Tải bản đầy đủ (.pdf) (90 trang)

Tính tích cực của ý thức xã hội và vai trò của nó trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia ở nước ta hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.18 MB, 90 trang )



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



ĐỖ THÚY TÌNH



Tính tích cực của ý thức xã hội và vai trò của
nó trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia ở
nước ta hiện nay


LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC




Hà Nội - 2005



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐỖ THÚY TÌNH

Tính tích cực của ý thức xã hội và vai trò của


nó trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia ở
nước ta hiện nay

Chuyên ngành: TRIẾT HỌC
Mã số: 60.22.80

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TSKH. Lương Đình Hải




Hà Nội - 2005



1
Mục lục
Mở đầu
2
Chương 1. Tính tích cực của ý thức xã hội
8
1.1 Tính tích cực của ý thức xã hội và những biểu hiện của nó.
8
1.1.1 ý thức xã hội.
8
1.1.2 Những biểu hiện của tính tích cực của ý thức xã hội.
16
1.2 Những cơ sở để phát huy tính tích cực của ý thức xã hội

28
Chương 2. Vai trò của tính tích cực của ý thức xã hội trong sự nghiệp

bảo vệ an ninh quốc gia ở nước ta hiện nay và một số giải pháp nhằm

phát huy vai trò tích cực ấy.
39
2.1 Vấn đề bảo vệ an ninh quốc gia ở nước ta hiện nay
39
2.2 Vai trò của tính tích cực của ý thức xã hội trong sự nghiệp bảo vệ an

ninh quốc gia.
53
2.3 Một số giải pháp nhằm phát huy tính tích cực của ý thức xã hội trong

sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia.
67
2.3.1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, nâng cao ý thức của

cộng đồng về bảo vệ an ninh quốc gia.
67
2.3.2. Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa nhằm

nâng cao tính tích cực của ý thức xã hội đối với sự nghiệp bảo vệ an ninh

quốc gia.
68
2.3.3. Nâng cao ý thức xã hội của người dân trong phòng chống tội phạm, bảo
vệ an ninh quốc gia. 70


2.3.4. Đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị tư tưởng, rèn luyện đạo đức
cách mạng đối với toàn bộ lực lượng công an nhân dân, đặc biệt là trong
giai đoạn hiện nay. 75
Kết luận 77

Danh mục tài liệu tham khảo




3
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài.
Thế giới đang đổi thay từng ngày, từng giờ. Toàn cầu hóa và sự phát
triển như vũ bão của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đã khiến
cho đời sống xã hội có nhiều thay đổi nhanh chóng. Toàn cầu hoá và những
vấn đề toàn cầu buộc các nước phải có cách nhìn nhận mới về một số quan
niệm trong việc lựa chọn chiến lược phát triển đất nước cũng như trong
quan hệ quốc tế. Chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô cũ sụp đổ đã làm
cho bản đồ quan hệ quốc tế càng có sự thay đổi đột ngột và mạnh mẽ nhiều
năm gần đây, loài người cũng phải chứng kiến các cuộc chiến tranh cục bộ,
khủng bố, đói nghèo, bệnh tật, thiên tai, xâm lược, lật đổ, ám sát, sự can
thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia, v.v Vì vậy, việc đảm bảo an
ninh cho con người, bảo vệ độc lập chủ quyền của quốc gia vẫn là một
trong những mối quan tâm hàng đầu của mỗi quốc gia và cộng đồng quốc
tế.
ở Việt Nam, công cuộc đổi mới đã thu được những thành tựu đáng tự
hào, đời sống nhân dân ngày được nâng cao. Tuy nhiên, chúng ta cũng
đang phải đối mặt với hàng loạt các vấn đề như diễn biến hoà bình của các
thế lực thù địch, tệ nạn xã hội, nạn tham nhũng, buôn lậu v.v Mặt khác,

hiện nay, công nghệ thông tin đang ngày càng phát triển mạnh mẽ, nó đã và
đang góp phần không nhỏ vào việc truyền bá thông tin, nâng cao hiểu biết
cho con người, giúp con người nhanh chóng giải quyết hàng loạt những vấn
đề của đời sống xã hội. Nhưng các thế lực thù địch cũng lợi dụng công
nghệ thông tin để can thiệp sâu vào công việc nội bộ của Việt Nam như
truyền bá những luồng tư tưởng xấu, kích động vấn đề tự do tôn giáo, vấn
đề nhân quyền nhằm mục đích chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Chúng
còn tuyên truyền luận điệu sai trái về con đường chủ nghiã xã hội mà Đảng
và nhân dân ta đã lựa chọn, về tình hình kinh tế - xã hội của Việt Nam

4
nhằm chia rẽ quần chúng nhân dân, gây nên sự hoang mang lo lắng trong
nhân dân. Chúng đưa những ấn phẩm đồi trụy lên mạng Internet nhằm tiêm
nhiễm lối sống hưởng thụ, hòng làm suy đồi đạo đức của tầng lớp thanh
niên ở nước ta. Điều đó gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống kinh tế xã
hội nói chung và đời sống tinh thần của nhân dân nói riêng. Thực tế đó cho
thấy, việc bảo vệ an ninh quốc gia trong điều kiện hiện nay có ý nghĩa đặc
biệt quan trọng. Để đất nước phồn vinh và phát triển thì yêu cầu đầu tiên
chính là sự ổn định chính trị - xã hội. Nhưng để có được sự ổn định chính
trị - xã hội thì an ninh quốc gia phải được đảm bảo như là một điều kiện
nền tảng. Điều đó càng đúng và càng cấp thiết khi thế giới đang ở trong
tình trạng không ổn định và có nguy cơ chiến tranh cục bộ thường xuyên
như hiện nay.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, Hội nghị lần thứ tám
Ban chấp hành trung ương Đảng khoá IX đã xác định mục tiêu, nhiệm vụ
bảo vệ tổ quốc của chúng ta hiện nay là bảo vệ vững chắc độc lập chủ
quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an
toàn xã hội và nền văn hoá; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã
hội chủ nghĩa; bảo vệ sự nghiệp đổi mới và lợi ích quốc gia, dân tộc.
Nhận thức đúng đắn và kịp thời, phán đoán đúng tình hình thực tiễn

để đưa ra những quyết sách phù hợp với những đòi hỏi của tình hình an
ninh quốc gia cũng như những vấn đề liên quan đến an ninh quốc gia có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng. Nhưng sự nhận thức và phán đoán như vậy lại
phụ thuộc vào khả năng phản ánh ý thức của mỗi con người và ý thức xã
hội nói chung vì sự phát hiện những vấn đề về an ninh quốc gia phần lớn
thuộc về nhân dân. Việc bảo vệ an ninh quốc gia phụ thuộc vào nhiều yếu
tố và điều kiện khác nhau, cả khách quan lẫn chủ quan. Phát huy hiệu quả
vai trò của ý thức xã hội trong việc bảo vệ an ninh quốc gia là một trong
những biện pháp, con đường, phương thức căn bản và có hiệu quả của sự
nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia hiện nay. Do đó, việc xem xét vai trò tính

