Tải bản đầy đủ (.pdf) (20 trang)

Hoàn thiện hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông tt.PDF

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (751.15 KB, 20 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***





TRẦN THỊ NGỌC DIỆP









HOÀN THIỆN HỆ THỐNG SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ
THÔNG TIN – THƯ VIỆN
TẠI HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG





LUẬN VĂN THẠC SỸ THÔNG TIN – THƯ VIỆN









Hà Nội – 2011

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***




TRẦN THỊ NGỌC DIỆP






HOÀN THIỆN HỆ THỐNG SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ
THÔNG TIN – THƯ VIỆN
TẠI HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG



Chuyên ngành Khoa học Thư viện
Mã số: 60 32 20




LUẬN VĂN THẠC SỸ THÔNG TIN – THƯ VIỆN



Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS TRẦN THỊ QUÝ




Hà Nội – 2011
2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 8
1. Tính cấp thiết của đề tài 8
2. Tình hình nghiên cứu 9
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 10
3.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài 10
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 11
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài 11
4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 11
5. Phương pháp nghiên cứu 12
5.1 Phương pháp luận 12
5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 12
6. Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài 12
6.1 Về mặt khoa học 12
6.2 Về mặt ứng dụng 12

7. Cấu trúc của luận văn 13
CHƯƠNG 1: HỆ THỐNG SẢN PHẨM & DỊCH VỤ THÔNG TIN – THƯ VIỆN
VỚI SỨ MỆNH CỦA HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG 14
1.1. Những vấn đề lý luận chung về sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện 14
1.1.1. Nội hàm khái niệm sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện 14
1.1.2. Tiêu chí đánh giá chất lượng sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện 18
1.1.3. Yêu cầu đối với sản phẩm và dịch vụ thông tin 21
1.1.4. Mối quan hệ giữa sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện 26
1.2. Sứ mệnh và cơ cấu tổ chức của Học viện 28
3

1.2.1. Sơ lược lịch sử ra đời và phát triển của Học viện 28
1.2.2. Chức năng, nhiệm vụ của Học viện 29
1.2.3. Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ của Học viện 29
1.3. Trung tâm Thông tin – Thư viện với sứ mệnh của Học viện 31
1.3.1. Sự hình thành và phát triển Trung tâm Thông tin – Thư viện 31
1.3.2. Chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm 32
1.3.3. Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ của Trung tâm 34
1.4. Đặc điểm nguồn lực thông tin của Trung tâm 36
1.5. Đặc điểm nhu cầu tin của người dùng tin tại Trung tâm 38
1.5.1. Đặc điểm người dùng tin của Trung tâm 38
1.5.2. Đặc điểm nhu cầu tin của người dùng tin tại Trung tâm 41
1.6. Vai trò sản phẩm và dịch vụ thông tin đối với hoạt động của Học viện 45
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÁC LOẠI HÌNH SẢN PHẨM & DỊCH VỤ TẠI
TRUNG TÂM THÔNG TIN – THƯ VIỆN HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH
VIỄN THÔNG 49
2.1 Các loại hình sản phẩm thông tin – thư viện của Trung tâm 49
2.1.1. Các loại hình sản phẩm thông tin – thư viện truyền thống 49
2.1.2 Các loại hình sản phẩm thông tin – thư viện hiện đại 55
2.2 Các loại hình dịch vụ thông tin – thư viện của Trung tâm 74

2.2.1. Các loại hình dịch vụ thông tin – thư viện truyền thống 74
2.2.2. Các loại hình dịch vụ thông tin – thư viện hiện đại 85
2.3 Công tác tạo dựng sản phẩm và tổ chức dịch vụ thông tin – thư viện 87
2.3.1 Công tác tạo dựng sản phẩm thông tin – thư viện 87
2.3.2 Công tác tổ chức dịch vụ thông tin – thư viện 88
2.4 Các yếu tố tác động đến việc tổ chức các sản phẩm & dịch vụ thông tin 89
2.4.1 Nguồn nhân lực 89
4

2.4.2 Trang thiết bị, hạ tầng công nghệ thông tin 91
2.4.3 Chuẩn biên mục 92
2.4.4 Khung phân loại 97
2.4.5 Phần mềm thư viện 101
2.5 Chất lượng các sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện của Trung tâm 104
2.5.1 Chất lượng các sản phẩm thông tin 104
2.5.2 Chất lượng dịch vụ thông tin 107
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT & GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG
CÁC SẢN PHẨM & DỊCH VỤ THÔNG TIN – THƯ VIỆN TẠI TRUNG TÂM 111
3.1. Một số nhận xét 111
3.1.1. Ưu điểm 111
3.1.2. Hạn chế 112
3.1.3. Nguyên nhân của những tồn tại 115
3.2 Giải pháp hoàn thiện sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện tại Trung tâm
116
3.2.1. Nâng cao chất lượng sản phẩm thông tin – thư viện hiện có 117
3.2.2. Nâng cao chất lượng dịch vụ thông tin – thư viện hiện có 120
3.2.3. Đa dạng hóa các loại hình sản phẩm và dịch vụ thông tin 121
3.2.4. Tăng cường nguồn lực thông tin 129
3.2.5. Tăng cường đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin và cơ sở vật chất 131
3.2.6. Nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ và đào tạo người dùng tin 132

3.2.7. Tổ chức quảng bá các sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện 137
KẾT LUẬN 138
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 140

