Tải bản đầy đủ (.pdf) (128 trang)

Tổ chức & hoạt động kho mở phục vụ đào tạo theo tín chỉ tại Thư viện trường Đại học Xây dựng Hà Nội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.77 MB, 128 trang )



1



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN




TRẦN THỊ HẢI



TỔ CHỨC & HOẠT ĐỘNG KHO MỞ PHỤC VỤ
ĐÀO TẠO THEO TÍN CHỈ TẠI THƯ VIỆN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI



LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN - THƯ VIỆN





Hà Nội - 2011




2


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN




TRẦN THỊ HẢI


TỔ CHỨC & HOẠT ĐỘNG KHO MỞ PHỤC VỤ
ĐÀO TẠO THEO TÍN CHỈ TẠI THƯ VIỆN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI



Chuyên ngành: Khoa học Thư viện
Mã số: 60 32 20


LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN - THƯ VIỆN



Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. TRẦN THỊ QUÝ






Hà Nội - 2011


3
MỤC LỤC
TRANG
MỞ ĐẦU 8
CHƯƠNG 1: KHO MỞ VỚI CÔNG TÁC PHỤC VỤ ĐÀO TẠO THEO
TÍN CHỈ TẠI THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI 13
1.1. Những vấn đề chung của kho mở trong hoạt động thông tin
thư viện 13
1.1.1. Khái niệm “kho mở” 13
1.1.2. Đặc điểm của kho mở 14
1.1.3. Ý nghĩa của kho mở trong hoạt động thông tin –thư viện 16
1.2. Trường Đại học Xây dựng Hà Nội trước yêu cầu đào tạo theo
tín chỉ 17
1.2.1. Những vấn đề chung về tín chỉ và đào tạo theo tín chỉ 17
1.2.2. Khái quát quá trình hình thành và phát triển của Trường 19
1.2.3. Chức năng và nhiệm vụ của Trường Đại học Xây dựng Hà Nội 20
1.2.4. Yêu cầu của Nhà trường trong việc đào tạo theo tín chỉ 21
1.2.5. Đội ngũ cán bộ và cơ cấu tổ chức của Nhà trường 23
1.3. Thư viện trước yêu cầu đào tạo theo tín chỉ tại Trường 22
1.3.1. Quá trình hình thành và phát triển của Thư viện 24
1.3.2. Chức năng, nhiệm vụ của Thư viện 25
1.3.3. Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ của Thư viện 26
1.3.4. Cơ sở vật chất tại Thư viện 29
1.3.5. Đặc điểm vốn tài liệu của Thư viện 30

1.4 . Đặc điểm nhu cầu tin của người dùng tin tại Thư viện Trường 31
1.4.1. Đặc điểm người dùng tin của Thư viện 31
1.4.2. Đặc điểm nhu cầu tin của người dùng tin ở Thư viện 35


4
1.5. Vai trò của kho mở đối với hoạt động của Thư viện Trường 40
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TỔ CHỨC & HOẠT ĐỘNG
CỦA KHO MỞ TẠI THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG
HÀ NỘI 42
2.1. Công tác tổ chức kho mở tại Thư viện Trường Đại Học Xây Dựng
Hà Nội 42
2.1.1. Đặc điểm vốn tài liệu 43
2.1.2. Điều kiện cơ sở vật chất 48
2.1.3. Phương pháp định ký hiệu xếp giá 52
2.1.4. Phương pháp sắp xếp tài liệu 58
2.1.5. Đội ngũ cán bộ 61
2.2. Hoạt động của kho mở tại Thư viện Trường 62
2.2.1. Công tác phục vụ 62
2.2.2. Công tác bảo quản tài liệu 64
2.2.3. Hoạt động hướng dẫn người dùng tin 66
2.3. Nhận xét - đánh giá về công tác tổ chức và hiệu quả hoạt động của
kho mở 67
2.3.1. Ưu điểm: 67
2.3.2. Hạn chế: 70
2.3.3. Nguyên nhân: 74
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC TỔ CHỨC &
NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA KHO MỞ TẠI THƯ VIỆN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI 76
3.1. Các giải pháp hoàn thiện công tác tổ chức tại kho mở 76

3.1.1. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất 76


5
3.1.2. Thống nhất phương pháp xếp giá 77
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của kho mở 79
3.2.1. Ưu tiên đầu tư kinh phí thích hợp cho tổ chức và hoạt động
kho mở 79
3.2.2. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của
kho mở 82
3.2.3. Tăng cường hướng dẫn và đào tạo người dùng tin 83
3.2.4. Đổi mới công tác phục vụ và tổ chức đào tạo người dùng tin 85
3.3. Nâng cao trình độ cán bộ 86
3.3.1. Nâng cao trình độ cán bộ Thư viện nói chung 86
3.3.2. Nâng cao trình độ cán bộ tại "kho mở" 88
3.4. Nhóm các giải pháp khác 90
3.4.1. Tăng cường hoạt động tuyên truyền và phổ biến thông tin 90
3.4.2. Tăng cường marketing nguồn lực thông tin trong kho mở 91
KẾT LUẬN 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95




6

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
1.
CÁC CHỮ CÁI VIẾT
TẮT TIẾNG VIỆT

Chữ đầy đủ
CSDL

Cơ sở dữ liệu

ĐHXDHN

Đại học Xây dựng Hà Nội

ĐKCB

Đăng ký cá biệt

KHXG

Ký hiệu xếp giá

KPL

Khung phân loại

NCT

Nhu cầu tin

NDT

Người dùng tin

NCKH


Nghiên cứu khoa học

TC

Tín chỉ

TT-TV

Thông tin- Thư viện

VTL

Vốn tài liệu

2.
CÁC CHỮ CÁI VIẾT
TẮT TIẾNG ANH

AACR2

Anglo-American Cataloguing Rules 2
nd

(Quy tắc biên mục Anh - Mỹ ấn phẩm lần thứ 2)
BBK

Bibliotechno Bibliograficheskaja Klassifikacija
( Bảng phân loại của Nga)
DDC


Dewey Decimal Classification
(Khung phân loại Dewey)

OPAC

Online Puplic Access Catalogs
(Mục lục truy cập công cộng trực tuyến)

LIBOL

Library Online

(Phần mềm quản trị thư viện tích hợp)




7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

SƠ ĐỒ NỘI DUNG TRANG
1 Cơ cấu tổ chức của Trường ĐHXD HN 22
2 Cơ cấu tổ chức của Thư viện Trường ĐHXD HN 27
BIỂU ĐỒ

1 Tỉ trọng các khối kiến thức trong chương trình đào tạo 21
2 Thành phần NDT tại Thư viện Trường ĐHXD HN 32
3 Cơ cấu tài liệu kho mở 45