5
tích cực của ý thức xã hội trong việc bảo vệ an ninh quốc gia là một việc có
ý nghĩa thực tiễn rất lớn. Bởi thế, chúng tôi chọn “Tính tích cực của ý thức
xã hội và vai trò của nó trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia ở nước ta
hiện nay” làm đề tài nghiên cứu của luận văn này.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.
Việc giới thiệu những kết quả nghiên cứu về ý thức xã hội nói chung
đã được giới thiệu ở nước ta từ khá sớm so với các vấn đề triết học khác và
được nhiều tác giả quan tâm. Các công trình thường bàn về ý thức xã hội và
cấu trúc của ý thức xã hội, tính giai cấp của ý thức xã hội chứ chưa đi vào
phân tích các chiều cạnh khác nhau của nó. Một số công trình khác đi vào
phân tích quá trình phát sinh, phát triển của ý thức xã hội, đặc biệt đã nhấn
mạnh vai trò của ý thức xã hội xã hội chủ nghĩa trong sự phát triển của xã
hội xã hội chủ nghĩa. Hoặc có công trình lại nghiên cứu sâu về quy luật nội
tại của ý thức xã hội nhưng chưa có những công trình đi sâu vào nghiên
cứu vai trò của ý thức xã hội trong từng lĩnh vực cụ thể. Có thể thấy điều
đó qua các công trình như bản dịch cuốn ý thức xã hội và các hình thái của
ý thức xã hội của Côngstăngtinôp (Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1956); cuốn ý
thức xã hội của Cục tuyên huấn (Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1958);

cuốn Cấu trúc và quy luật của ý thức xã hội của B.A.Traghen (Nxb Tiến
bộ, Matxcơva, Hà Nội 1968) v.v. .
Thời gian gần đây, việc nghiên cứu về ý thức xã hội cũng chưa
nhiều, chủ yếu được bàn trong các luận án hoặc những bài viết có liên
quan. Các tác giả như Trần Văn Giàu, Trần Đình Hượu; Trần Đức Thảo;
Hà Văn Tấn; Phan Ngọc; Nguyễn Tài Thư; Lê Hữu Tầng; Nguyễn Ngọc
Long v.v. đã có nhiều bài viết bàn về ý thức xã hội. Những công trình này
chủ yếu tập trung đi sâu vào khai thác về ý thức xã hội, đời sống tinh thần
nói chung. Một số luận án, luận văn, bài viết đã phân tích vai trò của ý thức
xã hội trong hoạt động thực tiễn nói chung chứ chưa đi sâu vào khai thác
vai trò của nó trong từng lĩnh vực cụ thể nên chưa thấy hết được ý nghĩa

6
thực tiễn, cụ thể của tính tích cực của ý thức xã hội. Một số bài viết mới chỉ
bàn đến tính độc lập tương đối của ý thức xã hội, nguyên nhân của việc
tuyệt đối hoá vai trò của ý thức xã hội nói chung. Một số công trình cũng
đã nghiên cứu thực trạng đời sống tinh thần của nước ta và đã đưa ra những
giải pháp để nâng cao đời sống văn hoá tinh thần hiện nay. Cũng có một số
bài viết dưới góc độ liên ngành nhưng cũng chưa làm nổi bật tính tích cực
của ý thức xã hội trong đó. Đó là các công trình như Vấn đề vận dụng tính
độc lập tương đối của ý thức xã hội trong hoạt động thực tiễn [xem 28];
Phạm trù đời sống tinh thần xã hội và ý nghĩa của nó [xem 9]; Ph.
Ăngghen với vấn đề tính độc lập tương đối của ý thức xã hội [xem 11; Về
những nguyên nhân của sự cường điệu hoặc tuyệt đối hoá tính độc lập
tương đối của ý thức xã hội [xem 29]; Vấn đề tội phạm xét từ lý luận về ý
thức xã hội [xem 18] v.v
Nhìn chung, những cuốn sách, luận án và các bài viết đã công bố về
đề tài ý thức xã hội hầu hết chỉ bàn đến ý thức xã hội với tư cách là một
nhân tố trong mối quan hệ với tồn tại xã hội. Hoặc là đi vào làm rõ các đặc
điểm, tính chất, cấu trúc của ý thức xã hội nói chung trong đời sống xã hội.

Hoặc chỉ bàn đến vai trò của nó trong hoạt động thực tiễn nói chung, hoặc
từ góc độ ý thức xã hội để xem xét những vấn đề như nhân cách; đạo đức;
đời sống tinh thần; tôn giáo v.v. mà chưa tập trung phân tích vai trò của ý
thức xã hội trong từng lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội.
Trong lĩnh vực an ninh quốc gia và bảo vệ an ninh quốc gia đã có
nhiều công trình nghiên cứu nhưng mới chỉ bàn đến an ninh quốc gia dưới
góc độ Luật học với tính cách là một lĩnh vực được quy định trong Hiến
pháp và pháp luật của Nhà nước cũng chưa có công trình nào đi vào tìm
hiểu vấn đề an ninh quốc gia dưới sự tác động của ý thức xã hội. Hoặc vấn
đề an ninh quốc gia và bảo vệ an ninh quốc gia cũng chỉ được đưa ra dưới
nội dung một kế hoạch, chiến lược chứ chưa tiếp cận dưới góc độ triết học -
từ sự tác động của ý thức xã hội. Điều đó được thể hiện cụ thể qua các công

7
trình như Mấy vấn đề về bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn
xã hội trong quá trình đổi mới [xem 47]; Đấu tranh phòng chống các hành
vi đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia với việc thực hiện chức
năng của nhà nước [xem 1]; Các nhân tố tác động đến an ninh quốc gia
Việt Nam trong tình hình mới [xem 4]; Đấu tranh giai cấp với nhiệm vụ
bảo vệ an ninh quốc gia trong công cuộc đổi mới hiện nay ở Việt nam [xem
2]; Một số vấn đề về mối quan hệ giữa ổn định xã hội và công nghiệp hoá,
hiện đại hoá ở nước ta hiện nay [xem 23] v.v Các nghiên cứu trên đây có
giá trị khoa học và có ý nghĩa nhất định đối với thực tiễn đất nước, đặc biệt
là trong giai đoạn hiện nay. Nhưng về tính tích cực của ý thức xã hội trong
lĩnh vực an ninh quốc gia lại chưa có điều kiện và chưa phải là hướng đề
cập của họ. Như vậy, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu
về tính tích cực của ý thức xã hội trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia ở
nước ta trong giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
- Mục đích.

