Tải bản đầy đủ (.pdf) (82 trang)

nghệ thuật tiểu thuyết Sống đọa thác đầy của Mạc Ngôn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.54 MB, 82 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



PHẠM THỊ NHUNG




NGHỆ THUẬT TIỂU THUYẾT
SỐNG ĐỌA THÁC ĐẦY CỦA MẠC NGÔN


LUẬN VĂN THẠC SĨ
VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI







Hà Nội - 2012
LUẬN VĂN THẠC SĨ Nghệ thuật tự sự trong Sống đọa thác đầy của Mạc Ngôn
PHẠM THỊ NHUNG – CAO HỌC VĂN QH - 2007 - X
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN




PHẠM THỊ NHUNG


NGHỆ THUẬT TIỂU THUYẾT
SỐNG ĐỌA THÁC ĐẦY CỦA MẠC NGÔN



Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn học nước ngoài
Mã số: 602230


Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Huy Tiêu



Hà Nội - 2012
LUẬN VĂN THẠC SĨ Nghệ thuật tự sự trong Sống đọa thác đầy của Mạc Ngôn
PHẠM THỊ NHUNG – CAO HỌC VĂN QH - 2007 - X
1
MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU 3
1. Lý do chọn đề tài 3
2. Lịch sử vấn đề 5
3. Đối tượng, phạm vi và mục đích nghiên cứu nghiên cứu của đề tài 12
4. Phương pháp nghiên cứu 14
5. Cấu trúc luận văn 14
B. NỘI DUNG CHÍNH 15
CHƯƠNG 1: TỔ CHỨC KẾT CẤU TÁC PHẨM 15
1.1 Khái niệm kết cấu 15

1.2. Kết cấu đặc trưng trong Sống đọa thác đầy 17
1.2.1 Kết cấu mô phỏng theo phương thức tự sự truyền thống 17
1.2.2. Kết cấu đồng hiện, lồng ghép 22
1.2.3. Kết cấu vòng tròn 27
CHƯƠNG 2: NGƯỜI KỂ CHUYỆN VÀ ĐIỂM NHÌN 30
2.1. Người kể chuyện 30
2.1.1. Khái niệm người kể chuyện 30
2.1.2. Sự đa dạng của ngôi kể 32
2.1.2.1. Người kể chuyện ở ngôi thứ nhất 33
2.1.2.2. Người kể chuyện ở ngôi thứ hai 36
2.1.2.3. Người kể chuyện đặc biệt Mạc Ngôn 39
2.2 Điểm nhìn 43
2.2.1 Khái niệm điểm nhìn 43
2.2.2. Các kiểu điểm nhìn 43
LUẬN VĂN THẠC SĨ Nghệ thuật tự sự trong Sống đọa thác đầy của Mạc Ngôn
PHẠM THỊ NHUNG – CAO HỌC VĂN QH - 2007 - X
2
2.2.2.1. Điểm nhìn trẻ thơ 43
2.2.2.2. Điểm nhìn hư ảo 45
2.2.2.3. Điểm nhìn súc vật 47
CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG NHÂN VẬT 53
3.1 Khái niệm nhân vật 53
3.2. Đặc điểm nhân vật 55
3.2.1. Nhân vật của Mạc Ngôn xuất hiện với cá tính rất riêng biệt. 55
3.2.2. Nhân vật luôn đấu tranh cương quyết cho quyền riêng của mình. 57
3.2.3. Nhân vật là những người dân bình thường nhất. 58
3.2.4. Nhân vật mang những nét kì ảo 58
3.3 Một số loại hình nhân vật 60
3.3.1. Tây Môn Náo - Kiếp luân hồi thể hiện nỗi đau khổ của con người 60
3.3.2. Mặt Xanh - Kẻ chống đối “cách mạng” mang khát vọng con người. 63

3.3.3. Hồng Thái Nhạc - Người lãnh đạo hẹp hòi, tàn ác. 65
3.3.4. Một số nhân vật khác 66
3.4 Giọng điệu nhân vật 68
3.4.1. Giọng điệu bỡn cợt 68
3.4.2. Giọng điệu tâm tình 72
C. KẾT LUẬN 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78


LUẬN VĂN THẠC SĨ Nghệ thuật tự sự trong Sống đọa thác đầy của Mạc Ngôn
PHẠM THỊ NHUNG – CAO HỌC VĂN QH - 2007 - X
3
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Văn hóa, văn học Việt Nam và Trung Quốc có mối quan hệ mật thiết và lâu
dài. Từ văn học trung đại đến văn học hiện đại, ở các mức độ khác nhau văn học
Trung Quốc luôn có những ảnh hưởng nhất định tới nền văn học Việt Nam. Xuất
phát từ lý do đó, trong quá trình tìm hiểu, chúng tôi có sự lưu ý đặc biệt tới hiện
tượng này. Bởi xét đến cùng việc nghiên cứu văn học nước ngoài, một mặt nào đó
cũng là để hiểu hơn nền văn học nước nhà trong mối tương quan so sánh khách
quan. Nền văn học Trung Quốc vừa gần gũi vừa có nét tương đồng, lại vừa có
những thành tựu vượt xa chúng ta. Tìm hiểu hiện tượng này hứa hẹn nhiều điều lý
thú và hấp dẫn.
Nếu như trong nền văn học cổ điển Trung Quốc chúng ta thường nhắc đến
những bộ tiểu thuyết nổi tiếng như: Tam Quốc diễn nghĩa của La Quán Trung,
Thủy Hử của Thi Nại Am hay Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần… thì trong nền
văn học đương đại, chúng ta lại bắt gặp rất nhiều tên tuổi các nhà văn được bạn đọc
trong và ngoài nước biết đến. Tiêu biểu trong số đó phải kể đến như: Vương Mông,
Giả Bình Ao, Lục Văn Phu, Trương Tử Long, Cao Hiểu Thanh, Hàn Thiếu Công….
Đặc biệt, trong số đó không thể không nhắc tới nhà văn Mạc Ngôn - Nhà văn của

vùng đất Cao Mật, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc.
Là cây bút tiêu biểu cho văn xuôi đương đại thời kỳ đổi mới, tác phẩm của
Mạc Ngôn đã làm thay đổi diện mạo của nền văn học đương đại. Được xem là nhà
văn có bút lực mạnh nhất hiện nay ở Trung Quốc, là “nhân vật khai phá của thế kỷ
XX” ở Châu Á, Mạc Ngôn đã và đang trở thành một hiện tượng trên văn đàn Trung
Quốc và Thế giới. Mới đây, ông đã được trao giải thưởng Nobel văn học 2012. Giải
thưởng đó là sự ghi nhận và đánh giá chính xác nhất về những gì Mạc Ngôn đã
cống hiến cho nền văn học Trung Quốc và thế giới. Lựa chọn Mạc Ngôn để nghiên
cứu và tìm hiểu, chúng tôi muốn thông qua một cây bút xuất sắc để có cái nhìn
khách quan về quá trình đổi mới nền văn học của Trung Quốc, cũng như thấy được
nét đặc sắc của cây bút này.
LUẬN VĂN THẠC SĨ Nghệ thuật tự sự trong Sống đọa thác đầy của Mạc Ngôn
PHẠM THỊ NHUNG – CAO HỌC VĂN QH - 2007 - X
4
Mạc Ngôn thành công ở cả trên ba thể loại là tiểu thuyết, truyện vừa và truyện
ngắn. Đặc biệt, ở thể loại tiểu thuyết, không ít các tác phẩm của ông được dịch ra
nhiều thứ tiếng trên thế giới và được giới nghiên cứu đánh giá cao như: Báu vật của
đời, Đàn hương hình, Gia tộc cao lương đỏ…. Ở Việt Nam, các tiểu thuyết của
Mạc Ngôn đã được xuất bản khá đầy đủ, được đông đảo bạn đọc quan tâm, được
các nhà nghiên cứu phê bình chú ý và đánh giá cao.
Một tác phẩm gần đây nhất của ông cũng được bạn đọc trong nước và thế giới
quan tâm là Sống đọa thác đầy. Đây được coi là cuốn tiểu thuyết khẳng định thêm
một lần nữa sức mạnh tài năng và ngòi bút phi thường của nhà văn vùng đất Cao
Mật này.
Sống đọa thác đầy (生死疲劳) là tác phẩm mới của Mạc Ngôn, được xuất bản
năm 2007. Tác phẩm đánh dấu sự thành công đỉnh cao của ông cả về nội dung và
hình thức: thể hiện được cuộc sống và những bước đi lên của lịch sử đất nước
Trung Quốc; nghệ thuật thể hiện mang đậm tính hiện đại phương Tây, cách tiếp cận
mới mẻ, tạo ấn tượng đối với độc giả khiến họ muốn tìm tòi và khám phá.
Một trong những yếu tố khẳng định văn tài của Mạc Ngôn trong thể loại tiểu