1

MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học & công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin
(CNTT) và truyền thông trong thập kỷ gần đây đã đưa thế giới từ kỷ nguyên công nghiệp sang kỷ nguyên
thông tin và phát triển tri thức. Thế giới ngày nay đang chứng kiến những thay đổi lớn lao và nhiều điều kỳ
diệu do CNTT và truyền thông mang lại. Thông tin và truyền thông đã thực sự trở thành nguồn động lực đối
với sự phát triển của mỗi quốc gia và ngày càng tỏ rõ là nhân tố quyết định khả năng của một nước vươn tới
mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội nhanh hơn. Trước thực tế đó, hoạt động thông tin – thư viện (TT - TV)
đang có những bước chuyển biến mạnh mẽ nhằm đáp ứng kịp thời các nhu cầu thông tin và tri thức ngày
càng cao của xã hội, trong đó có lĩnh vực giáo dục và đào tạo.
Trong hoạt động thông tin, hệ thống các sản phẩm và dịch vụ đóng vai trò quyết định. Sản phẩm và
dịch vụ thông tin – thư viện là một hệ thống động, luôn phát triển và biến đổi. Đây chính là kết quả của quy
trình xử lý, bao gói thông tin, là cầu nối giữa giá trị của nguồn lực thông tin với NDT. Thông qua hệ thống
các sản phẩm và dịch vụ, các cơ quan thông tin, thư viện có thể khẳng định được vai trò cũng như vị trí của
mình trong xã hội. Bên cạnh đó, nhu cầu giao lưu, hội nhập và hợp tác giữa các thư viện trong và ngoài nước
đòi hỏi các trung tâm thông tin - thư viện cần cung cấp những sản phẩm và dịch vụ với chất lượng ngày càng
cao, chính xác và kịp thời tới người dùng tin (NDT).
Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông (sau đây gọi tắt là Học viện) là đơn vị thành viên trực
thuộc Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam, lấy nguyên tắc gắn kết giữa nghiên cứu - đào tạo - sản xuất
kinh doanh làm nền tảng hướng tới mục tiêu đào tạo ra những chủ nhân tương lai của nền kinh tế tri thức và
tạo ra những sản phẩm chất lượng cao cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Việt Nam. Trước sự phát
triển nhanh chóng và biến đổi không ngừng của xã hội thông tin, việc đảm bảo thông tin phục vụ NDT đã
được Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông chú trọng. Với mục tiêu tăng cường chất lượng giáo dục
đào tạo và nghiên cứu khoa học và đáp ứng nhu cầu thông tin trong lĩnh vực Bưu chính Viễn thông nói

chung và tại Học viện Công nghệ Bưu chính nói riêng, việc tạo dựng các sản phẩm và dịch vụ thông tin đã
và đang được quan tâm đầu tư xây dựng, phát triển song còn nhiều bất cập như: sự đa dạng, phong phú về
hình thức và nội dung các sản phẩm và dịch vụ tại Trung tâm, chưa xây dựng được các cơ sở dữ liệu, chưa
ứng dụng marketing cho các sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện Để khắc phục những hạn chế đó cần
có sự nhìn nhận khách quan về thực trạng đồng thời đưa ra các giải pháp hoàn thiện và phát triển hệ thống
sản phẩm và dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu tin ngày càng cao của NDT cũng như nâng cao hiệu quả hoạt
động của Trung tâm Thông tin – Thư viện Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông là vấn đề cần thiết.
Từ thực tế trên cho thấy việc nghiên cứu đề tài: “Hoàn thiện hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông
tin – thư viện tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông” là một vấn đề quan trọng và vô cùng cấp
thiết, góp phần vào việc tạo lập, tổ chức, phát triển và đa dạng hóa hệ thống sản phẩm và dịch vụ TT - TV
nhằm đáp ứng kịp thời, chính xác và có hiệu quả nhu cầu tin cho NDT trong lĩnh vực Bưu chính Viễn thông
nói chung và tại Học viện nói riêng.
2

Tình hình nghiên cứu
Trong bất cứ thư viện hay cơ quan thông tin nào thì hệ thống sản phẩm và dịch vụ luôn đóng vai trò
quan trọng và quyết định đến hiệu quả hoạt động của chính thư viện và cơ quan thông tin đó.
Về vấn đề sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện đã được nhiều tác giả quan tâm và nghiên cứu
như: Đề tài “Sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện tại Trung tâm Thông tin – Thư viện và nghiên cứu
khoa học Văn phòng Quốc hội” của Trịnh Giáng Hương, bảo vệ năm 2006; đề tài “Nghiên cứu hoàn thiện hệ
thống sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện của Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Quốc gia Hà
Nội” của Phạm Thị Yên, bảo vệ năm 2005; đề tài “Nghiên cứu và hoàn thiện các sản phẩm thông tin của
Trung tâm thông tin và dự báo kinh tế - xã hội Quốc gia” của Nguyễn Thị Hồng, bảo vệ năm 2005…
Các công trình nghiên cứu nêu trên đều đề cập tới vấn đề về sản phẩm và dịch vụ TT – TV mang
tính đặc thù của một số địa bàn cụ thể, với những đặc điểm riêng biệt. Ngoài ra có một số đề tài nghiên cứu
có đề cập tới hoạt động thông tin – thư viện tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông như:
- “Nghiên cứu khung phân loại thập phân dewey 14 rút gọn và triển khai ứng dụng tại thư viện cơ
sở đào tạo Hà Đông – Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông” của Trần Kim Quế, bảo vệ
năm 2007.
- “Nghiên cứu phần mềm mã nguồn mở Greenstone và ứng dụng tại Trung tâm Thông tin – Thư

viện Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông” của Thạc sỹ Nguyễn Tài Tuyên, bảo vệ năm
2007.
- “Nghiên cứu quy tắc biên mục Anh Mỹ AACR2 và triển khai ứng dụng tại thư viện cơ sở đào
tạo Hà Đông – Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông” của Bùi Thị Minh Huệ, bảo vệ năm
2008.
- “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thông tin – thư viện tại
Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông” của Thạc sỹ Nguyễn Văn Hành, bảo vệ năm 2009.
Tuy nhiên, những đề tài trên cũng mới chỉ giải quyết một số khía cạnh trong hoạt động chuyên môn
nghiệp vụ tại Trung tâm Thông tin – Thư viện tại Học viện. Nhìn chung, chưa có đề tài nào đề cập trực tiếp
và đi sâu nghiên cứu về các sản phẩm và dịch vụ của Trung tâm Thông tin – Thư viện Học viện Công nghệ
Bưu chính Viễn thông. Chính vì vậy, đề tài nghiên cứu của tôi là đề tài hoàn toàn mới so với các công trình
nghiên cứu trước đây.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài
Tìm hiểu thực trạng và đánh giá hệ thống sản phẩm và dịch vụ TT - TV hiện có tại Học viện Công
nghệ Bưu chính Viễn thông. Từ đó đưa ra một số kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng và
hoàn thiện các sản phẩm và dịch vụ TT - TV tại Học viện đáp ứng mục đích chính trị là đào tạo và nghiên
cứu khoa học của Học viện.
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Để đạt được mục đích nghiên cứu của đề tài, tác giả đã xác định một số nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể
sau:
3