Mục đích của luận văn là làm rõ vai trò của tính tích cực của ý thức
xã hội đối với sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia ở nước ta hiện nay. Trên
cơ sở đó đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò tích cực đó
trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia ở nước ta hiện nay.
- Nhiệm vụ.
Với mục đích như trên, nhiệm vụ của luận văn là:
+Trình bày quan điểm triết học mácxít về ý thức xã hội; tính tích cực
của ý thức xã hội, điều kiện cơ bản để phát huy tính tích cực của ý thức xã
hội.
+Phân tích vai trò và yêu cầu của việc bảo vệ an ninh quốc gia ở
nước ta trong giai đoạn hiện nay.
+Phân tích tính tích cực của ý thức xã hội trong sự nghiệp bảo vệ an
ninh quốc gia và đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm phát huy tính tích

8
cực của ý thức xã hội trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia ở nước ta
trong giai đoạn hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:
- Luận văn được viết dựa trên lý luận duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, trước hết và chủ yếu là lý luận về ý thức
xã hội và tính độc lập tương đối của nó. Luận văn còn dựa vào các văn kiện
Đảng, và các luận án, các công trình khoa học liên quan đến đề tài.
- Luận văn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp
lôgic-lịch sử, trừu tượng hóa và khái quát hóa.
5. Đóng góp mới của luận văn:
Luận văn góp phần làm rõ tính tích cực của ý thức xã hội trong lĩnh
vực bảo vệ an ninh quốc gia đồng thời luận giải các giải pháp cơ bản để
phát huy tính tích cực của ý thức xã hội trong sự nghiệp bảo vệ an ninh
quốc gia ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn:

- Luận văn góp phần khẳng định: Tính tích cực của ý thức xã hội là
một trong những nhân tố quan trọng góp phần vào thành công của sự
nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia ở nước ta hiện nay.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong việc học tập và
giảng dạy triết học trong một số trường nghiệp vụ công an.
7. Cấu trúc của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn gồm 2 chương 5 tiết.







9
Chương 1
tính tích cực của ý thức xã hội
1.1 Tính tích cực của ý thức xã hội và những biểu hiện của nó.
1.1.1 ý thức xã hội.
Có thể nói, nếu như vấn đề cơ bản của triết học là mối quan hệ giữa
tư duy và tồn tại thì trong phần duy vật lịch sử nó được biểu hiện ra là mối
quan hệ giữa ý thức xã hội và tồn tại xã hội. Trong lịch sử tư tưởng của
nhân loại, các nhà triết học trước Mác tuy chưa đưa ra thuật ngữ và nội
dung đầy đủ của ý thức xã hội, nhưng ở các mức độ khác nhau họ cũng đã
đưa ra được những tư tưởng ban đầu về ý thức nói chung và đặt nền móng
cho khái niệm ý thức xã hội.
Trong thời kỳ cổ đại, nhà triết học Hy Lạp Anaxago (khoảng 500-
428 TCN) đã đưa ra khái niệm “nuxơ”, có nghĩa là trí tuệ để chỉ tất cả
những hành vi hiện tồn nói chung của ý thức và tư duy. Đến Platon (427-

347 TCN ) thì nuxơ lại chính là ý niệm; các vật thể cảm tính chỉ là cái bóng
của ý niệm và bắt nguồn từ ý niệm. Trong thời kỳ này, các nhà triết học
Phương Đông như ấn Độ, Trung Quốc đã có những quan niệm khác nhau,
dù là duy tâm về ý thức. Triết học Tây Âu thế kỷ 17-18 đã có bước tiến bộ
hơn so với trước trong quan niệm về ý thức nói chung và ý thức xã hội nói
riêng. Hầu hết các nhà triết học thời kỳ này đều thấy được vai trò của ý
thức xã hội thông qua hoạt động của con người. Chẳng hạn, Hônbách đã
cho rằng trong xã hội thì ý kiến, tư tưởng của con người có thể điều khiển
thế giới và những ý kiến, tư tưởng của các nhà làm luật giữ vai trò quyết
định. Điđơrô lại cho rằng những tư tưởng, quan điểm của các tổ chức chính
trị quyết định tính chất của một chế độ xã hội. Khác với các nhà triết học
trong lịch sử, Hêghen - nhà triết học cổ điển Đức đã quá đề cao vai trò của
tư duy, ý thức đến mức tuyệt đối hoá nó. Ông cho rằng thế giới hiện thực
chẳng qua chỉ là biểu hiện của ý niệm, của tinh thần tuyệt đối, đó là quá
trình tự nhận thức của bản thân ý niệm tuyệt đối.

10
Bước chuyển quan trọng trong lịch sử triết học khi bàn về vấn đề này
được đánh dấu bởi quan niệm của C. Mác và Ph.Ăngghen. Bằng tư tưởng
biện chứng và lập trường duy vật, trên cơ sở tiếp thu, kế thừa có chọn lọc
và phê phán quan điểm của các nhà triết học trong lịch sử, C.Mác và
Ph.Ăngghen đã khẳng định: “không phải ý thức của con người quyết định
tồn tại của họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ”.
Nguyên lý quan trọng đó được thể hiện rất rõ thông qua một số tác phẩm
tiêu biểu của C.Mác, Ph.Ăngghen như Góp phần phê phán triết học pháp
quyền của Hegel, Hệ tư tưởng Đức, Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, Luận
cương về Feuebach, Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị v.v Trong
những tác phẩm này, các nhà kinh điển cũng nhấn mạnh tác dụng tích cực
của ý thức xã hội.
Trong tác phẩm Góp phần phê phán triết học pháp quyền của

Heghen, C.Mác đã nêu rõ: Tôn giáo với tư cách là một hình thái ý thức xã
hội được bắt nguồn từ chính thế giới những con người chứ không phải trên
thượng giới. Do đó, “Sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự
nghèo nàn hiện thực, vừa là sự phản kháng chống lại sự nghèo nàn hiện
thực ấy”[37, tr. 569]. Hoặc trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, khi nói về
nguồn gốc của ý thức xã hội, Mác đã viết: chính con người là kẻ sản xuất ra
những ý niệm của mình, song đây là những con người hiện thực, đang
hành động, đúng như họ bị quy định bởi một sự phát triển nhất định của
những lực lượng sản xuất của họ và bởi sự giao tiếp phù hợp với sự phát
triển ấy, kể cả những hình thức rộng rãi nhất của sự giao tiếp đó. ý thức
không bao giờ là cái gì khác hơn là sự tồn tại được ý thức [Xem 38, tr.
258]. Như vậy ở đây, Mác đã khẳng định chính con người đã sản xuất ra
những quan niệm, ý niệm, và những quan niệm đó được xuất phát từ ngay
chính đời sống hiện thực của con người chứ không phải hiện thực là sự thể
hiện của ý niệm tuyệt đối như quan niệm của Hegel. Do đó, ý thức xã hội

