Tải bản đầy đủ (.pdf) (133 trang)

Viện Kiểm sát với vai trò bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (902.7 KB, 133 trang )










ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT



NGUYỄN THỊ PHƢƠNG NGA


VIỆN KIỂM SÁT VỚI VAI TRÒ BẢO VỆ
QUYỀN CON NGƢỜI TRONG TỐ TỤNG
HÌNH SỰ VIỆT NAM





LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
[


Hà Nội - 2014








ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT



NGUYỄN THỊ PHƢƠNG NGA


VIỆN KIỂM SÁT VỚI VAI TRÒ BẢO VỆ
QUYỀN CON NGƢỜI TRONG TỐ TỤNG
HÌNH SỰ VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật hình sự
Mã số : 60 38 40

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
[
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS.PHẠM MẠNH HÙNG


Hà Nội - 2014

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các

kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,
tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán
tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!


NGƯỜI CAM ĐOAN



NGUYỄN THỊ PHƢƠNG NGA

MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
LỜI CAM ĐOAN 3
MỤC LỤC 4
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 14
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 6
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 6
VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI 6
1.1. Khái niệm quyền con ngƣời và vấn đề bảo vệ quyền con ngƣời trong hệ
thống pháp luật quốc tế 6
1.1.1. Khái niệm quyền con người và bảo vệ quyền con người 6
1.1.1.1. Khái niệm quyền con người 6

1.1.1.2. Khái niệm bảo vệ quyền con người 10
1.1.2. Khái quát pháp luật quốc tề về quyền con người và bảo vệ quyền con người
12
1.1.2.1. Quyền con người và bảo vệ quyền con người trong một số điều ước quốc
tế 12
1.1.2.2. Quyền con người và bảo vệ quyền con người trong pháp luật tố tụng
hình sự một số nước 21
1.2. Khái quát về vấn đề quyền con ngƣời và bảo vệ quyền con ngƣời trong hệ
thống pháp luật Việt Nam 26
1.2.1. Quyền con người và bảo vệ quyền con người trong Hiến pháp 26
1.2.2. Quyền con người và bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực tư pháp
hình sự 30
1.2.2.1. Quyền con người và bảo vệ quyền con người trong pháp luật Hình sự
30
1.2.2.2. Quyền con người và bảo vệ quyền con người trong pháp luật Thi hành
án hình sự 33
Có thể nói, thi hành án hình sự là một hoạt động mang tính quyền lực Nhà
nước nhằm thực hiện bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án trong thực
tiễn. Tòa án nhân danh Nhà nước tuyên án với bị cáo tại phiên tòa, áp dụng
mức và loại hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm
do họ gây ra. Bản án, quyết định của Tòa án được thi hành chính là lúc công lý
được thực hiện trong cuộc sống. Thi hành án hình sự là giai đoạn thể hiện rõ
nét chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta. Nhiệm vụ của giai đoạn này
nhằm cảm hóa tư tưởng, giáo dục nhân cách, văn hóa, kỹ năng lao động nhằm
mục đích làm cho người thụ án trở thành một công dân tốt cho xã hội, mặt
khác, góp phần răn đe, ngăn ngừa chung 35
Theo Công ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị quy định quyền không bị
tra tấn Điều 7: “Không ai có thể bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt một cách
tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm. Đặc biệt, không ai có thể bị sử
dụng để làm thí nghiệm y học hoặc khoa học mà không có sự đồng ý tự nguyện

của người đó”. Công ước đặt ra những chuẩn mực cho các quốc gia thành viên
để bảo vệ nhóm quyền không bị tra tấn, được đối xử nhân đạo, không bị giam
giữ độc đoán, tra tấn, nhục hình. Các nước thành viên Công ước, dựa trên các
nguyên tắc nền này và tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh kinh tế, xã hội và
văn hóa của nước mình có thể đưa ra những quy định riêng nhưng không được
trái với các nguyên tắc cơ bản đã được quy định trong Công ước [3, tr.20-21].
35
Những vấn đề này đã quy định một cách thống nhất và đồng bộ từ văn bản
pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất là Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung
2001 và 2013); cho đến các văn bản luật và dưới luật đã cụ thể hóa các quy
định của Hiến pháp như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình
sự, Luật Thi hành án hình sự Đây chính là nền tảng pháp lý để ngăn chặn và
trừng trị những hành vi tra tấn, đối xử hay trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hay
bị hạ nhục. Với tinh thần đó, một số quy định của Luật thi hành án hình sự
cũng đã thể hiện được được những quyền cơ bản được ghi nhận trong các công
ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị, cụ thể như sau: 36
* Quy định để đảm bảo những người phải chấp hành án phạt tù được đối xử
nhân đạo và với sự tôn trọng nhân phẩm và tự do vốn có của con người: 36
Quyền được đối xử nhân đạo, được tôn trọng nhân phẩm đã được thể hiện ở
chính mục đích của hình phạt tù và thông qua chế độ chấp hành án. Người chấp
hành án phạt tù tại các trại giam được pháp luật bảo vệ các quyền cơ bản, như
quyền tự do thân thể, quyền sống, vui chơi, giải trí, không bị tra tấn Những
quyền này được quy định cụ thể tại Luật Thi hành án hình sự năm 2010. 36
Một trong các nguyên tắc thi hành án hình sự được đề ra trong Luật là “tôn
trọng nhân phẩm, quyền, lợi ích hợp pháp của người chấp hành án” (Khoản 3
Điều 4). Bên cạnh đó, cần “kết hợp trừng trị và giáo dục cải tạo trong việc thi
hành án; áp dụng biện pháp giáo dục cải tạo phải trên cơ sở tính chất và mức độ
phạm tội, độ tuổi, giới tính, trình độ văn hoá và các đặc điểm nhân thân khác
của người chấp hành án” (Khoản 4 Điều 4). Luật Thi hành án hình sự cũng
nghiêm cấm “xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người chấp hành án”