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài.
- Nghiên cứu khái quát lịch sử ra đời và phát triển của Học viện.
- Tìm hiểu chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm Thông tin – Thư viện của Học viện.
- Nghiên cứu đặc điểm nhu cầu tin của NDT tại Học viện.
- Nghiên cứu thực trạng các sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện của Học viện.
- Đánh giá chất lượng hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện tại Học viện.
- Đưa ra kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư

viện tại Học viện.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện tại Trung tâm
Thông tin – Thư viện Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Về không gian: Hệ thống các sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện tại Trung tâm Thông tin –
Thư viện Học viện Bưu chính Viễn thông cơ sở Hà Đông
Về thời gian: Nghiên cứu hệ thống các sản phẩm và dịch vụ tại Trung tâm Thông tin – Thư viện Học
viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông trong giai đoạn hiện nay.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận
Đề tài được triển khai nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
quán triệt quan điểm của Đảng và Nhà nước, tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác sách báo, TT - TV.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Phương pháp thu thập tổng hợp, phân tích tài liệu,
- Phương pháp quan sát, điều tra thực tế,
- Phương pháp thống kê,
- Phương pháp trao đổi mạn đàm, phỏng vấn trực tiếp với cán bộ và sinh viên tại Trung tâm.
Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài
Về mặt khoa học
Đề tài góp phần hoàn thiện những vấn đề lý luận về sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện nói
chung.
4

Về mặt ứng dụng
Kết quả nghiên cứu của luận văn là tài liệu tham khảo cho cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý Trung
tâm TT - TV vận dụng vào việc hoàn thiện và phát triển hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện
nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, đáp ứng nhu cầu tin ngày càng cao của NDT tại Học viện CNBCVT.
Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần lời nói đầu, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện với sứ mệnh của Học viện Công nghệ
Bưu chính Viễn thông.
Chương 2: Thực trạng các sản phẩm và dịch vụ tại Trung tâm Thông tin – Thư viện Học viện Công
nghệ Bưu chính Viễn thông.
Chương 3: Một số nhận xét và giải pháp hoàn thiện hệ thống các sản phẩm và dịch vụ TT – TV Học
viện CNBCVT.

CHƯƠNG 1
HỆ THỐNG SẢN PHẨM & DỊCH VỤ THÔNG TIN – THƯ VIỆN
VỚI SỨ MỆNH CỦA HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
1.1. Những vấn đề lý luận chung về sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện
1.1.1. Nội hàm khái niệm sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện
 Khái niệm sản phẩm thông tin – thư viện
Trong lĩnh vực hoạt động TT – TV cũng có sản phẩm TT – TV. “Sản phẩm TT – TV là kết quả của
quá trình xử lý thông tin, do một cá nhân/ tập thể nào đó thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu người dùng tin”
[17, tr.20]
 Khái niệm dịch vụ thông tin – thư viện
Trong hoạt động TT – TV cũng có những hình thức dịch vụ TT – TV tương ứng. “Dịch vụ TT – TV
bao gồm những hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu thông tin và trao đổi thông tin của người sử dụng các cơ
quan TT – TV nói chung” [17, tr.24].
Luận văn nêu lên những thuộc tính đặc trưng của dịch vụ TT – TV: tính vô hình, tính không xác
định, tính không thể tách rời/chia cắt,
 Khái niệm hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện
Hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện bao gồm tất cả các phần tử có quan hệ ràng
buộc, tương tác lẫn nhau mà các thư viện, các cơ quan thông tin có thể cung cấp đến người dùng tin nhằm
đáp ứng nhu cầu tin của họ.
5

1.1.2. Tiêu chí đánh giá chất lượng sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện

Đánh giá chất lượng và hiệu quả sử dụng hệ thống các sản phẩm và dịch vụ TT - TV là quá trình thu
thập, lựa chọn và phân tích thông tin về các sản phẩm và dịch vụ nhằm đưa ra những nhận định đúng đắn về
các sản phẩm và dịch vụ đó.
Mục đích của việc đánh giá sản phẩm và dịch vụ TT – TV là giúp cơ quan TT – TV phân tích được
những điểm mạnh và hạn chế mà sản phẩm và dịch vụ TT – TV mang lại cho NDT, từ đó đưa ra những nhận
định thiết thực về sản phẩm và dịch vụ đó.
Một số tiêu chí đánh giá: Chất lượng của sản phẩm được cung cấp qua dịch vụ, tính kịp thời, tính
thuận tiện và thân thiện trong việc khai thác, sử dụng các sản phẩm và dịch vụ từ phía NDT, chi phí thực
hiện, mức độ chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ, tính hiệu quả, hiệu quả chi phí, lợi ích chi phí
1.1.3. Yêu cầu đối với sản phẩm và dịch vụ thông tin
 Yêu cầu đối với sản phẩm TT – TV
Cũng như các sản phẩm khác, sản phẩm TT – TV trong quá trình tồn tại và phát triển của mình cần
không ngừng được hoàn thiện để tạo được sự thích ứng với nhu cầu của người sử dụng cả về nội dung và
hình thức. Như vậy, sản phẩm TT – TV phải đảm bảo được các yêu cầu sau:
- Mức độ bao quát nguồn tin
- Chất lượng các đơn vị của sản phẩm TT – TV
- Tính kịp thời, chính xác, khách quan
- Khả năng cập nhật và tìm kiếm thông tin
- Mức độ thân thiện với NDT
 Yêu cầu đối với dịch vụ TT – TV
Cũng như sản phẩm TT – TV, dịch vụ TT – TV cũng có những yêu cầu cơ bản để đánh giá: thời
gian thực hiện dịch vụ, chất lượng, chi phí thực hiện dịch vụ và tính kịp thời, thuận tiện của dịch vụ
1.1.4. Mối quan hệ giữa sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện
Sản phẩm và dịch vụ TT – TV được tạo ra nhằm khai thác, tìm kiếm thông tin cũng như được tiến
hành hoạt động để thỏa mãn nhu cầu của NDT. Sản phẩm và dịch vụ TT – TV có mối liên hệ hết sức chặt
chẽ với nhau, hỗ trợ nhau cùng phát triển.
Mối liên hệ giữa các loại sản phẩm và dịch vụ TT – TV là hết sức chặt chẽ, ảnh hưởng, tác động, hỗ
trợ nhau và nhiều khi không thể tách rời để tạo nên một hệ thống toàn diện, một quá trình liên hoàn mà mục
đích cao nhất là thỏa mãn và đáp ứng được nhu cầu tìm kiếm, khai thác và sử dụng thông tin của NDT. Có
thể nói, mỗi sản phẩm TT – TV được ra đời đều cần thiết có một hoặc một số dịch vụ TT - TV cụ thể để giúp

NDT tiếp cận và sử dụng sản phẩm đó hiệu quả nhất. Mối quan hệ giữa sản phẩm và dịch vụ TT – TV có
tính liên kết chặt chẽ và tương tác cao như vậy nên vấn đề hoàn thiện, phát triển sản phẩm TT – TV phải
luôn đi liền với việc tổ chức, đảm bảo sự phát triển cân đối, đồng bộ dịch vụ TT – TV phù hợp.
6