11
chẳng qua chỉ là sự phản ánh của tồn tại xã hội, do tồn tại xã hội quyết
định.
Viết về phạm trù ý thức xã hội, các tác giả của Từ điển triết học cho
rằng: “Toàn bộ ý thức xã hội - tức là sinh hoạt tinh thần của xã hội, là do
những điều kiện sinh hoạt vật chất, do phương thức sản xuất của cải vật
chất quyết định”[62, tr. 1068]. ở đây, người ta đã đồng nhất ý thức xã hội
với sinh hoạt tinh thần của xã hội, và đời sống tinh thần do đời sống vật
chất, sinh hoạt vật chất quy định. Côngstăngtinôp cho rằng theo nghĩa rộng,
khái niệm ý thức xã hội bao gồm những quan điểm chính trị, pháp quyền,
đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật, triết học, v.v. của xã hội, bao gồm tri thức
khoa học, (kể cả khoa học tự nhiên) và đặc điểm dân tộc về bản chất tâm lý
của các dân tộc và bộ tộc, trong xã hội có giai cấp thì gồm cả tâm lý của
các giai cấp xã hội. Nói theo nghĩa tương đối hẹp thì khái niệm ý thức xã

hội chỉ là tư tưởng, quan điểm và học thuyết xã hội phản ánh tồn tại xã hội,
chế độ xã hội. Có quan điểm lại cho rằng: “ý thức xã hội là mặt tinh thần
của xã hội, bao gồm những quan điểm, tư tưởng cùng những tâm trạng,
truyền thống nảy sinh từ tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển
nhất định”[14, tr. 568].
Vậy ý thức xã hội và đời sống tinh thần của xã hội có đồng nhất với
nhau không? Đây là câu hỏi khiến nhiều nhà nghiên cứu khoa học xã hội
nói chung quan tâm, đặc biệt là trong lĩnh vực triết học. Đời sống tinh thần
xã hội và ý thức xã hội là hai phạm trù có mối liên quan mật thiết với nhau,
về bản chất chúng đồng nhất với nhau. Bởi vì “đời sống tinh thần” và “ý
thức xã hội” là sự biểu hiện cụ thể của hai phạm trù “tinh thần” và “ý thức”
trong lĩnh vực xã hội. Trong quan niệm của chủ nghĩa duy vật, phạm trù
“tinh thần” được hiểu rất gần với phạm trù “ý thức”. Triết học duy vật biện
chứng khi rút ra vấn đề cơ bản của triết học đã mang lại cho chúng ta một
cơ sở lý luận để xem xét phạm trù ý thức xã hội. Bởi vì nếu xem xét trên
mặt nhận thức luận thì tinh thần và ý thức được hiểu là sản phẩm của vật

12
chất có tổ chức cao là bộ não con người, là hình ảnh chủ quan của thế giới
khách quan. Tuy nhiên, xét về mặt kết cấu thì “ý thức” rộng hơn “tinh
thần”. Điều đó được biểu hiện ở chỗ: Theo kết cấu chiều ngang thì ý thức
bao gồm những yếu tố như tri thức, tình cảm, niềm tin, lý trí, ý chí Còn
xét theo chiều dọc thì ý thức được hiểu chính là thế giới nội tâm của con
người bao gồm các yếu tố như tự ý thức, tiềm thức, vô thức “Tất cả những
yếu tố đó cùng với những yếu tố khác quy định tính chất phong phú, phức
tạp trong thế giới tinh thần và hoạt động tinh thần của con người” [14, tr.
204]
Đời sống tinh thần và ý thức xã hội còn có quá trình phát sinh, phát
triển như nhau. Ngay từ khi con người mới thoát thai khỏi đời sống động
vật, con người sống thành bầy đàn trong các cộng đồng người như Thị tộc,

Bộ lạc. Khi đó trong xã hội chưa có sự phân biệt giữa lao động trí óc và lao
động chân tay, hoạt động tinh thần của con người xen lẫn sinh hoạt vật
chất. Nhưng hoạt động tinh thần của người ta thời kỳ đó có tính chất rất
hạn chế, nó tương ứng và phù hợp với tính chất hoang sơ, nguyên thuỷ của
những sinh hoạt vật chất, đồng thời phù hợp với trình độ thấp kém của lực
lượng sản xuất công xã lúc đó. Vì vậy đời sống tinh thần của con người lúc
này biểu hiện rõ rệt ở phong tục tập quán, ở tín ngưỡng của họ. Điều đó
cũng giải thích tại sao tôn giáo thời kỳ này nặng về thần thoại, nó phản ánh
nỗi sợ hãi, sự bất lực của con người trước sự hùng vĩ và những lực lượng tự
phát của thiên nhiên.
Đời sống tinh thần của xã hội cũng biến đổi và phát triển cùng với sự
biến đổi và phát triển của đời sống sinh hoạt vật chất của xã hội, cho nên
đời sống tinh thần cũng như ý thức xã hội không chỉ dừng lại ở đó mà tiếp
tục phát triển theo sự phát triển của sinh hoạt vật chất. Từ khi xã hội diễn ra
sự phân công lao động, giai cấp bắt đầu xuất hiện thì toàn bộ sinh hoạt xã
hội của con người… gồm cả sinh hoạt tinh thần dần dần trở lên phức tạp.
Nhà nước và pháp luật ra đời, các hình thái ý thức xã hội khác bắt đầu nảy

13
sinh và phát triển: khoa học, chính trị, triết học xuất hiện. Và cứ như vậy,
cho đến ngày nay, đời sống tinh thần xã hội, ý thức xã hội phát triển tương
ứng với sự phát triển của đời sống vật chất của xã hội. Vì vậy chủ nghĩa
duy vật lịch sử cho rằng ý thức xã hội, hệ tư tưởng xã hội là do sự phát
triển của sản xuất, do hoạt động sản xuất của xã hội quyết định dù không
phải quyết định trực tiếp mà thông qua quan hệ sản xuất.
Tuy nhiên cũng có sự khác biệt giữa phạm trù tinh thần và phạm trù
ý thức xét trên góc độ nhận thức luận và về mặt kết cấu. Trên góc độ nhận
thức luận có tác giả cho rằng tinh thần và ý thức khác nhau ở chỗ: Tinh
thần là cái giống như ý thức được tồn tại trong đầu óc con người, nhưng nó
còn được hiện thực hoá, vật chất hoá (tác giả nhấn mạnh). Đặc biệt tinh

thần còn để lại dấu vết trong những mối quan hệ xã hội. Còn ý thức là cái
đối lập với vật chất. Vì vậy khi định nghĩa phạm trù vật chất, Lênin đã
dùng phương pháp đặc biệt - phương pháp đối lập giữa vật chất và ý thức
để thấy được mức độ rộng lớn của phạm trù vật chất, đồng thời cũng khẳng
định sự khác biệt giữa vật chất và ý thức. Chính vì vậy, khác với ý thức,
trong mối quan hệ với vật chất, tinh thần vừa là chủ thể vừa là khách
thể.(vừa là cái phản ánh vật chất, vừa là đối tượng của phản ánh vật chất).
Xét về kết cấu cụ thể thì phạm trù đời sống tinh thần rộng hơn phạm
trù ý thức xã hội. Bởi vì đời sống tinh thần còn bao gồm cả những hoạt
động tinh thần và những quan hệ tinh thần phong phú của xã hội. Do đó,
nếu cho rằng ý thức xã hội là mặt tinh thần của xã hội thì có thể dẫn tới
cách hiểu là đồng nhất ý thức xã hội với đời sống tinh thần của xã hội hoặc
cũng có người lại hiểu ý thức xã hội là một mặt của đời sống tinh thần của
xã hội. Vì vậy theo chúng tôi, thì ý thức xã hội là một khái niệm thuộc lĩnh
vực tinh thần của xã hội. ý thức xã hội là một khái niệm thuộc lĩnh vực tinh
thần của xã hội, bao gồm những quan điểm, tư tưởng, học thuyết, lý thuyết
cùng những tình cảm, tâm trạng, tâm lý truyền thống, tập quán nảy sinh
từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn lịch sử