(Khoản 9 Điều 9). Luật Thi hành án hình sự đã dành riêng một chương quy định
về thi hành án phạt tù và chế độ quản lý, giam giữ, giáo dục phạm nhân
(Chương III, từ Điều 21 đến Điều 53) [3, tr.23-24] 36
Với tinh thần tôn trọng nhân phẩm và tự do vốn có của con người, Luật Thi hành
án hình sự đã quy định rất cụ thể việc phân khu giam giữ phạm nhân, quy định
rõ những phạm nhân dưới đây được bố trí giam giữ riêng: phạm nhân nữ; phạm
nhân là người chưa thành niên; phạm nhân là người nước ngoài; phạm nhân là
người có bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm; phạm nhân có dấu hiệu bị bệnh
tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều
khiển hành vi của mình trong thời gian chờ quyết định của Tòa án; phạm nhân
thường xuyên vi phạm nội quy, quy chế trại giam (Điều 27). Các chế độ liên
quan thiết thực của phạm nhân như chê độ ăn, mặc, ở, chăm sóc sinh hoạt, y tế,
học tập, học nghề, lao động, gặp, liên lạc, nhận quà của thân nhân… đều được
quy định trong Luật này [3, tr.23-24]. 37
* Về quy định dành riêng cho người chưa thành niên để đảm bảo việc giam giữ
được tách riêng khỏi người lớn và phải được đối xử phù hợp lứa tuổi của họ: 37
Xuất phát từ tinh thần nhân văn cao cả là nhằm giáo dục, giúp đỡ người chưa
thành niên phạm tội sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công
dân có ích cho xã hội, tại Khoản 2 Điều 27 Luật Thi hành án hình sự quy định:
37
… Trong các khu giam giữ quy định tại Khoản 1 Điều này, những phạm nhân
dưới đây được bố trí giam giữ riêng: 37
a) Phạm nhân nữ; 37
b) Phạm nhân là người chưa thành niên; 37
c) … 37
Không chỉ được giam giữ riêng, Luật Thi hành án hình sự đã dành riêng một
mục để quy định đối với các phạm nhân là người chưa thành niên với các điều
kiện đối xử tốt hơn so với các phạm nhân đã thành niên (mục 3 Chương III).
Chẳng hạn như chế độ ăn, mặc, sinh hoạt văn hoá, văn nghệ và vui chơi giải trí,
giáo dục, học văn hóa, học nghề, lao động Phạm nhân là người chưa thành

niên được bảo đảm tiêu chuẩn định lượng ăn như phạm nhân là người thành
niên và được tăng thêm về thịt, cá nhưng không quá 20% so với định lượng;
Phạm nhân là người chưa thành niên được lao động ở khu vực riêng và phù hợp
với độ tuổi; không phải làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với
các chất độc hại [3, tr.26] 37
Bên cạnh đó, Luật Thi hành án hình sự cũng quy định rõ trách nhiệm của trại
giam trong việc giáo dục phạm nhân là người chưa thành niên về văn hoá, pháp
luật và dạy nghề phù hợp với độ tuổi, trình độ văn hoá, giới tính và sức khoẻ,
chuẩn bị điều kiện để họ hoà nhập cộng đồng sau khi chấp hành xong án phạt tù
(khoản 2 Điều 51) [3, tr.26-27]. 38
Bên cạnh quy định về quyền không bị tra tấn, Công ước quốc tế về các quyền
dân sự, chính trị 1966 đặt ra các nghĩa vụ chính đối với các quốc gia thành viên
liên quan đến nhóm quyền không bị nô lệ, lao động khổ sai hay lao động cưỡng
bức như sau: Một là, các quốc gia cần nghiêm cấm việc bắt giữ làm nô lệ bất cứ
người nào; chế độ nô lệ và buôn bán nô lệ dưới mọi hình thức đều bị cấm. Hai
là, các quốc gia không được bắt buộc lao động cưỡng bức. Ba là, cần có những
quy định về các trường hợp ngoại lệ của lao động cưỡng bức. Đây là những
chuẩn mực mà Công ước đặt ra cho các quốc gia thành viên để bảo vệ nhóm
quyền không bị nô lệ, lao động khổ sai hay lao động cưỡng bức. Các nước thành
viên Công ước, dựa trên những nguyên tắc nền này và tùy thuộc vào điều kiện,
hoàn cảnh kinh tế, xã hội và văn hóa của nước mình có thể đưa ra những quy
định riêng nhưng không được trái với các nguyên tắc cơ bản đã được quy định
tại Điều 8 Công ước [3, tr.60-61]. 38
Vấn đề này đã được pháp luật Việt Nam ghi nhận, cụ thể hóa một cách thống
nhất, đồng bộ từ Hiến pháp cho đến các Bộ luật, các luật, pháp lệnh và các văn
bản dưới luật. Trong đó, Luật Thi hành án hình sự đã có những quy định về vấn
đề lao động của các tù nhân. Các quy định này đã thể hiện được nguyên tắc bảo
đảm nhân đạo xã hội chủ nghĩa; tôn trọng nhân phẩm, quyền lợi ích hợp pháp
của người chấp hành án, với mục đích của lao động tù nhân nhằm giáo dục, cải
tạo trên cơ sở phù hợp với tình hình sức khỏe, độ tuổi và giới tính. 38

