đầu tư
cho doanh nghiệp siêu nhỏ).
ĐẦU TƯ CỦA USAID CHO DOANH NGHIỆP SIÊU NHỎ
1999 2000 2001 2002
Khách hàng vay tiền
1.997.839 2.175.198 2.904.152 2.723.146
Tổng tín dụng
$655.906.588 $883.273.258 $934.253.554 $1.269.622.200
Khách hàng gửi tiết
kiệm
3.069.604 3.155.100 3.514.200 3.196.300
Tổng tiết kiệm

$349.663.487 $533.500.000 $424.800.000 873.400.000
Khách hàng dùng
BDS*
401.530 254.809 835.458 668.808
Khách hàng là phụ
nữ (MF)
69% 70% 73% 69%
Khách hàng là phụ
nữ (BDS)
61% 75% 47% 48%
Khách hàng rất nghèo
(MF)
67% 67% 69% 59%
Khách hàng rất
nghèo (BDS)
29% 18% 30% 53%
*BDS - Dịch vụ Phát triển Kinh doanh
MF - Tài chính siêu nhỏ
Luận văn thạc sĩ kinh tế
19
Nguồn : Tạp chí điện tử của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 2/2004
Ở một số nước, hỗ trợ cho dịch vụ tài chính siêu nhỏ trong thời gian qua đã làm
biến đổi tình hình tài chính quốc gia bằng việc tập hợp được hàng trăm ngàn khách
hàng và khuyến khích cải tiến làm thay đổi cách thức kinh doanh của những ngân hàng
lớn. Khách hàng sử dụng dịch vụ tài chính siêu nhỏ hiện nay chiếm đa số trong số
khách hàng sử dụng dịch vụ tài chính nói chung ở các nước Kyrgyzstan, Uganda và
Bolivia. Ví dụ, ở Bolivia, chương trình tài chính siêu nhỏ của USAID đã giúp mở rộng
quy mô các dịch vụ tài chính nếu xét về số lượng người vay tiền và gửi tiết kiệm cũng
như toàn bộ hoạt động của các thị trường tài chính trong nước.
Theo thông tin của USAID dựa trên số liệu của các ngân hàng trung ương, tài

sản đô-la của các tổ chức tài chính siêu nhỏ (MFIs) - là những nhóm cho vay chủ yếu
đối với các doanh nghiệp nhỏ và các gia đình có thu nhập thấp - đang hoạt động ở
Bolivia tăng gần 300% trong thời gian từ 1992 đến 2001, một tỷ lệ tăng trưởng gấp hơn
tám lần các ngân hàng thương mại. Đến năm 2001, số lượng người đi vay của các tổ
chức tài chính siêu nhỏ đã tăng hơn hai lần số người đi vay của các ngân hàng thương
mại và 797.000 người Bolivia có tài khoản tiết kiệm tại các tổ chức tín dụng siêu nhỏ
nếu so với 658.000 người gửi tiết kiệm ở các ngân hàng thương mại.
USAID cung cấp phần lớn tiền cho dịch vụ tài chính siêu nhỏ thông qua các
"văn phòng" tại địa phương ở các nước đang phát triển và có nền kinh tế chuyển đổi.
Hiện nay có khoảng 50 văn phòng của USAID hỗ trợ các chương trình tài chính siêu
nhỏ và phát triển doanh nghiệp siêu nhỏ. Tiền được chia đều cho bốn khu vực hoạt
động của USAID - châu Phi, Mỹ Latinh và Caribê, châu Á và Cận Đông, và châu Âu.
1.4. Ảnh hưởng của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đối với phát triển kinh
doanh dịch vụ ngân hàng ở nước ta.
1.4.1. Thuận lợi.
- Hội nhập quốc tế là động lực để các Ngân hàng thúc đẩy cải cách, buộc các
Ngân hàng trong nước phải hoạt động theo nguyên tắc thị trường, khắc phục những
nhược điểm còn tồn tại, đồng thời phải tăng cường năng lực cạnh tranh trên cơ sở nâng
cao trình độ quản trị điều hành và phát triển dịch vụ ngân hàng. Trong quá trình hội
Luận văn thạc sĩ kinh tế
20
- Mở cửa thị trường dịch vụ ngân hàng và nới lỏng hạn chế đối với các tổ chức
tài chính nước ngoài là điều kiện để thu hút đầu tư trực tiếp vào lĩnh vực tài chính –
Ngân hàng, các NHTM trong nước có điều kiện để tiếp cận sự hỗ trợ kỹ thuật, tư vấn,
đào tạo thông qua các hình thức liên doanh, liên kết với các ngân hàng và tổ chức tài
chính quốc tế. Vì thế, các ngân hàng cần tăng cường hợp tác để chuyển giao công nghệ,
phát triển sản phẩm và dịch vụ ngân hàng tiên tiến, khai thác thị trường. Trong quá
trình hội nhập, việc mở rộng quan hệ đại lý quốc tế của các ngân hàng trong nước sẽ tạo
điều kiện phát triển các hoạt động dịch vụ ngân hàng như thanh toán quốc tế, tài trợ
thương mại…, góp phần thúc đẩy quan hệ hợp tác đầu tư và chuyển giao công nghệ.