14
nhất định. Cách hiểu nội dung khái niệm như vậy vừa nói lên được nguồn
gốc của ý thức xã hội là bắt nguồn từ thực tiễn cuộc sống vừa khẳng định
được bản chất của nó là phản ánh tồn tại xã hội.
Xét về cấu trúc của ý thức xã hội thì như trên đã nói ý thức xã hội
bao gồm các quan điểm, tư tưởng, học thuyết, lý thuyết và gắn liền với nó
là những tình cảm, tâm trạng, tâm lý, truyền thống, tập quán vv Tất cả
những yếu tố đó hoà quyện vào nhau trong ý thức xã hội. Trong hiện thực ý
thức xã hội được biểu hiện dưới các dạng như: “ý thức cá nhân”, “ý thức
xã hội thông thường”, “ý thức lý luận”, “tâm lý xã hội”, “hệ tư tưởng”.
Liên quan đến ý thức xã hội còn có khái niệm ý thức thường ngày. Vậy thì

giữa ý thức xã hội và ý thức thường ngày có gì khác nhau không? Và nếu
xét từ sự phân tích trên đây thì có thể đặt ý thức thường ngày vào một trong
các dạng biểu hiện của ý thức xã hội hay không? Tác giả W.Trawder -
người Đức, cho rằng: ở tất cả các cấp độ quan niệm thì ý thức thường ngày
được xem như là một phương diện của sản xuất tinh thần hoặc sự chiếm
lĩnh tinh thần và nó thường được đặt trong mối liên hệ biện chứng với ý
thức khoa học. Còn về mặt cấu trúc thì ý thức thường ngày có thể được
hiểu là sự hiểu biết thường ngày của con người nó được xét trên hai bình
diện.
Thứ nhất là bình diện luận chứng của tư duy hằng ngày. ở bình diện
này nó bao gồm những kinh nghiệm của cá nhân tự đạt được, những kiến
thức, tri thức từ các sự kiện cuộc sống đặt ra hàng ngày và tất cả những
kinh nghiệm tiếp thu được, tức là những kinh nghiệm mà cá nhân không tự
bản thân đạt được nhưng nó được thừa nhận là đúng.
Thứ hai là bình diện giải thích của tư duy thường ngày. ở bình diện
này thì được biểu hiện với khái niệm “lý trí lành mạnh của con người”.
Đến đây chúng ta thấy rằng, ý thức thường ngày rất gần với ý thức
xã hội thông thường. Bởi vì “ý thức xã hội thông thường là những tri thức,
những quan niệm của con người hình thành một cách trực tiếp trong hoạt

15
động thực tiễn hàng ngày, chưa được hệ thống hoá, khái quát hoá” [14, tr
568]. Vì thế ý thức xã hội thông thường phản ánh sinh động, trực tiếp
nhiều mặt cuộc sống hàng ngày của con người. Và những tri thức kinh
nghiệm phong phú của ý thức xã hội thông thường là tiền đề quan trọng
cho sự hình thành các lý thuyết khoa học. Như vậy ý thức xã hội thông
thường gần giống với ý thức thường ngày. Đến đây ta có thể xếp “ý thức
thường ngày” vào là một trong những dạng biểu hiện của ý thức xã hội.
ý thức xã hội cũng khác với “ý thức cá nhân” và “tự ý thức cá
nhân”. ý thức cá nhân là thế giới tinh thần của những con người riêng biệt,

cụ thể. ý thức của các cá nhân phản ánh tồn tại xã hội ở mức độ khác nhau
nên nó cũng mang tính xã hội. Bởi vì mỗi cá nhân có điều kiện sinh hoạt
vật chất riêng, thành phần xuất thân khác nhau, họ lại sống trong những
giai đoạn lịch sử nhất định nên ý thức cá nhân bao giờ cũng mang dấu vết
của các cá nhân riêng biệt. Song, ý thức xã hội không phải được hiểu đơn
giản, máy móc là tổng số những ý thức cá nhân. ý thức xã hội cũng không
thể là cái đứng trên, đứng bên ngoài ý thức cá nhân, không thể không bao
hàm ý thức cá nhân. Cần phải hiểu ý thức xã hội và ý thức cá nhân trong
một sự thống nhất biện chứng.
Đời sống tinh thần của xã hội và đời sống tinh thần của cá nhân cùng
với tính cộng đồng của các tập đoàn xã hội và toàn xã hội là thống nhất
trong sự khác biệt. Như C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định đời sống tinh
thần liên hệ biện chứng với đời sống xã hội, phản ánh những quá trình và
những mâu thuẫn xã hội, nó tương ứng với những hình thức muôn màu
muôn vẻ của hoạt động xã hội của con người. Song, ý thức cá nhân không
phải khi nào cũng thể hiện được quan điểm tư tưởng, tình cảm phổ biến của
một cộng đồng, một tập đoàn xã hội, một thời đại nhất định. Vì vậy để thể
hiện được quan điểm, tư tưởng của mình thì cá nhân đó buộc phải thông
qua ý thức xã hội. Ph.Ăngghen viết: “Đối với từng người riêng lẻ, tất cả
những động lực thúc đẩy những hành động của người đó đều nhất định phải

16
đi qua đầu óc, phải biến thành lực đẩy ý chí của anh ta. Toàn bộ nhu cầu
của người đó, đều phải chuyển thành động cơ của ý muốn của người đó để
làm cho người đó hành động thì tất cả những nhu cầu của xã hội công dân,
dù giai cấp nào đang nắm quyền lực cũng vậy - đều nhất định phải thông
qua ý muốn của nhà nước để có được những hình thức phổ biến dưới hình
thức những đạo luật.”[40, tr. 412]
ý thức cá nhân cũng khác với tự ý thức cá nhân. Theo quan điểm của
I.Itresnokova trong cuốn Những vấn đề lý luận về tâm lý học nhân cách

phần tự ý thức của cá nhân thì tự ý thức là quá trình cá nhân ý thức được
chính bản thân mình trong toàn bộ tính nhiều vẻ về các đặc điểm của cá
nhân mình, ý thức được vai trò và vị trí của mình trong hệ thống mối quan
hệ xã hội. Tự ý thức còn là mối quan hệ của cá nhân với những mặt đã
được ý thức của thế giới bên trong của nó. Trong quá trình tự ý thức, hình
thành và tách cái tôi của cá nhân với tính cách sự tạo thành một chỉnh thể
nhất định, tạo thành sự thống nhất tồn tại bên trong và bên ngoài của nó.
Trong tự ý thức, cá nhân có khả năng tiếp thu mình như một khách thể,
nhìn mình bằng con mắt của người khác. Như vậy trong tự ý thức, cá nhân
biểu hiện với tính cách vừa là chủ thể, vừa là khách thể của nhận thức. Tự ý
thức cũng là ý thức nhưng là ý thức có chiều hướng biến đổi, ý thức hướng
về toàn bộ thế giới khách quan, và đối tượng của của nó là chính bản thân
cá nhân như ý nghĩ, tình cảm, nhu cầu và toàn bộ thế giới nội tâm của nó.
Nếu xét trên những khía cạnh này thì ý thức cá nhân rộng hơn tự ý thức của
cá nhân, nó bao hàm tự ý thức của cá nhân. Bởi vì ý thức cá nhân là toàn bộ
thế giới tinh thần của con người trong đó bao hàm cả toàn bộ thế giới nội
tâm của con người.
Như trên đã đề cập, ý thức xã hội bao gồm nhiều yếu tố và nhiều
hình thức biểu hiện khác nhau, trong đó có hệ tư tưởng. Hệ tư tưởng là
trình độ cao của ý thức xã hội. Khi đời sống và những sinh hoạt vật chất
của con người đạt đến một trình độ nhất định, con người ta bắt đầu nhận