1.2. Sứ mệnh và cơ cấu tổ chức của Học viện
1.2.1. Sơ lược lịch sử ra đời và phát triển của Học viện
1.2.2. Chức năng, nhiệm vụ của Học viện
 Chức năng của Học viện
 Nhiệm vụ của Học viện
1.2.3. Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ của Học viện
 Cơ cấu tổ chức
 Đội ngũ cán bộ của Học viện
1.3. Trung tâm Thông tin – Thư viện với sứ mệnh của Học viện
1.3.1. Sự hình thành và phát triển Trung tâm Thông tin – Thư viện
1.3.2. Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ của Trung tâm
1.4. Đặc điểm nguồn lực thông tin của Trung tâm
Vốn tài liệu là tiền đề cho mọi hoạt động cũng là cơ sở quan trọng để đánh giá hiệu quả và chất
lượng hoạt động của thư viện. Đặc điểm nguồn lực thông tin của Trung tâm được thể hiện trong luận văn từ
trang 36 đến trang 38.
1.5. Đặc điểm nhu cầu tin của người dùng tin tại Trung tâm
Phần này được trình bày từ trang 28 đến trang 45 của luận văn có các nội dung sau:
1.5.1. Đặc điểm người dùng tin của Trung tâm
 Cán bộ lãnh đạo quản lý
 Giảng viên và cán bộ nghiên cứu
 Nhóm học viên cao học và sinh viên
1.5.2. Đặc điểm nhu cầu tin của người dùng tin tại Trung tâm
 Nhu cầu tin theo các lĩnh vực chuyên môn
 Nhu cầu tin theo ngôn ngữ tài liệu:
 Nhu cầu tin theo dạng tài liệu

 Nhu cầu tin theo thời gian xuất bản tài liệu
1.6. Vai trò sản phẩm và dịch vụ thông tin đối với hoạt động của Học viện
Chất lượng của hệ thống sản phẩm và dịch vụ TT – TV là những tiêu chuẩn phản ánh năng lực,
khẳng định vị thế của Trung tâm và được xem là thước đo hiệu quả hoạt động TT – TV; là yếu tố cụ thể hóa
chức năng, nhiệm vụ của thư viện. Thông qua hệ thống sản phẩm và dịch vụ TT – TV có thể xác định được
mức độ đóng góp của hoạt động TT – TV đối với công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước nói chung cũng
như các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, an ninh quốc phòng…của địa phương nói riêng. Qua
việc sử dụng hệ thống sản phẩm và dịch vụ TT – TV, NDT sẽ lựa chọn, khai thác được nguồn thông tin thích
7

hợp nhằm thỏa mãn nhu cầu về TT, nhu cầu về tài liệu. Hơn thế nữa, sản phẩm và dịch vụ TT – TV là cầu
nối giữa cơ quan TT – TV và NDT.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CÁC LOẠI HÌNH SẢN PHẨM & DỊCH VỤ
TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN – THƯ VIỆN
HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
2.1 Các loại hình sản phẩm thông tin – thư viện của Trung tâm
Nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu tin của NDT trong việc học tập, nghiên cứu, giảng dạy, Trung tâm TT
– TV Học viện tại cơ sở Hà Đông đã chú trọng đầu tư phát triển cả loại hình sản phẩm Thông tin – Thư viện
truyền thống và hiện đại.
2.1.1. Các loại hình sản phẩm thông tin – thư viện truyền thống
 Hệ thống mục lục truyền thống
Hiện nay, Trung tâm đã tổ chức một hệ thống mục lục phù hợp với kho tài liệu của Trung tâm, bao
gồm:
- Mục lục chữ cái
- Mục lục phân loại
Luận văn đề cập chi tiết tới thực trạng MLPL của Trung tâm từ trang 50 đến trang 52.
 Hệ thống thư mục:
Xuất phát từ nội dung của vốn tài liệu, đặc điểm NDT và nhu cầu tin trong Học viện CNBCVT,
Trung tâm TT – TV đã biên soạn và xuất bản các loại thư mục sau:

 Thư mục giới thiệu sách mới:
 Thư mục tóm tắt luận án, luận văn sau Đại học:
 Các ấn phẩm thông tin
2.1.2 Các loại hình sản phẩm thông tin – thư viện hiện đại
 Cơ sở dữ liệu
Hiện nay, có thể chia CSDL của Trung tâm gồm 2 loại chính: CSDL do Trung tâm xây dựng và
CSDL từ bên ngoài
 CSDL do Trung tâm xây dựng (bao gồm CSDL thư mục, CSDL bài giảng điện tử, Bộ sưu
tập số và CSDL quản lý bạn đọc)
 CSDL thư mục
 CSDL bài giảng điện tử
 Bộ sưu tập số
 CSDL quản lý bạn đọc
 CSDL từ bên ngoài:
 Mục lục truy cập công cộng trực tuyến (OPAC)
 Bản tin điện tử:
8

 Trang chủ:
2.2 Các loại hình dịch vụ thông tin – thư viện của Trung tâm
Trung tâm TT – TV Học viện tại cơ sở Hà Đông hiện đang cung cấp cho NDT một cách cơ bản sự
lựa chọn sử dụng các dịch vụ TT – TV. Hệ thống dịch vụ TT – TV mà Trung tâm cung cấp bao gồm:
- Dịch vụ cung cấp tài liệu gốc
- Dịch vụ cung cấp bản sao tài liệu
- Dịch vụ tra cứu thông tin
- Dịch vụ truy cập Internet
2.2.1. Các loại hình dịch vụ thông tin – thư viện truyền thống
 Dịch vụ cung cấp tài liệu gốc
Cung cấp tài liệu là một dịch vụ cơ bản của các cơ quan TT – TV nhằm giúp NDT sử dụng được tài
liệu phù hợp với nhu cầu của mình.

