Tải bản đầy đủ (.pdf) (134 trang)

Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài theo quy định của Pháp luật Việt Nam trong xu thế hội nhập

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.44 MB, 134 trang )


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT





NGUYỄN CAO HIẾN





MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
KẾT HÔN GIỮA CÔNG DÂN VIỆT NAM VỚI
NGƯỜI NƯỚC NGOÀI THEO QUY ĐỊNH CỦA
PHÁP LUẬT VIỆT NAM
TRONG XU THẾ HỘI NHẬP





LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC







HÀ NỘI - 2011



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT




NGUYỄN CAO HIẾN









MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KẾT HÔN
GIỮA CÔNG DÂN VIỆT NAM VỚI NGƯỜI NƯỚC NGOÀI
THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM
TRONG XU THẾ HỘI NHẬP

Chuyên ngành : Luật dân sự
Mã số : 60 38 30




LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC





Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Phương Lan




HÀ NỘI - 2011


MỤC LỤC



Trang

Trang phụ bìa


Lời cam đoan


Mục lục


Danh mục các bảng



Danh mục các biểu đồ


MỞ ĐẦU
1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KẾT HÔN GIỮA
CÔNG DÂN VIỆT NAM VỚI NGƯỜI NƯỚC NGOÀI
10
1.1.
Khái niệm kết hôn giữa công dân Việt Nam với người
nước ngoài
10
1.1.1.
Kết hôn có yếu tố nước ngoài
10
1.1.1.1.
Khái niệm kết hôn
10
1.1.1.2.
Kết hôn có yếu tố nước ngoài
13
1.1.2.
Kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài
14
1.1.2.1.
Người nước ngoài
14

1.1.2.2.
Kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài
16
1.2.
Đặc điểm của quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với
người nước ngoài
17
1.2.1.
Đặc điểm chung
17
1.2.2.
Những đặc điểm đặc thù của quan hệ kết hôn giữa công dân
Việt Nam với người nước ngoài tại cơ quan nhà nước có
thẩm quyền của Việt Nam
19
1.3.
Nguyên tắc giải quyết quan hệ kết hôn giữa công dân Việt
Nam với người nước ngoài
22
1.4.
Ý nghĩa của việc pháp luật ghi nhận quan hệ kết hôn có yếu
tố nước ngoài
27

Chương 2: KẾT HÔN GIỮA CÔNG DÂN VIỆT NAM VỚI NGƯỜI
NƯỚC NGOÀI THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
VIỆT NAM HIỆN HÀNH
31
2.1.
Các điều kiện để việc kết hôn hợp pháp

32
2.1.1.
Điều kiện về tuổi kết hôn
35
2.1.2.
Điều kiện về sự tự nguyện của hai bên nam và nữ khi kết hôn
37
2.1.3.
Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn
40
2.1.3.1.
Cấm người đang có vợ hoặc có chồng kết hôn với người khác
41
2.1.3.2.
Cấm người mất năng lực hành vi dân sự kết hôn
44
2.1.3.3.
Cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ;
giữa những người có họ trong phạm vi ba đời
46
2.1.3.4.
Cấm kết hôn giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã
từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ
vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con
riêng của chồng
48
2.1.3.5.
Cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính
49
2.1.4.

Điều kiện về nghi thức kết hôn
51
2.2.
Thẩm quyền giải quyết việc đăng ký kết hôn giữa công dân
Việt Nam với người nước ngoài
55
2.2.1.
Việc đăng ký kết hôn được tiến hành trước cơ quan nhà
nước có thẩm quyền tại Việt Nam
55
2.2.2.
Việc đăng ký kết hôn được tiến hành tại khu vực biên giới
57
2.2.3.
Việc đăng ký kết hôn được tiến hành tại Cơ quan đại diện
của Việt Nam ở nước ngoài
59
2.3.
Trình tự, thủ tục đăng ký kết giữa công dân Việt Nam với
người nước ngoài
61
2.3.2.
Về thủ tục nộp và nhận hồ sơ kết hôn
64
2.3.3.
Về trình tự giải quyết hồ sơ đăng ký kết hôn giữa công dân
Việt Nam với người nước ngoài
65
2.3.4.
Về tổ chức lễ đăng ký kết hôn

68

Chương 3: THỰC TRẠNG KẾT HÔN GIỮA CÔNG DÂN VIỆT
NAM VỚI NGƯỜI NƯỚC NGOÀI TRONG NHỮNG
NĂM GẦN ĐÂY VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM
NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP
LUẬT VỀ VẤN ĐỀ NÀY
71
3.1.
Thực trạng kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước
ngoài những năm gần đây
71
3.1.1.
Một số nét về tình hình kết hôn giữa công dân Việt Nam với
người nước ngoài trong những năm gần đây
71
3.1.2.
Thực trạng pháp luật điều chỉnh và hoạt động của các cơ
quan liên quan đảm bảo thực thi việc kết hôn giữa công dân
Việt Nam với người nước ngoài
89
3.1.2.1.
Thực trạng về pháp luật điều chỉnh
89
3.1.2.2.
Thực trạng hoạt động của các cơ quan liên quan bảo đảm
thực thi việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người
nước ngoài
92
3.1.3.