17
thức sâu sắc hơn về điều kiện sinh hoạt vật chất xung quanh mình, khi đó
hệ tư tưởng được hình thành. “Hệ tư tưởng là nhận thức lý luận về tồn tại
xã hội, là hệ thống những quan điểm, tư tưởng (chính trị, triết học, đạo đức,
nghệ thuật, tôn giáo), kết quả của sự khái quát hoá những kinh nghiệm xã
hội.”[14, tr. 570]. Hệ tư tưởng được tạo ra bởi các nhà tư tưởng của những
giai cấp nhất định và được truyền bá rộng rãi trong xã hội.
"Hệ tư tưởng xã hội" và “tâm lý xã hội” là hai trình độ, hai phương

thức phản ánh khác nhau của ý thức xã hội nhưng đều có chung một nguồn
gốc là tồn tại xã hội, đều phản ánh tồn tại xã hội. Tâm lý xã hội có thể tạo
điều kiện thuận lợi hoặc cản trở sự hình thành, sự truyền bá, sự tiếp thu của
con người đối với một hệ tư tưởng nhất định. Hệ tư tưởng hướng tâm lý xã
hội phát triển theo chiều hướng đúng đắn, lành mạnh. Nếu là hệ tư tưởng
khoa học sẽ thúc đẩy tâm lý xã hội phát triển theo chiều hướng đúng đắn,
nhưng nếu là hệ tư tưởng không khoa học sẽ kích thích những yếu tố tiêu
cực thuộc tâm lý xã hội phát triển. Trong tâm lý xã hội và hệ tư tưởng thì
tính giai cấp của ý thức xã hội được biểu hiện rõ nhất. Trong mỗi thời đại,
tư tưởng của giai cấp thống trị lúc nào cũng là tư tưởng chiếm địa vị thống
trị, nghĩa là: một giai cấp đã là lực lượng vật chất chiếm địa vị thống trị
trong xã hội thì đồng thời nó cũng là lực lượng tinh thần chiếm địa vị trong
xã hội ấy. Trong xã hội chiếm hữu nô nệ quan điểm phân chia xã hội thành
giai cấp của Aristốt đã trở thành tư tưởng thống trị trong xã hội: Một số
người, do bản tính của nó, sinh ra làm người tự do, một số người khác sinh
ra làm nô lệ; đối với hạng người thứ hai mà nói, thì họ làm nô lệ là có ích
và chính nghĩa. Khi xã hội phong kiến thay thế chế độ chiếm hữu nô lệ thì
tôn giáo lại trở thành hình thái tư tưởng độc chiếm địa vị thống trị, tất cả
các hình thái khác đều phụ thuộc vào tôn giáo. Vì vậy trong thời kỳ đó
giáo hội là kẻ phân xử cao nhất trong chế độ phong kiến hồi bấy giờ.
1.1.2 Những biểu hiện của tính tích cực của ý thức xã hội.

18
Trong lịch sử triết học trước Mác, hầu hết các nhà triết học chưa
đánh giá đúng mực tính tích cực của con người, từ đó họ cũng chưa thấy
hết được tính tích cực của ý thức xã hội. Ôguytstanh, TômatĐacanh đã cho
rằng ý chí của con người do trời định.
Hêghen lại cho rằng sự phát triển của lịch sử không phải là một quá
trình tự động mà được hình thành từ những hành động của những con
người riêng rẽ theo đuổi mục đích của mình. Nhưng Hêghen chỉ giới hạn

tính tích cực của con người ở tính tích cực tinh thần - ý thức chứ không
phải là tính tích cực trong cải tạo thực tiễn. Cho nên theo Hêghen, lịch sử
toàn thế giới là lịch sử tiến bộ trong ý thức tự do. Còn L.Phoiơbăc thì thừa
nhận con người là sản phẩm của tự nhiên và của hoàn cảnh nhưng ông đã
không hiểu được con người là chủ thể tích cực của hoàn cảnh, ông coi
thường hoạt động thực tiễn của con người, coi đó là hoạt động con buôn,
bẩn thỉu chứ không phải là hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới. Vì vậy khi
phê phán những sai lầm của Phoiơbăc, C.Mác viết: “Vấn đề tìm hiểu xem
tư duy của con người có thể đạt tới một chân lý khách quan hay không,
không phải là một vấn đề lý luận mà là một vấn đề thực tiễn. Chính trong
thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý, nghĩa là chứng minh tính
hiện thực và sức mạnh, tính trần tục của tư duy của mình. Sự tranh cãi về
tính hiện thực hay tính không hiện thực của tư duy tách rời thực tiễn, là một
vấn đề kinh viện thuần tuý”[38, tr. 255].
Đến triết học Mác, con người mới được đặt đúng vị trí của nó. Theo
Mác con người vừa là sản phẩm của lịch sử, vừa là chủ thể của lịch sử. Con
người thực sự là chủ thể tích cực sáng tạo ra lịch sử. Cho nên tính tích cực
là thuộc về bản chất của con người, là cơ sở cho hoạt động thực tiễn của
con người và là động lực thúc đẩy con người hành động. Theo Mác “tiền đề
đầu tiên của toàn bộ lịch sử nhân loại thì dĩ nhiên là sự tồn tại của những cá
nhân con người sống. Vì vậy, tiền đề đầu tiên cần phải xác định là tổ chức
cơ thể của những cá nhân ấy và mối quan hệ mà tổ chức cơ sở ấy tạo ra

19
giữa họ và phần còn lại của tự nhiên.”[38, tr. 268] chính vì vậy “cần phải
có những con người để làm thay đổi hoàn cảnh”[38, tr. 255]
Có quan điểm lại cho rằng: Tính tích cực là những biểu hiện của hoạt
động có ích về mặt xã hội của quần chúng nhân dân trong lĩnh vực kinh tế,
xã hội, chính trị và tinh thần. Hoặc có người lại xem xét tính tích cực từ đặc
tính tâm lý, ý thức của bản chất con người. P.A.Rudich - tiến sĩ tâm lý học

