Tải bản đầy đủ (.pdf) (125 trang)

Cơ sơ lý luận và thực tiễn về tranh tụng tại phiên tòa trong xét xử vụ án hình sự ở tỉnh Bắc Ninh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.03 MB, 125 trang )



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT



NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG





CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA TRONG XÉT XỬ
VỤ ÁN HÌNH SỰ Ở TỈNH BẮC NINH


LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


HÀ NỘI - 2014
NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ HÀ NỘI - 2014



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT




NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG


CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA TRONG XÉT XỬ
VỤ ÁN HÌNH SỰ Ở TỈNH BẮC NINH


Chuyên ngành : Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã ngành : 60 38 01 04


LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.TRẦN VĂN LUYỆN


HÀ NỘI, 2014


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,
tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán
tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể

bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!



NGƢỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Thị Hồng Nhung




MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRANH TỤNG
TẠI PHIÊN TÒA XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ 7
1.1. Khái niệm tranh tụng tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự: 7
1.1.1. Khái niệm tranh tụng: 7
1.1.2. Khái niệm tranh tụng tại phiên tòa: 8
1.2. Vai trò tranh tụng tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự: 8
1.3. Đặc điểm tranh tụng tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự: 11
1.3.1. Nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa: 11
1.3.2. Các chủ thể tham gia vào quá trình tranh tụng: 14
1.3.3. Bản chất của điều khiển tranh tụng tại phiên tòa xét xử vụ án
hình sự: 16

1.3.4. Nội dung hoạt động điều khiển tranh tụng tại phiên tòa xét xử
vụ án hình sự: 19
1.3.5. Phạm vi và các giai đoạn của quá trình tranh tụng: 21
1.4. Tìm hiểu về tranh tụng trong hoạt động xét xử vụ án hình sự ở một số quốc
gia trên thế giới. 28
1.4.1. Tranh tụng trong tố tụng hình sự của các nước theo hệ thống
châu Âu lục địa: 28


1.4.2. Tranh tụng trong tố tụng hình sự của các nước theo hệ thống
pháp luật Anh- Mỹ: 31
1.4.3. Lịch sử phát triển tranh tụng tại phiên tòa ở Việt Nam: 33
Kết luận chƣơng 1 48
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ HOẠT
ĐỘNG TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ Ở
TỈNH BẮC NINH 50
2.1. Tình hình xét xử vụ án hình sự ở tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2008-2013: 50
2.2. Thực trạng hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự ở tỉnh Bắc
Ninh giai đoạn 2008 – 2013: 67
2.3. Nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét
xử vụ án hình sự ở tỉnh Bắc Ninh. 74
Kết luận chƣơng 2 79
CHƢƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH 81
3.1. Quan điểm của Đảng, Nhà nước về tranh tụng tại phiên tòa trong xét xử vụ
án hình sự. 81
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử vụ
án hình sự: 83
3.2.1. Hoàn thiện các quy định của pháp luật TTHS hiện hành liên

quan đến hoạt động tranh tụng tại phiên tòa hình sự: 83
3.2.2. Nâng cao trình độ, kĩ năng điều khiển tranh tụng của Thẩm
phán, Hội thẩm nhân dân: 89
3.2.3. Mở rộng, nâng cao quyền bào chữa: 95


3.2.4. Nâng cao chất lượng của Kiểm sát viên trong hoạt động tranh
tụng tại phiên tòa: 98
3.2.5. Xây dựng cơ sở vật chất, điều chỉnh chính sách tiền lương cho
Thẩm phán, Kiểm sát viên đảm bảo chất lượng tranh tụng: 99
3.2.6. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục cho mọi người hiểu
và thực hiện nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa: 101
Kết luận chƣơng 3 103
KẾT LUẬN 104
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 111



DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLHS Bộ luật hình sự
BLTTHS Bộ luật tố tụng hình sự
HĐXX Hội đồng xét xử
TAND Tòa án nhân dân
TNHS Trách nhiệm hình sự
TTHS Tố tụng hình sự
VKS Viện kiểm sát
VKSND Viện kiểm sát nhân dân
XHCN Xã hội chủ nghĩa



DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang

Bảng 2.1: Tổng hợp số liệu xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc
thẩm, tái thẩm của ngành Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh ……………
Bảng 2.2: Tổng hợp số liệu vụ án hình sự sơ thẩm của ngành Tòa án
nhân dân tỉnh Bắc Ninh có luật sư tham gia từ năm 2008 đến 2013 …

105

106




DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ

Trang
Biểu đồ 2.1: Tỷ lệ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái
thẩm của ngành Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh (2008-2013)
Biểu đồ 2.2: Tỷ lệ vụ án hình sự sơ thẩm có luật sư tham gia (2008-2013)