4 Cơ cấu tài liệu phòng đọc mở Ngoại văn
47
BẢNG
BIỂU

1 Cơ cấu nhân sự theo độ tuổi tại TV Trường ĐHXD HN 28
2 Số lượng tài liệu truyền thống 30
3 Số lượng tài liệu hiện đại 31
4
Thời gian thu thập thông tin của các nhóm NDT 36
5
Lĩnh vực chuyên môn mà NDT quan tâm 38
6
Mức độ thoả mãn NCT của NDT đối với từng loại hình
tài liệu
39
7 Số lượng tài liệu có trong kho mở của Thư viện
44
8 Số lượng tài liệu tại phòng đọc mở Ngoại văn
46
9 Số liệu bố trí diện tích các khu vực trong kho mở TV 50
10 Các trang thiết bị nội thất khác 52


8

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trường Đại học Xây dựng Hà Nội (ĐHXD HN) là nơi đào tạo nguồn nhân

lực của ngành xây dựng và những ngành liên quan. Trường có vai trò trong việc đào
tạo và bồi dưỡng chuyên viên, kỹ sư xây dựng có trình độ và chất lượng cao đủ khả
năng đáp ứng được sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước và phấn đấu
đạt mục tiêu trong thập kỷ tới chính là: “Xây dựng và phát triển trường Đại học Xây
dựng Hà Nội thành Trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học đầu ngành có chất
lượng cao trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, từng bước hội nhập vào hệ thống các
trường Đại học của khu vực và thế giới về trình độ và năng lực của đội ngũ cán bộ
được đào tạo ”. Để trường ĐHXD HN đạt được mục tiêu trong đào tạo và có thể tạo
ra được những sản phẩm có chất lượng, đào tạo đội ngũ chuyên viên, kỹ sư có trình
độ cao, đáp ứng được những đòi hỏi phát triển của ngành xây dựng trong thời kỳ
đổi mới thì điều quan trọng nhất đối với cán bộ, giáo viên và sinh viên trong toàn
trường là phải nắm bắt được thông tin, tài liệu phục vụ cho nhu cầu nghiên cứu,
giảng dạy và học tập một cách nhanh chóng, kịp thời, đầy đủ và chính xác.
Trong những năm gần đây, việc áp dụng công nghệ thông tin (CNTT) và
viễn thông đã mở ra một không gian thông tin mới với những thành tựu to lớn về
kinh tế, khoa học kỹ thuật và văn hoá trong đó có cả TT-TV, nhờ vậy đã tạo cho
ngành TT- TV ngày càng đa dạng về các loại hình sản phẩm và dịch vụ thông tin kể
cả về hình thức lẫn nội dung trong đó có hình thức phục vụ tự chọn (còn gọi là kho
mở). Phương thức tổ chức phục vụ bạn đọc bằng kho mở mang lại rất nhiều tiện ích
cho bạn đọc cũng như cho các cơ quan TT-TV. Để đáp ứng được nhiệm vụ đào tạo
theo tín chỉ, trong thời gian qua lãnh đạo cũng như toàn thể cán bộ TV trường
ĐHXD HN đã luôn trăn trở, từng bước nghiên cứu đổi mới việc tổ chức phục vụ
cho bạn đọc ngày càng tốt hơn với hình thức tổ chức kho tự chọn (kho mở) đã tạo ra
không gian mới với tính tự chủ cao, đáp ứng nhanh, mạnh cho NCT của bạn đọc.


9
Qua thực tế hoạt động của các thư viện đã cho thấy phương thức phục vụ bằng kho
mở tại TV đã đem lại nhiều hiệu quả đáng kể như: số lượng bạn đọc đến thư viện
đông hơn, vòng quay của sách cũng được tăng lên, khả năng đáp ứng thông tin của

người dùng tin ngày càng nhanh chóng, chính xác và kịp thời hơn Tuy vậy để có
một kho mở thật tốt và hoạt động có hiệu quả, các TV Việt Nam nói chung cũng
như TV trường ĐHXD HN nói riêng đã gặp phải không ít khó khăn về: kỹ thuật
nghiệp vụ, điều kiện hay trang thiết bị, kỹ thuật tổ chức không thống nhất, vốn tài
liệu chưa đầy đủ, nguồn nhân lực chưa được đào tạo chuyên sâu về hình thức phục
vụ kho mở. Tuy cùng ở trên cùng một địa bàn với các thư viện hiện đại, nhưng ngay
từ những ngày đầu TV trường ĐHXD HN đã xác định cho mình hướng đi riêng,
mang đậm nét đặc thù của một TV chuyên ngành cũng như luôn tìm tòi, đổi mới
mình bằng những hình thức phục phụ mới, phù hợp với điều kiện của mình.
Nhờ hình thức phục vụ mới bằng kho mở, TV trường ĐHXD HN đã thu hút
được lượng bạn đọc tìm đến với TV ngày càng đông và đóng vai trò quan trọng
trong việc nâng cao hiệu quả phục vụ…Tuy nhiên, trước yêu cầu đòi hỏi mới, hình
thức phục vụ bằng kho mở tại TV trường ĐHXD HN đang còn bộc lộ những mặt
hạn chế về tổ chức hoạt động, đã làm ảnh hưởng không nhỏ tới việc đáp ứng nhu
cầu thông tin và quá trình tìm tin của NDT. Mặt khác những hạn chế đó sẽ làm ảnh
hưởng không nhỏ tới quá trình phục vụ NCT cho NDT đặc biệt với hình thức đào
tạo theo tín chỉ của Trường hiện nay. Là một cán bộ đã từng làm việc tại phòng
phục vụ của TV, xuất phát từ tâm huyết nghề nghiệp và nhận thức được tầm quan
trọng, tính cấp thiết của việc hoàn thiện tổ chức hoạt động kho mở là một trong
những mục tiêu đổi mới và hiện đại hoá công tác phục vụ, đem lại diện mạo, phong
thái mới cho TV cũng như phù hợp với hình thức đào tạo theo tín chỉ của trường
ĐHXD HN, chính vì những lý do trên, tôi đã quyết định lựa chọn đề tài: “Tổ chức
& hoạt động kho mở phục vụ theo tín chỉ tại Thư viện Trường Đại học Xây dựng
Hà Nội” làm đề tài luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Khoa học Thư viện của mình.


