Tải bản đầy đủ (.pdf) (124 trang)

Pháp luật quốc tế, pháp luật nước ngoài và pháp luật Việt Nam về an toàn vệ sinh lao động

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.6 MB, 124 trang )


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT






BÙI THỊ CHUYÊN





PHÁP LUẬT QUỐC TẾ, PHÁP LUẬT NƢỚC NGOÀI
VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG



Chuyên ngành: Luật quốc tế
Mã số: 60 38 01 07




LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC







Người hướng dẫn khoa học: TS. Lê Văn Bính







HÀ NỘI - 2013

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã
hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN


Bùi Thị Chuyên

MỤC LỤC


Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: KHÁI QUÁT VỀ ATVSLĐ, PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ
PHÁP LUẬT NƢỚC NGOÀI VỀ ATVSLĐ 7
1.1. Khái quát về ATVSLĐ 7
1.1.1. TNLĐ và BNN - các tác động tới sự phát triển kinh tế - xã hội của thế giới 7
1.1.2. Yêu cầu đặt ra về xây dựng Hệ thống quản lý ATVSLĐ 8
1.2. Pháp luật quốc tế về ATVSLĐ 11
1.2.1. Quan niệm về ATVSLĐ 11
1.2.2. Một số quy định của pháp luật quốc tế về vấn đề ATVSLĐ 17
1.2.3. Vai trò của pháp luật quốc tế trong việc đảm bảo ATVSLĐ 25
1.3. Pháp luật một số quốc gia về ATVSLĐ 28
1.3.1. Luật An toàn và sức khoẻ công nghiệp của Hàn quốc 28
1.3.2. Luật An toàn và sức khoẻ công nghiệp của Nhật Bản 29
1.3.3. Bộ luật Lao động Philipin 31
1.3.4. Luật Sức khoẻ và an toàn nơi làm việc của Singapore 32
1.3.5. Kinh nghiệm xây dựng và triển khai Luật ATVSLĐ của một số quốc
gia trên thế giới 34

Chƣơng 2: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ ATVSLĐ 37
2.1. Những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật Việt Nam về ATVSLĐ 37
2.1.1. Những vấn đề lý luận về ATVSLĐ 37
2.1.2. Đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước 43
2.1.3. Thực tiễn về công tác ATVSLĐ ở Việt Nam 48

2.2. Những nội dung chính của Pháp luật Việt Nam về ATVSLĐ 59
2.2.1. Các chế độ bảo đảm ATVSLĐ, chăm sóc sức khỏe người lao động 60
2.2.2 Các quy định về kỹ thuật ATVSLĐ 65
2.2.3. Các quy định nhằm bảo đảm và thúc đẩy thực hiện công tác ATVSLĐ 67
2.2.4. Quy định về ATVSLĐ trong một số Luật chuyên ngành 72
2.2.5. Đánh giá quy định pháp luật Việt Nam về ATVSLĐ 78
2.3. Vấn đề chuyển hoá các quy định về ATVSLĐ của pháp luật quốc
tế vào pháp luật Việt Nam 85
2.3.1. Nhận xét chung 85
2.3.2. Nghĩa vụ chuyển hoá Điều ước quốc tế vào pháp luật quốc gia 86
2.3.4. Các hoạt động hợp tác chuyên môn, kỹ thuật về ATVSLĐ đối với
Việt Nam 88

Chƣơng 3: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VIỆT NAM VỀ ATVSLĐ 93
3.1. Cơ sở hoàn thiện pháp luật về ATVSLĐ 93
3.2. Định hƣớng hoàn thiện pháp luật về ATVSLĐ 96
3.2.1. Nhóm giải pháp về hoàn thiện chính sách, pháp luật 96
3.2.2. Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện 98
3.2.3 Các giải pháp cụ thể 102
3.3. Sự cần thiết phải xây dựng Luật ATVSLĐ ở Việt Nam 103
3.3.1. Xây dựng Luật ATVSLĐ ở Việt Nam với các định hướng sau 104
3.3.2. Một số nội dung trọng tâm của Luật ATVSLĐ 105

KẾT LUẬN 109
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

TT
Viết tắt

Nội dung từ
1.
ATLĐ
An toàn lao động
2.
ATVSLĐ
An toàn vệ sinh lao động
3.
BHLĐ
Bảo hộ lao động
4.
BNN
Bệnh nghề nghiệp
5.
ĐKLĐ
Điều kiện lao động
6.
ILO
Tổ chức Lao động Quốc tế
7.
NLĐ
Người lao động
8.
NSDLĐ
Người sử dụng lao động
9.
TCVN
Tiêu chuẩn Quốc gia Việt Nam
10.
TNLĐ

Tai nạn lao động
11.
VSLĐ
Vệ sinh lao động
12.
WHO
Tổ chức Y tế thế giới



DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ

1. Bảng
Bảng 1.1: Một cách tiếp cận đa ngành đối với phát triển bền vững và công bằng 12
Bảng 1.2: Năm nguyên tắc và ba cấp độ cho một sức khỏe nghề nghiệp tốt 14
Bảng 2.1: Kết quả kiểm soát môi trường lao động 48
Bảng 2.2: TNLĐ theo thống kê từ báo cáo doanh nghiệp 50
Bảng 2.3: Tình hình BNN qua các giai đoạn 1976-2011 51
Bảng 2.4: Những nguyên nhân để xảy ra TNLĐ do NSDLĐ 52
Bảng 2.5: Những nguyên nhân để xảy ra TNLĐ do NLĐ 52
Bảng 2.6: Tổng hợp tình hình thanh tra, kiểm tra trên toàn quốc 54