107
108



1
MỞ ĐẦU


1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài:
Những năm qua, tình hình vi phạm pháp luật ở nước ta xảy ra nghiêm
trọng, diễn biến phức tạp, có chiều hướng gia tăng ảnh hưởng đến quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Cùng với sự nỗ lực của toàn xã hội, các
cơ quan tiến hành tố tụng đã có nhiều cố gắng trong công tác tư pháp nên đã góp
phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh, chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Tuy
nhiên, chất lượng công tác tư pháp nói chung và công tác xét xử nói riêng còn
chưa ngang tầm với yêu cầu và nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó, còn
bộc lộ nhiều yếu kém, bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội, xâm phạm đến các
quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của xã hội và công dân. Trong khi
chất lượng tranh tụng hiện nay còn nhiều hạn chế như sự có mặt của người
bào chữa tại phiên tòa, quyền bào chữa của bị cáo chưa thực sự được đảm
bảo… Đội ngũ Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, Luật sư và các cán
bộ tư pháp khác chưa được chuẩn bị đầy đủ về kỹ năng nghề nghiệp theo yêu
cầu cải cách tư pháp; kinh nghiệm thực tiễn về tranh tụng còn hạn chế nên
không tránh khỏi khó khăn, lúng túng trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ
của mình theo quy định của pháp luật.
Nghị quyết 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 “Về một số nhiệm vụ trọng
tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” và Nghị quyết 49/NQ-TW ngày
02/6/2005 “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” của Bộ Chính trị
ra đời trở thành định hướng chiến lược cho công cuộc cải cách tư pháp ở nước
ta. Nghị quyết này đề cập nhiều nội dung khác nhau của công tác tư pháp từ
hoạt động điều tra, truy tố, xét xử cho đến việc đào tạo cán bộ tư pháp, trong
đó tăng cường tranh tụng trong quá trình xét xử vụ án hình sự được coi là vấn
đề trọng tâm của Nghị quyết. Theo đó, các quy định trong tố tụng hình sự


2
phải đảm bảo tính khách quan, phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu

vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, phải đảm bảo để bản án, quyết định của
Tòa án là hiện thân của công lý, công bằng xã hội. Như vậy, một vấn đề cấp
bách được đặt ra đối với các cơ quan tư pháp là làm thế nào để đạt được
những yêu cầu cải cách tư pháp liên quan đến vấn đề tranh tụng. Với vai trò
quan trọng như vậy, việc nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa luôn
luôn là một nhu cầu, một đòi hỏi cấp thiết khách quan.
Cùng với quá trình chuyển đổi nền kinh tế của đất nước, tình hình kinh
tế ở Bắc Ninh cũng có nhiều thay đổi. Là một tỉnh được tách ra từ tỉnh Hà Bắc
cũ, được tái lập theo nghị quyết của Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 10 ngày
06/11/1996, với đặc điểm là một tỉnh nằm ở vùng đồng bằng Bắc bộ, có nhiều
làng nghề truyền thống, giao thông thuận lợi, Bắc Ninh thu hút được rất nhiều
nhà đầu tư nước ngoài đến đầu tư. Nhiều khu công nghiệp đã được xây dựng
và đi vào hoạt động như khu công nghiệp Tiên Sơn, khu công nghiệp Quế Võ,
khu công nghiệp Yên Phong… ngoài ra còn có các cụm công nghiệp vừa và
nhỏ và là nơi tập trung các làng nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống. Tuy
nhiên, cùng với quá trình phát triển kinh tế nói trên thì bên cạnh đó ca
́
c loa
̣
i

̣
i pha
̣
m cu
̃
ng c ó xu hươ
́
ng nga
̀

y mô
̣
t gia tăng , đây là vấn đề được sự quan
tâm của các cấp, các ngành trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Tỉnh uỷ, Hội đồng
nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã có nhiều Nghị quyết và quyết
định yêu cầu các ban, ngành, các tổ chức xã hội đề ra và áp dụng nhiều biện
pháp cụ thể nhằm đấu tranh với các loại tội phạm trên đi
̣
a ba
̀
n . Các cơ quan
bảo vệ pháp luật như Toà án, Viện kiểm sát, Công an là những cơ quan được
giao nhiệm vụ trực tiếp đấu tranh với các loại tội phạm. Trong đó To
̀
a a
́
n đo
́
ng
vai trò trung tâm trong toàn bộ quá trình tố tụng, thể hiện đầy đủ nhất bản chất
của hệ thống tư pháp của mỗi nhà nước, là giai đoạn quyết định tính đúng
đắn, khách quan của việc giải quyết vụ án, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và


3
lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Phiên tòa là nơi có sự tham gia đầy đủ
của các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng, những
người tham gia tố tụng với địa vị pháp lý được xác định. Thông qua phiên tòa,
bằng thủ tục trực tiếp, công khai, qua nghe ý kiến tranh tụng của các bên tham
gia tố tụng, Tòa án (với tư cách là cơ quan tiến hành tố tụng quan trọng nhất)