Theo quy định của Luật thi hành án hình sự, trong thời gian chấp hành án phạt
tù, phạm nhân phải học pháp luật, giáo dục công dân, lao động và được học văn
hóa, học nghề. Việc lao động được tổ chức phù hợp với độ tuổi, sức khỏe và đáp
ứng yêu cầu quản lý, giáo dục, hòa nhập cộng đồng. Các ngày thứ 7, chủ nhật,
lễ, tết, phạm nhân được nghỉ lao động theo quy định của pháp luật. 38
Thời gian phạm nhân lao động và học tập, học nghề không quá 8 giờ 1 ngày.
Trường hợp đột xuất hoặc thời vụ, Giám thị trại giam có thể yêu cầu phạm nhân
làm thêm giờ nhưng không được quá 2 giờ 1 ngày. Trường hợp phạm nhân lao
động thêm giờ hoặc lao động trong ngày thứ 7, chủ nhật thì được nghỉ bù hoặc
bồi dưỡng bằng tiền, hiện vật. Phạm nhân nữ được bố trí làm những công việc
phù hợp với giới tính, sức khỏe và độ tuổi; không làm công việc nặng nhọc, độc
hại thuộc danh mục cấm sử dụng lao động nữ. Phạm nhân mắc bệnh hoặc có
nhược điểm về thể chất, tinh thần thì tùy mức độ, tính chất của bệnh tật và trên
cơ sở chỉ định của y tế trại giam, trại tạm giam được miễn hoặc giảm thời gian
lao động.36 Phạm nhân là người chưa thành niên được lao động ở khu vực
riêng phù hợp với lứa tuổi; không phải làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm
hoặc tiếp xúc với các chất độc hại [3, tr. 65-66]. 39
Như vậy, có thể thấy, pháp luật Việt Nam quy định về lao động tù nhân khá đầy
đủ và toàn diện, mục đích của lao động tù nhân nhằm giáo dục, cải tạo trên cơ
sở phù hợp với tình hình sức khỏe, độ tuổi và giới tính. 39
Tóm lại, thi hành án hình sự là một hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước
nhằm thực hiện bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án trong thực tiễn.
Tòa án nhân danh Nhà nước tuyên án với bị cáo tại phiên tòa, áp dụng mức và
loại hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm do họ
gây ra. Bản án, quyết định của Tòa án được thi hành chính là lúc công lý được
thực hiện trong cuộc sống. Thi hành án hình sự là giai đoạn thể hiện rõ nét
chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta. Nhiệm vụ của giai đoạn này
nhằm cảm hóa tư tưởng, giáo dục nhân cách, văn hóa, kỹ năng lao động nhằm
mục đích làm cho người thụ án trở thành một công dân tốt cho xã hội, mặt
khác, góp phần răn đe, ngăn ngừa chung 39

Chương 2 41
VAI TRÒ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT
NAM CỦA VIỆN KIỂM SÁT 41
2.1. Khái quát về Viện kiểm sát với vai trò bảo vệ quyền con ngƣời trong tố
tụng hình sự qua các giai đoạn lịch sử trƣớc năm 2003 41
2.1.1. Giai đoạn từ 1960 đến trước khi BLTTHS 1988 ra đời 41
2.1.1.1. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra của cơ quan Công
an và của cơ quan điều tra khác 43
2.1.1.2. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử của Toà án nhân
dân 46
2.1.1.3. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc chấp hành các bản án và
quyết định của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật 48
2.1.1.4. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tạm giam, tạm giữ và cải
tạo 49
2.1.2. Giai đoạn từ 1988 đến trước khi có BLTTHS năm 2003 53
2.1.2.1. Việc kiểm sát bảo vệ quyền con người thông qua hoạt động thực hành
quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố, điều tra
các vụ án hình sự 55
2.1.2.2. Bảo vệ quyền con người qua hoạt động thực hành quyền công tố và
kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử các vụ án hình sự 58
2.1.2.3. Bảo vệ quyền con người qua hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp
luật trong việc tạm giữ, tạm giam 59
2.1.2.4. Bảo vệ quyền con người qua hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp
luật trong việc chấp hành bản án, quyết định của Toà án 61
2.2. Bảo vệ quyền con ngƣời của Viện Kiểm sát nhân dân trong BLTTHS 2003 . 62
2.2.1. Bảo vệ quyền con người thông qua hoạt động thực hành quyền công
tố và kiểm sát việc khởi tố và điều tra vụ án hình sự của VKSND 62
2.2.2. Bảo vệ quyền con người qua các hoạt động thực hành quyền công tố
và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự 69
2.2.3. Bảo vệ quyền con người thông qua các hoạt động kiểm sát việc tạm

giữ, tạm giam và kiểm sát thi hành án hình sự 74
2.2.3.1. Bảo vệ quyền con người thông qua hoạt động kiểm sát việc tạm giữ, tam
giam 74
2.2.3.2. Bảo vệ quyền con người thông qua các hoạt động kiểm sát thi hành án
hình sự 78
Chương 3 81
THỰC TIỄN BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN
DÂN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG
CAO HIỆU QUẢ CỦA VIỆC BẢO VỀ QUYỀN CON NGƯỜI CỦA VIỆN KIỂM
SÁT NHÂN DÂN 81
3.1. Thực tiễn bảo vệ quyền con ngƣời của Viện Kiểm sát nhân dân trong các
giai đoạn tố tụng hình sự 81
3.1.1. Trong giai đoạn khởi tố và điều tra 81
3.1.2. Trong giai đoạn truy tố và xét xử các vụ án hình sự 85
3.1.3. Trong giai đoạn thi hành án hình sự 90
3.1.4. Đánh giá chung (hạn chế, bất cập và nguyên nhân của những hạn
chế, bất cập) 92
3.2. Hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về vai trò
bảo vệ quyền con ngƣời của Viện Kiểm sát 94
Để khắc phục những bất cập, vướng mắc và tồn tại trong thực tiễn trên, nâng cao
chất lượng, hiệu quả công tác bảo vệ quyền con người của Viện kiểm sát trong quá
trình giải quyết vụ án hình sự, cần tiến hành thực hiện đồng bộ các giải pháp sau: . 94
3.2.1. Sửa đổi, bổ sung các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự 94
3.2.2. Sửa đổi, bổ sung các quy định cụ thể liên quan đến nhiệm vụ, quyền
hạn, và trách nhiệm của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự 97
3.3. Một số giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả của việc bảo vệ quyền con
ngƣời của VKSND 101
3.3.1. Đổi mới tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ kiểm sát
101
3.3.2. Đổi mới phương thức quản lý, chỉ đạo điều hành trong ngành Kiểm