thuyết chính là nghệ thuật tự sự và các nhân tố cấu thành nghệ thuật tự sự trong tác
phẩm. Từ kết cấu câu chuyện, người tự sự, điểm nhìn, nhân vật, không – thời
gian… Tất cả những yếu tố mới lạ và độc đáo này được bắt gặp trong hầu hết các
tiểu thuyết của ông và độc giả sẽ càng thấy mới lạ hơn trong Sống đọa thác đầy.
Trước đây, ông từng nói nếu chưa đọc Báu vật của đời sẽ không thể hiểu được
Mạc Ngôn. Ông cũng đã từng nói tác phẩm Tứ thập nhất pháo là “nhành cây xanh
trên cái cây già nua màu đen”. Và khi Sống đọa thác đầy ra đời thì ông tiếp tục đưa
ra thông điệp của tác phẩm này chính là “nhánh mới trên cái cây già nua” đó. Hình
thức của cuốn tiểu thuyết này khác biệt rất nhiều so với các cuốn tiểu thuyết trước
của Mạc Ngôn. Nội dung được kể trong đó cũng khác với nội dung của Tứ thập
nhất pháo hay Báu vật của đời. Ông cũng đã từng nói, điều kiện tiên quyết để mỗi
nhà văn cầm bút sáng tác là khi nhận thấy cuốn sách mình đang viết là mới, có phát
triển trên cơ sở cũ và không hề lặp lại.
LUẬN VĂN THẠC SĨ Nghệ thuật tự sự trong Sống đọa thác đầy của Mạc Ngôn
PHẠM THỊ NHUNG – CAO HỌC VĂN QH - 2007 - X
5
Trên hành trình của sáng tạo nghệ thuật, Mạc Ngôn đã sớm khẳng định cho
mình một phong cách riêng không giống với bất kỳ con đường sáng tác của một nhà
văn nào. Ông luôn mong muốn viết ra những cái gì thuộc về riêng mình, nó khác
với nhà văn phương Tây và cũng khác với các nhà văn của đất nước ông. Đó là
động lực khiến ông hăng say tìm tòi để đổi mới, không ngừng sáng tạo phong cách
độc đáo cho riêng mình. Theo ông, sự sáng tạo “không phải là sự chen nhau chạy
theo mốt mà là cách viết về những gì mà mình đã quen thuộc, dùng ngòi bút tả thực,
đồng thời dựa vào sức tưởng tượng để tạo ra những mùi vị không tồn tại và thực sự
không có thực để làm cho tiểu thuyết có cảm giác của sự sống” [27].
Ở Việt Nam, ngoài một số bài báo mang tính chất giới thiệu, đã có các công
trình khoa học nghiên cứu về tiểu thuyết của Mạc Ngôn. Tuy nhiên, trên thực tế
cũng chưa có nhiều. Đặc biệt, để có một công trình nghiên cứu riêng về tiểu thuyết
nổi tiếng Sống đọa thác đầy thì rất hiếm thấy. Vì thế, đề tài này được thực hiện sẽ
hết sức cần thiết, góp phần tìm hiểu thêm về nghệ thuật và phong cách viết tiểu

thuyết của nhà văn vùng Đông Bắc Cao Mật.
Tiểu thuyết của Mạc Ngôn đã chinh phục được nhiều bạn đọc trong và ngoài
nước. Đó là bởi không những ông đã đi sâu miêu tả đời sống chân thực của con
người, phong tục tập quán ở nông thôn, những xung đột ý thức mới và cũ trong
cuộc cải cách… mà quan trọng hơn là phong cách nghệ thuật độc đáo của ông.
Phong cách đó không giống với bất cứ của một nhà văn nào trên thế giới.
Xuất phát từ thực tiễn trên, việc nghiên cứu tiểu thuyết của Mạc Ngôn nói chung
và cụ thể là yếu tố nghệ thuật tự sự về kết cấu và người kể chuyện, nhân vật trong tiểu
thuyết Sống đọa thác đầy, chúng tôi muốn khám phá sâu hơn về khía cạnh nghệ thuật,
phong cách viết truyện để thấy được cái “không giống một ai” của ông.
2. Lịch sử vấn đề:
Trên thực tế, các tác phẩm của Mạc Ngôn đã trở thành đối tượng của nhiều nhà
nghiên cứu trên thế giới. Họ tìm hiểu các tác phẩm của nhà văn này trên nhiều
phương diện khác nhau như: đề tài, nhân vật, kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu…
Trong đó, vấn đề về nghệ thuật tự sự và tìm hiểu yếu tố mới lạ vẫn được nhiều nhà
LUẬN VĂN THẠC SĨ Nghệ thuật tự sự trong Sống đọa thác đầy của Mạc Ngôn
PHẠM THỊ NHUNG – CAO HỌC VĂN QH - 2007 - X
6
nghiên cứu quan tâm và đánh giá cao. Những tài liệu nghiên cứu về Mạc Ngôn trên
cơ sở liên quan tới vấn đề kết cấu và người kể chuyện trong một số tác phẩm của
ông, chúng tôi đã sưu tầm và thấy được có sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu.
2.1. Tài liệu Tiếng Việt
2.1.1. Tài liệu do Mạc Ngôn viết
Phần tài liệu này bao gồm những bài trả lời phỏng vấn và những diễn thuyết
của Mạc Ngôn ở trong và ngoài nước được dịch giả Nguyễn Thị Thại dịch ra tiếng
Việt trong 2 cuốn sách là: Mạc Ngôn và những lời tự bạch, Lâm Kiến Phát -
Vương Nghiêu, NXB Văn học, 2004 và Chuyện văn chuyện đời, Mạc Ngôn, NXB
Lao Động, 2004. Ngoài ra, còn có một số tờ báo và các bài phỏng vấn trên nhiều
trang mạng điện tử. Các tài liệu này đã đề cập đến nhà văn Mạc Ngôn trên nhiều
phương diện như: động cơ sáng tác, nguồn gốc ảnh hưởng, quan điểm, lập trường

và phong cách sáng tác.
2.1.2 Tài liệu nghiên cứu về Mạc Ngôn
Những năm gần đây, đã có nhiều tác giả nghiên cứu về các tác phẩm của Mạc
Ngôn. Chúng tôi xin điểm qua một vài công trình nghiên cứu dưới đây:
Nhà văn và văn đàn Trung Quốc những năm 90 của tác giả Trần Tuấn Đào,
Tạp chí Văn học 1/2000. Bài viết tập trung nhấn mạnh đến yếu tố đổi mới nghệ
thuật trong phong cách viết tiểu thuyết của nhà văn của Trung Quốc những năm 90,
trong đó có Mạc Ngôn.
Thế giới nghệ thuật của Mạc Ngôn qua hai tiểu thuyết Báu vật của đời và
Đàn hương hình của tác giả Nguyễn Khắc Phê, tạp chí Sông Hương số 166,
12/2002. Trong bài viết này, tác giả đã đi sâu vào việc tìm hiểu thế giới “lạ hóa”
trong hai tác phẩm. Trong bài viết, tác giả có đề cập đến tài nghệ sử dụng ngôn ngữ
của Mạc Ngôn, nhưng còn hạn chế là chưa đi sâu tìm hiểu và chứng minh cụ thể
qua hai tác phẩm. Bài viết vẫn chỉ dừng lại ở dạng bài điểm sách. Tuy nhiên, bài
viết của tác giả Nguyễn Khắc Phê cũng giúp chúng tôi nhận rõ nét đặc trưng trong
phong cách nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ của tiểu thuyết Mạc Ngôn. Phong cách
này cũng được thể hiện rất rõ trong khi ông viết Sống đọa thác đầy.
LUẬN VĂN THẠC SĨ Nghệ thuật tự sự trong Sống đọa thác đầy của Mạc Ngôn
PHẠM THỊ NHUNG – CAO HỌC VĂN QH - 2007 - X
7
PGS.TS Lê Huy Tiêu trong tạp chí Văn học nước ngoài số 4/2003 và trong
cuốn sách Tiểu thuyết Trung Quốc thời kỳ đổi mới (1976 - 2000) đã có hai bài
nghiên cứu sâu về Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Mạc Ngôn và Mạc Ngôn
và tiểu thuyết Đàn hương hình. Bằng hướng nghiên cứu thi pháp học và tự sự
học, tác giả đã phát hiện những cái “lạ” trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn. Cốt
truyện không còn là cốt truyện giống hệt như tiểu thuyết truyền thống nhưng nó
vẫn mang vẻ cổ điển. Trong cái cổ điển ấy lại chứa đầy cảm giác mới lạ. Và đó là
linh hồn của tiểu thuyết Mạc Ngôn. Qua cuốn sách của PGS.TS Lê Huy Tiêu,
người đọc nhận thấy, nghệ thuật tự sự độc đáo của Mạc Ngôn luôn có sự biến hóa.
Kết cấu cốt truyện, cách xử lý tình huống, nghệ thuật sắp xếp không gian và thời