tiến hành xác định sự thật khách quan của vụ án và ra các phán quyết giải
quyết vụ án một cách đúng đắn, đầy đủ, khách quan và đúng pháp luật.
Như vậy, về mặt lý luận và thực tiễn, việc nghiên cứu hoàn thiện cơ sở
lý luận và thực tiễn về tranh tụng tại phiên tòa đóng vai trò quan trọng nhằm
hoàn thiện, nâng cao hiệu quả xét xử của Tòa án nói chung và hiệu quả phiên
tòa xét xử vụ án hình sự nói riêng. Hơn nữa, hiện nay chưa có nhiều công
trình nghiên cứu về vấn đề này đặc biệt là trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Trước
yêu cầu đó, nhằm đảm bảo sự dân chủ, bình đẳng trong hoạt động tố tụng
hình sự tránh bỏ lọt tội phạm làm oan người vô tội, góp phần làm sáng tỏ về
mặt lý luận và thực tiễn nên tác giả chọn đề tài: "Cơ sở lý luận và thực tiễn về
tranh tụng tại phiên tòa trong xét xử vụ án hình sự ở tỉnh Bắc Ninh" làm
luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài:
Đã có nhiều bài viết, bài nghiên cứu và sách chuyên khảo đề cập đến
vấn đề tranh tụng tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự như:
Luận văn thạc sỹ luật học: “Thực hiện pháp luật đảm bảo nguyên tắc
tranh tụng trong xét xử án hình sự sơ thẩm ở Việt Nam hiện nay” của Nguyễn
Tiến Long, Học viện chính trị hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, 2005.
Luận văn thạc sỹ luật học “Chất lượng tranh tụng tại phiên tòa xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh
Hóa” của Mai Thị Nam, Học viện chính trị hành chính quốc gia Hồ Chí
Minh, 2005.


4
Bài viết: “Bàn về một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về tranh tụng
tại phiên tòa” của Nguyễn Mạnh Tiến, Tạp chí Tòa án nhân dân số 17/2005.
Bài viết “Hoàn thiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện
hành nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm” của
Nguyễn Đức Mai, Tạp chí Luật học, trường Đại học Luật Hà Nội số 7/2008;

Bài viết “Một số vấn đề về mối quan hệ giữa tranh tụng trong tố tụng
hình sự với chức năng xét xử của Tòa án trong bối cảnh cải cách tư pháp”
của Nguyễn Thương Tín, tạp chí nhà nước và pháp luật số 10/2008;
Bài viết “Tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự theo tinh thần cải
cách tư pháp một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của Nguyễn Đức Mai, Tạp
chí tòa án nhân dân số 7/2007;
Bài viết “Vấn đề tranh tụng và tăng cường tranh tụng trong tố tụng
hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp” của Nguyễn Thái Phúc, Tạp chí Nhà
nước và pháp luật số 8/2008;
Bài viết “Đặc điểm của mô hình tố tụng tranh tụng và phương hướng
hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự ở Việt Nam” của Nguyễn Đức Mai, Tạp
chí Tòa án nhân dân số 12/2009;
Bài viết "Về tranh tụng tại phiên tòa hình sự" của tác giả Tống Anh
Hào trong Tạp chí Tòa án nhân dân số 5/2003;
Bài viết "Bàn về vấn đề tranh tụng trong tố tụng hình sự" đăng trong
Tạp chí Kiểm sát, tháng 9/2003 của tác giả Trần Đại Thắng.
Các bài viết đề cập đến nguyên tắc tranh tụng, vấn đề tranh tụng trong
tố tụng hình sự nhưng những bài viết đó chỉ đề cập đến một số vấn đề nhất
định liên quan tranh tụng và còn khá nhiều ý kiến trái ngược nhau xung quanh
vấn đề tranh tụng tại phiên tòa trong xét xử vụ án hình sự.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu đề tài này, tác giả hướng tới mục đích làm rõ cơ sở lý luận,
quy định của Đảng, Nhà nước, pháp luật tố tụng hình sự và định hướng cải


5
cách tư pháp đặc biệt cải cách hoạt động xét xử; đồng thời đánh giá thực tiễn
hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự ở tỉnh Bắc Ninh, từ đó
chỉ ra những bất cập còn tồn tại của hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử

vụ án hình sự để đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
tranh tụng tại phiên tòa góp phần xây dựng phiên tòa hình sự thực sự công
bằng, dân chủ nhằm thực hiện quá trình cải cách tư pháp ở Việt Nam.
- Nhiệm vụ:
+ Nghiên cứu cơ sở lý luận của hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét
xử vụ án hình sự.
+ Sơ lược về lịch sử các quy định của luật tố tụng hình sự Việt Nam về
tranh tụng tại phiên tòa.
+ Phân tích, đánh giá, so sánh các quy định về tranh tụng của pháp luật
một số nước trên thế giới.
+ Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét
xử vụ án hình sự ở Bắc Ninh giai đoạn 2008-2013.
+ Nêu ra các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tranh tụng tại phiên
tòa xét xử vụ án hình sự ở tỉnh Bắc Ninh trước yêu cầu cải cách tư pháp.
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và
thực tiễn về tranh tụng tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự.
- Phạm vi nghiên cứu: Tranh tụng là vấn đề lớn trong hoạt động tố
tụng, có nhiều nội dung thể hiện ở các giai đoạn của quá trình giải quyết vụ án
nên trong phạm vi của một Luận văn thạc sĩ không thể xem xét và giải quyết
hết mọi vấn đề mà chỉ tập trung nghiên cứu chính đến vấn đề điều khiển tranh
tụng tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự theo thẩm quyền xét xử của Tòa án
tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2008 đến 2013.