cho rằng tính tích cực đó là một nét phức tạp của tính cách biểu hiện qua
thái độ hăng hái của con người đối với lao động. Tính tích cực đòi hỏi phải
có sự nỗ lực thường xuyên nhằm vào một mục đích, phải có sự kiên tâm và
kiên nhẫn trong công việc, phải có hoạt động mang tính chất có kế hoạch
và có hệ thống, phải đạt kỳ được một kết quả nhất định.
Trong Từ điển Tiếng Việt, tích cực nghĩa là có tác dụng khẳng định,
tác dụng thúc đẩy sự phát triển, trái với tiêu cực và có thể hiểu tích cực theo
hai nghĩa sau.
Thứ nhất: Tích cực là tỏ ra chủ động, có những hoạt động nhằm tạo
ra sự biến đổi theo hướng phát triển. ở đây muốn chỉ hoạt động của con
người. Đó là những hoạt động đem lại lợi ích cho con người, cho xã hội, có
ý nghĩa cho sự phát triển, tiến bộ xã hội.
Thứ hai: Tích cực là hăng hái, tỏ ra nhiệt tình đối với nhiệm vụ, với
công việc. ở đây muốn chỉ tính tích cực ở khía cạnh tâm lý ý thức, như là
tinh thần hăng hái, lòng nhiệt tình, ý chí quyết tâm của con người, thúc đẩy
con người hành động.
Trong tiếng Anh, từ “Active” nghĩa là hoạt động, tính năng động, sôi
nổi, hăng hái. Song, để có một quan niệm hoàn chỉnh về tính tích cực của ý
thức xã hội, chúng ta cần phải xem xét nó trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể.
Xuất phát từ quan điểm duy vật lịch sử, Mác đã khẳng định chính trong khi
cải biến thế giới khách quan mà con người đã tự khẳng định mình là một
sinh vật có tính loài, và sự sản xuất là đời sống có tính loài tích cực của con
người. Bằng hoạt động lao động, con người đã hoạt động một cách tích

20
cực, con người đã chiếm hữu được giới tự nhiên, đã tách mình ra khỏi tự
nhiên và đã tự khẳng định mình. Để có những hoạt động tích cực đó trước
hết con người ta phải ý thức được về nó. Con người không cải biến tự
nhiên một cách tự phát mà quá trình cải biến đó thường có mục đích, có
phương hướng theo nhu cầu của con người. Trong hoạt động này, như

C.Mác đã khẳng định con người đã tự nhân đôi mình lên một cách tích cực,
một cách hiện thực, và con người nhìn ngắm bản thân mình trong thế giới
do mình sáng tạo ra đó. Bằng những hoạt động thực tiễn đó, dưới sự chỉ
đạo dẫn dắt của ý thức mà con người đã cải biến hiện thực, làm cho lịch sử
xã hội vận động và phát triển đi lên. Chúng tôi xem xét tính tích cực của ý
thức xã hội chủ yếu theo khía cạnh này nhưng ở mức độ rộng hơn, bao
hàm cả hoạt động của con người như trong khái niệm ý thức xã hội đã chỉ
ra. Bởi vì tính tích cực của ý thức xã hội chỉ thực sự có ý nghĩa và tác dụng
thông qua hoạt động thực tiễn của con người.
Với ý nghĩa như trên, tích cực cũng hoàn toàn khác với tiêu cực. Nếu
như tích cực là những hoạt động có ích, những sự tác động có tính chất
thúc đẩy sự phát triển của sự vật nói chung và xã hội nói riêng thì tiêu cực
có nghĩa trái với tích cực. Tiêu cực là muốn nói tới tác dụng phủ định, làm
cản trở sự phát triển. Hoặc tiêu cực muốn chỉ sự tác động mà không có
phản ứng, hoặc chỉ là sự phản ứng yếu ớt, không có tính chất chủ động, tức
là sự phản ứng tiêu cực, không có đấu tranh mà chỉ có tính chất đối phó.
Hoặc cũng có thể hiểu tiêu cực có nghĩa là những cái không lành mạnh, có
tác dụng không tốt đối với quá trình phát triển của xã hội như là những hiện
tượng tiêu cực trong xã hội v.v Vì vậy tiêu cực trong lĩnh vực ý thức xã
hội có thể hiểu là những ý nghĩ, tình cảm, tâm lý, hệ tư tưởng sai trái,
không lành mạnh, phản khoa học làm cản trở sự phát triển của xã hội, triệt
tiêu sự sáng tạo và động lực thúc đẩy hoạt động của cá nhân.
Cùng với thuật ngữ tính tích cực của ý thức xã hội trong ngôn ngữ
hàng ngày còn có các thuật ngữ liên quan với nó như tính tích cực xã hội,

21
tính tích cực cá nhân. Nội dung của tính tích cực của ý thức xã hội được thể
hiện rõ hơn khi phân biệt nó với các thuật ngữ trên đây. “Tính tích cực” nói
chung chỉ sự hăng hái, cố gắng của con người trong hành động, không kể
đến hiệu quả và ảnh hưởng xã hội của nó. “Tính tích cực xã hội” là một

khái niệm nói lên thuộc tính bản chất của con người. Đó là tính chủ động,
sáng tạo và lòng hăng hái, nhiệt tình, quyết tâm của con người trong những
hoạt động có ý nghĩa thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ xã hội. Tuy nhiên, sự
sáng tạo, hăng hái nhiệt tình đó chỉ mang ý nghĩa tính tích cực xã hội khi
nó thông qua hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người để tạo ra
những giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội. Hiểu theo nghĩa đó thì tính
tích cực của ý thức xã hội cũng khác với tính tích cực cá nhân. “Tính tích
cá nhân” là sự hăng hái, tinh thần phấn đấu không biết mệt mỏi của cá nhân
con người vì một mục tiêu mà mình hướng tới. Do đó tính tích cực của cá
nhân có thể thúc đẩy sự tiến bộ xã hội nếu hành động và mục đích của con
người là tốt đẹp, phù hợp với quy luật phát triển xã hội. Và ngược lại, nếu
tính tích cực của cá nhân đó mà chỉ vì những mục tiêu cá nhân ích kỷ, tầm
thường thì nó đối lập với tích tích cực xã hội và đối lập với cả ý nghĩa tốt
đẹp của tính tích cực của ý thức xã hội.
Từ sự phân tích trên đây, có thể hiểu: Tính tích cực của ý thức xã hội
là sự biểu hiện vai trò năng động, sáng tạo của ý thức xã hội trong mối
quan hệ biện chứng với tồn tại xã hội, nhằm thúc đẩy sự phát triển và tiến
bộ xã hội thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Tính tích cực của ý
thức xã hội là sự thể hiện chức năng đặc thù của ý thức xã hội như là nhân
tố sáng tạo tích cực của con người hướng đến biến đổi thế giới khách quan.
Tính tích cực của nó không chỉ thể hiện ở sự sáng tạo khi phản ánh tồn tại
xã hội mà chủ yếu hơn, quan trọng và quyết định nhất là ở việc thông qua
hoạt động thực tiễn của con người để “sáng tạo” ra giới tự nhiên thứ hai -
thế giới các sự vật, hiện tượng không còn là tự nó mà là thế giới cho con
người.