gian đều được xây dựng mới lạ và độc đáo. Những yếu tố đó càng khiến độc giả
nhận rõ hơn điểm rất riêng của nhà văn này. Đó là yếu tố không giống với bất cứ
một nhà văn nào. Có thể coi, đây là công trình nghiên cứu về tiểu thuyết Mạc
Ngôn có giá trị khoa học rất cao.
Các bài viết của PGS.TS Lê Huy Tiêu đã gợi ý, giúp ích rất nhiều cho chúng
tôi thực hiện luận văn này. Sống đọa thác đầy là sự thể hiện đỉnh cao thế giới nghệ
thuật tiểu thuyết của Mạc Ngôn. Từ cách tiếp cận và nghiên cứu theo hướng thi
pháp học và tự sự học trong bài viết trên, có thể thấy ở Sống đọa thác đầy là một sự
“lạ hóa” độc đáo. Từ cốt truyện vừa mang nét truyền thống, vừa mang vẻ hiện, rồi
đến cách thể hiện, nghệ thuật sắp xếp tình tiết trong câu chuyện đã đưa ngòi bút
thần của Mạc Ngôn đạt đến đỉnh cao.
Ngoài ra, nhiều cuốn tiểu thuyết của Mạc Ngôn còn là đề tài khóa luận, luận
văn của nhiều sinh viên các trường đại học. Tiêu biểu phải kể đến :
Khảo sát Báu vật của đời trên phương diện cốt truyện và kết cấu, Khóa luận
tốt nghiệp, Đại học Sư phạm Huế, 2004 của Cao Thúy Hà. Phát hiện về điểm nhìn
trẻ thơ là đóng góp đáng nghi nhận của khóa luận này. Điểm nhìn này cũng được
thể hiện rất rõ trong Sống đọa thác đầy. Nhưng có điều khác với các tác phẩm trước
của ông là trong tác phẩm này, điểm nhìn trẻ thơ được thể hiện một cách tinh tế, đa
dạng và độc đáo hơn rất nhiều.
LUẬN VĂN THẠC SĨ Nghệ thuật tự sự trong Sống đọa thác đầy của Mạc Ngôn
PHẠM THỊ NHUNG – CAO HỌC VĂN QH - 2007 - X
8
So sánh nghệ thuật trần thuật trong Trăm năm cô đơn và Báu vật của đời,
Luận văn thạc sĩ, Đại học Sư phạm Huế, 2005 của Trần Thị Năm. Việc so sánh
người kể truyện và điểm nhìn, giọng điệu trần thuật, không gian – thời gian nghệ
thuật giữa hai tác phẩm là điểm thành công của luận văn. Từ phạm vi và góc độ
nghiên cứu của luận văn, có thể ứng dụng và tìm hiểu rõ hơn về nghệ thuật điểm
nhìn và giọng điệu của Mạc Ngôn trong Sống đọa thác đầy.
Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Đàn hương hình của Mạc Ngôn, Luận
văn thạc sĩ, ĐHSP Hà Nội, 2006 của Nguyễn Thị Minh Quân. Luận văn đã đi sâu

phân tích những thành công của tác phẩm qua các vấn đề như: người tự sự, thời
gian tự sự và không gian tự sự. Luận văn cũng nhấn mạnh đến sự kết hợp của các
yếu tố thực và ảo trong không gian – thời gian nghệ thuật. Bằng cách đó, tác giả đã
có cách đánh giá và cảm nhận mới về lịch sử xã hội một thời đã qua.
Yếu tố kỳ ảo trong tiểu thuyết Báu vật của đời của Mạc Ngôn, Luận văn
thạc sĩ, ĐHSP Hà Nội, 2007 của Nguyễn Thị Khánh Linh. Luận văn đã nghiên cứu
yếu tố kỳ ảo của tác phẩm qua hệ thống nhân vật với kiểu nhân vật dị thường
(Kim Đồng), kiểu nhân vật hóa thân (Lãnh Đệ). Đặc biệt, luận văn chú ý đến bầu
vú như một biểu tượng của huyền thoại và nâng biểu tượng này lên “giá trị ca ngợi
sự hy sinh, sự nuôi dưỡng và tình thương yêu che chở của người mẹ” Đây là bài
viết có tính phát hiện rất tốt. Tác giả nhìn nhận vấn đề nghệ thuật thông qua cách
thể hiện nhân vật trong mỗi tác phẩm. Vận dụng từ luận văn này, trong phần
nghiên cứu của mình, chúng tôi cũng sẽ làm rõ hơn yếu tố kỳ ảo, lạ hóa trong
Sống đọa thác đầy. Đây cũng là yếu tố làm nên thành công rất lớn trong nhiều
tiểu thuyết của Mạc Ngôn.
Như vậy, các công trình nghiên cứu trên, phần nào đã đi sâu phân tích những
thành công trong các tác phẩm của Mạc Ngôn qua các vấn đề về người tự sự, điểm
nhìn, không - thời gian… Đồng thời, bước đầu đã có sự tìm hiểu và nghiên cứu
những yếu tố “lạ hóa” trong tiểu thuyết của nhà văn này.
Cũng trên báo văn nghệ số 46 (11/2008), PGS.TS Lê Huy Tiêu đã có bài Thử
phản biện Mạc Ngôn được xem như là một cách bổ sung cho sự khiếm khuyết của
LUẬN VĂN THẠC SĨ Nghệ thuật tự sự trong Sống đọa thác đầy của Mạc Ngôn
PHẠM THỊ NHUNG – CAO HỌC VĂN QH - 2007 - X
9
cái nhìn phiến diện trong tình hình nghiên cứu Mạc Ngôn hiện nay. Bài viết đã tổng
hợp những ý kiến phê phán Mạc Ngôn được đăng tải trên rất nhiều sách báo khác
nhau. Nhà nghiên cứu Lê Huy Tiêu đã đưa ra quan điểm không tán thành đối với sự
khoa trương quá đáng cũng như thái độ thích thú của nhà văn khi viết về cái ác và
bạo lực. Đồng thời, nhà nghiên cứu cũng chỉ ra một dấu hiệu đáng mừng đó là Mạc
Ngôn đã có sự điều chỉnh trong tiểu thuyết Sống đọa thác đầy. Trên cơ sở những

nhận định từ bài viết này, khi khảo sát và tìm hiểu về thế giới nghệ thuật trong Sống
đọa thác đầy, chúng tôi cũng đã nhận ra sự cân đối đó trong cách viết của nhà văn.
Như vậy, có thể nói, nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Mạc Ngôn nói chung và
trong Sống đọa thác đầy nói riêng đã và đang thu hút được rất nhiều nhà nghiên
cứu Việt Nam. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này chỉ dừng lại ở giới hạn
một hoặc một vài cuốn tiểu thuyết của Mạc Ngôn. Còn cuốn tiểu thuyết được xuất
bản gần đây nhất và được độc giả trên thế giới đánh giá cao là Sống đọa thác đầy
thì ít có một công trình nghiên cứu nào viết về tác phẩm này một cách hoàn thiện.
Nếu có thì chỉ đi sâu tìm hiểu chi tiết về một khía cạnh nào đó trong nghệ thuật tự
sự của tác phẩm. Gần đây nhất, có Luận án tiến sĩ Khoa học Ngữ văn mang tên
Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn của tác giả Nguyễn Thị Tịnh
Thy, Viện văn học, 2009. Công trình này đã được tác giả nghiên cứu khái quát chín
bộ tiểu thuyết của Mạc Ngôn là : Gia tộc cao lương đỏ, Cây tỏi nổi giận, Thập tam
bộ, Tửu quốc, Báu vật của đời, Rừng xanh lá đỏ, Đàn hương hình, Bồn mươi
mốt truyện tầm phào, Sống đọa thác đầy. Tại sao lại lựa chọn chín cuốn tiểu thuyết
này? Có lẽ đó là các tác phẩm trường thiên tiểu thuyết của Mạc Ngôn thể hiện rõ
nhất văn tài của ông. Trọng tâm của luận án này là đi sâu vào tìm hiểu nghệ thuật tự
sự của tiểu thuyết Mạc Ngôn thông qua những phương diện chủ yếu như: người kể
chuyện, điểm nhìn, kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu. Từ đó, tác giả xác định phong
cách sáng tác và vị trí của nhà văn trong dòng chảy của thể loại tiểu thuyết Trung
Quốc. Đối với những công trình nghiên cứu có tính quy mô lớn như thế này, việc đi
sâu nghiên cứu chi tiết yếu tố nghệ thuật trong từng tác phẩm là rất khó. Cho đến
nay, ở Việt Nam cũng ít có một công trình nào khảo sát trọn vẹn chín cuốn tiểu
thuyết trên. Trong quá trình thực hiện đề tài, ở một vài yếu tố cần thiết, chúng tôi
cũng có tham khảo và đối chiếu với nguyên tác của từng tác phẩm.
LUẬN VĂN THẠC SĨ Nghệ thuật tự sự trong Sống đọa thác đầy của Mạc Ngôn
PHẠM THỊ NHUNG – CAO HỌC VĂN QH - 2007 - X
10
Tuy nhiên, tác giả Nguyễn Thị Tịnh Thy cũng cố gắng phân tích và đưa ra
điểm mới lạ trong từng tác phẩm của Mạc Ngôn, trong đó có Sống đọa thác đầy.