6
4. Cơ sở phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài:
Để hoàn thành luận văn, tác giả đã dựa trên cơ sở phương pháp luận
của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng

và Nhà nước ta về pháp luật, về cải cách tư pháp.
Đồng thời, luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể
sau: Phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp thống kê, so sánh; phương
pháp lịch sử; phương pháp đàm thoại (trao đổi ý kiến với những chuyên gia
đầu ngành, những người làm công tác thực tiễn lâu năm); phương pháp thống
kê xã hội học về vấn đề tranh tụng tại phiên tòa hình sự.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
bao gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về tranh tụng tại phiên tòa xét
xử vụ án hình sự.
Chương 2: Thực trạng xét xử vụ án hình sự và hoạt động tranh tụng tại
phiên tòa xét xử vụ án hình sự ở tỉnh Bắc Ninh
Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tranh tụng tại
phiên tòa xét xử vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.







7
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRANH TỤNG
TẠI PHIÊN TÒA XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ

1.1. Khái niệm tranh tụng tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự:
1.1.1. Khái niệm tranh tụng:
Tranh tụng không chỉ là thành tựu pháp lý đơn thuần, mà cao hơn nó là

thành tựu của sự phát triển tư tưởng nền văn minh nhân loại. Tranh tụng là
nguyên tắc và cũng là cơ chế tố tụng có hiệu quả đảm bảo cho Tòa án xác
định sự thật khách quan của vụ án, giải quyết đúng đắn vụ việc, đảm bảo công
bằng và bảo vệ các quyền và lợi ích của các bên tham gia tố tụng. Hiện nay,
trong thực tiễn và khoa học pháp lý có nhiều quan điểm khác nhau về tranh tụng.
Theo từ điển Tiếng Việt, thì “tranh tụng” có nghĩa là “sự kiện cáo
nhau” [55]. Theo nghĩa Hán Việt thì thuật ngữ “tranh tụng” được ghép từ hai
từ “tranh luận” và “tố tụng” có nghĩa là “tranh luận trong tố tụng” [21]. Đó là
cuộc tranh luận giữa hai bên: “bên nguyên đơn và bên bị đơn có lập trường
tương phản với nhau, yêu cầu Tòa án làm trọng tài phân xử” [26].
Theo từ điển luật học năm 2006 của Viện khoa học pháp lý, Bộ tư pháp
thì khái niệm tranh tụng được hiểu như sau: “Tranh tụng là hoạt động tố tụng
được thực hiện bởi các bên tham gia tố tụng (bên buộc tội và bên bị buộc tội)
có quyền bình đẳng với nhau trong việc thu thập, đưa ra chứng cứ để bảo vệ
các quan điểm và lợi ích của mình, phản bác lại các quan điểm lợi ích của
phía bên đối lập” [58]. Còn tranh tụng trong tiếng Anh là từ “Adversarial” có
nghĩa là đối kháng, đương đầu. Xét về bản chất, tranh tụng là “cuộc đấu” giữa
hai bên trong tố tụng hình sự (bên buộc tội và bên bị buộc tội), mà giai đoạn
đương đầu tại Tòa án (tại phiên tòa) là trung tâm. Tuy nhiên, không nên hiểu
một cách giản đơn tranh tụng là tranh luận, tranh cãi giữa các bên tại phiên
tòa mà phải hiểu tranh tụng nó diễn ra trong một quá trình tố tụng lâu dài,


8
được cả hai bên tiến hành một cách quyết liệt. Theo đúng nghĩa, tranh tụng là
việc bên buộc tội (công tố) cố gắng làm sao thuyết phục các quan tòa tin được
rằng bị cáo là người có tội, còn bên bị buộc tội cố gắng và phải sử dụng mọi
lý lẽ chứng cứ để bác bỏ lời buộc tội do bên Công tố đưa ra. Và điều đáng lưu
ý là trong hệ thống tố tụng tranh tụng gốc, Luật sư của bị cáo phải bảo vệ thân
chủ bằng mọi giá.