10
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Những năm gần đây, có nhiều cơ quan TT-TV đã tổ chức các buổi hội nghị,
hội thảo bàn về vấn đề tổ chức và phục vụ kho mở. Đã có một số chuyên gia cũng

như cán bộ TV đề cập tới vấn đề tổ chức kho mở như: vấn đề ký hiệu xếp giá, vấn
đề áp dụng khung phân loại đăng trên các bài ở tạp chí của ngành như: Nguyễn
Thị Hoà, “Vấn đề ký hiệu xếp giá cho kho sách trong kho mở”/Hội thảo khoa học
và thực tiễn hoạt động thông tin- thư viện H, 2002; Trương Thị Kim Thanh, “Kho
tài liệu tự chọn”: Phương pháp xây dựng và tổ chức phục vụ- một vài kinh nghiệm
ở Trung tâm Thông tin- Thư viện ĐHQG”/Hội thảo khoa học và thực tiễn hoạt động
thông tin- thư viện H, 2002; Lê Việt Phương,“ Một vài suy nghĩ trong việc xây
dựng kho tài liệu tự chọn và triển vọng của kho tài liệu tự chọn”/Hội thảo khoa học
và thực tiễn hoạt động thông tin- thư viện H, 2002; Nguyễn Thị Đào, “ Vấn đề tổ
chức kho mở trong các thư viện hiện nay, Thông tin & Tư liệu, (Số 3), 2008 tr 23-
tr 27; Cũng có một số luận văn đã nghiên cứu về đề tài kho mở nhưng các công
trình nghiên cứu nói đó chủ yếu nghiên cứu tổ chức và hoạt động kho mở trên ở địa
điểm như: Cung Thị Bích Hà, “Tăng cường công tác tổ chức và hoạt động kho mở
của thư viện Tạ Quang Bửu trường Đại học Bách Khoa Hà Nội”, 2009 tr 29. Thư
viện trường ĐHXD HN là một trong những thư viện lớn trong hệ thống TV chuyên
ngành, cũng có một số khoá luận, luận văn nghiên cứu về các lĩnh vực như: Nguyễn
Thị Nga, “Xây dựng và phát triển nguồn lực thông tin của thư viện trường Đại học
Xây dựng Hà Nội”, 2003 tr 62; Nguyễn Ngọc Anh, “Nghiên cứu nâng cao hiệu
quả ứng dụng phần mềm Libol 5.0 tại tại thư viện trường Đại học Xây dựng”,
2008 tr 81.
Hầu hết các đề tài trên đề cập đến vấn đề về nguồn lực và ứng dụng phần
mềm tại TV nhưng cho đến nay chưa có một nghiên cứu nào đề cập tới: “Tổ chức &
hoạt động kho mở phục vụ theo tín chỉ tại Thư viện trường Đại học Xây dựng Hà
Nội”. Đây là đề tài hoàn toàn mới, không trùng lặp với đề tài nào trước đây.


11
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Trên cơ sở khảo sát thực trạng tổ chức và hoạt động của kho mở tại TV

Trường ĐHXD HN, đánh giá thành công cũng như những vấn đề đang tồn tại, đề
xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả phục vụ NDT của TV Trường ĐHXD HN.
3.2. Nhiệm vụ
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về kho mở; nghiên cứu chức năng, nhiệm vụ của tổ
chức, đội ngũ cán bộ, cơ sở vật chất, đặc điểm của người dùng tin, nhu cầu tin và
vốn tài liệu của Thư viện Trường ĐHXD HN.
- Khảo sát và phân tích thực trạng tổ chức & hoạt động của kho mở trong Thư viện
Trường ĐHXD HN.
- Đề xuất những phương hướng và các giải pháp hoàn thiện công tác tổ chức và
nâng cao hiệu quả hoạt động của kho mở tại Thư viện Trường ĐHXD HN.
4. Giả thuyết nghiên cứu
Công tác tổ chức kho mở hiện nay đang có nhiều bất cập như: công tác lựa
chọn tài liệu, định ký hiệu xếp giá và vấn đề tổ chức kho…Nếu được chú trọng
hoàn thiện về tổ chức sẽ góp phần nâng cao hiệu quả phục vụ NDT.
Nếu TV Trường ĐHXD HN chú trọng hơn nữa đến đổi mới công tác phục
vụ, đồng thời tăng cường đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin đồng bộ, có tiêu
chuẩn trong hoạt động chia sẻ, phát triển nguồn lực thông tin vào hoạt động kho mở
thì sẽ nâng cao vai trò - vị thế của TV mình hơn.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
5.1. Đối tượng nghiên cứu:
Tổ chức và hoạt động của kho mở tại Thư Viện Trường ĐHXD HN
5.2. Phạm vi nghiên cứu:
Không gian: kho mở của Thư viện Trường Đại học Xây dựng Hà Nội
Thời gian: từ năm 2005 đến nay
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Cơ sở lý luận phương pháp nghiên cứu


12
Trong quá trình nghiên cứu, giải quyết các vấn đề của luận văn, tác giả đã

dựa trên phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về
công tác sách, báo và thông tin thư viện.
6.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
 Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế và bảng hỏi
 Phương pháp phỏng vấn trực tiếp
 Phương pháp so sánh
 Phương pháp thống kê
7. Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài
7.1. Về mặt lý luận:
Luận văn góp phần hoàn thiện và phát triển lý luận về công tác tổ chức kho
tài liệu trong hoạt động TT-TV
7.2. Về mặt thực tiễn:
Trên cơ sở nghiên cứu về thực trạng công tác tổ chức và hoạt động của kho
mở, đưa ra những giải pháp hoàn thiện công tác tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt
động của kho mở tại TV ĐHXDHN.
8. Dự kiến kết quả nghiên cứu
Dự kiến kết quả nghiên cứu và bố cục của luận văn có độ dày khoảng 90
trang trên khổ giấy A4 với kết cấu, ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu
tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Kho mở với công tác phục vụ đào tạo theo tín chỉ tại Thư viện Trường
Đại học Xây dựng Hà Nội
Chương 2: Thực trạng công tác tổ chức & hoạt động của kho mở tại Thư viện
Trường Đại học Xây dựng Hà Nội
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động
của kho mở tại Thư viện Trường Đại học Xây dựng Hà Nội