Lần đầu tiên, tác phẩm Sống đọa thác đầy có mặt trong một công trình nghiên cứu
về nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết, gồm nhiều tác phẩm khá thành công của Mạc
Ngôn từ trước tới nay.
Từ luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Tịnh Thy, chúng tôi đã học tập được
nhiều điều và có thể ứng dụng được vào trong luận văn này. Từ cách phân tích điểm
nhìn và người kể chuyện; thời gian và kết cấu; ngôn ngữ và giọng điệu đều có so
sánh và phân tích từ Sống đọa thác đầy. Tuy nhiên, do tiếp cận ở 9 cuốn tiểu thuyết
khác nhau nên ở mỗi tác phẩm, khi nhìn nhận trên một phương diện nghệ thuật, tác
giả Tịnh Thy cũng chỉ đưa ra được một vài điểm nổi bật nhất mà chưa có sự phân
tích chi tiết, tỷ mỉ trong luận án của mình.
Có thể thấy rằng, ở Sống đọa thác đầy chúng ta bắt gặp một cây bút hoàn hảo
nhất. Văn tài của Mạc Ngôn đã đạt đến đỉnh cao khi ông thể hiện nghệ thuật tự sự
trong cuốn tiểu thuyết này.
2.2. Tài liệu Tiếng Trung
2.2.1. Tài liệu tự bạch của Mạc Ngôn
Trong cuốn Phong vị của tiểu thuyết (
小说的气味
) của Mạc Ngôn, NXB Văn
nghệ Xuân Phong, 2003 có nhiều bài đối thoại và tự bạch miêu tả thế giới văn nghệ
của Mạc Ngôn. Phần lớn những nội dung quan trọng mà Mạc Ngôn tự bạch trong
các tác phẩm này cũng đã được dịch giả Nguyễn Thị Thại dịch ra Tiếng Việt trong
02 cuốn sách là: Mạc Ngôn và những lời tự bạch, Lâm Kiến Phát - Vương Nghiêu,
NXB Văn học, 2004 và Chuyện văn chuyện đời, Mạc Ngôn, NXB Lao Động, 2004.
Nội dung được dịch trong 02 cuốn sách này đã đề cập đến nhà văn Mạc Ngôn trên
nhiều phương diện như: động cơ sáng tác, quan điểm, lập trường và phong cách
sáng tác.
Ngoài ra, trong nhiều bài trả lời phỏng vấn báo giới được đăng tải trên các
trang mạng điện tử của Trung Quốc hay tham luận trong một số diễn đàn về văn học
Trung Quốc, Mạc Ngôn cũng bày tỏ quan điểm của mình rất quan tâm đến vấn đề
tự sự học tiểu thuyết. Ông đã từng khẳng định trong một bài trả lời phỏng vấn trên

LUẬN VĂN THẠC SĨ Nghệ thuật tự sự trong Sống đọa thác đầy của Mạc Ngôn
PHẠM THỊ NHUNG – CAO HỌC VĂN QH - 2007 - X
11
trang mạng tushucheng (): “điểm nhìn chính là kết cấu,
ngôi kể chính là kết cấu. Sau khi xác định được ngôi kể, bạn sẽ không phải đang kể
chuyện mà đang trải qua câu chuyện”. Mạc Ngôn cũng chỉ ra được những đặc điểm
chung trong nghệ thuật tự sự của mình như: Điểm nhìn trẻ thơ, ngôn ngữ thô tục,
kết cấu dân gian…
2.2.2 Tài liệu nghiên cứu về Mạc Ngôn
Tài liệu nghiên cứu về Mạc Ngôn rất nhiều, nội dung nghiên cứu cũng rất sâu
rộng và phong phú. Tuy nhiên, trong phạm vi và định hướng của đề tài, chúng tôi
chỉ điểm lại một vài bài viết trong một số tác phẩm được coi là tiêu biểu khi đánh
giá về nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của ông.
Trong cuốn Mạc Ngôn – nghiên cứu và tư liệu (
莫言研究资料
、中国当代作
家研究资料丛书、 天津人民出版社、 2005) của tác giả Dương Dương đã đề cập
nhiều đến những đổi mới trong phong cách sáng tác của Mạc Ngôn. Đồng thời, nêu
ra được những yếu tố nghệ thuật sự tự trong một số tác phẩm nổi tiếng của ông.
Cũng trong cuốn sách này, tác giả Trần Tư Hòa trong bài viết Trần thuật dân
gian trong tiểu thuyết Mạc Ngôn những năm gần đây (莫言近年小说的民间是叙
述) thì cho rằng: “ký ức, làng quê, trẻ thơ là 3 điểm tựa tự sự của Mạc Ngôn”. Trần
Tư Hòa cũng cho rằng, tiểu thuyết của Mạc Ngôn đã “mở ra một không gian của sự
sống và số mệnh một cách to lớn nhất trong tự sự lịch sử”, hình thành nên “thi pháp
lịch sử” đặc hữu và đó cũng là “đóng góp quan trọng nhất của Mạc Ngôn đối với sự
phát trển của nghệ thuật tự sự của tiểu thuyết đương đại” [43, 337].
Trong trang điện tử Baidu 百度, tìm kiếm về các bài viết nghiên cứu về nghệ
thuật tiểu thuyết của Mạc Ngôn, có thể thấy một số bài viết có tính phát hiện vấn
đề rất tốt.
Trong đó, có luận văn thạc sĩ Giá trị tự sự học trong tiểu thuyết Mạc Ngôn (莫

言小说的叙事学价值) của tác giả Tô Quốc Bình, Đại học Tô Châu, 2004. Trong
luận văn này, tác giả đã nhấn mạnh đến sự chuyển đổi một cách tự do giữa người kể
chuyện ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba, giọng điệu chủ quan và khách quan… Từ cách
tiếp cận và nghiên cứu đó, Tô Quốc Bình đã khái quát được đặc điểm của phương
LUẬN VĂN THẠC SĨ Nghệ thuật tự sự trong Sống đọa thác đầy của Mạc Ngôn
PHẠM THỊ NHUNG – CAO HỌC VĂN QH - 2007 - X
12
thức tự sự Mạc Ngôn.
Cũng trong hệ thống tư liệu của trang điện tử Baidu 百度, có luận văn thạc sĩ
của tác giả Lý Cương ở Đại học Liêu Thành, 2006 với nhan đề Nghiên cứu tự sự
học trong phong cách mỹ học sáng tác của Mạc Ngôn (莫言创作美学品格的叙
事学研). Sự phân tích người kể chuyện ngôi thứ nhất của Mạc Ngôn, người kể
chuyện toàn tri là những đóng góp rất lớn của luận văn này. Cả hai bản luận văn của
hai tác giả trên đã giúp chúng tôi có cái nhìn sâu sắc và chi tiết hơn khi phân tích về
nghệ thuật ngôi kể và điểm nhìn trong Sống đọa thác đầy.
Khi triển khai đề tài của mình, chúng tôi đã kế thừa những thành quả nghiên
cứu của những người đi trước để ứng dụng vào trong luận văn. Với các phương diện
nghệ thuật đã được nhiều tác giả nghiên cứu và phân tích trước đó như: các ngôi kể,
điểm nhìn trẻ thơ, điểm nhìn hư ảo, điểm nhìn súc vật, các cách kết cấu, các kiểu
xây dựng nhân vật và giọng điệu nhân vật thể hiện trong tác phẩm… đều có trong
Sống đọa thác đày. Chính những yếu tố nghệ thuật đỉnh cao này đã tạo ra sự “lạ
hóa” cho tác phẩm. Đồng thời, những mảng trống còn thiếu sót trong các phần
nghiên cứu của những người đi trước chính là những gợi ý quý báu, đáng lưu tâm
khi chúng tôi triển khai luận văn.
3. Đối tượng, phạm vi và mục đích nghiên cứu nghiên cứu của đề tài:
3.1 Phạm vi nghiên cứu:
Chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát trọn vẹn yếu tố trên qua cuốn tiểu thuyết Sống
đọa thác đầy của Mạc Ngôn. Cuốn sách được xuất bản năm 2007, được dịch bởi tác
giả Trần Trung Hỷ, nhà xuất bản Phụ nữ.
Nhiệm vụ của luận văn là tìm hiểu về kết cấu và người kể chuyện trong Sống