- Nhờ hội nhập quốc tế, các ngân hàng trong nước sẽ tiếp cận thị trường tài
chính quốc tế một cách dễ dàng hơn, hiệu quả huy động vốn và sử dụng vốn sẽ tăng lên,
góp phần nâng cao chất lượng các loại hình dịch vụ. Các ngân hàng trong nước sẽ phản
ứng, điều chỉnh và hoạt động một cách linh hoạt hơn theo tín hiệu thị trường trong nước
và quốc tế nhằm tối đa hóa lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro.
1.4.2. Những khó khăn, thử thách.
Mở cửa thị trường tài chính làm tăng số lượng các ngân hàng nước ngòai có
tiềm lực mạnh về tài chính, công nghệ hiện đại và trình độ quản lý, áp lực cạnh tranh
cũng tăng dần theo lộ trình nới lỏng các qui định đối với các tổ chức tài chính nước
ngoài, nhất là về mở chi nhánh và các điểm giao dịch, phạm vi hoạt động, hạn chế về
Luận văn thạc sĩ kinh tế
21
- Trình độ chuyên môn và trình độ quản lý còn bất cập, việc đào tạo và sử dụng
cán bộ, nhân viên chưa hợp lý, chưa có cơ chế gắn kết chặt chẽ giữa các cơ sở đào tạo
chuyên nghiệp với đơn vị sử dụng trong bối cảnh ngày càng phát sinh nhiều nghiệp vụ
mới một cách khách quan. Đặc biệt còn coi nhẹ hoạt động nghiên cứu chiến lược và
khoa học ứng dụng làm cho khoảng cách tụt hậu về công nghệ ngân hàng của Việt Nam
còn khá xa so với khu vực.
- Trong thời gian qua hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng trong
nước tăng nhanh, tuy nhiên sức cạnh tranh còn thấp, khả năng chống đỡ rủi ro còn
kém, vốn nhỏ, năng lực tài chính thấp, chất lượng tài sản chưa cao.
- Sản phẩm và dịch vụ còn đơn điệu, tính tiện ích các dịch vụ chưa đa dạng, chất
lượng dịch vụ thấp. Qui trình quản trị trong các ngân hàng Việt Nam chưa phù hợp với
các nguyên tắc và chuẩn mực quốc tế, tính minh bạch thấp, chưa hình thành môi trường
làm việc và văn hóa kinh doanh chuyên nghiệp do vai trò và trách nhiệm của các vị trí
công tác chưa rõ ràng, hệ thống thông tin quản lý chưa hiệu quả.
- Hạ tầng công nghệ ngân hàng và hệ thống thanh toán lạc hậu và có nguy cơ tụt
hậu xa hơn so với các nước trong khu vực, chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển và nâng
cao chất lượng dịch vụ, năng lực quản lý điều hành. Hoạt động thanh toán còn mang
tính phân tán và hiện đaị hoá cục bộ theo từng ngân hàng thương mại và nhất là thiếu

một trung tâm thanh toán quốc gia - là những nguyên nhân chủ yếu khiến cho nền kinh
tế Việt Nam chưa thoát ra khỏi một nền kinh tế tiền mặt.
- Mở cửa thị trường tài chính trong nước làm tăng rủi ro do những tác động từ
bên ngoài, cơ hội tận dụng chênh lệch tỉ giá, lãi suất giữa thị trường trong nước và thị
trường quốc tế giảm dần. Hệ thống ngân hàng Việt Nam cũng phải đối mặt với các cơn
sốc kinh tế, tài chính quốc tế và nguy cơ khủng hoảng. Trong trường hợp đó, thị trường
vốn chưa phát triển sẽ khiến hệ thống ngân hàng phải chịu mức độ thiệt hại lớn hơn do
rủi ro gây nên.
Luận văn thạc sĩ kinh tế
22
Vì thế, các NHTM Việt Nam sẽ mất dần lợi thế cạnh tranh về qui mô, khách
hàng và hệ thống kênh phân phối, nhất là sau năm 2010, khi những hạn chế nêu trên và
sự phân biệt đối xử bị loại bỏ căn bản. Sau thời gian đó, qui mô hoạt động và khả năng
tiếp cận thị trường, các nhóm khách hàng, chủng loại dịch vụ do các ngân hàng nước
ngoài cung cấp sẽ tăng lên. Đáng chú ý, rủi ro đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam có
thể tăng lên do các ngân hàng nước ngoài nắm quyền kiểm soát một số tổ chức tài chính
trong nước thông qua hình thức góp vốn, mua cổ phần, liên kết kinh doanh; một số tổ
chức tài chính trong nước sẽ gặp rủi ro và có nguy cơ thua lỗ, phá sản do sức cạnh tranh
kém và khả năng kiểm soát rủi ro thấp khi tham gia các hoạt động ngân hàng quốc tế.
* Tóm lại , chương 1 của luận văn trình bày cơ sở lý luận về dịch vụ ngân hàng.
Sự cần thiết khách quan phải mở rộng, phát triển các hoạt động kinh doanh dịch vụ
ngân hàng, đồng thời nhận biết ảnh hưởng của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đối
với phát triển kinh doanh dịch vụ ngân hàng ở nước ta.

