 Dịch vụ đọc tài liệu tại chỗ
 Dịch vụ mượn tài liệu về nhà
 Dịch vụ cung cấp bản sao tài liệu
 Dịch vụ tra cứu thông tin
2.2.2. Các loại hình dịch vụ thông tin – thư viện hiện đại
 Dịch vụ truy cập Internet:
2.3 Công tác tạo dựng sản phẩm và tổ chức dịch vụ thông tin – thư viện
2.3.1 Công tác tạo dựng sản phẩm thông tin – thư viện
Trong công tác tạo dựng các sản phẩm TT – TV với mục đích đạt hiệu quả cao trong việc đáp ứng và
thỏa mãn nhu cầu tìm kiếm và sử dụng thông tin của NDT, tại Trung tâm đã áp dụng đầy đủ các tiêu chuẩn
về nghiệp vụ TT – TV, tiến hành hiệu đính từ khóa theo bộ từ khóa có kiểm soát của Trung tâm Thông tin
Khoa học & Công nghệ Quốc gia (nay là Cục Thông tin Khoa học & Công nghệ Quốc gia)
2.3.2 Công tác tổ chức dịch vụ thông tin – thư viện
Các hoạt động của dịch vụ mượn – trả đã được thay thế hoàn toàn từ thủ công sang hiện đại. Bên
cạnh đó, các dịch vụ khác đều được ứng dụng công nghệ phù hợp, hiện đại đề điều hành và quản lý như: các
thiết bị phát wifi, dịch vụ tra cứu thông tin, dịch vụ truy cập Internet…
Một sản phẩm muốn tiếp cận được với NDT, nhằm thỏa mãn NDT trong việc truy cập và tìm kiếm
thông tin thì phải thông qua các dịch vụ. Tương tự, các dịch vụ TT – TV dù có được đầu tư tổ chức tốt nhưng
không có sản phẩm để phục vụ hoặc chất lượng sản phẩm không cao thì dịch vụ cũng không có hiệu quả,
không phát huy được tác dụng. Nhận rõ tầm quan trọng đó, Trung tâm cần có kế hoạch phát triển đồng đều,
tạo được tính hệ thống hoàn chỉnh nhất định, luôn có sự gắn kết chặt chẽ, tương tác lẫn nhau giữa các sản
9

phẩm và dịch vụ TT – TV, cùng hướng tới mục đích nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng thông tin, đáp ứng
tối đa NCT của NDT.
2.4 Các yếu tố tác động đến việc tổ chức các sản phẩm & dịch vụ thông tin
2.4.1 Nguồn nhân lực
2.4.2 Trang thiết bị, hạ tầng công nghệ thông tin
2.4.3 Chuẩn biên mục
2.4.4 Khung phân loại

2.4.5 Phần mềm thư viện
2.5 Chất lượng các sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện của Trung tâm
Hệ thống sản phẩm và dịch vụ TT – TV của Trung tâm được phát triển cùng với quá trình phát triển
của thư viện. Cho tới nay, Trung tâm đã cung cấp cho NDT hệ thống khá phong phú, đa dạng các loại sản
phẩm và dịch vụ thông tin, gồm cả truyền thống và hiện đại.
Luận văn trình bày chi tiết về chất lượng, khả năng cập nhật thông tin, khả năng tìm kiếm thông tin
cũng như các bảng số liệu điều tra NDT cho thấy sự khách quan trong việc đánh giá hệ thống sản phẩm và
dịch vụ TT – TV.
2.5.1 Chất lượng các sản phẩm thông tin
2.5.2 Chất lượng dịch vụ thông tin
CHƯƠNG 3
MỘT SỐ NHẬN XÉT & GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
HỆ THỐNG CÁC SẢN PHẨM & DỊCH VỤ THÔNG TIN – THƯ VIỆN TẠI TRUNG TÂM
3.1. Một số nhận xét
3.1.1. Ưu điểm
Các sản phẩm TT – TV do Trung tâm cung cấp hiện nay đã bao quát được hầu hết các tài liệu và loại
hình tài liệu có trong thư viện. NDT có thể tìm kiếm được bất cứ tài liệu nào có trong thư viện bằng cách sử
dụng các sản phẩm và công cụ tra cứu mà Trung tâm cung cấp như hệ thống mục lục truyền thống và hiện
đại, các hình thức thư mục, CSDL.
Các sản phẩm như hệ thống mục lục cho phép cùng một lúc nhiều người truy cập được; các tủ mục
lục được bố trí hợp lý, tạo điều kiện cho NDT tra cứu được dễ dàng, giúp cán bộ trả lời kịp thời những câu
hỏi mà NDT đặt ra. Bên cạnh đó, CSDL luôn được cập nhật và sửa đổi thường xuyên giúp tra cứu nhanh
chóng, chính xác, đáp ứng kịp thời nhu cầu của NDT. Việc tra cứu bằng máy tính tại phòng phục vụ cũng
như thông qua mục lục trực tuyến OPAC là một trong những yếu tố góp phần làm tăng số lượng NDT sử
10

dụng thư viện. Trang web là cầu nối giữa Trung tâm với NDT, cung cấp các thông tin mới nhất của Trung
tâm tới NDT.
Hiện tai, phần mềm Greenstone đã được Trung tâm triển khai xây dựng các bộ sưu tập bài giảng điện
tử, hội thảo khoa học và luận văn thạc sĩ về các chuyên ngành đào tạo trong nhà trường. Số lượng tuy chưa

được phong phú nhưng các thông tin, dữ liệu đã qua chọn lọc, xử lý nghiệp vụ, đảm bảo chất lượng, là kênh
thông tin hữu ích đối với NDT tại Học viện.
Bên cạnh các sản phẩm, các dịch vụ TT – TV mà Trung tâm cung cấp cho NDT tương đối đa dạng,
phong phú, gồm cả dịch vụ mang tính truyền thống và hiện đại. Các dịch vụ này được thiết kế phù hợp với
mọi đối tượng NDT của Học viện.
Trung tâm tổ chức và cung cấp thông tin cho NDT với hai hình thức chủ yếu là đọc tại chỗ và mượn
về nhà. Trung tâm tổ chức phục vụ NDT theo phương thức kho đóng. Với thư viện truyền thống, kho đóng
được biết đến là một kho tài liệu được sắp xếp theo số đăng ký cá biệt với ưu điểm là bảo quản được tài liệu,
hạn chế sự thất thoát tài liệu, tiết kiệm được không gian, dễ dàng tìm kiếm tài liệu.
Các dịch vụ thông tin hiện đại có giá trị gia tăng cao, sử dụng công nghệ hiện đại ngày càng nhiều.
Công nghệ Wifi cho phép NDT của Trung tâm truy cập Internet nhanh chóng, thuận tiện.
Mặt khác, Trung tâm có đội ngũ cán bộ với tinh thần trách nhiệm cao, nhiệt tình phục vụ và hướng
dẫn NDT. Trung tâm còn phục vụ vào buổi tối, tạo điều kiện về mặt thời gian để NDT sử dụng thư viện. Nhờ
việc phục vụ và mở cửa liên tục mà Trung tâm TT – TV Học viện thu hút được đông đảo số lượng NDT đến
với Trung tâm ngày càng lớn.
Phần lớn các dịch vụ TT – TV được cung cấp cho NDT ở dạng miễn phí, hầu như không có dịch vụ
đòi hỏi NDT phải trả phí để sử dụng. Các dịch vụ TT – TV do Trung tâm cung cấp cũng rất thân thiện và
thuận tiện với NDT. NDT chỉ cần làm thẻ bạn đọc là có thể sử dụng tất cả các dịch vụ do Trung tâm cung
cấp. Đây cũng là ưu điểm nhằm thu hút NDT đến thư viện.
3.1.2. Hạn chế
- Số lượng sản phẩm TT – TV do Trung tâm cung cấp cho NDT hiện nay khá đa dạng nhưng những
sản phẩm truyền thống chiếm ưu thế. Mặc dù đa số NDT có trình độ học vấn và khả năng sử dụng công nghệ
cao nhưng Trung tâm chưa tạo được nhiều sản phẩm và dịch vụ TT – TV hiện đại, có giá trị gia tăng cao để
thỏa mãn nhu cầu phong phú, đa dạng của họ.
- Hệ thống mục lục phiếu chưa được hoàn thiện và đồng bộ, nhiều phiếu đã cũ nát, hư hỏng, chưa
phản ánh thực sự tình trạng kho sách một cách chính xác, đầy đủ. Các tủ phiếu do dùng lâu năm và không
được bảo quản tốt nên nhiều ngăn bị hỏng, không thể sử dụng.
- Bộ máy tra cứu hiện đại còn nhiều hạn chế. Số lượng máy phục vụ NDT còn ít và thiếu; đường
truyền mạng thường xuyên không ổn định, gây nên tình trạng chờ đợi khi tìm tin.
- Sản phẩm TT – TV truyền thống vẫn chiếm ưu thế ở Trung tâm, chủ yếu là tài liệu gốc, chưa có