đọa thác đầy. Để làm nổi bật vấn đề, những tài liệu lý luận về tự sự học liên quan
cũng được quan tâm khai thác. Đồng thời, sẽ đưa ra sự so sánh với các tiểu thuyết
khác của Mạc Ngôn ở một vài khía cạnh nghệ thuật tự sự. Mục đích hơn hết là để
thấy rõ ở Sống đọa thác đầy thể hiện đầy đủ phong cách vừa cổ điển, vừa hiện đại,
và là tác phẩm thể hiện văn tài vượt bậc của Mạc Ngôn.
Trả lời nhân viên của Ủy ban Nobel khi ông nhận giải Nobel Văn học năm
LUẬN VĂN THẠC SĨ Nghệ thuật tự sự trong Sống đọa thác đầy của Mạc Ngôn
PHẠM THỊ NHUNG – CAO HỌC VĂN QH - 2007 - X
13
2012, Mạc Ngôn có nói: Có ba tác phẩm quy tụ phong cách nghệ thuật viết tiểu
thuyết của ông và cũng là ba tác phẩm đáng đọc nhất, đó là: Cao lương đỏ, Đàn
hương hình và Sống đọa thác đầy.
3.2 Đối tượng nghiên cứu:
Trong luận văn này, đối tượng nghiên cứu sẽ hướng trọng tâm vào việc tìm
hiểu vấn đề kết cấu và người kể chuyện trong tiểu thuyết Sống đọa thác đầy của
Mạc Ngôn. Sống đọa thác đầy là tiểu thuyết quy tụ rất nhiều thành công về nghệ
thuật tự sự của tiểu thuyết Mạc Ngôn nhưng luận văn chỉ nghiên cứu phương diện
về kết cấu, người kể chuyện và nhân vật. Thiết nghĩ, đó là những yếu tố quan trọng
và đánh dấu thành công lớn của Mạc Ngôn trong tiểu thuyết này. Đây là ba thành tố
chính cấu tạo nên một tác phẩm. Khi tập trung làm rõ các vấn đề đó chúng tôi cũng
sẽ làm rõ một số yếu tố khác như ngôn ngữ, giọng điệu.
Trên cơ sở đó, luận văn xác định phong cách sáng tác và vị trí của Mạc Ngôn
trên văn đàn Trung Quốc nói chung và các nhà văn đương đại nói riêng.
3.3 Mục đích nghiên cứu:
Trong thế kỷ 20 vừa qua, lý luận văn học đã thu được những thành tựu đáng tự
hào ở trên nhiều phương diện khác nhau. Đặc biệt, vấn đề lý thuyết tự sự đang ngày
càng được quan tâm rộng rãi. Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử đã từng khẳng định:
“lý thuyết tự sự sẽ cho ta thấy không chỉ là kỹ thuật trần thuật của các thể loại, các
nhà văn, mà còn cho tất cả truyền thống văn hóa ở đằng sau nó” [37,86]. Cũng
chính vì thế mà nghiên cứu tự sự học ngày càng trở nên đặc biệt quan trọng. Trong

đó, các yếu tố về kết cấu, người kể chuyện và nhân vật được xem như điểm nhấn
của mỗi nhà văn trong tác phẩm của mình. Vì vậy, với đề tài Nghệ thuật tự sự
trong Sống đọa thác đầy của Mạc Ngôn, chúng tôi mong muốn được tìm hiểu và
khám phá chi tiết hơn về thế giới nghệ thuật trong tác phẩm này của nhà văn. Công
trình hy vọng sẽ góp thêm nhận định và quan điểm mới trong việc nghiên cứu Mạc
Ngôn cũng như những tác phẩm của ông, để một lần nữa khẳng định thêm tài năng
của nhà văn vùng Đông Bắc Cao Mật.

LUẬN VĂN THẠC SĨ Nghệ thuật tự sự trong Sống đọa thác đầy của Mạc Ngôn
PHẠM THỊ NHUNG – CAO HỌC VĂN QH - 2007 - X
14
4. Phương pháp nghiên cứu:
Căn cứ vào đối tượng nghiên cứu đã được xác định, luận văn sẽ sử dụng các
phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
Phương pháp thống kê, tổng hợp và phân tích tài liệu.
Phương pháp cấu trúc
Phương pháp hệ thống tài liệu.
Phương pháp so sánh.
Phương pháp tiếp cận thi pháp học
5. Cấu trúc luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Tổ chức kết cấu tác phẩm
Chương 2: Người kể chuyện và điểm nhìn
Chương 3: Xây dựng nhân vật
















LUẬN VĂN THẠC SĨ Nghệ thuật tự sự trong Sống đọa thác đầy của Mạc Ngôn
PHẠM THỊ NHUNG – CAO HỌC VĂN QH - 2007 - X
15
B. NỘI DUNG CHÍNH
CHƯƠNG 1: TỔ CHỨC KẾT CẤU TÁC PHẨM
Ở chương đầu tiên này, chúng tôi tập trung làm rõ vấn đề kết cấu ở hai góc
độ chính. Thứ nhất, giải quyết khái niệm kết cấu, làm rõ thuật ngữ để có một cách
hiểu thống nhất cho quá trình nghiên cứu của mình. Thứ hai, chúng tôi khảo sát
các kiểu kết cấu đặc trưng của tác phẩm, trong đó chỉ ra 3 loại kết cấu chính đó là:
kết cấu truyền thống, kết cấu lồng ghép và kết cấu vòng tròn. Từ những gì khảo
sát được chúng tôi sẽ có những đánh giá nghệ thuật xây dựng kết cấu cốt truyện
của Mạc Ngôn.
Ở một số luận văn hay bài nghiên cứu khác, chúng tôi nhận thấy người viết
thường đi khái thác các vấn đề về nhân vật, người kể chuyện trước rồi mới đến vấn
đề kết cấu tác phẩm. Ở đây, chúng tôi lựa chọn tìm hiểu kết cấu tiểu thuyết trước
bởi trong quan niệm của chúng tôi kết cấu chính là yếu tố quan trọng hàng đầu, tạo
nên không gian cho nhân vật, và các thành tố nghệ thuật khác hình thành.
1.1 Khái niệm kết cấu:
Văn học là sự sáng tạo ngôn từ. Trong sự sáng tạo đó, vai trò của hình thức tự
sự là rất lớn, đặc biệt là kết cấu của tác phẩm. Sở dĩ như vậy bởi tất cả những yếu tố