Như vậy, xét về cách hiểu thông thường nhất, “Tranh tụng là việc từng
bên đưa ra các quan điểm của mình và tranh luận lại để bác bỏ một phần hay
toàn bộ quan điểm của phía bên kia” [20].
1.1.2. Khái niệm tranh tụng tại phiên tòa:
Theo từ điển luật học 2006, khái niệm tranh tụng tại phiên tòa được
hiểu như sau: “Tranh tụng tại phiên tòa là những hoạt động tố tụng được tiến
hành tại phiên tòa xét xử bởi hai bên tham gia tố tụng, nhằm bảo vệ ý kiến,
luận điểm của mỗi bên và bác bỏ ý kiến, luận điểm của phía bên kia dưới sự
điều khiển, quyết định của Tòa án với vai trò trung tâm, trọng tài” [58].
Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) Việt Nam năm
2003, những người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người
khác. Thời gian tranh luận không bị hạn chế. Nếu qua tranh luận mà xét thấy
cần xem xét thêm chứng cứ thì HĐXX có thể quyết định trở lại việc xét hỏi
xong lại tiếp tục tranh luận.
Như vậy, tranh tụng tại phiên tòa bao giờ cũng gắn liền với hoạt động
tài phán của Tòa án. Tại phiên tòa, Tòa án tiến hành xác định sự thật của vụ
án bằng cách điều tra công khai, chính thức về vụ án, nghe các bên tranh luận về
giải quyết vụ án từ góc độ nội dung cũng như pháp luật áp dụng để ra phán quyết.
1.2. Vai trò tranh tụng tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự:
Tranh tụng tại phiên tòa là một trong những nội dung có ý nghĩa rất
quan trọng trong hoạt động tố tụng hình sự (TTHS), là vấn đề có tính thời sự


9
được xã hội quan tâm. Tranh tụng tại phiên tòa hình sự không chỉ là yêu cầu
của việc bảo đảm tính dân chủ, công bằng giữa những người tham gia tố tụng
với Viện kiểm sát (VKS), mà kết quả tranh tụng tại phiên tòa là căn cứ để Hội
đồng xét xử (HĐXX), Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của các đương sự xác định sự thật vụ án. Thực hiện các quy
định của BLTTHS năm 2003 và Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của

Bộ Chính trị “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian
tới” trong đó xác định:
Nâng cao chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên
tòa, bảo đảm tranh tụng dân chủ với Luật sư, người bào chữa và
những người tham gia tố tụng khác.
Khi xét xử, các Tòa án phải bảo đảm cho mọi công dân
đều bình đẳng trước pháp luật, thực sự dân chủ, khách quan; Thẩm
phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; việc phán
quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết qủa tranh tụng tại
phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến
của Kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, người làm chứng,
nguyên đơn, bị đơn, người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những
bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời
hạn luật định.
Các cơ quan tư pháp có trách nhiệm tạo điều kiện để Luật
sư tham gia vào quá trình tố tụng, tham gia hỏi cung bị can, nghiên
cứu hồ sơ vụ án, tranh luận dân chủ tại phiên tòa… [3].
Tranh tụng trong TTHS có một ý nghĩa rất đặc biệt, nó thể hiện rõ nét
trong giai đoạn xét xử tại tòa và là phương tiện hữu hiệu để các chủ thể tham
gia vào tiến trình TTHS, thực hiện đầy đủ và đúng đắn các chức năng của
mình. Một số học giả còn cho rằng, tranh tụng chính là công cụ quan trọng


10
nhất để xác định sự thật khách quan của vụ án. Hơn nữa, nguyên tắc tranh
tụng còn liên quan chặt chẽ đến các nguyên tắc khác của TTHS đặc biệt là các
nguyên tắc như suy đoán vô tội, quyền có người bào chữa của bị cáo và xác định
sự thật khách quan của vụ án…“Các nguyên tắc này tác động qua lại với nhau và
là điều kiện bảo đảm cho nhau cũng như toàn bộ tiến trình TTHS” [4].
Trong toàn bộ quá trình tố tụng, xét xử đóng vai trò trung tâm, là giai

đoạn quyết định tính đúng đắn, khách quan của việc giải quyết vụ án, bảo vệ
lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Do đó
tranh tụng tại phiên tòa có vai trò đặc biệt quan trọng và mang tính quyết định
trong giải quyết vụ án, điều đó thể hiện ở những điểm sau:
Thứ nhất, phiên tòa là nơi Tòa án bằng thủ tục công khai, toàn diện
thực hiện cuộc điều tra chính thức để xác định sự thật khách quan của vụ án.
Tòa án ra bản án, quyết định trên cơ sở các chứng cứ được thu thập và kiểm
tra công khai tại phiên tòa. Việc chứng minh được các chủ thể có quyền, lợi
ích khác nhau (bên buộc tội, bên bào chữa) thực hiện một cách bình đẳng, dân
chủ tại phiên tòa khi xét hỏi cũng như tranh luận.
Thứ hai, phiên tòa đảm bảo sự tham gia của những người tham gia tố
tụng. Tại phiên tòa, quyền và nghĩa vụ tố tụng của những người tham gia tố
tụng được quy định và được bảo đảm thực hiện đầy đủ nhất bằng thủ tục tố
tụng trực tiếp, công khai. Tại phiên tòa khó có thể xảy ra các trường hợp vi
phạm pháp luật nghiêm trọng như bức cung, dùng nhục hình…
Thứ ba, phiên tòa là nơi có điều kiện tốt nhất để thực hiện việc áp dụng
đúng đắn pháp luật. Qua phân tích tranh luận đề nghị của các bên tham gia tố
tụng, Tòa án lựa chọn phương án áp dụng pháp luật chính xác nhất để giải
quyết vụ án.
Thứ tư, phiên tòa là nơi tốt nhất thực hiện việc tuyên truyền, giáo dục
pháp luật. Thông qua các thủ tục tại phiên tòa, qua tranh luận và công bố bản
án, Tòa án giúp cho những người tham gia tố tụng cũng như những người
tham dự phiên tòa nâng cao hiểu biết pháp luật.