sát 103
3.3.3. Tăng cường quan hệ phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ
quan tiến hành tố tụng và các cơ quan, tổ chức có liên quan trong tố tụng
hình sự 105
3.3.4. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra trong ngành Kiểm sát 107
3.4.5. Tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện làm việc, chế độ lương, phụ
cấp ưu đãi đối với đội ngũ cán bộ tư pháp, trong đó có cán bộ Kiểm sát 110
KẾT LUẬN 112
Trên cơ sở nghiên cứu về vai trò bảo vệ quyền con người của VKSND trong tố tụng
hình sự Việt Nam, chúng tôi đưa ra một số kết luận sau: 112
1. Vấn đề quyền con người và bảo vệ quyền con người là vấn đề mang tính toàn
cầu, được ghi nhận trong hệ thống các điều ước quốc tế và trong hệ thống pháp luật
của mỗi quốc gia. Việt Nam đã tham gia nhiều văn kiện quốc tế về đảm bảo quyền
con người, cụ thể hóa các cam kết quốc tế vào hiến pháp và xây dựng, từng bước
hoàn thiện các hành lang pháp lý về quyền con người và đảm bảo quyền con người
được thực hiện có hiệu quả tại Việt Nam. Không chỉ được ghi nhận trong hệ thống
các ngành luật, quyền con người và bảo vệ quyền con người còn được ghi nhận và
đảm bảo thực hiện thông qua các quy định trong Hiến pháp – Đạo luật gốc. Đảng và
Nhà nước ta luôn xác định quyền con người là một giá trị tích đặc biệt, có tầm quan
trọng đặc biệt trong đời sống xã hội; đồng thời thể hiện bản chất xã hội chủ nghĩa và
là kim chỉ nam cho việc định hướng xây dựng hiến pháp và pháp luật. 112
2. TTHS là quá trình nhà nước đưa người phạm tội ra xử lý trước pháp luật; luôn
thể hiện đậm tính quyền lực nhà nước với sức mạnh cưỡng chế nhà nước. Do đó,
vừa đảm bảo việc phát hiện xử lý tội phạm, vừa phải đảm bảo không xâm phạm
quyền con người là vấn đề bức thiết đặt ra TTHS. Vấn đề bảo vệ quyền con người
trong TTHS được bảo vệ thông qua các quy định về quyền hạn và nghĩa vụ của hệ
thống cơ quan tư pháp hình sự và đặc biệt là thông qua vai trò của hệ thống VKS
trong pháp luật TTHS. 112
5. Trước tình hình đó, việc sửa đổi bổ sung một số quy định trong BLTTHS về các
nguyên tắc cơ bản trong TTHS; bổ sung các nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong

quá trình giải quyết vụ án hình sự trong BLTTHS có ý nghĩa rất quan trọng đối với
VKSND trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Cùng với đó, việc tiến hành đổi
mới tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ kiểm sát; đổi mới phương
thức quản lý, chỉ đạo điều hành trong ngành Kiểm sát; tăng cường quan hệ phối hợp
và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan khác, đặc
biệt là mối quan hệ giữa Tòa án với VKS; tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện
làm việc, chế độ lương, phụ cấp ưu đãi đối với đội ngũ cán bộ tư pháp, trong đó
có cán bộ Kiểm sát góp phần mang lại hiệu quả tích cực cho hoạt động thực hiện
chức năng nhiệm vụ của VKS trong TTHS, qua đó góp phần vào công cuộc cải cách
tư pháp, đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ quyền con người, các quyền cơ
bản của công dân. 113
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 114

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT







Bộ luật Dân sự
BLDS
Bộ luật Hình sự
BLHS
Bộ luật Tố tụng hình sự
BLTTHS
Tố tụng hình sự
TTHS
Viện kiểm sát

VKS
Viện kiểm sát nhân dân
VKSND
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
VNDCCH
Xã hội chủ nghĩa
XHCN
1
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Chúng ta đang xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì
dân. Một nhà nước mà ở đó, quyền con người được tôn trọng và bảo vệ không
chỉ dừng lại ở các tuyên bố chính trị, ghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật mà còn
được bảo vệ trong thực tế. Quyền con người là một giá trị thiêng liêng bất khả
tước đoạt. Nó hiện hữu trong nhiều lĩnh vực của đời sống trong đó có lĩnh vực
TTHS. Không phổ biến, không rộng lớn, không diễn ra hàng ngày hàng giờ như
các lĩnh vực hành chính, kinh tế, môi trường… nhưng có thể nói, quyền con
người trong TTHS lại là quyền dễ bị xâm phạm, bị tổn thương nhất và hậu quả
để lại cũng nghiêm trọng nhất khi nó động chạm đến quyền được sống, quyền tự
do và sinh mệnh chính trị của một cá nhân. Bởi lẽ, TTHS với tư cách là quá trình
nhà nước đưa một người ra xử lý trước pháp luật khi họ bị coi là tội phạm; luôn
thể hiện đậm tính quyền lực nhà nước với sức mạnh cưỡng chế nhà nước, với sự
thiếu quân bình về thế và lực của các bên tham gia quan hệ TTHS; mà sự yếu thế
luôn thuộc về những người bị buộc tội. Chính vì vậy, hoạt động TTHS, trong bất
cứ nhà nước nào đều được xếp vào “nhóm nguy cơ cao” khi người ta nói đến
vấn đề bảo vệ quyền con người.
Phát hiện, xử lý tội phạm là công việc của bất kỳ nhà nước nào nhằm bảo
vệ lợi ích của nhà nước, của xã hội, của cá nhân trong xã hội đó. Vừa đảm bảo
việc phát hiện xử lý tội phạm, vừa phải đảm bảo không xâm phạm quyền con
người là một mâu thuẫn mà giải quyết hài hòa mâu thuẫn này đó chính là biểu