nhiều sản phẩm thông tin có giá trị gia tăng. Thông tin tóm tắt, tổng luận, tổng thuật, lược thuật là những sản
11

phẩm có thông tin giá trị và quan trọng đối với người làm công tác quản lý và nghiên cứu khoa học nhưng
trên thực tế, các sản phẩm này chưa được triển khai thực hiện.
- Tính chính xác chưa cao. Nhiều biểu ghi trùng nhau, ký hiệu phân loại tài liệu chưa chính xác toàn
bộ dẫn đến nhiễu, khó tìm được tài liệu phù hợp hoặc tài liệu tìm được lại không gần với nhu cầu của NDT.
- Chưa tạo được các sản phẩm mang tính đặc thù và là thế mạnh so với vị thế của một trường đại học
đào tạo ngành bưu chính viễn thông.
- Một điểm yếu cơ bản là việc giới thiệu các sản phẩm TT – TV tới NDT. Số lượng NDT biết đến
các sản phẩm TT – TV chưa nhiều. Qua điều tra cho thấy, phần lớn NDT biết đến sản phẩm thư viện do hỏi
cán bộ thư viện là chính, các hình thức giới thiệu sản phẩm TT – TV hầu như không có.
- Chưa có quy định chặt chẽ trong quá trình xây dựng các sản phẩm TT – TV (ví dụ về quy trình,
nhập liệu, thời gian…). Cán bộ thư viện chưa có đủ kỹ năng cần thiết để cung cấp những sản phẩm TT – TV
có chất lượng cao (kỹ năng ngoại ngữ, kỹ năng tin học, kỹ năng phân tích, tổng hợp…)
- Trung tâm hiện nay vẫn chú trọng nhiều tới cung cấp các dịch vụ truyền thống, chưa phát triển
được nhiều các dịch vụ mang tính hiện đại. Các dịch vụ TT – TV hiện đại đã có nhưng cũng chưa đáp ứng
được nhu cầu của NDT.
- Các dịch vụ đọc tại chỗ và mượn về nhà tổ chức theo hình thức kho đóng nên NDT không trực tiếp
tiếp xúc với kho sách. Do đó, hiệu quả phục vụ của kho đóng chưa cao. Số lượng NDT đến với Trung tâm
tương đối đông nhưng hầu hết chỉ tự học bằng tài liệu học tập của họ. Để mượn được tài liệu trong kho đóng,
NDT phải mất nhiều thời gian và công sức để tra tìm tài liệu trên máy tính, trên hệ thống MLCC, MLPL…
sau đó ghi phiếu yêu cầu, gửi thủ thư đi lấy tài liệu. Có những trường hợp tài liệu mà NDT yêu cầu đang bận
và NDT không thể tìm được tài liệu nào có nội dung tương tự.
- Chưa thu hút được đông đảo NDT sử dụng thư viện. Số lượng NDT sử dụng thư viện chưa cao.
Theo số liệu khảo sát chỉ có 33% cho ý kiến thường xuyên sử dụng thư viện.
- Cơ sở vật chất dùng để cung cấp cho các dịch vụ TT – TV cũng chưa được đảm bảo đầy đủ. Đặc
biệt là hệ thống trang thiết bị máy tính, đường truyền internet. Vốn tài liệu phục vụ các dịch vụ đọc và mượn
không được thanh lý thường xuyên, chủ yếu vẫn là phục vụ mượn trả các giáo trình; tài liệu tham khảo chưa
thực sự phong phú và hấp dẫn NDT. Không những thế, tại Trung tâm chủ yếu là những tài liệu cũ nên không

đáp ứng nhu cầu tìm hiểu thông tin khoa học kỹ thuật mới của NDT. Bởi vậy, NDT thường xuyên phải đến
các thư viện khác để tìm tin.
- Kinh phí để nâng cao chất lượng các dịch vụ TT – TV và bổ sung thêm những dịch vụ mới còn
nhiều khó khăn, hạn chế.
- Cán bộ thư viện có kỹ năng cung cấp các dịch vụ có giá trị gia tăng cao chưa nhiều. Kỹ năng giao
tiếp, đối thoại với NDT của cán bộ thư viện ít được chú ý và đào tạo, tập huấn. Chính vì thế, việc nắm bắt
tâm lý NDT, hiểu được nhu cầu tin của họ chưa tốt dẫn đến việc chưa đáp ứng được tối ưu nhu cầu tin.
12