11
1.3. Đặc điểm tranh tụng tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự:
1.3.1. Nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa:
Các nhà nghiên cứu lịch sử Nhà nước và pháp luật thế giới chứng minh
rằng tư tưởng về tranh tụng bắt nguồn từ ý tưởng của nhà triết học cổ đại nổi

tiếng người Hy Lạp Plato. Ông cho rằng “bằng cách nói chuyện (đối thoại) về
một điều gì đó trong một thời gian dài, một vài dấu hiệu hoặc hiểu biết sẽ xuất
hiện và cả hai bên sẽ cùng nhìn ra sự thật” [25]. Ý tưởng này của Plato được
các Luật gia Hy Lạp cổ đại phát triển và xây dựng thành là một trong những
nguyên tắc cơ bản của TTHS ở Nhà nước Hy Lạp cổ đại. Sau đó, nguyên tắc
này được đưa vào áp dụng ở La Mã và các quốc gia cổ đại khác ở Châu Âu
với tên gọi “thủ tục hỏi đáp liên tục” [18].
Trước đây, với quan niệm cho rằng tranh tụng là nguyên tắc đặc trưng
của TTHS tư sản nên vấn đề này không được khoa học pháp lý quan tâm
nghiên cứu. Vì vậy, về mặt lý luận, tranh tụng không được thừa nhận và thuật
ngữ “tranh tụng” cũng chưa bao giờ được dùng trong các văn bản pháp luật
của nước ta. Những năm gần đây, tranh tụng đã được đề cập đến trong một số
bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành. Tranh tụng nói chung và tranh
tụng tại phiên tòa hình sự nói riêng là một vấn đề mới mẻ đối với lĩnh vực tư
pháp ở nước ta. Trong quá trình xây dựng BLTTHS sửa đổi, đặc biệt là sau
khi có Nghị quyết số 08 thì vấn đề tranh tụng được đưa ra tranh luận sôi nổi.
Hiện nay, trên thực tế đang tồn tại nhiều quan điểm khác nhau giữa
những người làm công tác thực tiễn và nghiên cứu khoa học về tranh tụng
trong TTHS ở chỗ xác định tranh tụng có phải là một nguyên tắc cơ bản của
TTHS Việt Nam không? Có thể phân các quan điểm này thành hai nhóm
chính sau đây:
Nhóm quan điểm thứ nhất cho rằng tố tụng tranh tụng là một kiểu tố
tụng hình được đặt ra nhằm giải quyết những tranh chấp, xung đột quan điểm


12
về thực tế của vụ án và về pháp luật giữa Công tố viên - Đại diện cho bên
buộc tội và Luật sư - Đại diện cho bên gỡ tội trong vụ án hình sự. Tố tụng
tranh tụng về thực chất là sự đối tụng giữa các bên đối lập theo quy định của
tố tụng mà Tòa án là người trọng tài, nghĩa vụ chứng minh được san sẻ cho tất

cả các bên (bên buộc tội và bên bào chữa). Về cơ bản, các quy định về thủ tục
tố tụng tại phiên tòa trong BLTTHS Việt Nam năm 2003 là phù hợp và trong
thực tiễn áp dụng không có gì vướng mắc lớn. Nghị quyết số 08-NQ/TW
nhấn mạnh đến vấn đề tranh tụng chỉ là nhằm khắc phục tình trạng ở một số
phiên tòa hiện nay đó là Kiểm sát viên quá thụ động, ỷ lại vào HĐXX nên
không tích cực tham gia xét hỏi cũng như tranh luận với người bào chữa, bị
cáo và những người tham gia tố tụng khác. Về phía HĐXX lại quá phụ thuộc
vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án nên không quan tâm xem xét
các chứng cứ, các yêu cầu và quan điểm bào chữa mà Luật sư và bị cáo đưa ra
tại phiên tòa. Vì vậy, vấn đề quan trọng là không phải là sửa đổi, bổ sung các
quy định của pháp luật về thủ tục tại phiên tòa mà chỉ cần chủ tọa phiên tòa
tăng thời gian để Luật sư và bị cáo được trình bày các ý kiến của mình tại
phiên tòa, không được ngắt lời hay hạn chế thời gian phát biểu của họ, bảo
đảm sự tranh luận dân chủ giữa Kiểm sát viên và những người tham gia tố
tụng khác là đủ. Nâng cao tính tranh tụng trong quá trình xét xử có nghĩa là
nâng cao hơn nữa hoạt động tranh luận tại phiên tòa. Vì vậy, không nên quy định
trong BLTTHS tranh tụng là một trong những nguyên tắc cơ bản của TTHS.
Nhóm quan điểm thứ hai thì cho rằng: Tư pháp hình sự ở một số nước
dù được tổ chức theo mô hình tố tụng nào đi nữa (tố tụng xét hỏi hay tố tụng
tranh tụng), thì trong TTHS cũng đều tồn tại ba chức năng với ba nhóm chủ
thể: bên buộc tội, bên bào chữa và Tòa án. Do đó, “tranh tụng là nguyên tắc
quan trọng, nguyên tắc đặc trưng của hoạt động tư pháp và là đặc trưng nổi
bật nhất của tư pháp hình sự” [2]
.
, tùy thuộc vào sự thừa nhận và sự thể hiện