hiện của một kiểu TTHS trong một nhà nước văn minh. Công việc đầu tiên ở đâu
cũng đòi hỏi và nhà nước nào cũng có nhiệm vụ phải làm là: Ghi nhận cụ thể
những quyền con người nào trong hệ thống pháp luật TTHS của mình. Việc ghi
nhận này không phải là sự ban phát từ phía nhà nước mà bắt nguồn từ nhiều yếu
tố trong đó có việc thừa nhận những giá trị cao quý nhân loại đã thừa nhận
chung. Chúng ta có thể tìm thấy trong các văn kiện Quốc tế về quyền con người
trong TTHS như Tuyên ngôn nhân quyền thế giới năm 1948 (UHDR); Công ước
quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 (ICCPR); Những nguyên tắc cơ
2
bản trong việc đối xử với tù nhân; Công ước chống tra tấn, đối xử vô nhân đạo
và hạ nhục con người năm 1985….
Nghiên cứu các văn bản này đưa đến một khẳng định quyền con người
trong TTHS là sự cụ thể quyền được sống, quyền được tự do, trong lĩnh vực
TTHS. Theo đó, quyền con người trong TTHS bao gồm những quyền: Quyền
được xét xử công bằng bởi một thủ tục TTHS và tòa án công bằng, công khai;
Quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, danh dự , nhân phâm và quyền
tự do cá nhân khác. Mọi trường hợp áp dụng các biện pháp cưỡng chế TTHS phải
trên cơ sở luật định; Quyền được suy đoán vô tội; Quyền được bào chữa và biện
hộ, quyền không bị xét xử quá mức chậm trễ; Người chưa thành niên phải được áp
dụng thủ tục TTHS đặc biệt; Quyền kháng cáo bản án để xét xử phúc thẩm, quyền
được nhanh chóng minh oan. Quyền không bị kết tội hai lần về cùng 1 hành vi….;
Các quyền con người trong thi hành án hình sự và sau xét xử (Điều 10, 11 UHDR,
Điều 14, 15 và 11 ICCPR) …
Những quyền trên là những quyền của người bị buộc tội - đối tượng quan
trọng nhất cần bảo vệ trong TTHS. Bên cạnh đó,khi nghiên cứu về quyền con
người trong TTHS chúng ta còn cần quan tâm đến quyền của nạn nhân của tội
phạm (người bị hại), quyền của người làm chứng và những người liên quan
khác, quyền con người của những người tiến hành tố tụng như điều tra viên,
công tố viên và thẩm phán. Những người này họ cũng có quyền con người của
họ như quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, danh dự, nhân phẩm, quyền được

bảo vệ các quyền chính trị, dân sự, kinh tế của mình bằng con đường TTHS. Các
quyền đó được bảo về thông qua các quy định về quyền hạn và nghĩa vụ của hệ
thống cơ quan tư pháp hình sự và đặc biệt là thông qua vai trò của hệ thống VKS
trong pháp luật tố TTHS.
Cho đến nay, Việt Nam chúng ta đã tham gia phần lớn và cam kết thực
hiện ở cả hai phương diện lập pháp và cam kết thực hiện thực tiễn các văn kiện
về quyền con người. Điều đó được thể hiện trong BLTTHS của nước CHXHCN
Việt Nam ở mức độ khác nhau: Có thể trang trọng quy định là nguyên tắc cơ
bản, Nguyên tắc bảo vệ quyền cơ bản của công dân; bảo vệ quyền bất khả xâm
3
phạm về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm, suy đoán vô tội, quyền
bào chữa quyền kháng cáo, quyền minh oan. Hay được thể hiện thông qua các
quy định về hệ thống các cơ quan tư pháp hình sự, quyền và nghĩa vụ của hệ
thống tư pháp hình sự trong đó có quy định về vai trò của VKS trong việc bảo
đảm quyền con người theo pháp luật hình sự, tố tụng hình sự…
Trong bối cảnh Việt Nam đang thực hiện công cuộc cải cách tư pháp theo
tinh thần Nghị quyết số 08 ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm
vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới; Nghị quyết số 48-NQ/TW
ngày 25/4/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống
pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020; và Nghị quyết số
49- NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp
đến năm 2020 với nội dung “sớm hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến
lĩnh vực tư pháp phù hợp với mục tiêu của chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật…”, nâng cao hiệu quả hoạt động cũng như vai trò của hệ thống
tư pháp hình sự, đặc biệt là vai trò của VKSND trong việc bảo vệ quyền con
người, quyền công dân trong TTHS cũng là một vấn đề cấp thiết đặt ra trong quá
trình hoàn thiện pháp luật TTHS trong giai đoạn hiện nay. Nghiên cứu các quy
định trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về vai trò của VKS trong việc bảo
vệ quyền con người và thực tiễn áp dụng, cũng như đưa ra các giải pháp hoàn
thiện và nâng cao hiệu quả của việc áp dụng những quy định đó trên thực tế