Một số vướng mắc liên quan đến việc kết hôn giữa công dân
Việt Nam với người nước ngoài
95
3.2.
Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh quan
hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài
102
3.2.1.
Hoàn thiện cơ sở pháp lý về kết hôn giữa công dân Việt
Nam với người nước ngoài
103
3.2.2.
Đảm bảo hoạt động có hiệu quả của các cơ quan có liên
quan trong việc thi hành pháp luật về kết hôn có giữa công
dân Việt Nam với người nước ngoài
110

KẾT LUẬN
115

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
118

PHỤ LỤC
122



DANH MỤC CÁC BẢNG


Số hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
3.1
Tình hình kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam từ
năm 2007 đến năm 2010
73




DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Số hiệu
biểu đồ
Tên biểu đồ
Trang
3.1
Tình hình kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam từ
năm 2007 đến năm 2010
74
3.2
Tỷ trọng các trường hợp kết hôn có yếu tố nước ngoài tại
Việt Nam
75
3.3
Cơ cấu tỷ trọng nam và nữ công dân Việt Nam kết hôn
với người nước ngoài
76

3.4
Tình hình công dân Việt Nam kết hôn với công dân Đài
Loan giai đoạn 1998-2005
83
3.5
Tình hình công dân Việt Nam kết hôn với công dân Hàn
Quốc giai đoạn 2007-2010
85
3.6
Tình hình đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với
công dân Hàn Quốc tại Việt Nam và Hàn Quốc
86


1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, chính sách mở rộng hội nhập quốc tế của
Đảng và nhà nước ta đã làm cho đời sống của nhân dân được cải thiện đáng
kể. Cùng với sự phát triển của quá trình giao lưu quốc tế, các quan hệ về hôn
nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài cũng phát
sinh ngày càng nhiều. Việc điều chỉnh quan hệ này trở thành một yêu cầu cấp
bách, quan trọng nhằm làm ổn định và phát triển giao lưu dân sự quốc tế, đồng
thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân các nước có liên quan.
Để kịp thời điều chỉnh được các quan hệ hôn nhân và gia đình nói
chung, quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài nói
riêng, nhà nước ta đã ban hành một số văn bản pháp luật có giá trị như: Luật
Hôn nhân và gia đình năm 1986; Pháp lệnh Hôn nhân và gia đình giữa công
dân Việt Nam với người nước ngoài 2/12/1993; Luật Hôn nhân và gia đình

năm 2000 và một số văn bản hướng dẫn thi hành các văn bản trên. Điều này
đã tạo điều kiện cho các quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài có cơ sở pháp
lý để phát triển đồng thời tăng cường sự quản lý của nhà nước trong lĩnh vực
hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Do vậy, trong thời gian qua số
lượng công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài tăng nhanh về cả số
lượng và ngày càng đa dạng về phạm vi chủ thể. Đây là minh chứng cho chủ
trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta mở rộng quan hệ hợp tác giao lưu
dân sự giữa Việt Nam với các nước khác trên thế giới.
Tuy nhiên, trong vài năm trở lại đây, bên cạnh những yếu tố tiến bộ,
tích cực, trong quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài
đang nảy sinh các hệ lụy như hiện tượng lấy chồng (vợ) là người nước ngoài
vì mục đích kinh tế, để "xuất ngoại", kết hôn không xuất phát từ tình yêu nam
nữ, sự tự nguyện… Những hiện tượng này đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến

2
an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, thuần phong mỹ tục của người Việt
Nam. Ngoài ra, còn phải kể đến một số trường hợp lợi dụng việc kết hôn với
người nước ngoài nhằm buôn bán người, xâm phạm tình dục người phụ nữ.
Hậu quả từ những tiêu cực trong việc phụ nữ Việt Nam kết hôn với người
nước ngoài để lại cả trước mắt và lâu dài, ảnh hưởng tiêu cực đến nhiều mặt
kinh tế, văn hóa, an ninh xã hội, pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế… Có
nhiều nguyên nhân cả khách quan lẫn chủ quan dẫn đến các hiện tượng trên
nhưng sự hạn chế của pháp luật cùng với thiết chế thực thi chúng trong việc
điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài đóng vai
trò không nhỏ.
Chủ trương của Nhà nước ta về vấn đề cải cách tư pháp đã được thể
hiện cụ thể trong Nghị quyết số 49 NQ/TW ngày 02/6/2005 về "Chiến lược cải
cách tư pháp đến năm 2020", theo đó: "sớm hoàn thiện hệ thống pháp luật liên
quan đến lĩnh vực tư pháp phù hợp với mục tiêu chiến lược xây dựng và hoàn
thiện hệ thống pháp luật…" [18]. Bên cạnh đó, công cuộc xây dựng nhà nước

pháp quyền xã hội chủ nghĩa đang được đẩy mạnh. Vì vậy, việc nghiên cứu một
số vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về kết hôn
giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, từ đó rút ra được một số đề xuất
thực tế nhằm hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật về vấn đề này là hết
sức quan trọng, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. Nhận thức được điều đó,
em đã mạnh dạn chọn vấn đề "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về kết hôn
giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài theo quy định của pháp luật
Việt Nam trong xu thế hội nhập" làm đề tài cho luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài là vấn đề có
tính thời sự cao. Do vậy, từ trước tới nay có không ít các công trình nghiên
cứu về vấn đề này. Có thể chia các công trình nghiên cứu về kết hôn giữa
công dân Việt Nam với người nước ngoài thành ba nhóm lớn sau:

3
- Nhóm luận văn, luận án: ở nhóm này có thể liệt kê đến một số công
trình nghiên cứu tiêu biểu như: Vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt
Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, của Vilayvong Senebouttarat, Trường Đại
học Luật Hà Nội, 2008. Với đề tài này, tác giả đã nghiên cứu các quy định
của pháp luật Việt Nam về quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài theo quy
định của pháp luật Việt Nam, tuy nhiên tác giả lại không đề cập tới việc kết
hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa công dân Việt Nam
với nhau tại cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự của Việt Nam tại nước
ngoài. Quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với công dân Lào theo quy
định của pháp luật Việt Nam và Lào, Khóa luận tốt nghiệp, của Vithanha
Inthivixay, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2010. Ở đề tài này, tác giả đã bước
đầu nghiên cứu về quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước
ngoài, nhưng chủ yếu là quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với công
dân Lào mà không đề cập tới việc công dân Việt Nam kết hôn với công dân
nước khác. Mặt khác, tác giả đã nghiên cứu vấn đề này dưới góc độ tư pháp

quốc tế, tức là có sự xung đột pháp luật nên tác giả tập trung luận giải việc
chọn pháp luật nước nào giải quyết quan hệ này. Pháp luật về kết hôn có yếu
tố nước ngoài tại Việt Nam - thực trạng và giải pháp, của Nguyễn Thị Hương,
Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, 2006. Hay
như Đỗ Thị Kiều Ngân, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội,
2009, với đề tài: "Thực trạng kết hôn có yếu tố nước ngoài và một số giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật về vấn đề này ở Việt
Nam hiện nay". Ở hai đề tài này, các tác giả đã đề cập tới quan hệ kết hôn
giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, tuy nhiên, phạm vi nghiên
cứu rộng, bao gồm cả trường hợp người nước ngoài kết hôn với nhau tại Việt
Nam, công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài, công dân Việt Nam
kết hôn với nhau tại Việt Nam nhưng theo pháp luật nước ngoài. Do vậy, các
đề tài mới chỉ phân tích một cách khái quát các khía cạnh quan hệ kết hôn có
yếu tố nước ngoài.

4
Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đã chỉ ra một số vấn đề cơ
bản của pháp luật Việt Nam về quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với
người nước ngoài. Tuy nhiên hầu hết các công trình trên đều được nghiên cứu
dưới góc độ khác (chủ yếu là tư pháp quốc tế) hoặc với phạm vi rộng lớn nên
chỉ mang tính khái quát hoặc nghiên cứu dưới góc độ tư pháp quốc tế, lý giải
về hiện tượng xung đột pháp luật trong khi giải quyết quan hệ kết hôn có yếu
tố nước ngoài.
- Nhóm sách giáo trình, sách bình luận chuyên sâu: trong nhóm này,
đầu tiên phải kể đến cuốn sách Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước
ngoài ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế của Nông Quốc Bình và
Nguyễn Hồng Bắc, Nxb Tư pháp, 2006. Ngoài ra còn có một số giáo trình và
bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia đình. Hầu hết các công trình này
mới chỉ dừng lại ở việc phân tích, bình luận các quy định của pháp luật hôn
nhân và gia đình về quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước

ngoài, chưa đề cập hoặc ít đề cập đến thực tiễn thi hành các quy định của
pháp luật về vấn đề trên.
- Nhóm các bài báo, tạp chí chuyên ngành luật: Các bài nghiên cứu
thuộc nhóm này chủ yếu được đề cập trên các tạp chí như Tạp chí Tòa án
nhân dân, Tạp chí Kiểm sát, tạp chí Dân chủ và pháp luật, Tạp chí Nghiên
cứu lập pháp, Tạp chí Luật học… Trong đó phải kể đến bài viết của tác giả
Đỗ Văn Chỉnh đăng trên tạp chí Tòa án nhân dân, số 1 (1/2011) với nhan đề:
"Kết hôn có yếu tố nước ngoài và thực tiễn áp dụng pháp luật"; "Một số
vướng mắc liên quan đến việc đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài" của tác
giả Ngô Văn Thìn, đăng trên tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 7/2009; "Thực
trạng về việc phỏng vấn trong kết hôn với người nước ngoài hiện nay" của
Nguyễn Văn Thắng, đăng trên Tạo chí Dân chủ và pháp luật, số chuyên đề về
đăng ký khai sinh và đăng ký kết hôn… Phần lớn các bài viết thuộc nhóm này
chỉ đề cập tới một số vấn đề cụ thể của quan hệ kết hôn giữa công dân Việt