nội dung bao giờ cũng được thể hiện bằng một hình thức nhất định. Để tạo ra được
sự khác lạ của tác phẩm, mỗi nhà văn đã tìm riêng cho mình một hình thức kết cấu
khác nhau cho từng tác phẩm cụ thể. Chính nét đặc trưng đó đã tạo sắc thái riêng
của nhà văn đối với mỗi cuốn tiểu thuyết của mình. Hay nói cách khác, kết cấu của
một tác phẩm thể hiện rất rõ nhận thức, tài năng và phong cách của nhà văn. Các
nhà văn hiện đại, hậu hiện đại khi cách tân tiểu thuyết của mình đã rất tập trung vào
vấn đề này.
Bởi, kết cấu giống như một bộ khung xương định hình nên hình hài của một
con người. Không sáng tạo ở bộ khung, không thay đổi từ trong cốt lõi thì khó có
được sự sáng tạo thực sự. Như vậy, có thể thấy kết cấu có vai trò rất đặc biệt đối với
mỗi tác phẩm. Đó là cơ sở để chuyển tải tư tưởng chủ đề tác phẩm, là không gian để
nhân vật vẫy vùng và cũng là nền tảng để tạo nên các yếu tố hình thức khác. Vì vậy,
LUẬN VĂN THẠC SĨ Nghệ thuật tự sự trong Sống đọa thác đầy của Mạc Ngôn
PHẠM THỊ NHUNG – CAO HỌC VĂN QH - 2007 - X
16
khi tìm hiểu Sống đọa thác đầy chúng tôi rất quan tâm tới vấn đề này trước. Trước
khi tìm hiểu các kiểu kết cấu cụ thể, chúng tôi muốn làm rõ khái niệm thuật ngữ này.
Từ đó, thống nhất cách hiểu về kết cấu, đồng thời ứng dụng tìm hiểu vào trong tác
phẩm. Trên thực tế, có rất nhiều cách hiểu khác nhau về kết cấu tiểu thuyết.
Trong giáo trình Lý luận văn học do Hà Minh Đức chủ biên, có định nghĩa
một cách hiểu khá đơn giản. Kết cấu là “sự tạo thành và liên kết các bộ phận trong
bố cục của tác phẩm, là sự tổ chức, sắp xếp các yếu tố, các chất liệu tạo thành nội
dung của tác phẩm trên cơ sở đời sống khách quan và theo một chiều hướng tư
tưởng nhất định”. [10,143]
Trong Từ điển Thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn
Khắc Phi đã định nghĩa: “Yếu tố kết cấu là đặc trưng cho bản chất nghệ thuật nói
chung của văn học, nó tạo ra nhịp điệu chung cho tác phẩm và cho từng bộ phận”
[11,52]. Nói như vậy, có nghĩa kết cấu sẽ tạo điều kiện để độc giả có thể khái quát
một cách đơn giản chủ đề tư tưởng, nắm bắt được tính cách của nhân vật theo quy
luật và sự phát triển về nội dung và hình thức của tác phẩm đó.

Trần Đình Sử lại cho rằng: Kết cấu là toàn bộ tổ chức sinh động của tác phẩm,
phục tùng đối tượng nghệ thuật và nhiệm vụ nghệ thuật cụ thể mà nhà văn đặt ra
cho mình. Như vậy, kết cấu không tách rời nội dung cuộc sống và tư tưởng nghệ
thuật. Trên cơ sở đó, ông đã đưa ra hai phương diện kết cấu cơ bản: cấp độ hình
tượng và cấp độ trần thuật. Ở cấp độ hình tượng, khi nghiên cứu kết cấu, người ta
chú ý đến việc tổ chức các quan hệ nhân vật, thành phần của cốt truyện… Ở cấp độ
trần thuật, kết cấu là sự sắp xếp, tổ chức các thành phần khác nhau của trần thuật
như sự thay đổi của điểm nhìn, sự luân phiên, xen kẽ các sự kiện và các đoạn tả
cảnh, tả tình khác nhau.
Hiểu một cách đơn giản, kết cấu chính là kiến trúc của một tác phẩm bất kỳ
nào đó. Nó gắn với cốt truyện, là cách tổ chức cốt truyện, đồng thời làm nhiệm vụ
chuyển tải quan niệm của nhà văn về đời sống, tư tưởng chủ đề tác phẩm. Bởi mỗi
cuốn tiểu thuyết là một cuộc sống thu nhỏ, nhà văn nhìn cuộc sống như thế nào sẽ tổ
chức kết cấu tác phẩm của mình theo lối ấy. Do vậy, không sai khi nói nó là một tổ
LUẬN VĂN THẠC SĨ Nghệ thuật tự sự trong Sống đọa thác đầy của Mạc Ngôn
PHẠM THỊ NHUNG – CAO HỌC VĂN QH - 2007 - X
17
chức sinh động nhưng cũng rất phức tạp. Trong tác phẩm văn học, kết cấu đóng một
vai trò quan trọng, bởi nó khiến tác phẩm trở nên mạch lạc và có “vẻ duyên dáng
của sự trật tự” (Horatius).
Trong bất cứ một tác phẩm văn học nào cũng hàm chứa một kiểu kết cấu chủ
yếu nhất định. Nó có chức năng đa dạng. Không chỉ bộc lộ rõ chủ đề tư tưởng của
tác phẩm, triển khai, trình bày cốt truyện, cấu trúc hợp lý tính cách nhân vật, tổ
chức điểm nhìn của tác giả mà còn tạo ra tính toàn vẹn của tác phẩm như một hiện
tượng thẩm mĩ. Một cuốn tiểu thuyết thành công không thể có một kết cấu lỏng lẻo.
Do vậy, kết cấu chặt chẽ thể hiện rõ tư duy nghệ thuật của tác giả là yêu cầu hàng
đầu đối với tất cả các nhà văn. Có những tác phẩm rất đồ sộ về dung lượng nhưng
lại có kết cấu hết sức đơn giản, song cũng có những tác phẩm tuy không quá quy
mô nhưng lại có lối kết cấu phức tạp nhiều tầng. Các dạng kết cấu chính thường là
kết cấu chương hồi, kết cấu tâm lý, kết cấu đan xen, đồng hiện, lồng ghép, kết cấu

theo dòng ý thức
Trong Sống đọa thác đầy, chúng ta dễ dàng nhận ra không chỉ có một cách kết
cấu duy nhất mà còn có thể khám phá kết cấu của tác phẩm này ở nhiều góc độ. Tác
phẩm này là sự tổng hợp rất nhiều bút pháp nghệ thuật khác nhau: cổ điển mà hiện
đại, hiện đại mà cổ điển, đúng theo quan niệm rất biện chứng của người Trung
Quốc nói riêng và người Phương Đông nói chung. Là một cuốn tiểu thuyết khá dày
dặn về dung lượng, kể một câu chuyện gắn với nhiều biến cố lớn của lịch sử, trong
một quãng thời gian tương đối dài (khoảng 50 năm), với nhiều nhân vật từ con
người tới súc vật. Sống đọa thác đầy đã có một kết cấu chặt chẽ và sáng tạo, vừa cổ
điển vừa cách tân. Tìm hiểu về tổ chức kết cấu trong Sống đọa thác đầy của Mạc
Ngôn, một lần nữa chúng ta khẳng định tài năng nghệ thuật với những đổi mới
không ngừng của nhà văn này.
1.2. Kết cấu đặc trưng trong Sống đọa thác đầy
1.2.1 Kết cấu mô phỏng theo phương thức tự sự truyền thống
Trong văn học hiện đại, hậu hiện đại và trào lưu "tiểu thuyết mới", các nhà văn
đã tìm mọi cách để đổi mới tiểu thuyết, một trong các cách đó là sự tấn công vào kết
LUẬN VĂN THẠC SĨ Nghệ thuật tự sự trong Sống đọa thác đầy của Mạc Ngôn
PHẠM THỊ NHUNG – CAO HỌC VĂN QH - 2007 - X
18
cấu cốt truyện, dẫn đến sự phân rã đến rời rạc của kết cấu, thậm chí họ chủ trưởng
tiểu thuyết phản tiểu thuyết, xóa mờ nhân vật và kết cấu. Các nhà văn phương Tây
đã đem đến cho người đọc các câu chuyện bằng dòng ý thức. Mạch truyện trở nên
mơ hồ, kết cấu hoàn toàn phụ thuộc vào tâm lý nhân vật. Tiếp cận những tiểu thuyết
này bạn đọc truyền thống sẽ gặp không ít khó khăn. Là một nhà văn hiện đại của
Trung Quốc, có nhiều sáng tạo nhưng Mạc Ngôn không đi theo hướng đó. Ông tìm
cho mình một cách riêng, đó là xây dựng kết cấu theo kiểu kết cấu truyền thống của
tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc. Kiểu kết cấu truyền thống có một ưu điểm là cốt
truyện rành mạch, đi theo một trật tự thời gian khách quan (ít bị lệ thuộc vào dòng ý
thức của nhân vật), rất dễ theo dõi đối với bạn đọc. Vì thế, rất thích hợp để kể câu
chuyện dài mang nhiều biến cố.