không chỉ có ý nghĩa lý luận, thực tiễn và pháp lý quan trọng mà còn là lý do
luận chứng cho sự cần thiết để tác giả lựa chọn đề tài “Viện Kiểm sát với vai
trò bảo vệ quyền con ngƣời trong tố tụng hình sự Việt Nam” làm luận văn
thạc sĩ luật học.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Khi lựa chọn đề tài cho luận văn của mình, tác giả luận văn có mục đích
tìm hiểu và nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam về vai trò của VKS
trong việc bảo về quyền con người theo pháp luật TTHS Việt Nam và việc thực
hiện chúng trong thực tiễn xét xử các vụ án hình sự. Thông qua sự tìm hiểu đó,
4
tác giả luận văn đưa ra những nhận xét và đánh giá theo quan điểm của cá nhân
về sự phù hợp hay không phù hợp của pháp luật Việt Nam về vấn đề này. Từ đó
luận văn đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về vai
trò của VKS trong việc bảo vệ quyền con người theo pháp luật TTHS Việt Nam,
cũng như đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả trong hoạt động của Viện
Kiểm sát trong thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự.
3. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
- Đối tượng nghiên cứu: Tác giả luận văn nghiên cứu những vấn đề pháp
luật có liên quan đến quyền con người và bảo vệ quyền con người trong TTHS
tụng hình sự Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những vấn đề xung quanh
việc quy định về vai trò của VKS và việc thực hiện vai trò đó của VKS trong
việc bảo vệ quyền con người trong BLTTHS 2003, kết hợp với việc nghiên cứu
đánh giá tình hình áp dụng các quy định đó trong thực tế xét xử các vụ án hình
sự và những nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế để kiến nghị những giải
pháp hoàn thiện luật thực định và nâng cao hiệu quả áp dụng những quy định đó
trong thực tiễn.
4. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Quá trình nghiên cứu đề tài của luận văn tác giả đã dựa trên các quan
điểm của Đảng, của Nhà nước về vị trí, vai trò của VKSND và việc bảo vệ

quyền con người của VKS trong các hoạt động tố tụng hình sự. Ngoài ra, tác giả
luận văn còn sử dụng các phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp…
khi nghiên cứu đề tài.
5. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Với việc nghiên cứu đề tài này, luận văn góp phần làm rõ thêm một số vấn
đề lý luận về quyền con người, về vai trò của VKS trong việc bảo vệ quyền con
người, đặc biệt là quyền con người trong TTHS. Trên cơ sở đó đánh giá thực
5
trạng và đề xuất phương hướng, nội dung hoàn thiện pháp luật về vai trò bảo vệ
quyền con người của VKS trong pháp luật TTHS Việt Nam.
6. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, nội dung của luận văn được thể
hiện trong ba chương với nội dung như sau:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về quyền con người và bảo vệ
quyền con người.
- Chương 2: Vai trò bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự Việt
Nam của Viện Kiểm sát.
- Chương 3: Thực tiễn bảo vệ quyền con người của Viện Kiểm sát nhân
dân trong tố tụng hình sự và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc
bảo vệ quyền con người của Viện Kiểm sát nhân dân.
6
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
VỀ QUYỀN CON NGƢỜI VÀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƢỜI
1.1. Khái niệm quyền con ngƣời và vấn đề bảo vệ quyền con ngƣời trong hệ
thống pháp luật quốc tế
1.1.1. Khái niệm quyền con người và bảo vệ quyền con người
1.1.1.1. Khái niệm quyền con người
Trong lịch sử nhân loại trước thế kỷ XVII, đã hình thành hai quan điểm
chủ yếu, khác nhau về quyền con người.

Quan niệm thứ nhất, những người theo học thuyết về quyền tự nhiên
(natural rights) xuất phát từ chỗ coi con người là một thực thể tự nhiên, vì vậy
quyền con người là những gì bẩm sinh, vốn có mà mọi cá nhân sinh ra đều được
hưởng chỉ đơn giản bởi họ là thanh viên của gia đình nhân loại. Các quyền con
người, do đó không phụ thuộc vào phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa
hay ý chí của bất cứ cá nhân, giai cấp, tầng lớp, tổ chức, cộng đồng hay nhà
nước nào. Vì vậy, không một chủ thể nào, kể cả nhà nước, có thể ban hành hay
tước bỏ các quyền con người bẩm sinh, vốn có của các cá nhân.
Quan điểm thứ hai, đặt con người và quyền con người trong tổng hòa các
mối quan hệ xã hội. Học thuyết về các quyền pháp lý (legal rights) cho rằng, các
quyền con người không phải những gì bẩm sinh, vốn có một cách tự nhiên mà
phải do các nhà nước xác định và pháp điển hóa thành các quy phạm pháp luật
hoặc xuất phát từ truyền thống văn hóa. Như vậy, theo học thuyết về quyền pháp
lý, phạm vi, giới hạn và ở góc độ nhất định, cả thời hạn hiệu lực của các quyền
con người phụ thuộc vào ý chí của tầng lớp thống trị và các yếu tố như phong
tục, tập quán, truyền thống văn hóa… của các xã hội [25].
Quan điểm biện chứng của học thuyết Mác – Lênin đã khắc phục được
tính phiến diện trong nhận thức về con người và quyền con người trong các quan
điểm nêu trên. Học thuyết Mác – Lênin xem xét con người với tư cách là sản
phẩm của tự nhiên và xã hội. Con người là một thực thể tự nhiên nhưng là một
7
thực thể tự nhiên con người trong cộng đồng xã hội. Trong cái tự nhiên của con
người có mặt xã hội và trong cái xã hội của con người có mặt tự nhiên. Do đó,
Quyền con người là sự thống nhất biện chứng giữa “quyền tự nhiên” (như một
đặc quyền vốn có và chỉ con người mới có) và “quyền xã hội” – sự chế định
bằng các quy chế pháp lý nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội [20].
Quyền con người (human rights) là một phạm trù đa diện, do đó có nhiều
quan điểm, định nghĩa khác nhau. Theo một tài liệu của Liên Hiệp Quốc, có đến
gần 50 định nghĩa về quyền con người đã được công bố từ trước đến nay, mỗi
định nghĩa tiếp cận vấn đề từ một góc độ nhất định, chỉ ra những thuộc tính nhất