5
Nam với người nước ngoài, chưa đề cập được sâu sắc và toàn diện các vấn đề
của việc công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài.
Tóm lại, cho đến nay, chưa có một công trình khoa học nào nghiên
cứu một cách toàn diện, chuyên sâu, đầy đủ và có hệ thống về kết hôn giữa
công dân Việt Nam với người nước ngoài. Các công trình nghiên cứu hoặc
chủ yếu tập trung vào một mảng cụ thể của quan hệ này hoặc nghiên cứu dưới
góc độ xung đột pháp luật và đi sâu vào việc luận giải hệ thống pháp luật nào
giải quyết quan hệ đó. Do vậy, các công trình nghiên cứu trên so với đề tài
của Luận văn này là hoàn toàn không có sự trùng lắp về mặt nội dung.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của Luận văn là qua quá trình nghiên cứu các
quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình về việc kết hôn giữa công dân
Việt Nam với người nước ngoài và thực trạng của vấn đề này trong những
năm gần đây, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và

một số giải pháp khác nhằm nâng cao hơn nữa hoạt động của các thiết chế
trong việc thi hành pháp luật về kết hôn giữa công dân Việt Nam với người
nước ngoài.
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn cần phải giải quyết
được những nhiệm vụ cụ thể sau:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về việc kết hôn giữa công dân Việt
Nam với người nước ngoài như khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc giải quyết
quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài và ý nghĩa
việc pháp luật ghi nhận quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài;
- Phân tích thực trạng quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với
người nước ngoài trong những năm gần đây;
- Đánh giá thực trạng của pháp luật về kết hôn giữa công dân Việt
Nam với người nước ngoài; đưa ra một số vướng mắc liên quan, từ đó đề xuất

6
một số giải pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa các quy định về kết hôn có yếu tố
nước ngoài trong pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Là một số vấn đề lý luận về quan
hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, các quy định của
Luật Hôn nhân và gia đình 2000; pháp luật hôn nhân và gia đình của Việt nam
cũng như một số nước trên thế giới về vấn đề này; tình hình kết hôn giữa công
dân Việt Nam với người nước ngoài trong những năm gần đây và thực trạng
pháp luật điều chỉnh và các thiết chế đảm bảo thực thi việc kết hôn giữa công
dân Việt Nam với người nước ngoài.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Trong khuôn khổ của một luận văn
thạc sĩ, luận văn tập trung vào một số vấn đề sau:
- Những quy định của pháp luật về quan hệ kết hôn có yếu tố nước
ngoài. Trong đó tập trung chủ yếu vào quan hệ kết hôn giữa công dân Việt
Nam với người nước ngoài.

- Các quy định của pháp luật về kết hôn giữa công dân Việt Nam với
người nước ngoài trong một số văn bản pháp luật như: Luật Hôn nhân và gia
đình năm 1986; Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Bộ luật dân sự năm 2005
và các văn bản pháp luật khác liên quan. Trong đó, luận văn tập trung nghiên
cứu về quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài trước cơ
quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và theo các quy định của pháp luật
Việt Nam mà không đề cập tới việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người
nước ngoài theo pháp luật nước ngoài và yêu cầu pháp luật Việt Nam công nhận
- Một số quy định của pháp luật các nước trên thế giới về kết hôn có
yếu tố nước ngoài như Hàn Quốc, Đài Loan, Anh, Mỹ, có sự so sánh và đối
chiếu với pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, qua đó tiếp thu những
điểm tiến bộ và phù hợp với các quy định về kết hôn giữa công dân Việt Nam
với người nước ngoài trong luật HN&GĐ Việt Nam.

7
- Tình hình kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài
mà chủ yếu là nữ công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài trong vài
năm gần đây.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở kết hợp các phương pháp chủ
yếu như phương pháp duy vật biện chứng và lịch sử của chủ nghĩa Mác -
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; phương pháp phân
tích luật học; phương pháp phân tích - so sánh; phương pháp tổng hợp (trên
cơ sở phân tích, so sánh và tham khảo pháp luật nước ngoài); phương pháp
trích dẫn, phương pháp thống kê, phương pháp chuyên gia v.v Trên cơ sở
phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá về cơ sở lý luận và thực tiễn của
pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, đặc biệt đánh
giá, phân tích về thực trạng pháp luật Việt Nam điều chỉnh một số quan hệ
dân sự có yếu tố nước ngoài đã lựa chọn, tác giả rút ra những ưu điểm, tồn tại
trong việc thi hành pháp luật, từ đó đề ra các giải pháp cụ thể nhằm sửa đổi,

bổ sung và hoàn thiện pháp luật.
6. Đóng góp của luận văn
Với tính cách là một trong những công trình khoa học (thuộc chuyên
ngành luật dân sự) nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn đề về cơ sở lý
luận và thực tiễn của pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước
ngoài đặc biệt là kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, kết
quả nghiên cứu của đề tài sẽ mang lại những đóng góp mới về khoa học pháp
lý như sau:
Thứ nhất, trên cơ sở nghiên cứu, phân tích và ứng dụng khái niệm
"quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài" đã được pháp luật quy định, tác giả
đưa ra khái niệm về quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, kết hôn giữa công
dân Việt Nam với người nước ngoài. Việc đưa ra các khái niệm này trong tình
hình hiện nay là cần thiết, góp phần quan trọng vào công tác nghiên cứu và