Có thể nói, bên cạnh những ưu điểm đã đạt được thì hệ thống sản phẩm và dịch vụ TT – TV tại
Trung tâm vẫn còn nhiều hạn chế cần phải được nhìn nhận và khắc phục. Để giải quyết triệt những tồn tại
này, điều quan trọng là thấy rõ được những nguyên nhân của tồn tại, từ đó đưa ra giải pháp hợp lý nhằm
củng cố và phát triển hệ thống sản phẩm và dịch vụ TT – TV tại
3.1.3. Nguyên nhân của những tồn tại
- Trước hết, Trung tâm trong những năm qua tuy đã nhận được sự đầu tư cả về cơ sở vật chất, kinh
phí hoạt động…nhưng chưa thực sự nhận được sự quan tâm sát sao từ phía lãnh đạo Học viện. Tại Học viện
CNBCVT chưa có một cơ chế, chính sách cụ thể liên quan tới việc xây dựng và phát triển hệ thống sản phẩm
và dịch vụ TT – TV. Nguồn kinh phí hỗ trợ từ Học viện ít ỏi, không kịp thời cũng là một trong những
nguyên nhân ảnh hưởng tới số lượng và chất lượng của hệ thống sản phẩm và dịch vụ TT – TV.
- Cơ sở của Trung tâm còn chật hẹp, không tập trung trên một mặt bằng mà phân tán nhiều nơi. Cơ
sở vật chất nghèo nàn, chưa đầy đủ và thiếu đồng bộ, không được đầu tư thường xuyên.
- Chất lượng xử lý tài liệu không cao. Trong các công đoạn xử lý nội dung tài liệu ở Trung tâm, việc
định từ khóa và phân loại tài liệu vẫn còn nhiều hạn chế và nhiều bất cập. Khi xử lý nghiệp vụ, cán bộ thư
viện còn khó khăn trong việc tìm từ chuyên môn về khoa học kỹ thuật. Trên thực tế, về việc định ký hiệu
phân loại, trước đây, Trung tâm TT – TV có dùng KPL 19 lớp sau đó chuyển sang dùng KPL DDC. Vì thế,
các ký hiệu phân loại của biểu ghi cũ theo KPL 19 lớp vẫn còn tồn tại, chưa được hiệu đính dẫn đến gây
nhiễu và khó khăn trong quá trình tìm tin của NDT.
- Do đặc thù của Học viện CNBCVT có nhiều lĩnh vực đào tạo chuyên sâu nên KPL đang sử dụng
chưa đáp ứng với tài liệu trong lĩnh vực như CNTT, Điện tử viễn thông, Quản trị kinh doanh…Nhiều tài liệu
chưa được chính xác chuyên ngành NDT cần tìm, gây mất thời gian của NDT.

- Nguồn lực thông tin tại Trung tâm chưa đầy đủ. Mặc dù vốn tài liệu khoa học công nghệ được bổ
sung thường xuyên nhưng với tình hình nhiều liên ngành phát triển như hiện nay khiến công tác bổ sung gặp
nhiều khó khăn. Có nhiều ngành, sinh viên không đủ tài liệu học tập vì Trung tâm TT – TV không cung cấp
đủ tài liệu cho họ. Giáo trình và các tài liệu tham khảo quá cũ nát, kiến thức lỗi thời, không cập nhật thông
tin; tài liệu truyền thống chiếm tỉ lệ lớn (90%); tài liệu điện tử còn quá ít, không đáp ứng được nhu cầu của
NDT tại Học viện.
- Chưa hoạch định được chương trình tổ chức, xây dựng hệ thống sản phẩm và dịch vụ TT – TV một
cách toàn diện, tổng thể, có tầm nhìn chiến lược để từ đó có căn cứ khoa học, thực tiễn cho việc đề xuất các
giải pháp cụ thể về tổ chức triển khai xây dựng và hoàn thiện hệ thống sản phẩm và dịch vụ TT – TV.
- Đội ngũ cán bộ còn thiếu cả về số lượng và chất lượng: thiếu cán bộ có chuyên môn nghiệp vụ thư
viện, thiếu cán bộ có trình độ về ngoại ngữ để giải quyết các công việc liên quan đến các lĩnh vực CNTT,
biên dịch… Việc đào tạo, nâng cao trình độ cán bộ chưa theo kịp với đòi hỏi thực tiễn; công tác hướng dẫn
NDT sử dụng thư viện không được tổ chức thường xuyên, kịp thời.
Những tồn tại nêu trên của hệ thống sản phẩm và dịch vụ TT – TV vừa ảnh hưởng tới chất lượng,
hiệu quả hoạt động của Trung tâm vừa làm hạn chế mức độ đáp ứng nhu cầu tin cho NDT. Mặc dù còn
những thiếu sót cả về nội dung và hình thức nhưng hệ thống sản phẩm và dịch vụ TT – TV thực sự trở thành
13

công cụ, phương tiện hữu hiệu đối với NDT trong việc tìm kiếm thông tin tại Trung tâm cũng như hướng tới
các nguồn tin từ xa ở bên ngoài.
3.2 Giải pháp hoàn thiện sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện tại Trung tâm
3.2.1. Nâng cao chất lượng sản phẩm thông tin – thư viện hiện có
 Củng cố, bổ sung hệ thống mục lục phiếu
Trong thời gian tới, việc củng cố, bổ sung, sửa chữa hệ thống mục lục vẫn rất cần thiết. Để hoàn
thiện và nâng cao chất lượng sản phẩm TT – TV này cần phải thường xuyên kiểm tra, chỉnh lý, thay thế
những phiếu bị rách, cũ nát, rút bỏ những phiếu không còn phù hợp, bổ sung những phiếu bị mất, tránh tình
trạng có sách mà không có phiếu tra cứu hoặc ngược lại.
 Nâng cao chất lượng các thư mục:
Tại Học viện CNBCVT, thư mục vẫn là một sản phẩm TT – TV được coi trọng và được NDT quan
tâm. Tuy nhiên, để đáp ứng tốt hơn nhu cầu tin của NDT thì các thư mục cần được cải tiến và nâng cao chất

lượng theo hướng sau:
- Nâng cao chất lượng các bài tóm tắt với từng tài liệu, đảm bảo tóm tắt tài liệu có thể cung cấp cho
NDT những thông tin cần thiết nhất về tài liệu đó. Nhờ vậy, NDT có thể quyết định rằng có cần tìm kiếm
toàn văn tài liệu đó hay không
- Nghiên cứu cải thiện hình thức của các thư mục. Các thư mục cần được in ấn với mẫu mã, hình
thức đẹp, thu hút được sự quan tâm của NDT.
- Chủ động xây dựng các thư mục theo từng lĩnh vực khác nhau cung cấp cho các nhóm đối tượng
xác định.
 Nâng cao chất lượng các cơ sở dữ liệu:
- Nâng cao chất lượng công tác xử lý nội dung và hình thức tài liệu trước khi nhập liệu. Đặc biệt chú
trọng đến các yếu tố tác giả, tên tài liệu, phân loại tài liệu phù hợp, tóm tắt nội dung tài liệu đầy đủ, chính
xác. Tránh nhầm lẫn dẫn đến mất tin khi tìm tin.
- Kiểm soát lại các biểu ghi ngay sau khi nhập tin, tránh tình trạng sai sót, trùng lặp biểu ghi. Kiểm
soát để loại bỏ các biểu ghi trùng nhau.
- Thống nhất cấu trúc biểu ghi trong các CSDL, tạo điều kiện chia sẻ thông tin giữa các CSDL với
nhau, giữa các cơ quan TT – TV với nhau.
- Tiến hành hiệu đính lại kí hiệu phân loại theo KPL DDC cho các biểu ghi đã áp dụng theo KPL 19
lớp trước đó.
- Nâng cao kỹ năng cán bộ nhập liệu, đảm bảo có đủ kiến thức tốt về biên mục để có thể phát hiện
sai sót trong biên mục nguồn ngay trong quá trình nhập máy; có kỹ năng nhập liệu tốt, đảm bảo hạn chế tối
thiểu việc nhập sai sót thông tin dẫn đến biểu ghi lỗi. Có thể thành lập bộ phận chuyên xử lý nghiệp vụ và
nhập liệu giúp tập trung hóa, đảm bảo chất lượng thông tin trong CSDL.
14