13
CHƯƠNG 1

KHO MỞ VỚI CÔNG TÁC PHỤC VỤ ĐÀO TẠO THEO TÍN CHỈ TẠI
THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI
1.1 . Những vấn đề chung của kho mở trong hoạt động thông tin thư viện
1.1.1. Khái niệm “kho mở”
Hiện nay, ở bất kỳ cơ quan thông tin thư viện nào cũng vậy, phục vụ độc giả
là nhiệm vụ hàng đầu và lấy hiệu quả phục vụ là thước đo để đánh giá khả năng
hoạt động và sự phát triển của một thư viện. Việc xác định nâng cao công tác phục
vụ bạn đọc là mục tiêu trọng tâm của các cơ quan thông tin thư viện, vì thế các thư
viện đã không ngừng tìm tòi, đổi mới trong công tác phục vụ của bạn đọc.
Ngay từ những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX phương thức tổ chức
kho mở đã được áp dụng đầu tiên ở Mỹ và sau đó lan truyền sang các nước như:
Anh, Thuỵ Điển, Đan Mạch…và một số nước khác. Đầu tiên, kho mở chủ yếu chỉ
được áp dụng chủ yếu ở các thư viện khoa học chuyên ngành, sau đó áp dụng phổ
biến ở các thư viện công cộng
Theo “Từ điển giải nghĩa thư viện học và tin học Anh - Việt” do dịch giả
Phạm Thị Lệ Hương, Lâm Vĩnh Thế và Nguyễn Thị Nga biên dịch từ cuốn “The
ALA Glossary of Library and Information Science” năm 1996 đã được giải nghĩa
từ: Kho sách mở (Open stack) là chỉ bất cứ kệ sách nào của thư viện mà độc giả
không bị giới hạn khi sử dụng tài liệu để trên kệ sách.[15]
“Kho mở là kho tài liệu, nơi độc giả tự do chọn lựa và sử dụng những cuốn
sách, những tài liệu mà họ cần. Họ tự phục vụ bản thân ở mọi khâu: chọn sách,
báo…tha hồ đọc lướt các tên sách có cùng chủ đề được sắp xếp gần nhau, tự do lấy
tài liệu xuống, rồi lại xếp lên giá, nếu thấy nội dung đó không phù hợp với nhu cầu,
công bằng mà nói, độc giả có cảm giác thư viện là nhà, sách được sẵn sàng trên giá
để phục vụ họ” [18]
“Kho mở thực tế có thể coi như một mục lục phân loại khổng lồ trong đó mỗi
cuốn sách là một “tờ phiếu mục lục” sinh động mà qua đó người đọc có thể xem
lướt nội dung của một số tài liệu có cùng nội dung, xếp cạnh nhau, để lựa chọn



14
được tài liệu thích hợp nhất, mà những thông tin thư mục trên tờ phiếu bình thường
không giúp họ xác định, đánh giá rõ nội dung như vậy.” [22]
Ngay từ những năm 70 đã được các nhà thư viện học khái niệm về kho mở
đã được các nhà thư viện học của viện Quốc gia Liên Xô mang tên V.I. Lênin định
nghĩa như sau: Kho mở là phương thức phục vụ cho phép bạn đọc tiếp cận kho tàng
sách báo của thư viện, tạo điều kiện cho họ xem và chọn sách trực tiếp trên giá.
Đồng thời hình thức đó tạo điều kiện thuận lợi cho thư viện tuyên truyền tích cực,
giúp thông báo một cách thiết thực và có hệ thống cho các nhà chuyên môn về
thành tựu mới nhất của khoa học và kỹ thuật các kinh nghiệm sản xuất tiên tiến [25]
Kho mở (còn gọi là cách tiếp cận tài liệu trực tiếp) là cách thức tổ chức kho
tài liệu theo kiểu “mở” theo đúng nghĩa của nó. Việc sắp xếp tài liệu trong kho dựa
theo nội dung chủ đề tài liệu, căn cứ vào ký hiệu xếp giá được tạo ra bằng cách sử
dụng ký hiệu phân loại kết hợp với ký hiệu tên tác giả hoặc tên sách. Tùy thuộc vào
vốn tài liệu của thư viện, của kho mà người ta chia kho mở thành hai loại: kho mở
toàn phần và kho mở một phần.
* Kho mở toàn phần: Thường áp dụng với những kho tài liệu có số lượng tài
liệu không nhiều và đối tượng phục vụ không rộng rãi.
* Kho mở một phần: Thường áp dụng với kho tài liệu có số lượng lớn, đa
dạng. Thư viện sẽ lấy một lượng tài liệu có trong kho đó ra làm một phần kho mở.
Qua các khái niệm trên ta có thể hiểu một cách đơn giản: Kho mở là phương
thức tổ chức phục vụ mà ở đó bạn đọc trực tiếp vào kho lấy những tài liệu họ
cần, tạo điều kiện, cho phép họ xem trước và chọn tài liệu trực tiếp trên giá. Hình
thức tổ chức phục vụ bằng kho mở trong ngành TT-TV đã, đang tạo ra một xu thế
chung trên toàn thế giới cũng như ở Việt Nam một bước đi vững chắc và đầy khởi
sắc về phương thức phục vụ mới.
1.1.2. Đặc điểm của kho mở
Hình thức kho mở hiện nay có thể áp dụng cho nhiều loại hình tài liệu và loại
hình thư viện. Theo loại hình tài liệu có thể chia ra các loại hình kho mở như:
 Kho mở dùng cho sách



15
 Kho mở dùng cho báo, tạp chí
 Kho mở dùng cho các tài liệu điện tử (CD ROM, VCD, DVD…)
Theo loại hình thư viện ta có:
 Kho mở của thư viện các trường đại học
 Kho mở của thư viện công cộng
 Kho mở của thư viện khoa học (đa ngành, chuyên ngành)
Các đặc điểm chủ yếu của kho mở:
- Về tổ chức tài liệu: Toàn bộ tài liệu trong kho mở phải được sắp xếp theo
một bảng phân loại nhất định, không phân biệt khổ, cỡ để thể hiện mối quan hệ chặt
chẽ về mặt nội dung, chủ yếu vốn tài liệu.
- Về vốn tài liệu: Phải có những tiêu chí, phương thức lựa chọn, tài liệu đưa
ra kho mở: Có thể theo thời gian, theo hình thức tài liệu, tài liệu trong kho mở phải
phù hợp với đối tượng cũng nhu cầu nghiên cứu của độc giả thư viện.
- Về cơ sở vật chất: Kho mở đòi hỏi một không gian rộng vừa để tổ chức kho
vừa để tổ chức phục vụ, bên cạnh đó là các trang thiết bị an ninh như: camera, cổng
từ, chỉ từ, chip điện tử…cũng cực kỳ cần thiết để giảm thiểu những mất mát, hỏng
rách để có thể sảy ra, đảm bảo an toàn cho kho tư liệu.
- Bảo quản tài liệu: Do quá trình bạn đọc trực tiếp tiếp xúc liên tục với tài
liệu trong kho mở, vì thế tài liệu trong kho mở rất dễ rách nát, hư hại và mất mát
nên vấn đề bảo quản cần phải được quan tâm đặc biệt.
- Bổ sung tài liệu và thanh lọc: Tài liệu trong kho mở phải thường xuyên bổ
sung, đáp ứng phù hợp với nhu cầu của bạn đọc vì vậy đòi hỏi kinh phí bổ sung
hàng năm lớn và ổn định. Tài liệu trong kho mở cũng cần thiết phải định kỳ thanh
lọc theo năm hay theo quý.
- Hệ thống tra cứu: Phải linh hoạt và phản ánh đúng vị trí, tình trạng của tài
liệu, thường xuyên được cập nhập.
- Cán bộ thư viện: Ngoài nghiệp vụ chuyên sâu, nhanh nhẹn cần có tinh thần

trách nhiệm cao và đòi hỏi phải có sự bao quát trong công việc lớn để có thể giúp
đỡ bạn đọc tìm và sử dụng tài liệu một cách nhanh chóng.