8
giảng dạy về pháp luật dân sự nói chung, pháp luật hôn nhân và gia đình nói
riêng, củng cố cho nền khoa học pháp lý nước ta, cũng như phục vụ tích cực
cho việc sửa đổi Luật Hôn nhân và gia đình về vấn đề quan hệ hôn nhân và
gia đình có yếu tố nước ngoài đang diễn ra hiện nay.
Thứ hai, luận văn phân tích, đánh giá một cách khoa học những quy
định của pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện hành về kết hôn giữa
công dân Việt Nam với người nước ngoài; chắt lọc những quy định về kết hôn
có yếu tố nước ngoài của một số nước trên thế giới và tình hình kết hôn giữa
công dân Việt Nam với người nước ngoài trong những năm gần đây.
Thứ ba, luận văn đã xác định những bất cập trong các quy định của pháp
luật hôn nhân và gia đình Việt Nam về kết hôn giữa công dân Việt Nam với
người nước ngoài cần phải hoàn thiện, những vướng mắc trong việc thực thi
pháp luật cần phải khắc phục và xác định rõ nguyên nhân của thực trạng đó.
Thứ tư, luận văn đã đề xuất một số kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 nhằm hoàn thiện hơn nữa các

quy định của pháp luật về kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước
ngoài. Mặt khác, luận văn cũng đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả hoạt động của các thiết chế bảo đảm thực thi việc kết hôn giữa công dân
Việt Nam với người nước ngoài.
Ngoài ra, những kết quả nghiên cứu mới của luận văn sẽ là nguồn tư
liệu mang tính lý luận và thực tiễn sâu sắc để các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền có thể tham khảo góp phần sửa đổi một số quy định trong Luật Hôn
nhân và gia đình năm 2000 về kết hôn giữa công dân Việt Nam với người
nước ngoài. Đồng thời, những kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được
dùng làm tư liệu học tập, tài liệu tham khảo, nghiên cứu tại các cơ sở đào tạo
luật hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân quan tâm đến quan hệ kết hôn giữa công
dân Việt Nam với người nước ngoài.

9
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quan hệ kết hôn giữa công dân
Việt Nam với người nước ngoài
Chương 2: Kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài
theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành
Chương 3: Thực trạng kết hôn giữa công dân Việt Nam với người
nước ngoài trong những năm gần đây và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả điều chỉnh của pháp luật về vấn đề này.

10
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KẾT HÔN
GIỮA CÔNG DÂN VIỆT NAM VỚI NGƯỜI NƯỚC NGOÀI


1.1. Khái niệm kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài
1.1.1. Kết hôn có yếu tố nước ngoài
1.1.1.1. Khái niệm kết hôn
Hôn nhân là cơ sở hình thành gia đình, gia đình là tế bào của xã hội.
Trong mỗi chế độ xã hội, gia đình đều thực hiện những chức năng cơ bản
mang tính chất xã hội của nó. Một trong những chức năng cơ bản của gia đình
là sinh sản nhằm tái sản xuất ra con người, là quá trình tiếp tục nòi giống. Đó
là một quá trình cần thiết của cuộc sống trong một xã hội nhất định. Quá trình
này được thể hiện ở chỗ "hàng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình,
con người bắt đầu tạo ra những con người khác, sinh sôi, nảy nở - đó là quan
hệ giữa chồng và vợ, giữa cha mẹ và con cái - đó là gia đình" [1]. Nếu không
có sản xuất và tái sản xuất ra con người thì xã hội không thể phát triển, thậm
chí không thể tồn tại được. Như vậy, gia đình là một trong những thể chế cơ
bản của xã hội. Gia đình được ra đời, tồn tại và phát triển trước hết là nhờ nhà
nước thừa nhận hôn nhân của đôi nam nữ, đồng thời nhà nước quy định quyền
và nghĩa vụ pháp lý cho vợ và chồng.
Hôn nhân là sự liên kết đặc biệt giữa một người nam và một người nữ,
sự liên kết đó phải được nhà nước thừa nhận bằng sự phê chuẩn dưới hình
thức pháp lý - đăng ký kết hôn. Như vậy, đăng ký kết hôn đã làm xác lập quan
hệ hôn nhân và là cơ sở để hình thành gia đình. Trong xã hội có giai cấp, quan
hệ hôn nhân bị chi phối bởi ý chí của giai cấp thống trị. Thông qua nhà nước
và bằng pháp luật, giai cấp thống trị tác động vào các quan hệ hôn nhân và gia
đình làm cho các quan hệ này phát sinh, thay đổi hay chấm dứt phù hợp với
lợi ích của giai cấp đó.

11
Hôn nhân là cơ sở của gia đình và gia đình là tế bào của xã hội. "Gia
đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt" [33]. Vì vậy, nhà
nước ta luôn quan tâm củng cố chế độ hôn nhân và đề ra những biện pháp
nhằm ổn định quan hệ này, "nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình…" [34].