Sống đọa thác đầy có hình thức thể tài tự sự của văn học truyền thống Trung
Quốc. Đó chính là việc coi trọng cốt truyện, coi trọng người kể chuyện. Thời gian
tự sự chủ yếu được tổ chức theo biên niên, theo trật tự tuyến tính. Thời gian sự kiện
được xác định bằng ngày, tháng, năm, thậm chí đến từng giờ, phút, giây. Địa điểm
và hoạt cảnh xảy ra sự kiện, vấn đề cũng được thể hiện rõ ràng đến minh bạch.
Người đọc có thể nhìn nhận và liên tưởng vấn đề một cách sinh động theo chiều
hướng tổ chức và cách miêu tả, trần thuật của nhà văn. Cách kết cấu này thường đưa
ra nhiều sự kiện, thiên về kể mà ít tả, đặc biệt ít tập trung vào tâm lý nhân vật mà
thường tập trung vào hành động của nhân vật. Lấy kiểu kết cấu truyền thống, Mạc
Ngôn một mặt khai thác ưu điểm là tập trung vào các sự kiện phản ánh được vô số
những biến cố trong 50 năm lịch sử của biết bao con người, mặt khác ông khéo léo
đan xen việc tả từ thiên nhiên đến tâm lý con người. Do đó, dù sử dụng phương
thức kết cấu truyền thống có dấu ấn của tiểu thuyết chương hồi nhưng kết cấu của
Sống đọa thác đầy vẫn mang một hơi thở mới, ghi dấu ấn cá nhân mang màu sắc
sáng tạo của Mạc Ngôn.
Đầu mỗi chương của Sống đọa thác đầy đều có hai câu đối làm chức năng tóm
tắt nội dung sẽ được kể ra trong chương đó. Người đọc có thể nhìn nhận, thông hiểu
vấn đề thông qua hai câu đối Mạc Ngôn đặt ở đầu mỗi chương truyện. Cách làm
LUẬN VĂN THẠC SĨ Nghệ thuật tự sự trong Sống đọa thác đầy của Mạc Ngôn
PHẠM THỊ NHUNG – CAO HỌC VĂN QH - 2007 - X
19
này giống với kết cấu chương hồi của tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc. Nhưng
những câu đối này lại mang một màu sắc rất đương đại, nó không mang nét cổ kính,
mẫu mực của văn học cổ, nó được tạo nên từ những ngôn từ hiện đại, gần gũi đời
sống, hàm chứa những ý nghĩa đa tầng. Tiểu thuyết chương hồi là một kiểu kết cấu
khá phổ biến trong văn học trung đại của Trung Quốc gắn với nhiều tác phẩm nổi
tiếng. Trong các bộ tiểu thuyết cổ, hai câu đối ở đầu hay cuối mỗi chương vừa cân
chỉnh về các vế đối, vừa làm nhiệm vụ dẫn dắt người đọc, thâu tóm nội dung của
mỗi chương. Nó giống như tên của mỗi chương được viết một cách sáng tạo. Ở
Sống đọa thác đầy, các câu đối này cũng làm nhiệm vụ tương tự. Nhưng nó được

sử dụng ngôn ngữ rất "trần tục".
Ví dụ như: Tây Môn Lợn đại chiến Tiểu Tam
Bài ca nhỏ hòa niềm hoan lạc [16,473]
Bị lửa đốt Sứt tai vong mạng
Bay lên thuyền, vua lợn phục thù [16,575]
Bên cạnh kết cấu chương hồi là kết cấu luân hồi. Nếu kết cấu chương hồi
mang lại dáng vẻ cổ điển thì kết câu luân hồi lại mang đến màu sắc hư ảo. Dù trong
quá trình kể, Mạc Ngôn làm cho câu chuyện của mình hết sức chân thật, mỗi lần
đầu thai vừa giống như một sự ngẫu nhiên vừa như một sự hiển nhiên, song người
đọc vẫn luôn được nhà văn nhắc nhở rằng, đây là câu chuyện hư cấu đậm chất kỳ ảo
mà thôi. Hai kiểu kết cấu này đặt cạnh nhau giống như thực và ảo song song cùng
tồn tại, như các yếu tố lịch sử tồn tại bên cạnh các yếu tố hư ảo vậy. Cách tổ chức
truyện theo từng kiếp đầu thai của Sống đọa thác đầy chịu ảnh hưởng phần nào bởi
kết cấu luân hồi trong Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh. Toàn bộ tác phẩm được
chia thành 5 quyển:
Quyển 1: Kiếp lừa phóng đãng gồm 11 chương truyện ứng với khoảng 140
trang truyện.
Quyển 2: Kiếp Trâu quật cường gồm 9 chương truyện ứng với khoảng 164
trang truyện.
Quyển 3: Kiếp lợn hoan lạc gồm 16 chương truyện, ứng với khoảng 274 trang truyện.
LUẬN VĂN THẠC SĨ Nghệ thuật tự sự trong Sống đọa thác đầy của Mạc Ngôn
PHẠM THỊ NHUNG – CAO HỌC VĂN QH - 2007 - X
20
Quyển 4: Kiếp chó trung thành gồm 17 chương truyện ứng với khoảng 192
trang truyện.
Quyển 5: Kết cục và mở đầu gồm 5 chương truyện ứng với khoảng 33 trang truyện.
Mỗi quyển là một kiếp sống của Tây Môn Náo theo quá trình biến hóa từ Tây
Môn Náo - Tây Môn Lừa - Tây Môn Trâu - Tây Môn Lợn- Tây Môn chó - Tây Môn
Khỉ - Lam Ngàn Năm Đầu To. Mỗi lần đầu thai thành một kiếp sống, Tây Môn Náo
lại được trải nghiệm một cuộc sống khác nhau của các loài động vật. Một cuộc sống

bên cạnh con người, đồng hành cùng con người, chịu những nét tác động chung của
lịch sử nhưng lại mang một màu sắc riêng của kiếp động vật. Mỗi quyển sách vừa có
thể được tách ra thành một câu chuyện riêng, một tác phẩm độc lập, lại vừa gắn kết
với các quyển còn lại thể hiện một cuộc đời ở nhiều kiếp luân hồi của Tây Môn Náo.
Kiểu kết cấu luân hồi này, cho phép tác giả nối tiếp mạch truyện dù nhân vật chính đã
thay hình đổi dạng, ở một trạng thái sống hoàn toàn khác. Đồng thời, nó liên kết các
sự kiện thành một chuỗi liền mạch. Tây Môn Náo dù sống ở kiếp sống nào cũng luôn
nhớ về quá khứ của mình, những người thân của mình. Do đó, kí ức của nhân vật này
luôn chảy trôi trong toàn bộ mạch truyện dù nhân vật đang ở kiếp sống nào đi nữa.
Bồ Tùng Linh trong Liêu trai chí dị cũng sử dụng kiểu nhân vật luân hồi, tái sinh.
Nhưng nó được thể hiện ở những câu chuyện nhỏ, đồng thời nó không được tổ chức
một cách chủ động và chặt chẽ như trong tác phẩm của Mạc Ngôn.
Cách tổ chức kết cấu tác phẩm này cho thấy quan niệm của nhà văn về thế giới.
Thế giới bên ngoài chúng ta không đơn điệu như chúng ta nhìn thấy. Nó là một thế
giới nhiều mặt. Con người cũng chỉ là một thành tố nhỏ trong đó, sự tồn tại của con
người ở kiếp sống này cũng chỉ là một phần của sự sống. Mạc Ngôn đã để nhân vật
hóa thân, chuyển kiếp mà không cần tách thành các quyển riêng. Như vậy, người
đọc vẫn không gặp khó khăn gì trong việc tiếp cận tác phẩm. Nhưng ông chọn cách
tách thành các quyển với tên riêng như vậy để cho thấy rằng: Tây Môn Náo, Tây
Môn Lừa, Tây Môn Trâu, Tây Môn Lợn, Tây Môn Chó, Tây Môn Khỉ, Lam Ngàn
Năm Đầu To vừa là một mà vừa không phải là một. Mỗi nhân vật này sống một
kiếp sống khác nhau, cùng với con người ở làng Cao Mật trải qua các thời kỳ khác
LUẬN VĂN THẠC SĨ Nghệ thuật tự sự trong Sống đọa thác đầy của Mạc Ngôn
PHẠM THỊ NHUNG – CAO HỌC VĂN QH - 2007 - X
21
nhau của lịch sử. Nhưng mỗi kiếp sống riêng ấy lại giống như một mặt của khối
rubic làm tròn làm đầy một cuộc đời, một cách nhìn. Nó thể hiện một nỗi ám ảnh
đau đáu của con người rằng dù làm kiếp gì thì mỗi chúng ta cũng đều phải trải qua
những đau khổ ấy. Những hạnh phúc và đắng cay ấy, đều phải sống, phải chết, phải
mệt mỏi đấu tranh và trăn trở. Liệu có thể đi đâu, đầu thai thành kiếp gì để thoát