Luận văn thạc sĩ kinh tế
23
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH
VỤ TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG – CHI NHÁNH 6 – TPHCM
HIỆN NAY
.

2.1. Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển Ngân hàng Công Thương Việt
Nam.
2.1.1. Sơ lược hệ thống Ngân hàng Công thương Việt Nam.
2.1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển :
Ngân hàng Công Thương Việt Nam được thành lập trên cơ sở Vụ Tín Dụng Công
Nghiệp và Vụ Tín Dụng Thương Nghiệp. Tại các địa phương, được hình thành từ Chi
nhánh Ngân hàng Nhà nước thị xã, quận. NHCTVN ra đời từ tháng 7 năm 1988 theo
nghị định số 53/HĐBT ngày 26/3/1988 và Quyết định số 402 / HĐBT ngày 14/ 11/1990
của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ( nay là Thủ tướng Chính Phủ ).
Ngân hàng Công Thương Việt Nam là một trong bốn Ngân hàng Thương mại Nhà
nước lớn nhất tại Việt Nam. NHCTVN có tổng tài sản chiếm hơn 20% thị phần trong
tòan bộ hệ thống Ngân hàng thương mại Nhà nước. Nguồn vốn của NHCTVN luôn
tăng trưởng qua các năm, đạt bình quân hơn 20%/năm.
NHCTVN là một pháp nhân thực hiện chế độ hạch tóan độc lập, được Ngân hàng

Nhà Nước cấp vốn pháp định ban đầu là 200 tỷ đồng, vốn này được bổ sung hàng năm
theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. NHCTVN họat động dưới sự điều
chỉnh của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam và Luật các tổ chức tín dụng như các Ngân
hàng thương mại khác .
NHCTVN từ khi ra đời với không ít khó khăn, trong điều kiện nền kinh tế có tỷ lệ
lạm phát cao, tổ chức bộ máy NHCTVN chưa ổn định, các cơ chế, quy chế kinh doanh
và quản lý chưa đồng bộ, cơ sở vật chất nghèo nàn, cán bộ công nhân viên nhiều nhưng
lại thiếu kiến thức kinh doanh trong thời kỳ đổi mới. Trước tình hình đó, để hòa nhập
với sự nghiệp đổi mới tổ chức và họat động chung của tòan ngành ngân hàng,
NHCTVN đã quyết tâm phấn đấu thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ của một ngân
hàng thương mại quốc doanh, kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng trong cơ chế thị
trường có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước, góp phần tăng trưởng kinh tế và thực thi
Luận văn thạc sĩ kinh tế
24
chính sách tiền tệ. Từ đó NHCTVN đã xác định được rõ vị trí , vai trò của mình trong
nền kinh tế thị trường, nhằm đứng vững và phát triển với qui mô ngày càng lớn mạnh,
nhất là ở những vùng, khu vực có kinh tế phát triển mạnh.
Qua quá trình hình thành và phát triển, NHCTVN lớn mạnh tương đối nhanh, từ
vốn đầu tư ban đầu vài trăm tỷ đồng bây giờ đã lên tới hơn 12 nghìn tỷ đồng và quan
trọng là ngân hàng có mạng lưới Chi nhánh rộng khắp, phương tiện , thiết bị hiện đại
hơn. NHCTVN có bước phát triển nhanh, không ngừng cải tiến , đầu tư, ứng dụng tiến
bộ khoa học kĩ thuật và công nghệ vào họat động ngân hàng nhằm cung cấp sản phẩm
dịch vụ tốt nhất cho các khách hàng cá nhân và tổ chức kinh tế xã hội, góp phần tích
cực thực thi chính sách tiền tệ của Nhà nước, phục vụ chủ trương phát triển kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần và chủ trương công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
2.1.1.2.Mục tiêu họat động:
Trong giai đọan hiện nay, khi việt nam đang trong tiến trình hội nhập với khu vực
và thế giới, chính phủ Việt Nam đã ký kết hiệp định về Hợp tác thương mại dịch vụ (
AFTA), Hiệp định thương mại Việt – Mỹ và đang gấp rút chuẩn bị gia nhập WTO thì
đòi hỏi mỗi doanh nghiệp nói chung và Ngân Hàng Công Thương Việt Nam nói riêng