16
- Bạn đọc: Mục đích của hình thức phục vụ bằng kho mở chính là nâng cao ý
thức sử dụng thư viện của bạn đọc, “tất cả vì bạn đọc thân yêu”. Bạn đọc cũng cần
phải tuân thủ theo các nội quy, quy định, hướng dẫn của TV cũng như của cán bộ
TV.
1.1.3. Ý nghĩa của kho mở trong hoạt động thông tin –thư viện
Điều kiện để đào tạo theo tín chỉ, ngay trong QĐ số 31/2001 của Bộ
GD&ĐT đã nêu, ngoài những điều kiện về chương trình đào tạo, đội ngũ giảng
viên, các cơ sở đào tạo phải có điều kiện về học liệu: “có đủ sách tham khảo, tài
liệu học tập”. Các đơn vị đào tạo có nhiệm vụ cụ thể hóa điều kiện về học liệu
trong các hướng dẫn về đào tạo theo tín chỉ của đơn vị mình [10]. Vì lẽ đó, việc tổ
chức kho mở ngày càng trở lên quen thuộc và đang phát triển mạnh thành xu thế tất
yếu trong nhiều thư viện và cơ quan thông tin thư viện trên nhiều quốc gia khác
nhau.
Nhờ vào xu thế chung, đã từ lâu “kho mở không còn là xa lạ với bạn đọc của
thư viện. Khi bạn đọc đến với bất kỳ hiệu sách hay một siêu thị sách tự chọn nào
bạn sẽ có được cảm giác tự do chọn lựa cái mà mình muốn, đến với kho mở trong
các thư viện cũng sẽ đem lại cho bạn cảm giác đó. Bạn sẽ cảm nhận được sự thoải
mái và đầy hứng thú khi được tiếp xúc trực tiếp với kho tàng tri thức của nhân loại
và tự thoả mãn nhu cầu đọc của mình”. [30]
Nếu như với phương thức đào tạo tín chỉ đòi hỏi nhu cầu thông tin của thầy
và trò trong trường ĐHXD HN là rất lớn thì việc tổ chức kho mở đã mang lại nhiều
tiện lợi không những cho NDT mà còn mang ý nghĩa lớn trong cả hoạt động thư
viện nói chung. Ngoài việc giúp bạn đọc tiếp cận được với nguồn tài nguyên sách,
tiết kiệm được nhiều thời gian đợi lấy tài liệu, bạn đọc được trực tiếp tìm thông tin
với từng cuốn sách, nhiều tài liệu một lúc, từ đó nảy sinh những nhu cầu đọc mới là

điều tất yếu có thể sảy ra với bất kỳ người dùng tin nào.
Với cán bộ, kho mở còn giúp cho cán bộ thư viện không phải tiếp nhận các
phiếu yêu cầu, không phải mất thời gian vào kho lấy sách mà vẫn đảm bảo việc
phục vụ tốt cho NDT một cách nhanh chóng và chính xác. Điều này đồng nghĩa với


17
việc tổ chức kho mở sẽ giảm đi được một nguồn nhân lực đáng kể cho thư viện bởi
công việc chính của cán bộ thư viện ở kho mở chỉ đóng vai trò là người hướng dẫn,
trợ giúp và xác định nguồn tin khi độc giả cần.
Chúng ta đều biết kho mở được hình thành và phát triển là do nhu cầu khách
quan của sự phát triển xã hội. Nhu cầu thông tin, nhu cầu tài liệu là nhu cầu cấp
thiết của con người trong hoạt động nghiên cứu khoa học, học tập và sản xuất.
Trong quá tình nghiên cứu, học tập họ luôn có nhu cầu tìm kiếm thông tin và rất cần
những tài liệu có liên quan đến hoạt động của họ. Kho mở là điều kiện khắc phục
hàng rào thông tin ấy, tạo sự thuận lợi, phù hợp giữa tài liệu và NDT, rút ngắn thời
gian tìm tài liệu, luôn cập nhập thông tin mới, thúc đẩy quá trình phát triển khoa học
và công nghệ, văn minh và tiến bộ loài người.
Tổ chức kho tài liệu nghiên cứu việc phân bổ, sắp xếp tài liệu để có thể bảo
quản, gìn giữ lâu dài và thuận tiện cho việc sử dụng. Công việc này có ý nghĩa đối
với tất cả các hoạt động của cơ quan TT-TV. Việc phân bố tài liệu, quy định trật tự
sắp xếp trong kho tài liệu được tiến hành với mục đích là để tận dụng, sử dụng đến
mức tối đa vốn tài liệu có trong thư viện, mặt khác, tổ chức kho tài liệu chính là để
phục vụ nhiệm vụ nâng cao trình độ mọi mặt của NDT, từ đó góp phần thúc đẩy sự
phát triển chung của xã hội. TV trường ĐHXD HN từ những năm trước vẫn phục
vụ bạn đọc theo mô hình kho đóng, nghĩa là bạn đọc muốn tìm kiếm tài liệu phải
thông qua thủ thư và làm thủ tục mượn. Nhưng cho đến những năm gần đây, với sự
thay đổi và phát triển mạnh mẽ của xã hội, nhất là khi vai trò của TV đã thay đổi thì
bạn đọc đã và đang sở hữu cho mình cả kho tàng tri thức của nhân loại khi bước
chân và kho mở, điều này cũng có nghĩa rằng việc phục vụ theo hình thức kho đóng

ngày nay không còn phù hợp nữa.
1.2. Trường Đại học Xây dựng Hà Nội trước yêu cầu đào tạo theo tín chỉ
1.2.1. Những vấn đề chung về tín chỉ và đào tạo theo tín chỉ
Đổi mới giáo dục đại học là yêu cầu cấp thiết của nền giáo dục Việt Nam
hiện nay, nhằm đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng, đáp ứng yêu cầu hội nhập
quốc tế. Một trong những biện pháp quan trọng là đổi mới cách dạy và học trong