13
nội dung của nguyên tắc này (theo hướng mở rộng hay thu hẹp) trong các giai
đoạn tố tụng mà người ta phân biệt mô hình tố tụng tranh tụng và mô hình tố

tụng xét hỏi. Còn tranh luận chỉ là một phần (một thủ tục) của phiên tòa hình
sự, mà trong đó các bên buộc tội và bên bào chữa đánh giá kết qủa xét hỏi
trên cơ sở phân tích và đánh giá pháp lý đối với hành vi phạm tội của bị cáo,
đề nghị HĐXX về các vấn đề cần giải quyết trong nội dung vụ án.
Tôi đồng tình với quan điểm cho rằng trong BLTTHS của Việt Nam
cần ghi nhận tranh tụng là một nguyên tắc cơ bản của TTHS để phân định rõ
chức năng buộc tội, bào chữa và xét xử giữa các bên và Tòa án. Tranh luận
chỉ là sự thể hiện đậm nét nhất, tập trung nhất nội dung nguyên tắc tranh tụng,
khái niệm “tranh luận” có nội hàm hẹp hơn khái niệm “tranh tụng”. Việc ghi
nhận nguyên tắc tranh tụng trong BLTTHS không đồng nhất với việc xây
dựng hệ thống tố tụng ở nước ta theo mô hình tố tụng tranh tụng.
Với ý nghĩa là một nguyên tắc của TTHS, nguyên tắc tranh tụng trong
tố tụng hình sự đòi hỏi một số nội dung sau đây phải được thể hiện:
Một là, khẳng định sự tách bạch giữa các chức năng cơ bản của TTHS
(buộc tội, bào chữa và xét xử). Những chức năng này do các chủ thể khác
nhau thực hiện. Không thể có sự chồng lấn trong việc thực hiện các chức năng
tố tụng giữa các chủ thể, trong đó chức năng buộc tội thuộc về bên công tố,
chức năng gỡ tội thuộc về bên Luật sư và chức năng xét xử thuộc về Tòa án.
Hai là, bảo đảm sự bình đẳng giữa bên buộc tội và bên bào chữa trong
việc sử dụng các phương tiện mà pháp luật cho phép nhằm thực hiện đầy đủ
chức năng của mình ở các giai đoạn tố tụng, đặc biệt là trong giai đoạn xét xử.
Ba là, bảo đảm thực hiện đầy đủ các quyền của người bị buộc tội trong
tất cả các giai đoạn tố tụng nhất là giai đoạn xét xử.


14
Bốn là, đề cao vai trò của người bào chữa trong các giai đoạn tố tụng,
kể từ khi cơ quan điều tra tiến hành điều tra hoặc có các hoạt động bắt, giam,
giữ người bị tình nghi.
Năm là, khẳng định nghĩa vụ của Tòa án tạo mọi điều kiện tốt nhất để

các bên tranh tụng thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình, phải xem
xét vô tư, khách quan mọi chứng cứ và lý lẽ của bên buộc tội cũng như bên
bào chữa. Bản án của Tòa án chỉ dựa trên cơ sở kết quả tranh tụng dân chủ
giữa các bên [24].
Nguyên tắc tranh tụng chính là điều kiện để bảo đảm việc xác định
đúng đắn sự thật khách quan của vụ án, hình thức tranh tụng giúp cho việc
kiểm tra tại phiên tòa từng chứng cứ, từng chi tiết của vụ án ở cả hai góc độ
buộc tội và gỡ tội. Nhờ đó Tòa án có thể nghiên cứu, đánh giá tất cả những gì
mà bên buộc tội khẳng định cũng như tất cả những gì mà bên gỡ tội phản bác.
Trên cơ sở đó xác định đúng người phạm tội để trừng trị đồng thời không làm
oan người vô tội, tạo tiền đề cho việc giải quyết đúng đắn vụ án. Tuy nhiên
mức độ và phạm vi áp dụng nguyên tắc này trong pháp luật TTHS ở các nước
là khác nhau, phụ thuộc vào quan niệm, truyền thống lập pháp, tổ chức bộ
máy, năng lực đội ngũ cán bộ tư pháp, đội ngũ Luật sư bào chữa và các điều
kiện cụ thể về kinh tế, xã hội, trình độ dân trí…
1.3.2. Các chủ thể tham gia vào quá trình tranh tụng:
Hệ tố tụng tranh tụng được xây dựng và vận hành trên cơ sở áp dụng
triệt để nguyên tắc tranh tụng. Theo nguyên tắc này thì trong TTHS luôn tồn
tại ba chức năng cơ bản là buộc tội, bào chữa và xét xử. Ba chức năng này
đan quyện qua lại với nhau và trong sự thống nhất của mình, chúng bảo đảm
cho việc giải quyết vụ án. Mỗi chức năng tồn tại, vận động vì sự tồn tại và
vận động của hai chức năng kia [35]. Thiếu một trong ba chức năng nêu trên,
tranh tụng trong TTHS sẽ không còn đầy đủ ý nghĩa của nó. Tuy nhiên, các