 Hoàn thiện và nâng cấp mục lục trực tuyến OPAC
Với tốc độ phát triển như hiện nay, số biểu ghi thư mục tại Trung tâm TT – TV Học viện không
ngừng tăng lên hàng năm thì mục lục trực tuyến càng phải được nâng cấp để đạt hiệu quả cao trong việc đưa
ra kết quả nhanh chóng và chính xác, thuận lợi cho NDT trong quá trình tìm tin.
 Đối với các sản phẩm TT – TV khác:
- Tăng cường cung cấp thông tin cho trang chủ của Học viện nói chung và trang chủ của Trung tâm nói

riêng, đặc biệt là các thông tin về hoạt động thư viện, giúp NDT có thể nắm được những hoạt động của thư
viện, từ đó NDT sẽ chủ động tham gia vào các hoạt động này.
- Bản tin điện tử cũng là một sản phẩm TT – TV cần chú trọng hoàn thiện và phát triển.
3.2.2. Nâng cao chất lượng dịch vụ thông tin – thư viện hiện có
3.2.3. Đa dạng hóa các loại hình sản phẩm và dịch vụ thông tin
 Xây dựng thư mục mới – thư mục theo chuyên đề
 Xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên đề toàn văn, các cơ sở dữ liệu tài liệu số hóa
 Triển khai dịch vụ dịch tài liệu
 Xây dựng dịch vụ cung cấp thông tin theo chuyên đề
 Triển khai dịch vụ mượn liên thư viện
3.2.4. Tăng cường nguồn lực thông tin
Trung tâm TT – TV Học viện CNBCVT hiện nay chưa có chính sách phát triển nguồn tin – yếu tố
tạo nên sự phát triển bền vững và có tính định hướng của thư viện. Do đó, cơ cấu loại hình và ngôn ngữ của
tài liệu mất cân đối, đặc biệt là tài liệu tiếng Anh còn ít. Việc ứng dụng CNTT vào các quá trình xử lý thông
tin còn yếu, NDT chưa thực sự khai thác có hiệu quả nguồn lực thông tin của Trung tâm.
Ngày nay, số lượng các tài liệu xuất bản gia tăng nhanh chóng, không một thư viện nào có thể thu
thập được mọi tài liệu. Vì vậy, việc bổ sung tài liệu cho một đơn vị TT – TV không thể làm một cách tùy
tiện, phải thực hiện theo một chính sách nhất đinh, đó là tập hợp các nguyên tắc và tiêu chuẩn cho việc lựa
chọn hay loại bỏ tài liệu. Bổ sung hợp lý, khoa học là phải xác định được diện tài liệu, loại hình và số lượng
tài liệu.
3.2.5. Tăng cường đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin và cơ sở vật chất
3.2.6. Nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ và đào tạo người dùng tin
3.2.7. Tổ chức quảng bá các sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện

KẾT LUẬN
Có thể nói, trong bất kỳ cơ quan TT – TV nào, vai trò của các sản phẩm và dịch vụ TT – TV được cơ
quan đó cung cấp đều có ý nghĩa quan trọng, phần nào quyết định đến sự phát triển của thư viện đó. Điều
này càng đặc biệt đúng trong xã hội thông tin hiện đại, khi mà sự phát triển của xã hội, của thông tin là vô
cùng nhanh chóng. Thêm vào đó là sự thay đổi về thói quen sử dụng thư viện, về cách thức tiếp cận thông tin
15


của NDT. NDT có xu hướng ngày càng đòi hỏi cao hơn trong việc cung cấp hệ thống sản phẩm và dịch vụ
TT – TV ưu việt, mang tính hiện đại. Bởi lẽ đó, việc nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ như đã và
đang được cung cấp cũng như việc nghiên cứu nhu cầu tin, tạo lập những sản phẩm, dịch vụ mới để đáp ứng
nhu cầu đó là một công việc cần phải được tiến hành một cách liên tục và thường xuyên.
Nghiên cứu về hệ thống sản phẩm và dịch vụ TT – TV tại Học viện CNBCVT cơ sở Hà Đông hiện
nay có một ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của Học viện. Việc đánh giá hệ thống và một cách tổng
quan, nhìn nhận toàn diện và luôn đặt trong sự tương hỗ lẫn nhau của sản phẩm và dịch vụ TT – TV mà
Trung tâm xây dựng có thể giúp cho cán bộ thư viện hiểu rõ hơn về cơ cấu tổ chức, cách thức tạo lập và cung
cấp cho NDT. Đồng thời, qua đó cũng phần nào đánh giá được những cơ hội và thách thức trong việc nâng
cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ mới.
Qua nhiều năm xây dựng và trưởng thành, Trung tâm TT – TV đã không ngừng hoàn thiện mình để
đáp ứng nhu cầu tin ngày càng cao của NDT, đóng góp to lớn với công tác giáo dục và đào tạo, nghiên cứu
của Học viện CNBCVT. Để giữ vững và phát huy được những thành công ban đầu tạo đà phát triển ổn định
và lâu dài trong tương lai, Trung tâm cần cố gắng hơn nữa trong việc tạo lập hệ thống sản phẩm và dịch vụ
thông tin phù hợp và thu hút NDT. Với những kế hoạch, định hướng cụ thể, có thể tin tưởng trong một
tương lai không xa, Trung tâm TT – TV sẽ phát huy hơn nữa thành tựu, tiếp tục khẳng định vị trí và tầm
quan trọng của Trung tâm trong công tác nghiên cứu, giáo dục đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, góp
phần vào phát triển sự nghiệp CNH – HĐH đất nước nói chung và sự nghiệp thư viện nói riêng.

×