18
các trường đại học, theo hướng tạo cho sinh viên chủ động hơn trong tiếp thu kiến
thức lấy tự học, tự nghiên cứu làm hoạt động quan trọng trong hoạt động học, giảng
viên thay đổi cách dạy, cách chuẩn bị bài giảng…Phương pháp đào tạo theo tín chỉ
đáp ứng được yêu cầu trên và trở thành nhiệm vụ trọng tâm của các trường đại học
nước ta hiện nay. Tuy nhiên để đào tạo theo tín chỉ, mọi hoạt động của trường đại
học phải có những thay đổi nhiều mặt, trong đó có sự thay đổi trong hoạt động TT-
TV cũng là điều tất yếu.
Tín chỉ (Credit) là đại cương đo khối lượng lao động học tập trung bình của
người học, tức là toàn bộ thời gian mà người học bình thường phải sử dụng để học
một môn học, bao gồm: 1) Thời gian học trên lớp; 2) thời gian học tập trong phòng
thí nghiệm, thực tập hoặc làm các phần việc khác đã được quy định ở đề cương môn
học; 3) thời gian dành cho việc tự học ngoài lớp như đọc sách, nghiên cứu, giải
quyết vấn đề hoặc chuẩn bị bài…Tín chỉ còn được hiểu là khối lượng kiến thức và
kỹ năng theo yêu cầu của môn học mà người học cần phải tích lũy được trong một
khoảng thời gian nhất định. Giờ tín chỉ (Credit hour) là một trong các giá trị: (a) 1
giờ học trên lớp và 2 giờ chuẩn bị bài/1 tuần; (b) 2 giờ thực hành và 1 giờ chuẩn bị
bài/1 tuần; (c) 3 giờ tự học, tự nghiên cứu/1 tuần [29].
* Đào tạo tín chỉ
Điều kiện để đào tạo theo tín chỉ, ngay trong QĐ số 31/2001 của Bộ GD&ĐT,
đã nêu, ngoài những điều kiện về chương trình đào tạo, đội ngũ giảng viên, các cơ
sở đào tạo phải có điều kiện về học liệu: “có đủ sách tham khảo, tài liệu học tập”.

Các đơn vị đào tạo có nhiệm vụ cụ thể hóa điều kiện về học liệu trong các hướng
dẫn về đào tạo theo tín chỉ của đơn vị mình.
Để thực hiện tốt cho việc đào tạo theo tín chỉ cần kết hợp giữa nhà trường,
giảng viên và người học. Sự kết hợp này được cụ thể hóa như sau:
* Đối với giảng viên:
+ Xác định các nội dung tự học và cách học cho sinh viên, các vấn đề, các câu
hỏi, bài tập, các tài liệu phải đọc, phải tìm kiếm bổ sung để sinh viên chuẩn bị lên
lớp.


19
+ Xây dưng, thu thập, phân loại, hướng dẫn sử dụng các học liệu/ tài liệu phục
vụ cho việc tự học, tự nghiên cứu của sinh viên.
+ Lựa chọn và giao nội dung các vấn đề, các yêu cầu, tài liệu tham khảo để
từng nhóm hoặc từng sinh viên chuẩn bị và trình bày. Chỉ rõ các địa chỉ mà sinh
viên có thể tìm được và hoàn thành nhiệm vụ được giao.
+ Lựa chọn và giao nội dung, các vấn đề, công việc và các yêu cầu liên quan
cho các nhóm sinh viên thực hiện, nguồn tài liệu tối thiểu…
+ Chỉ đạo và chuẩn bị các điều kiện cần thiết để sinh viên thực hành.
* Đối với sinh viên:
+ Lập kế hoạch chi tiết để thực hiện các nhiệm vụ đối với từng giờ học mà
giảng viên giao: tìm, đọc, ghi chép những tài liệu liên quan…
+ Nhận nội dung, vấn đề nghiên cứu, mở rộng, đi sâu vào bản chất, vận dụng lý
thuyết vào thực tiễn, chuẩn bị bài trình bày theo sự phân công…
+ Nhóm trưởng lên kế hoạch phân công đến từng thành viên với nhiệm vụ, thời
gian hoàn thành, nguồn tham khảo…
+ Làm bài thực hành, thực tập; viết báo cáo thực hành, thực tập…
+ Nhận và xây dựng kế hoạch chi tiết thực hiện nhiệm vụ tự học, tự nghiên cứu
mà giảng viên giao.[29] Như vậy, nguồn tài liệu học hay học liệu học là rất cần thiết
cho phương pháp đào tạo theo tín chỉ. Vấn đề là ở chỗ, các TV đại học cần phải làm

gì để đảm bảo nguồn tài liệu/ học liệu trước yêu cầu của phương pháp đổi mới đào
tạo đại học này.
1.2.2. Khái quát quá trình hình thành và phát triển của Trường
Năm 1966 trường Đại học Xây dựng Hà Nội được thành lập theo quyết định
số 144/CP ngày 8/8/1966 của Hội đồng chính phủ trên cơ sở khoa Xây dựng trường
Đại học Bách Khoa Hà Nội. Do hoàn cảnh chiến tranh nên năm 1966 trường đã đi
sơ tán nhiều nơi trên các tỉnh phía Bắc, từ Quế Võ, Gia Lương đến Hương Canh,
Vĩnh Phú. Nhờ vào “tinh thần thép” thời ấy cả thầy và trò trường Đại học Xây dựng
đã biết vượt qua mọi khó khăn, hiểm nguy luôn sẵn sàng vừa học vừa chiến đấu
đảm bảo nhiệm vụ đào tạo liên tục không bị gián đoạn, vào năm 1982 trường lại


20
chuyển về Hà Nội. Đến năm 1991 trường ĐHXD HN tập trung toàn bộ cơ sở vật
chất về địa điểm chính thức - Số 55 đường Giải Phóng, quận Hai Bà Trưng – Thành
phố Hà Nội. [8]
Từ những ngày đầu, cơ sở vật chất thiếu thốn về mọi mặt, cho đến nay đã trở
thành trường ĐHXD HN - một khu liên hoàn nhà nhiều tầng - Trung tâm đào tạo
cán bộ Khoa học Kỹ thuật có trình độ đại học và trên đại học với cơ sở, trang thiết
bị ngày một khang trang với nhiều giảng đường, nhà thí nghiệm, thư viện, kí túc xá
cao tầng, thiết bị dạy và học không ngừng được đổi mới đáp ứng yêu cầu nâng cao
chất lượng và mở rộng quy mô là cả một quá trình phấn đấu không ngừng của tập
thể cán bộ và các thế hệ sinh viên trong toàn trường. Nhằm đảm bảo cho các hoạt
động đào tạo và NCKH, nhà trường luôn chú trọng tăng cường cơ sở vật chất, chú
trọng việc mở rộng hợp tác trong nước, tìm hiểu nhu cầu đào tạo sau ĐH của các cơ
sở, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế với các trường đại học, viện của các nước
Pháp, Đức, Hà lan, Úc, Bỉ, Nga, Trung Quốc, Nhật, Thái Lan…
Để ghi nhận những thành tích, công lao đóng góp to lớn của cán bộ, sinh
viên trong quá trình xây dựng và phát triển của trường ĐHXD HN, Đảng và Nhà
nước đã trao tặng nhiều phần thưởng cao quý cho tập thể và cá nhân trong trường:

+ Huân chương Hồ Chí Minh, ba Huân chương Độc lâp (hạng Nhất, Nhì,
Ba), ba Huân chương Lao động, hai Huân chương Chiến công.
+ 50 Huân chương Lao động (hạng Nhất, Nhì, Ba) và hàng trăm bằng khen
của các Bộ, Tỉnh và Thành phố cho tập thể Khoa, Bộ môn và các cá nhân.
+ Gần 500 Huân, Huy chương kháng chiến chống Mỹ, trên 400 Huy chương
“Vì sự nghiệp giáo dục” cho các cán bộ trong trường.
+ Bộ môn Đường ô tô và đường thành phố được Nhà nước phong tặng danh
hiệu “Đơn vị Anh hùng” cùng nhiều phần thưởng cao quý khác.
1.2.3. Chức năng và nhiệm vụ của Trường Đại học Xây dựng Hà Nội
Chức năng và nhiệm vụ cơ bản của Trường ĐHXD HN trong giai đoạn đổi
mới giáo dục của Nhà trường là: Làm nòng cốt trong việc đào tạo, bồi dưỡng, nâng
cao trình độ cán bộ, xây dựng chương trình đào tạo, biên soạn giáo trình, mở rộng


21
hợp tác, liên kết đào tạo với các trường đào tạo trong và ngoài nước. Tổ chức triển
khai nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ
thuật vào triển khai các đề án, các quy trình công nghệ và sản xuất kinh doanh.
1.2.4. Yêu cầu của Nhà trường trong việc đào tạo theo tín chỉ
Trong những năm gần đây nền kinh tế xã hội của chúng ta đã có nhiều
chuyển biến sâu sắc. Nhu cầu cán bộ khoa học kỹ thuật trong những năm tới sẽ rất
lớn và đa dạng. Trong bối cảnh đó, để đáp ứng những nhu cầu mới của sự phát triển
đất nước, để thực hiện nghị quyết Trung ương II khóa VIII về giáo dục và đào tạo
và Nghị quyết 14/2005/NQ-CP của chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo
dục Đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020, trong đó có đoạn ghi: “ Xây dựng và
thực hiện lộ trình chuyển sang chế độ đào tạo theo hệ thống tín chỉ, tạo điều kiện
thuận lợi để người học tích luỹ kiến thức, chuyển đổi ngành nghề, liên thông,
chuyển tiếp tới các cấp học tiếp theo trong nước và ở nước ngoài”.
Năm 1993, khi Vụ Đại học Bộ Giáo dục và Đào tạo đề xuất đưa học chế tín
chỉ vào các trường đại học nước ta, nhiều người còn ngỡ ngàng và không mấy

trường đại học hưởng ứng, ngay khi đó ở miền Bắc, Trường ĐHXD HN đã là
trường đi đầu trong phương thức đào tạo mới này. Thế mà ngày nay, chẳng những ở
nước ta mà nhiều nơi trên thế giới, người ta nói nhiều về học chế tín chỉ và đang cố
gắng đưa học chế tín chỉ vào nhiều trường đại học. Đặc trưng của Hệ tín chỉ áp
dụng ở trường ĐHXD HN:
 Hệ tín chỉ cho phép sinh viên đạt được văn bằng đại học thông qua việc tích
lũy các kiến thức khác nhau do bằng một đơn vị xác định gọi là tín chỉ (Credit).
 Một TC được quy định tương đương 15 tiết lý thuyết, 30 ÷ 45 tiết thảo luận
trên lớp, bài tập, thí nghiệm, 45÷60 tiết bài tập lớn, chuẩn bị tiểu luận hoặc đồ án tốt
nghiệp, 45÷90 tiết giờ thực tập tại cơ sở. Ở trường ĐHXD HN, để được cấp bằng kĩ
sư hay kiến trúc sư SV phải tích lũy 178 đến 182 TC tùy thuộc vào ngành đào tạo.
 Khi tổ chức giảng dạy theo TC, đầu mỗi học kỳ sinh viên được đăng ký các
môn học thích hợp với năng lực và hoàn cảnh của mình, đồng thời phù hợp với quy
định chung nhằm đạt được kiến thức theo một ngành chuyên môn chính nào đó.


22
Nhà trường lựa chọn Cố vấn học tập trong số các CBGD có kinh nghiệm, hiểu biết
sâu sắc về chương trình đào tạo của nhóm ngành và ngành liên quan, có tinh thần
trách nhiệm và tận tụy với sinh viên. Một cố vấn học tập sẽ có trách nhiệm quản lý
một số lượng sinh viên nhất định khoảng 100 sinh viên.
Trong TC một năm ở trường ĐHXD HN được chia thành 3 học kỳ, gồm 2
học kỳ chính và một học kỳ phụ (hè). Một học kỳ chính kéo dài 22 tuần (trong đó
có 5 tuần thi) và một học kỳ phụ có 5 tuần (trong đó có một tuần thi). Học kỳ phụ
được mở nhằm tạo điều kiện cho sinh viên đuổi kịp tiến trình học tập khi chưa đạt
môn học nào đó, học học vượt để hoàn tất nhanh chương trình đào tạo. Số TC đăng
kí trong học kì phụ không vượt quá 8 TC. Học kỳ phụ sẽ được mở khi sinh viên có
yêu cầu và nhà trường có khả năng đáp ứng được yêu cầu đó. Trong mỗi học kì
chính sinh viên có quyền đăng kí học từ 21 đến 36 TC. Như vậy, mỗi khóa học
được quy định thành số học kỳ chính hoặc số TC mà sinh viên phải hoàn tất để đạt

một văn bằng. Do đó, khái niệm năm học sẽ không hoàn toàn mang ý nghĩa như
trước đây. Việc học tập giảng dạy sẽ được tiến hành liên tục trong năm.
Việc đánh giá kết quả học tập ở trường ĐHXD HN sẽ được thực hiện theo
cùng một nguyên tắc như ở các trường đại học khác trong khu vực và trên thế giới.
Sinh viên sẽ được đánh giá thường xuyên: trong quá trình học tập và thi cuối học
kỳ. Theo nguyên tắc chung các điểm thành phần của phần học được cho theo thang
điểm 10. Điểm học phần được tổ chức từ các điểm thành phần. Với mục tiêu trên,
chương trình đào tạo cấp kỹ sư ở trường ĐHXD HN đã được cấu tạo lại bao gồm
hai khối kiến thức: Kiến thức giáo dục đại cương, kiến thức giáo dục chuyên
nghiệp.
Kiến thức giáo dục chuyên nghiệp (chiếm 67% chương trình đào tạo), bao
gồm các kiến thức cơ sở ngành (35% chương trình đào tạo) và chuyên ngành (32%
chương trình đào tạo). Trong khối kiến thức cơ sở ngành có khoảng 70% là kiến
thức liên ngành. Trong khối kiến thức chuyên ngành, các môn học được xắp xếp
theo các nhóm (chuyên ngành) khác nhau. Sinh viên có thể lựa chọn theo học một