cần có những chiến lược tăng tốc thực sự để hội nhập quốc tế. Có như vậy NHCTVN
mới có thể nâng cao được năng lực cạnh tranh của mình trước sự cạnh tranh quyết liệt
của các Ngân hàng thương mại khác trong và ngòai nước. NHCTVN đã xác định rõ
mục tiêu phát triển đến năm 2010 đó là:
“Xây dựng NHCTVN thành một Ngân hàng thương mại chủ lực và hiện đại của
Nhà nước, họat động kinh doanh có hiệu quả , tài chính lành mạnh , có kỹ thuật
công nghệ cao kinh doanh đa năng, chiếm thị phần lớn ở Việt Nam.”
Bên cạnh đó, cần xây dựng phong cách giao dịch riêng của NHCT theo phương
châm “Hiện đại – văn minh – lịch sự - hiệu quả” , để uy tín và vị thế của NHCT ngày
càng được khẳng định cao trên thương trường.
2.1.1.3. Mô hình tổ chức của NHCTVN.
Để hòan thành mục tiêu đề ra, NHCTVN đã xây dựng mạng lưới kinh doanh trải
rộng khắp tòan quốc với : 01 Hội sở chính tại Hà Nội , 02 Sở giao dịch I và II tại Hà
Nội và TPHCM, 134 chi nhánh ,145 phòng giao dịch, 400 quỹ tiết kiệm với hơn 12.000
CBCNV. 02 đơn vị sự nghiệp là Trung tâm đào tạo và Trung tâm Công nghệ thông tin;
Luận văn thạc sĩ kinh tế
25
03 công ty hạch tóan độc lập là: Công ty Cho thuê Tài chính , Công ty TNHH Chứng
khóan , Công ty Quản lý Nợ và Khai thác Tài sản.
NHCTVN còn là thành viên đồng sáng lập và là cổ đông của :
 Ngân hàng Sài Gòn Công Thương .
 Indovina Bank.
 Công ty cho thuê tài chính Quốc Tế Việt Nam .
 Công ty liên doanh bảo hiểm Châu Á- NHCT.
Có mạng lưới đại lý với 600 ngân hàng trên khắp thế giới , NHCT là thành viên
chính thức của :
 Hiệp hội các ngân hàng Việt Nam (VNBA).
 Hiệp hội các ngân hàng Châu Á (AABA).
 Hiệp hội thanh tóan viễn thông liên ngân hàng tòan cầu (SWIFT)
 Hiệp hội thẻ Visa , Master Card quốc tế.

 Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
2.1.2.
Ngân hàng Công thương - Chi nhánh 6 là Chi nhánh trực thuộc Ngân hàng
Công Thương Việt Nam.
2.1.2.1. Lịch sử hình thành và phát triển :
Tiền thân của Ngân Hàng Công Thương Chi Nhánh 6 là Ngân Hàng Nhà Nước
Quận 6 được hình thành sau Miền Nam Việt Nam hòan tòan giải phóng, họat động với
chức năng là trung tâm tiền tệ , tín dụng và thanh tóan phục vụ cho nhu cầu hồi phục và
phát triển kinh tế. Năm 1988 Ngân Hàng Công Thương Việt Nam được thành lập, tổ
chức hệ thống ngân hàng thương mại 3 cấp và NHCT-CN6 là chi nhánh trực thuộc
NHCT-TPHCM theo QĐ109/ NH-TCCB ngày 12/10/1988. Sau đó để phù hợp với nhu
cầu đổi mới của nền kinh tế, NHCT được thành lập theo cơ cấu tổ chức NHTM 2 cấp
gồm Hội sở chính và các chi nhánh trực thuộc theo QĐ67/QĐ-NH5 ngày 27/02/1993
của Thống đốc Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam , theo đó NHCT-CN6 được tách ra khỏi
NHCT TP.HCM ( nay là Sở giao dịch II NHCT VN) để trở thành một chi nhánh cấp I
trực thuộc NHCTVN và được hạch tóan phụ thuộc, có quyền tự chủ kinh doanh theo
phân cấp của NHCTVN, chịu trách nhiệm trước NHCTVN về hiệu quả sử dụng vốn và
các nguồn vốn được giao.
Luận văn thạc sĩ kinh tế

×