15
chức năng này không xuất hiện đồng thời. So với chức năng xét xử, thì chức
năng buộc tội và chức năng bào chữa xuất hiện sớm hơn, song song tồn tại và
đối trọng với nhau trong suốt quá trình tố tụng. Khi một nguời bị bắt, bị áp
dụng biện pháp tạm giữ hoặc khi một người bị khởi tố với tư cách là bị can thì

trong TTHS đồng thời xuất hiện chức năng buộc tội và chức năng bào chữa.
Chính từ thời điểm này mới xuất hiện sự tranh tụng giữa bên buộc tội và bên
bào chữa

[19]. Tôi đồng tình với quan điểm này bởi lẽ lúc này đã xuất hiện
hai chức năng là chức năng buộc tội và chức năng bào chữa luôn đối lập nhau
và các chủ thể tham gia thực hiện hai chức năng này tạo thành hai bên đối
tụng: Bên buộc tội và bên bào chữa. Hai bên này đều có ý kiến, luận điểm
riêng, họ tranh luận để các bỏ một phần hay toàn bộ ý kiến của bên kia do vậy
tranh tụng được hình thành. Còn đến giai đoạn xét xử tại Tòa án, xuất hiện
một chức năng nữa là chức năng xét xử, chức năng này do chủ thể duy nhất là
Toà án thực hiện (thông qua HĐXX, Thẩm phán, Bồi thẩm đoàn hay Hội
thẩm nhân dân). Ngoài ra, còn có các chủ thể khác được triệu tập tham gia
vào quá trình tranh tụng tại phiên toà. Các chủ thể này không có quyền lợi,
nghĩa vụ gì liên quan trong vụ án và cũng không tham gia vào việc thực hiện
chức năng buộc tội, bào chữa hay xét xử. Nhiệm vụ của họ là giúp cho Toà án
và các bên thực hiện chức năng của mình trong tranh tụng nhằm xác định sự
thật về vụ án. Như vậy, chúng ta có thể thấy giữa hai mô hình tố tụng có sự
khác nhau rất lớn về sự phân loại các chủ thể tham gia vào quá trình giải
quyết vụ án hình sự.
Trong hệ tố tụng thẩm vấn các chủ thể tham gia vào quá trình TTHS
được phân thành hai nhóm (không phụ thuộc vào chức năng tố tụng mà chủ
thể tham gia thực hiện):


16
Nhóm 1: Các chủ thể tiến hành tố tụng bao gồm: Cơ quan điều tra,
Điều tra viên; Viện công tố hay Viện Kiểm sát, Công tố viên hay Kiểm sát
viên; Toà án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân hay Bồi thẩm đoàn.
Nhóm 2: Các chủ thể tham gia tố tụng bao gồm: Bị can, bị cáo, người

bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người giám định,
người phiên dịch, người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan…
Trong hệ tố tụng tranh tụng, do có sự phân định rõ ràng giữa các chức
năng cơ bản trong TTHS trên cơ sở nguyên tắc tranh tụng nên các chủ thể
tham gia vào quá trình TTHS được phân thành bốn nhóm (theo chức năng mà
họ tham gia thực hiện):
Nhóm 1: Bên buộc tội: bao gồm các chủ thể tham gia thực hiện chức
năng buộc tội: Cơ quan điều tra và Điều tra viên, Viện công tố hay Viện kiểm
sát, Công tố viên hay Kiểm sát viên, người bị hại, nguyên đơn dân sự và
người đại diện hợp pháp (người bảo vệ quyền lợi) của họ.
Nhóm 2: Bên bào chữa: bao gồm các chủ thể thực hiện chức năng bào
chữa: Người bị tình nghi phạm tội, bị can, bị cáo, người bị kết án, nguời bào
chữa, bị đơn dân sự và người đại diện họp pháp (nguời bảo vệ quyền lợi) của
họ. Các chủ thể này tạo thành bên đối lập với bên buộc tội;
Nhóm 3: Toà án (thông qua HĐXX) là chủ thể duy nhất thực hiện chức
năng xét xử. Đây là chủ thể giữ vai trò trọng tài đứng giữa bên buộc tội và
bên bào chữa để phân xử.
Nhóm 4: Các chủ thể tham gia tố tụng khác gồm Thư ký phiên toà,
người làm chứng, giám định viên, người phiên dịch, đại diện các cơ quan,
đoàn thể hay tổ chức xã hội [31].
1.3.3. Bản chất của điều khiển tranh tụng tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự:
Bản chất của điều khiển tranh tụng tại phiên tòa chính là quá trình xác
định sự thật khách quan về vụ án. Bản chất này chi phối và định hướng mọi

×