định, nhưng không định nghĩa nào bao hàm được tất cả các thuộc tính của quyền
con người. Theo Văn phòng Cao ủy Liên Hiệp Quốc về quyền con người (Office
of High Commissoner for Human Rights - OHCHR), quyền con người là những
bảo đảm pháp lý toàn cầu (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá
nhân và các nhóm chống lại những hành động (actions) hoặc sự bỏ mặc
(omissions) mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép (entitlements)
và tự do cơ bản (fundamental) của con người [25, tr.37].
Bên cạnh định nghĩa nêu trên, cũng có một định nghĩa khác về quyền con
người thường được nhắc đến, theo đó, “quyền con người là những sự được phép
(entitlements) mà tất cả thành viên của cộng đồng nhân loại, không phân biệt
giới tính, chủng tộc, tôn giáo, địa vị xã hội… đều có ngay từ khi sinh ra, đơn
giản chỉ vì họ là con người” [25, tr.37].
Ở Việt Nam, đã có những định nghĩa về quyền con người do một số cơ
quan nghiên cứu và các chuyên gia từng nêu ra. Theo PGS.TS Nguyễn Đăng
Dung,
Quyền con người: Đó là những quyền cơ bản nhất của con người,
được có một cách tự nhiên gắn bó mật thiết với con người – một động vật
cao cấp có lý trí, và có tình cảm làm cho con người khác với các động vật
khác, mà nhà nước thành lập với một trong những nhiệm vụ quan trọng
bậc nhất của mình là phải bảo vệ những quyền đó [15].
8
Còn theo TS Trần Quang Tiệp, đưa ra một định nghĩa ngắn gọn, khá đầy
đủ và cụ thể về quyền con người như sau: “Quyền con người là những đặc lợi
vốn có tự nhiên mà chỉ có con người mới được hưởng trong những điều kiện
chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định” [15].
Cho đến nay, giữa các nhà khoa học – luật gia trong và ngoài nước vẫn
còn nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm quyền con người, nhưng xét chung,
quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có
của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa
thuận pháp lý quốc tế [24].

Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng theo quan niệm chung của
cộng đồng quốc tế, quyền con người được xác định dựa trên hai bình diện chủ
yếu là giá trị đạo đức và giá trị pháp luật. Dưới bình diện đạo đức, quyền con
người là giá trị xã hội cơ bản, vốn có (những đặc quyền) của con người như nhân
phẩm, bình đẳng xã hội, tự do ; dưới bình diện pháp lý, để trở thành quyền,
những đặc quyền phải được thể chế hóa bằng các chế định pháp luật quốc tế và
pháp luật quốc gia. Như vậy, dù ở góc độ nào hay cấp độ nào thì quyền con
người cũng được xác định như là chuẩn mực được kết tinh từ những giá trị nhân
văn của toàn nhân loại, áp dụng cho tất cả mọi người.
Cùng với khái niệm quyền con ngưởi, chúng ta còn thường thấy đi kèm
với nó là khái niệm quyền công dân. Quyền con người và quyền công dân là hai
khái niệm có mối liên hệ mật thiết với nhau, tuy nhiên, hai khái niệm này có sự
khác biệt nhất định.
Quyền con người là khái niệm có tính chất bao quát và rộng hơn quyền
công dân. Quyền con người là quyền được áp dụng cho tất cả mọi người thuộc
mọi dân tộc đang sinh sống trên phạm vi toàn cầu, không phân biệt quốc tịch,
không phụ thuộc vào biên giới quốc gia hay tư cách cá nhân của chủ thể, thể
hiện mối quan hệ giữa cá nhân với toàn thể cộng đồng nhân loại.
Quyền công dân là khái niệm gắn liền với Nhà nước, thể hiện mối quan hệ
giữa công dân với Nhà nước, được xác định bởi chế định quốc tịch. Quyền công
dân là tập hợp những quyền con người được pháp luật của một nước ghi nhận và
9
chỉ những người mang quốc tịch của một nước thì mới được hưởng các quyền
công dân mà pháp luật nước đó quy định.
Quyền con người muốn được hiện thực hóa phải được quy định cụ thể
trong pháp luật, nếu không, nó chỉ mang ý nghĩa tượng trưng, không có ý nghĩa
thực tế. Pháp luật là phương tiện để ghi nhận và hiện thực hóa các quyền con
người. Khi được pháp luật quy định, quyền con người trở thành quyền công dân.
Đồng thời, pháp luật còn thiết lập nghĩa vụ của những chủ thể có liên quan trong
việc tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân [45].

Như vậy, cho đến nay, chúng ta phải thừa nhận rằng chưa có một định
nghĩa triết học kinh điển nào về quyền con người. Bên cạnh việc không có một
định nghĩa tiêu chuẩn thống nhất, cách hiểu về quyền con người cũng cho thấy
có sự khác biệt. Thứ nhất, hiện đang còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về
nguồn gốc, bản chất của quyền con người. Thứ hai, quyền con người được xem
xét dưới nhiều lĩnh vực khác nhau như triết học, đạo đức, chính trị, pháp luật, tôn
giáo… mà mỗi lĩnh vực lại tiếp cận khái niệm này ở một góc độ riêng, tuy nhiên
không lĩnh vực nào bao hàm được tất cả các thuộc tính của quyền con người.
Tùy vào tính chất chủ quan của mỗi người, tùy vào lĩnh vực nghiên cứu
mà quyền con người được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Ở cấp độ quốc
tế, định nghĩa về quyền con người phổ biến nhất vẫn là định nghĩa của Cao ủy
LHQ về quyền con người, theo đó: “Quyền con người là những bảo đảm pháp lý
toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động
hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ
bản của con người” [25, tr.41].
Từ những phân tích trên, có thể rút ra khái niệm về quyền con người như
sau: Quyền con người là quyền mà con người được hưởng trong những điều
kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định và được nhà nước đảm bảo
thông qua hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia.
Khái niệm này đã chỉ ra được những đặc điểm thuộc về bản chất của khái
niệm về quyền con người như nó là quyền tự nhiên, vốn có của con người, được
bảo vệ bằng pháp luật quốc gia.
10
1.1.1.2. Khái niệm bảo vệ quyền con người
Là một phạm trù đa diện, song quyền con người có mối liên hệ gần gũi
hơn cả với pháp luật. Điều này trước hết là bởi cho dù quyền con người có là
bẩm sinh, vốn có hay phải do các nhà nước quy định, thì việc thực hiện các
quyền vẫn cần có pháp luật. Hầu hết những nhu cầu vốn có, tự nhiên của con
người không thể được bảo đảm đầu đủ nếu không được ghi nhận bằng pháp luật,
mà thông qua đó, nghĩa vụ tôn trọng và thực thi các quyền không phải chỉ tồn tại