Tại khoản 2 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã đưa ra khái
niệm về kết hôn, theo đó: "Kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng
theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn" [33].
Theo quy định trên, kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng
theo quy định của pháp luật về kết hôn và đăng ký kết hôn. Kết hôn chính là
sự thừa nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quan hệ vợ chồng của
hai người khác giới, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa họ đối với nhau.
Hệ thống pháp luật của nước ta quy định, việc kết hôn phải đăng ký tại
cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Khi yêu cầu đăng ký kết hôn, hai bên nam
nữ phải có mặt tại cơ quan đăng ký kết hôn, nộp tờ khai đăng ký kết hôn và
những giấy tờ cần thiết khác. Trong trường hợp có lý do chính đáng, một
trong hai bên kết hôn không thể đến nộp hồ sơ đăng ký kết hôn thì có thể gửi
cho cơ quan đăng ký kết hôn đơn xin nộp hồ sơ tạm vắng mặt, trong đơn phải
nêu rõ lý do vắng mặt và phải có sự xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp cơ sở
nơi người vắng mặt cư trú.
Pháp luật hôn nhân và gia đình quy định: nam, nữ kết hôn phải đảm
bảo hai yếu tố:
Thứ nhất, việc kết hôn phải thể hiện ý chí của cả nam và nữ là mong
muốn được kết hôn với nhau. Như vậy, trước hết kết hôn là một quyền gắn
liền nhân thân của mỗi bên nam nữ. Quyền kết hôn xuất phát từ tình cảm yêu
thương giữa nam và nữ. Bởi vậy, đó là quyền tự do của mỗi cá nhân và được
pháp luật bảo vệ, điều này được thể hiện tại Điều 39 Bộ luật dân sự năm 2005,
theo đó: "nam, nữ có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật hôn nhân và
gia đình có quyền tự do kết hôn" [35] và khoản 2 Điều 9 Luật Hôn nhân và

12
gia đình: "việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào
được ép buộc, lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép, cản trở" [33]. Do
vậy, sự tự nguyện của nam và nữ trong việc kết hôn vừa là điều kiện đảm bảo
cho hôn nhân có giá trị pháp lý và đồng thời cũng là cơ sở để xây dựng gia

đình bền vững. Đối với những trường hợp khi tiến hành đăng ký kết hôn có sự
lừa dối, cưỡng ép để được kết hôn hoặc kết hôn giả tạo thì nhà nước không
thừa nhận việc kết hôn đó là hợp pháp.
Thứ hai, việc kết hôn phải được nhà nước thừa nhận. Theo quy định
tại Điều 64 Hiến pháp 1992 thì: "Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình" [34].
Hôn nhân chỉ được nhà nước thừa nhận khi việc xác lập quan hệ hôn nhân
tuân thủ các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn.
Đó là điều kiện về tuổi kết hôn; điều kiện về sự tự nguyện và một số điều kiện
về nhân thân khác (các trường hợp cấm kết hôn) được quy định tại Điều 9;
Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và việc kết hôn phải được đăng
ký theo đúng quy định của pháp luật. Đáp ứng đủ những điều kiện trên, cơ
quan nhà nước có thẩm quyền sẽ tiến hành đăng ký việc kết hôn và ghi vào sổ
kết hôn. Khi đó giữa các bên nam, nữ sẽ phát sinh quan hệ hôn nhân.
Như vậy, muốn được kết hôn với nhau, nam nữ phải tuân thủ các điều
kiện kết hôn và đăng ký kết hôn. Có thể thấy rằng, pháp luật của nhà nước ta
quy định các điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn phần nào đã thể hiện tính
khoa học và phù hợp với điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, đồng thời cũng
phù hợp với tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, thông qua việc đăng ký kết
hôn, nhà nước đã công nhận hôn nhân của đôi nam, nữ. Ở đây, sự kiện kết
hôn là cơ sở pháp lý ghi nhận rằng, hai bên nam nữ đã phát sinh quyền và
nghĩa vụ vợ chồng. Sự kiện này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định
chủ thể của các quan hệ trong gia đình như quan hệ giữa vợ và chồng, quan
hệ giữa cha mẹ và con cái, đồng thời xác định rõ thời điểm xác lập các quan
hệ đó.

13
1.1.1.2. Kết hôn có yếu tố nước ngoài
Luật hôn nhân và gia đình hiện hành cũng như các văn bản hướng dẫn
chưa có quy định cụ thể về khái niệm kết hôn có yếu tố nước ngoài mà chỉ ghi
nhận khái niệm về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài.