23
chuyên môn sâu thuộc ngành học của mình (theo hướng dẫn của trường) trước khi
ra trường. [9]
Chuyên ngành
32%
Kiến thức cơ sở
ngành
35%
Kiến thức giáo
dục đại cương
33%
Hình 1.1: Tỷ trọng các khối kiến thức trong chương trình đào tạo
Từ nhận thức sâu sắc về đổi mới phương pháp đào tạo trên, đây cũng là một

trong những mục tiêu phát triển mang tính chiến lược của trường ĐHXD HN. Cho
đến nay, với nỗ lực đổi mới không ngừng về chất lượng đào tạo, Nhà trường đã và
luôn đi đầu trong phương thức đào tạo mới, đến nay trường đã đạt được một số
những thành công đáng kể trong sự nghiệp trồng người.
1.2.5. Đội ngũ cán bộ và cơ cấu tổ chức của Nhà trường
Tính đến nay, trường ĐHXD HN đã có một đội ngũ gồm 890 giảng viên và
các cán bộ khoa học đồng bộ, vững vàng về chuyên môn và tâm huyết với nghề
nghiệp. Trong 653 cán bộ giảng dạy có 02 Giáo sư, 67 Phó giáo sư, 202 Giảng viên
chính, 150 Tiến sỹ, 370 Thạc sỹ, 02 Nhà giáo nhân dân, 55 Nhà giáo ưu tú. Ngoài ra
có 78 nhà giáo đã nghỉ hưu nhưng vẫn ký hợp đồng tiếp tục giảng dạy cho trường.
Cơ cấu của trường ĐHXD HN khá lớn. Dưới Ban Giám hiệu có khối hiệu bộ
gồm nhiều phòng ban chức năng, phục vụ cho công tác quản lý, đào tạo và NCKH
của trường. Bên cạnh bộ phận chịu trách nhiệm quản lý chung, Trường còn có bộ
phận đào tạo và huấn luyện, thực hiện nhiệm vụ chính là giảng dạy và đào tạo
chuyên ngành. Bộ phận này bao gồm 11 khoa, 2 Bộ môn, 2 viện cùng với các công
ty và các trung tâm NCKH-CN.[9]


24


















HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
ĐÀO TẠO TRƯỜNG
Phòng tổ chức cán bộ
Công ty tư vấn Đại học
Xây dựng
Phòng Hợp tác Quốc tế

Phòng đào tạo
Phòng công tác sinh viên
Phòng khảo thí & KĐCL
Phòng khoa học công nghệ
Phòng đào tạo sau đại học
Ban Đào tạo KSCLC
TT đào tạo thường xuyên
MÔ HÌNH QUẢN LÝ CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG
Hội đồng Khoa học
Khoa, Viện

Các
Khoa
(Viện)
Bộ
môn
trực

thuộc
Phòng HCTH - CTCT
Phòng tài vụ

Phòng quản trị thiết bị

Phòng thư viện

Phòng bảo vệ
Trạm y tế
BQL các DA
Phòng thanh tra

BAN GIÁM HIỆU
- Các bộ môn
- Phòng thí nghiệm
- Xưởng thực nghiện

Các
Trung
tâm
Khoa
học
công
nghệ
HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
ĐÀO TẠO TRƯỜNG

Phòng đào tạo


Phòng công tác sinh viên

Phòng khảo thí & KĐCL

Phòng khoa học công nghệ

Phòng đào tạo sau đại học

Ban Đào tạo KSCLC

TT đào tạo thường xuyên

Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức của trường Đại học Xây Dựng Hà Nội


22
Nhà trường đã kết hợp vốn nhà nước với vốn tự có do hoạt động nghiên cứu
khoa học và giảng dạy để xây dựng một số công trình vĩnh cửu phục vụ cho công
tác đào tạo và NCKH như: Nhà làm việc A1 (5 tầng, 540m
2
), nhà học H1 (5 tầng,
787m
2
), Nhà học H2 (5 tầng, 6000m
2
), nhà luyện tập và thi đấu thể thao (1300m
2
),
Trung tâm Môi trường (824m
2

), Ký túc xá sinh viên (5340m
2
), nhà thư viện (5
tầng, 3000m
2
) và đã xây dựng mới nhà thí nghiệm 9 tầng. Trường có 18 phòng thí
nghiệm trong đó có 5 phòng thí nghiệm chuyên đề, 1 xưởng cơ khí, 1 Trung tâm
Tin học phục vụ cho công tác đào tạo.
Để nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả đào tạo, hiện nay trường đã xây
dựng đào tạo rộng có tính chất nhóm ngành, liên ngành và tạo điều kiện dễ dàng
cho người đọc chuyển đổi ngành nghề, tăng tính thích ứng với thực tiễn. Để thực
hiện tốt việc này Trường đang thực hiện hàng loạt việc cải tiến cơ cấu nội dung
chương trình đào tạo cũng như cải tiến cách dạy và học.
1.3. Thư viện trước yêu cầu đào tạo theo tín chỉ tại Trường
Việc chuyển đổi từ niên chế sang tín chỉ ở các trường đại học ở nước ta hiện
nay đã trở thành một vấn đề cấp bách, đòi hỏi sự chuyển biến toàn diện, từ việc thiết
kế lại chương trình, giáo trình, đến việc thay đổi cách thức quản lý đào tạo, hoàn
thiện cơ sở vật chất phục vụ học tập trong các chương trình đào tạo. Một trong
những yếu tố có ảnh hưởng lớn đến chất lượng đào tạo theo học chế tín chỉ là hiệu
quả hoạt động phục vụ thông tin tài liệu trong nhà trường. Nhiệm vụ của thư viện
trong các trường đại học sẽ ngày càng lớn hơn vì trong quá trình đào tạo khi chuyển
đổi sang học chế tín chỉ, giảng viên và sinh viên cần chủ động hơn trong nghiên cứu
và học tập, phải tự học, tự nghiên cứu là chính dưới sự hướng dẫn của thầy. Vì vậy,
thư viện trường có ý nghĩa quan trọng là giảng đường thứ hai của người học để
cung cấp tài liệu cho người dùng tin.
Để Thư viện trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực cho quá trình học tập của toàn
thể sinh viên, học viên và hoạt động giảng dạy nghiên cứu của đội ngũ cán bộ,
giảng viên của Nhà trường trong quá trình đào tạo tín chỉ cần đảm bảo những yêu
cầu sau:

×