dưới dạng những quy tắc đạo đức mà trở thành những quy tắc cư xử chung, có
hiệu lực bắt buộc và thống nhất cho tất cả mọi chủ thể trong xã hội [25, tr.47].
Với tư cách là chủ thể của pháp luật, con người – cũng với quyền, tự do
và nghĩa vụ, những thuộc tính xã hội gắn liền với nó – luôn là đối tượng phản
ánh của các hệ thống pháp luật. Pháp luật xác lập và bảo vệ sự bình đẳng giữa
các cá nhân con người trong xã hội và sự độc lập tương đối của các cá nhân với
tập thể, cộng đồng, nhà nước, thông qua việc pháp điển hóa các quyền và tự do
tự nhiên, vốn có của cá nhân. Theo nghĩa này, pháp luật có vai trò đặc biệt,
không thể thay thế trong việc ghi nhận, bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người.
Pháp luật là phương tiện chính thức hóa, pháp lý hóa giá trị xã hội của các
quyền tự nhiên. Về nguyên tắc, các nhà nước trên thế giới chỉ bảo đảm thực hiện
những quyền pháp lý – những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người đã
được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Chỉ khi mang tính pháp lý, các quyền tự
nhiên mới chuyển thành những quyền con người có đầy đủ giá trị hiện thực.
Pháp luật chính là phương tiện để thực hiện quá trình chuyển hóa đó. Pháp luật
là phương tiện bảo đảm giá trị thực tế của các quyền con người. Pháp luật đóng
vai trò là công cụ giúp nhà nước bảo đảm sự tuân thủ, thực thi các quyền con
người của các chủ thể khác nhau trong xã hội, đồng thời cũng là công cụ của các
cá nhân trong việc bảo vệ các quyền con người của chính họ thông qua việc vận
dụng các quy phạm và cơ chế pháp lý quốc gia và quốc tế [25, tr.47].
Bảo vệ quyền con người là một quá trình. Nó phụ thuộc vào tổng thể
nhiều điều kiện khác nhau (kinh tế, chính trị, pháp luật, văn hóa…) trong đó
pháp luật có vị trí, vai trò và tầm quan trọng hàng đầu. Để phát huy đầy đủ vai
trò quan trọng của pháp luật trong việc bảo vệ quyền con người thì phải thể chế
11
hóa quyền con người thành các quy định cụ thể trong hệ thống pháp luật, phải có
cơ chế bảo đảm cho các quy định đó được thực hiện trong thực tế, tạo thành đảm
bảo pháp lý thực hiện quyền con người. Nói cách khác, đảm bảo pháp lý bảo vệ
quyền con người chính là đảm bảo thực hiện quyền con người bằng pháp luật
[16]. Như vậy, đảm bảo pháp lý bảo vệ quyền con người là hệ thống các quy

định trong hệ thống pháp luật nhằm cụ thể hóa, bảo đảm thực hiện bảo vệ quyền
con người và cơ chế bảo đảm thực hiện các quy định đó trong thực tiễn đời sống.
Quá trình thể chế hóa quyền con người, xây dựng các thiết chế bảo đảm
thực hiện nó trong hệ thống pháp luật cũng chính là quá trình xây dựng đảm bảo
pháp lý bảo vệ quyền con người. Quyền con người được thể chế hóa trong hệ
thống pháp luật sẽ trở nên vô nghĩa nếu việc tổ chức thực hiện không được
thường xuyên. Khả năng bảo đảm bảo vệ quyền con người trong quá trình tổ
chức thực hiện trước hết phụ thuộc vào chất lượng của việc thể chế hóa quyền
con người tự nhiên thành quyền công dân, cùng với các thiết chế bảo đảm thực
hiện nó trong hệ thống pháp luật như: bảo đảm tính cụ thể, đồng bộ thuận tiện
khả thi của các quy định pháp luật về quyền công dân; xây dựng thiết chế tổ
chức, hoạt động của bộ máy Nhà nước hướng đến mục tiêu thực hiện bảo vệ
quyền con người; xây dựng hệ thống các thủ tục tố tụng ngăn ngừa sự tùy tiện,
lạm quyền của các cơ quan và những người tiến hành tố tụng, hòa nhập pháp luật
quốc gia và pháp luật quốc tế.
Tóm lại, có thể hiểu, bảo vệ quyền con người chính là việc nhà nước
thông qua pháp luật ghi nhận và bảo đảm thực hiện.
Theo nhận thức của cộng đồng Quốc tế, để bảo đảm quyền con người, nhà
nước có ba nghĩa vụ cụ thể như sau:
Thứ nhất, nghĩa vụ tôn trọng (obligation to respect): nghĩa vụ này đòi hỏi
các nhà nước không được tùy tiện tước bỏ, hạn chế hay can thiệp, kể cả trực tiếp
hoặc gián tiếp, vào việc thụ hưởng các quyền con người.
Thứ hai, nghĩa vụ bảo vệ (obligation to protect): nghĩa vụ này đòi hỏi các
nhà nước phải ngăn chặn sự vi phạm quyền con người của các bên thứ ba.

×