Theo đó, tại khoản 14 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
ghi nhận:
Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan
hệ hôn nhân và gia đình:
a) Giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài;
b) Giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam;
c) Giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ để xác lập,
thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài hoặc tài
sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài [33].
Ngoài ra, tại khoản 4 Điều 100 Luật Hôn nhân và gia đình còn quy
định: "Các quy định của Chương này cũng được áp dụng đối với quan hệ hôn
nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên hoặc cả hai
bên định ở nước ngoài" [33].
Việc nhận diện đúng "yếu tố nước ngoài" trong quan hệ hôn nhân và
gia đình là hết sức cần thiết. Nhiều trường hợp không xác định đúng "yếu tố
nước ngoài" nên gây không ít khó khăn cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền
trong việc giải quyết các vấn đề phát sinh từ quan hệ hôn nhân và gia đình có
yếu tố nước ngoài. Khoản 14 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã
đưa ra tiêu chí để xác định "yếu tố nước ngoài" trong quan hệ hôn nhân và gia
đình. Điều này đã khẳng định sự phát triển về lý luận của pháp luật Việt Nam
trong việc điều chỉnh các vấn đề có liên quan đến hôn nhân và gia đình.
Từ những phân tích trên, quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước
ngoài có thể hiểu là các quan hệ hôn nhân và gia đình sau:

14
- Có ít nhất một bên chủ thể là người nước ngoài
- Giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ xác lập, thay đổi, chấm
dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài.
- Quan hệ giữa công dân Việt Nam với nhau mà tài sản liên quan đến
quan hệ đó ở nước ngoài.

Kết hôn có yếu tố nước ngoài là một trường hợp cụ thể của quan hệ
hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Do vậy, căn cứ vào khái niệm
quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, ta có thể đưa ra khái niệm
về kết hôn có yếu tố nước ngoài như sau:
Kết hôn có yếu tố nước ngoài là việc nam, nữ xác lập quan hệ vợ
chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn,
trong đó có ít nhất một bên chủ thể là người nước ngoài hoặc người Việt Nam
định cư ở nước ngoài hoặc việc kết hôn được xác lập ở nước ngoài và theo
pháp luật nước ngoài.
Như vậy, theo khái niệm trên thì các trường hợp kết hôn có yếu tố
nước ngoài bao gồm:
- Kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài;
- Kết hôn giữa người nước ngoài với nhau mà một trong các bên
thường trú tại Việt Nam;
- Kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau mà một hoặc cả hai bên
định cư ở nước ngoài hoặc sự kiện kết hôn được tiến hành ở nước ngoài theo
pháp luật nước ngoài
1.1.2. Kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài
1.1.2.1. Người nước ngoài
Đối với mỗi quốc gia, việc người nước ngoài đến làm ăn, sinh sống đã
tất yếu trở thành bộ phần không thể thiếu trong cộng đồng dân cư của quốc

15
gia đó. Ở Việt Nam, người nước ngoài được hiểu là người không mang quốc
tịch Việt Nam, bao gồm người có quốc tịch nước ngoài và người không có
quốc tịch.
Theo quy định của pháp luật hiện hành, người nước ngoài cư trú ở
Việt Nam là công dân nước ngoài và người không quốc tịch thường trú hoặc
tạm trú ở Việt Nam. Ngoài ra, tại khoản 1 Điều 9 Nghị định số 68/2002/NĐ-CP
ngày 10/7/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật

Hôn nhân và gia đình năm 2000 về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố
nước ngoài (sau đây gọi tắt là Nghị định số 68/2002/NĐ-CP) thì "người nước
ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam, bao gồm công dân nước ngoài
và người không quốc tịch" [12]. Theo các quy định trên thì người nước ngoài
cư trú tại Việt Nam có thể là công dân nước ngoài hoặc có thể là người không
có quốc tịch.
Công dân nước ngoài là người có quốc tịch nước ngoài, có thể là
người có một hoặc nhiều quốc tịch nước ngoài. Người có nhiều quốc tịch
nước ngoài là tình trạng pháp lý của một người có cùng một lúc là công dân
của nhiều quốc gia. Người không có quốc tịch là người không có quốc tịch
của bất cứ nước nào. Địa vị pháp lý của người không có quốc tịch bị hạn chế
nhiều hơn so với công dân nước sở tại và người có quốc tịch nước ngoài. Họ
không được hưởng các quyền mà các bộ phận khác của dân cư được hưởng
trên cơ sở điều ước quốc tế giữa các quốc gia hữu quan. Họ cũng không được
hưởng sự bảo hộ ngoại giao của bất kỳ nước nào.
Người nước ngoài là một bộ phận không thể thiếu trong cộng đồng
dân cư của một quốc gia nên bên cạnh các quy định pháp luật bảo vệ quyền
lợi của công dân, từng quốc gia đều phải đối diện với nghĩa vụ quốc tế là tạo
cơ sở và điều kiện để người nước ngoài được hưởng chế độ pháp lý phù hợp
với sự tồn tại hợp pháp của họ trên lãnh thổ quốc gia đó. Một đặc thù quan
trọng liên quan đến địa vị pháp lý của người nước ngoài trên lãnh thổ nước sở