khỏi cuộc đời này? Tây Môn Náo chịu kiếp thác đầy, lương thiện và có đầy đủ
phẩm chất của một người nông dân thực thụ. Ông ta yêu đất, hăng say lao động, biết
làm ăn tính toán, giàu lên nhờ vào chính đôi bàn tay của mình. Ngay cả khi đã trở
nên giàu có, tình yêu đối với ruộng đồng, đối với lao động của ông vẫn không hề
thay đổi. Chẳng phải cuộc sống của chúng ta rất cần những người nông dân như vậy
sao? Nhưng sau một cuộc cách mạng, ông bị quy kết là địa chủ, bị đấu tố, gia đình
li tán, vợ quay đầu lại vu oan, tài sản thì mất hết, bản thân ông bị tử hình. Nỗi uất ức
theo ông ta xuống tận âm phủ, một mực kêu oan dẫu bị đòn roi thế nào. Nhưng rồi
hết lần này đến lần khác, ông ta vẫn bị đầu thai thành kiếp súc vật không được trở
lại làm người. Cả khi làm súc vật, ông ta vẫn phải chịu những khổ đau, bi ai. Chỉ
đến cuối cùng, ông ta mới được trở lại làm người, nhưng trong một hình hài của
quái thai. Phải chăng, đúng như quan niệm của Phật Giáo, đời chính là bể khổ, là
kiếp trầm luân mà con người phải kinh qua.
Kết cấu luân hồi cho thấy sự ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo đối với Mạc
Ngôn. Mặc dù, ý tưởng về tác phẩm này đã được ông suy ngẫm trong suốt 43 năm,
dựa vào những chuyện có thật ông đã từng chứng kiến. Nhưng sự khơi gợi cảm xúc
sáng tác và hoàn thành ý tưởng chính là bức tranh của Phật giáo thể hiện 6 kiếp sống
của con người. Các con vật như: lừa, trâu, lợn, chó, khỉ cũng là những con vật gần với
con người nhất. Cuối tác phẩm, Diêm Vương có giải thích lý do không cho Tây Môn
Náo đầu thai thành người là vì anh ta vẫn mang quá nhiều hận thù. Nếu quay lại kiếp
người thì chỉ "oan oan tương báo" mà thôi. Những triết lý về cuộc sống, cách nhìn
nhận về thế giới được thể hiện trong cuốn sách này rất gần với Phật giáo.
Chúng tôi nêu chi tiết các quyển và số trang văn bản cho mỗi một phần này để
nhận thấy rằng, bốn quyển từ quyển 1 tới quyển 4 có số trang văn bản tương đối
LUẬN VĂN THẠC SĨ Nghệ thuật tự sự trong Sống đọa thác đầy của Mạc Ngôn
PHẠM THỊ NHUNG – CAO HỌC VĂN QH - 2007 - X
22
giống nhau, khá tương xứng với nhau về dung lượng và cốt truyện. Quyển 5 có số
lượng trang ít hơn cả dù thể hiện 2 kiếp luân hồi (từ chó thành khỉ, từ khỉ trở về kiếp
người). Nó giống như phần vĩ thanh của tác phẩm vậy. Đây cũng chính là một kiểu

kết cấu khác. Giống như một vở kịch có phần giới thiệu, nội dung chính và hạ màn.
Kiểu kết cấu này cho phép tác giả gần người đọc hơn, giao lưu với người đọc và có
tác dụng định hướng khơi mở cho người đọc.
Trong Cao lương đỏ, tác phẩm đầu tiên đã mang lại vinh quang cho Mạc
Ngôn đã được dựng thành một bộ phim nổi tiếng. Nhà văn dùng lối kết cấu hiện đại
dán ghép mang tính điện ảnh rất cao. Điều đó cho thấy, tuy thống nhất về phong
cách nhưng Mạc Ngôn rất quan tâm đổi mới các tiểu thuyết của mình, sao cho mỗi
câu chuyện lại được kể bằng một cách khác nhau.
Cách kết cấu của Sống đọa thác đày mang đặc trưng truyền thống này. Nhìn
bên ngoài có vẻ giống với kết cấu trong tiểu thuyết cổ điển quen thuộc nhưng thực
tế, Mạc Ngôn chỉ mượn đó như một cách tạo hình thức cổ điển bề ngoài của tác
phẩm. Thực chất, bên trong sự trật tự của chương hồi là một thế giới phi trật tự khác
lạ. Kết quả của một kết cấu phi trật tự đó là cách kết cấu đồng hiện, lồng ghép. Cách
thể hiện này đã mang đậm phong cách hiện đại và hậu hiện đại của nhà văn đương
đại Trung Quốc.
1.2.2. Kết cấu đồng hiện, lồng ghép
Kết cấu đồng hiện, lồng ghép là kiểu kết cấu của tiểu thuyết hiện đại cho phép
nhà văn cùng một lúc kể nhiều câu chuyện khác nhau. Mỗi câu chuyện ấy có thể
độc lập, có thể có quan hệ mật thiết với các câu chuyện khác trong tác phẩm, có thể
xảy ra ở cùng một thời gian hoặc ở những không gian khác nhau. Nhưng nó thể hiện
tính phức điệu của bản nhạc cuộc sống. Với kiểu kết cấu này thường người kể
chuyện và điểm nhìn cũng trở nên linh hoạt và phong phú.
Yếu tố nhận ra trong cách kết cấu đồng hiện là thời gian. Hay nói chính xác
hơn có thể là thời điểm, thời đoạn. Cùng trong một thời điểm, thời đoạn nhất định
nhưng có nhiều sự kiện xảy ra và tác giả phải bố trí chúng bằng sự đồng hiện của
thời gian.
LUẬN VĂN THẠC SĨ Nghệ thuật tự sự trong Sống đọa thác đầy của Mạc Ngôn
PHẠM THỊ NHUNG – CAO HỌC VĂN QH - 2007 - X
23
Sống đọa thác đầy có sự đồng hiện của hai sự kiện hoàn toàn giống nhau.

Nhưng có cái khác nhau là một bên là thực còn một bên là giả. Cảnh thực là mẹ
Lam Giải Phóng chết, cảnh giả là mẹ của nhân vật chính trong phim mà Lam Giải
Phóng đóng cũng mất.
Nỗi đau cùng là của con người nhưng có nỗi đau trong phim cảnh, có nỗi đau
thật ngoài đời. Độc giả được chứng kiến tang lễ thật và tang lễ giả cùng xảy ra song
hành, cùng diễn ra theo lời kể của hai người kể chuyện luân phiên là Lam Giải
Phóng và Tây Môn Chó. Hai câu chuyện này được tác giả bố trí đan cài xít xao.
Nếu ở các đoạn trước Lam Giải Phóng và Tây Môn Chó cũng thay nhau kể chuyện
nhưng mỗi người bọn họ kể một chương, thì giờ đây chỉ một đoạn văn ngắn họ lại
đổi vị trí kể chuyện cho nhau. Do đó, hai câu chuyện này hiện ra trước mắt người
đọc như cùng diễn ra một lúc, gay cấn lẫn lộn vào nhau. Cảm xúc của Lam Giải
Phóng trong bộ phim anh diễn cũng giống như cảm xúc thực của một con người
trước nỗi đau mất mẹ vậy.
Chó kể chuyện thật, người kể chuyện giả. Câu chuyện thật – giả hòa trộn, kết
nối vào nhau thành một chuỗi sự kiện theo đúng logic. Cùng một lúc, độc giả có thể
lĩnh hội được sự kiện khung cảnh ở nhiều nơi dưới nhiều góc độ khác nhau thông
qua cách kể chuyện của hai nhân vật. Sức hấp dẫn của câu chuyện đã được nâng lên.
Hơn thế nữa, sự xen lẫn câu chuyện thật và giả, lời kể của người và vật còn mang
đậm ý nghĩa nhân sinh. Nỗi đau thật của con người hiện ngay ra vẻ bề ngoài. Nỗi
đau giả của hiện thực nơi đây cũng chính là nỗi đau thật nơi quê nhà. Lam Giải
Phóng không có cơ hội được chịu tang mẹ như lẽ thông thường của một người con,
và Mạc Ngôn đã để cho nhân vật của mình được chịu nỗi đau ấy trong một bộ phim.
Giải tỏa được nỗi đau ấy, ít nhiều Lam Giải Phóng cũng vơi đi được cảm giác có lỗi
của một người con không thể tiễn biệt mẹ.
Khi hai sự kiện này đồng hiện, đan xen vào nhau tạo ra một giá trị nghệ thuật
đặc biệt. Không gian trong tác phẩm được mở rộng ra, con người trong các mối liên
hệ có sự giàng buộc và móc xích vào nhau. Thời gian câu chuyện như được trì hoãn
lại, tiết tấu câu chuyện cũng chậm dãi lại. Cảm giác sự chuyển đổi trong câu chuyện,

×