22
Như vậy, tính tích cực của ý thức xã hội thể hiện vai trò của ý thức
xã hội, tác động, ảnh hưởng trở lại tồn tại xã hội. Nó thúc đẩy sự biến đổi
của những điều kiện vật chất nhờ nhận thức và hoạt động thực tiễn của con

người. Tính tích cực của ý thức xã hội phụ thuộc vào ba yếu tố: Một là mức
độ phản ánh đúng sai hiện thực; hai là vai trò lịch sử của chủ thể; ba là phụ
thuộc vào mức độ thâm nhập của ý thức xã hội vào quần chúng nhân dân.
Thứ nhất: Tính tích cực của ý thức xã hội phụ thuộc vào mức độ
phản ánh đúng sai hiện thực. Bởi vì ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội,
sự phản ánh này có thể diễn ra theo hai xu hướng là phản ánh đúng hiện
thực và phản ánh sai hiện thực. Nếu nó phản ánh sai hiện thực thì khi đó
trong sự phản ánh này không có sự năng động, sáng tạo của ý thức xã hội,
ở khía cạnh này không phải là tính tích cực của ý thức xã hội. Tính tích cực
của ý thức xã hội chỉ được hiểu khi nó phản ánh đúng hiện thực, nắm bắt
được quy luật vận động, phát triển của sự vật hiện tượng.
Thứ hai: Tính tích cực của ý thức xã hội còn phụ thuộc vào vai trò
lịch sử của chủ thể vì ý thức xã hội mang tính giai cấp. Điều đó được thể
hiện rõ nhất trong tâm lý xã hội và hệ tư tưởng xã hội. Nếu tư tưởng của
giai cấp thống trị trong xã hội có lợi ích phù hợp với lợi ích của quần chúng
nhân dân thì nó sẽ ảnh hưởng tích cực tới sự vận động và phát triển của xã
hội đó.
Thứ ba: Tính tích cực của ý thức xã hội phụ thuộc vào mức độ thâm
nhập của ý thức xã hội vào quần chúng nhân dân vì tư tưởng của giai cấp
thống trị sẽ phát huy đầy đủ tính tích cực của mình nếu nó được thâm nhập
vào quần chúng nhân, nhất là tư tưởng đó lại phù hợp với nguyện vọng của
quần chúng nhân dân, mang lại những lợi ích cho quần chúng nhân dân.
Vậy tính tích cực của ý thức xã hội được biểu hiện chủ yếu ở những
phương diện nào? Tính tích cực của ý thức xã hội trước hết được biểu hiện
chủ yếu trong những đặc điểm của tính độc lập tương đối của ý thức xã hội.
Bởi vì chức năng phản ánh và chức năng sáng tạo của ý thức xã hội được

23
thể hiện chủ yếu ở tính độc lập tương đối của nó. Nguyên lý cơ bản của chủ
nghĩa duy vật lịch sử là tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội và ý thức xã

hội có tính độc lập tương đối. Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội đối
với tồn tại xã hội nói chung còn thể hiện chức năng đặc thù của ý thức xã
hội như một nhân tố sáng tạo tích cực của con người đối với đời sống xã
hội của chính mình. Sự tác động trở lại của ý thức xã hội đối với tồn tại xã
hội theo hai hướng khác nhau. Nếu sự tác động của ý thức xã hội phù hợp
với tồn tại xã hội, thì nó sẽ thúc đẩy sự phát triển tiến bộ xã hội, đó là sự
tác động theo hướng tích cực - chúng ta xét tính tích cực của ý thức xã hội
theo hướng này. Nhưng sự tác động của ý thức xã hội cũng có thể làm cản
trở sự phát triển xã hội ở một mức độ nhất định, đó là sự tác động tiêu cực.
Khi nói đến tính tích cực của ý thức xã hội cần chú ý rằng đó phải là ý thức
xã hội nằm trong quá trình hoạt động thực tiễn của con người, xã hội. Cũng
tương tự như bất kỳ một tư tưởng, quan điểm khoa học nào hay ý thức lý
luận nói chung, tự nó ý thức xã hội không có một sức mạnh nào, ý thức xã
hội chỉ thể hiện được tính tích cực khi nó là “ý thức thực sự của xã hội”, nó
chỉ có sức mạnh vật chất khi đã trở thành ý thức của quần chúng, chỉ đạo
hoạt động của quần chúng nhân dân, của con người và cộng đồng xã hội. ở
đây chúng ta chỉ có thể xét tính độc lập tương đối của ý thức xã hội trên
góc độ đó và được thể hiện bằng những khía cạnh cụ thể khác nhau.
Sở dĩ chúng tôi khẳng định tính tích cực của ý thức xã hội được biểu
hiện chủ yếu ở bốn đặc điểm của tính độc lập tương đối của ý thức xã hội
vì những lý do sau:
Thứ nhất: Khi nói tới tính tích cực của ý thức xã hội là muốn khẳng
định chức năng sáng tạo, tích cực của ý thức xã hội vì sự phát triển và tiến
bộ xã hội nhờ hoạt động thực tiễn của con người. Trong tính độc lập tương
đối của ý thức xã hội thì các đặc điểm tính vượt trước; tính kế thừa; sự tác
động lẫn nhau; tác động trở lại tồn tại xã hội đều thể hiện được chức năng
sáng tạo, tích cực của mình. Tất nhiên những đặc điểm đó của ý thức xã hội

24
chỉ thực sự trở thành tính tích cực, thực sự phát huy được chức năng của

mình là nhờ vào hoạt động thực tiễn của con người. Tuy nhiên trong mỗi
biểu hiện của nó đều có hai xu hướng là tích cực và tiêu cực, trong đó xu
hướng tích cực thể hiện được tính tích cực của ý thức xã hội. Chúng tôi
xem xét tính tích cực của ý thức xã hội ở xu hướng này.
Thứ hai: Bản thân bốn đặc điểm đó đã nói lên được đầy đủ nội dung
và quy luật nội tại của ý thức xã hội. Bởi vì bản thân ý thức xã hội cũng có
quy luật riêng của nó mặc dù nó được sản sinh và phát triển cùng sự phát
triển của tồn tại xã hội.
Thứ ba: Chúng tôi chọn bốn đặc điểm này mà không chọn tính lạc
hậu của ý thức xã hôi vì bản thân tính lạc hậu của ý thức xã hội đã không
biểu hiện được tính năng động, sáng tạo của ý thức xã hội mặc dù nó là một
trong những biểu hiện của quy luật đặc thù của ý thức xã hội. Chúng tôi
cho rằng, cái gì được xếp vào “tính lạc hậu” là cái không theo kịp với sự
phát triển của sự vật, không thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ xã hội. Trong
sự vận động và phát triển của sự vật thì “tính lạc hậu” hay “sự lạc hậu”
không giống với “cái cũ”. Cái cũ nếu nó được giữ lại có nghĩa là cái cũ đó
còn phù hợp với sự phát triển của sự vật, trong lĩnh vực xã hội, nó có tác
dụng thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ xã hội. Còn lạc hậu là muốn nói đến
sự lỗi thời, không phù hợp, không còn tác dụng trong quá trình phát triển
của sự vật, hiện tượng nói chung và xã hội nói riêng.
Để thấy rõ hơn tính tích cực của ý thức xã hội được thể hiện trong
tính độc lập tương đối của ý thức xã hội như thế nào, chúng ta lần lượt
xem xét từng yếu tố của nó.
Thứ nhất: Tính tích cực của ý thức xã hội được thể hiện ở tính vượt
trước của ý thức xã hội.
Chức năng phản ánh và chức năng sáng tạo của ý thức xã hội đối với
tồn tại xã hội là thống nhất với nhau. Sự phản ánh vượt trước của ý thức xã
hội sẽ là sáng tạo, tích cực khi nó phản ánh đúng được những mối liên hệ

×