16
tại là người nước ngoài không chỉ chịu sự điều chỉnh của pháp luật nước này
mà đồng thời còn phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật của nước người đó là
công dân. Do vậy, về nguyên tắc, người nước ngoài được hưởng các quyền
chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa cơ bản như công dân của nước sở tại, ngoại
trừ một số quyền do pháp luật quốc gia sở tại có quy định hạn chế nhất định
vì lợi ích và an ninh quốc gia của nước đó. Vì thế, theo quy định của pháp luật
Việt Nam, trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình nói chung, kết hôn nói riêng,

họ cũng được quyền kết hôn với công dân Việt Nam hoặc kết hôn với người
nước ngoài khác tại Việt Nam và quan hệ kết hôn của họ được pháp luật Việt
Nam ghi nhận và bảo vệ.
1.1.2.2. Kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài
Kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài là một trường
hợp kết hôn có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam. Hiện
nay pháp luật thực định Việt Nam cũng như các công trình nghiên cứu đều
chưa đưa ra được khái niệm về quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với
người nước ngoài.
Tuy nhiên, trên cơ sở khái niệm về hôn nhân và gia đình có yếu tố
nước ngoài cũng như khái niệm về quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, ta
có thể hiểu một cách khái quát nhất về quan hệ kết hôn giữa công dân Việt
Nam với người nước ngoài như sau:
Kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài là việc nam,
nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn
và đăng ký kết hôn, trong đó một bên là công dân Việt Nam và một bên là
người nước ngoài.
Theo khái niệm trên ta thấy rằng, việc kết hôn giữa công dân Việt
Nam với người nước ngoài phải tuân thủ các quy định của pháp luật Việt
Nam, đó là các quy định về điều kiện kết hôn và quy định về việc đăng ký kết
hôn. Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài có thể được

17
tiến hành tại Việt Nam, trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam
hoặc việc kết hôn được tiến hành trước cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự
của Việt Nam tại nước ngoài; ngoài ra cũng có trường hợp việc kết hôn trên
được thực hiện trước cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài tại nước ngoài.
Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, luận văn chỉ nghiên cứu
hai trường hợp là việc kết hôn được tiến hành trước cơ quan nhà nước có
thẩm quyền của Việt Nam hoặc trước cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự của

Việt Nam tại nước ngoài.
Kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài là một trong
ba trường hợp kết hôn có yếu tố nước ngoài và theo quy định của pháp luật
Việt Nam, các trường hợp kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước
ngoài bao gồm:
- Kết hôn giữa công dân Việt Nam với công dân nước ngoài (người có
một hoặc nhiều quốc tịch nước ngoài)
- Kết hôn giữa công dân Việt Nam với người không có quốc tịch.
1.2. Đặc điểm của quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với
người nước ngoài
Như đã phân tích trên, quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với
người nước ngoài là một trường hợp của quan hệ kết hôn có yếu tố nước
ngoài. Do vậy, quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước
ngoài vừa mang những đặc điểm chung của quan hệ kết hôn vừa có những
đặc điểm đặc thù.
1.2.1. Đặc điểm chung
Thứ nhất, quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước
ngoài chỉ được nhà nước công nhận giữa những người khác nhau về giới tính
Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình, thể hiện trong việc sinh
đẻ, nuôi dưỡng và giáo dục con cái, đáp ứng lẫn nhau những nhu cầu vật chất

18
và tinh thần trong cuộc sống hàng ngày. Sự liên kết giữa những người khác
giới là một đặc điểm vừa mang tính tự nhiên, vừa mang tính xã hội. Nếu hôn
nhân được xây dựng giữa hai người cùng giới tính thì đương nhiên mục đích
của hôn nhân không đạt được, chức năng của gia đình không đảm bảo. Do đó,
để bảo vệ yếu tố truyền thống đạo đức tốt đẹp của nhân loại và tính tự nhiên
trong hôn nhân, pháp luật đa số các nước cũng như pháp luật hôn nhân và gia
đình nước ta đều cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính. Hiện nay, ở
nước ta đã xuất hiện một số trường hợp hai người cùng giới tính chung sống

với nhau như vợ chồng. Đây là hiện tượng xã hội không lành mạnh, trái với
thuần phong mỹ tục, không phù hợp với đạo đức xã hội và cần được ngăn
chặn và loại bỏ.
Thứ hai, quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước
ngoài phải có sự công nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới có giá
trị pháp lý
Do tầm quan trọng của việc kết hôn là nhằm xây dựng gia đình, đảm
bảo chức năng xã hội của gia đình nên sự kiện kết hôn có ý nghĩa hết sức
quan trọng, liên quan tới nhiều quan hệ khác như quan hệ giữa vợ và chồng;
quan hệ giữa cha mẹ và con… Xuất phát từ vai trò đó, việc quản lý kết hôn là
điều hết sức cần thiết. Sự tham gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong
việc thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn không chỉ có ý nghĩa để bảo đảm cho
hôn nhân có giá trị pháp lý mà còn góp phần đảm bảo cho sự ổn định của các
quan hệ gia đình nói chung, từ đó đảm bảo cho sự phát triển ổn định của xã hội.
Thứ ba, việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài
phải đảm bảo sự tự nguyện của hai bên nam nữ và nhằm mục đích xây dựng
gia đình
Việc thể hiện ý chí tự nguyện, ưng thuận của các bên trong quan hệ
kết hôn là một trong những điều kiện căn bản để quan hệ kết hôn có giá trị
pháp lý. Nam, nữ phải tỏ rõ ý chí của mình là mong muốn được xác lập quan

×