2. Biểu đồ
Biểu đồ 2.1: Biểu đồ về số vụ TNLĐ 49
Biểu đồ 2.2: Biểu đồ về số người bị TNLĐ và cơ cấu giới tính 49



1
MỞ ĐẦU


1. Tính cấp thiết của Đề tài nghiên cứu
Trong những năm qua, thực hiện công cuộc đổi mới và hội nhập quốc
tế, Việt Nam đã đạt được những thành tự to lớn trong sự nghiệp phát triển
kinh tế - xã hội, tạo ra những tiền đề vững chắc đưa đất nước chuyển sang
một thời kỳ mới, thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nhờ sự phát triển đó
và với những đổi mới trong công tác quản lý Nhà nước về lao động, công tác
an toàn vệ sinh lao động (sau đây viết tắt là ATVSLĐ) được quan tâm đầy đủ
hơn, điều kiện làm việc, sức khỏe NLĐ từng bước được cải thiện. Thực tiễn
đó thể hiện chính sách, chiến lược vì con người của Đảng và Nhà nước, luôn
luôn chăm lo và coi trọng quyền và lợi ích của NLĐ.
Bên cạnh đó, vấn đề về bảo vệ an toàn tính mạng và sức khoẻ con
người cũng được quan tâm hơn. Nhà nước ta rất quan tâm đến vấn đề bảo hộ
lao động (sau đây viết tắt là BHLĐ), công tác ATVSLĐ, điều này được thể
hiện trong nội dung Sắc lệnh 29/SL ngày 12/3/1947, Hiến pháp năm 1946,
Hiến pháp 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp 1992, Pháp lệnh BHLĐ
năm 1991 và Bộ luật Lao động năm 1994 (được sửa đổi, bổ sung các năm
2002, 2006, 2007), kế thừa và phát huy các quy định trong Bộ luật Lao động
trước đây, trong Bộ luật Lao động năm 2012, vấn đề ATVSLĐ được quy định
thành một chế định riêng biệt, ngoài ra các quy định chi tiết, hướng dẫn của
Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương đã có tác dụng tích cực trong việc
phòng ngừa tai nạn lao động (sau đây viết tắt là TNLĐ), bệnh nghề nghiệp
(sau đây viết tắt là BNN), bảo vệ sức khỏe NLĐ, góp phần vào sự phát triển
sản xuất, ổn định kinh tế - xã hội và tạo điều kiện thuận lợi cho việc hợp tác
quốc tế, hòa nhập với các nước trong khu vực và hội nhập quốc tế.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy trong những năm gần đây do những nguyên
nhân khách quan và chủ quan khác nhau về việc làm, đời sống, sự xuống cấp

2
và lạc hậu của thiết bị công nghệ, hạ tầng, tình hình vi phạm các quy định

ATVSLĐ đã diễn ra ở nhiều nơi, nhiều cơ sở, nhất là trong lĩnh vực xây lắp,
khai thác mỏ, giao thông dẫn đến hàng chục nghìn vụ TNLĐ chết người hoặc
gây thiệt hại lớn về tài sản của nhà nước và nhân dân, số người bị thương tật
do TNLĐ, BNN tăng để lại hậu quả khôn lường cho xã hội, nhiều người tàn
phế suốt đời…
Bên cạnh đó, các quy định về ATVSLĐ nằm rải rác, phân tán ở nhiều
văn bản khác nhau từ các quy định của Bộ luật, Luật, Nghị định, Thông tư
như hiện nay gây khó khăn cho việc thực hiện các quy định về ATVSLĐ,
điều này đang tạo ra một hệ thống phức tạp, chồng chéo, gây khó khăn cho
việc thực thi. Nhiều tiêu chuẩn, quy chuẩn ban hành đã lâu, trở nên lạc hậu so
với sự phát triển của sản xuất, phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.
Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến
lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đã nhấn mạnh một
trong những quan điểm chỉ đạo là xây dựng và hoàn thiện pháp luật nói chung
và pháp luật về ATVSLĐ nói riêng, đáp ứng yêu cầu của quá trình cải cách tư
pháp ở Việt Nam và quá trình hội nhập. Đồng thời, thực hiện Nghị quyết số
20/2011/QH13 ngày 26/11/2011 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh
của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XIII, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết
định số 207/QĐ-TTg về việc phân công cơ quan chủ trì soạn thảo các dự án
Luật, Pháp lệnh thuộc chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc
hội khóa XIII, giao cho Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì xây
dựng Dự án Luật ATVSLĐ.
Để thực hiện tốt nhiệm vụ nói trên, đòi hỏi các tổ chức, cơ quan,
cũng như các cán bộ được giao nghiên cứu xây dựng Luật ATVSLĐ trên
cơ sở quán triệt các quan điểm của Đảng, tình hình của đất nước, học tập
kinh nghiệm quốc tế và kế thừa thành quả và kinh nghiệm thực tiễn trong

3
thời gian qua, theo đó từng bước cải thiện hệ thống tổ chức quản lý nhà
nước về ATVSLĐ, thực hiện việc ngăn chặn TNLĐ và bệnh tật liên quan

đến lao động.
Đề tài nghiên cứu “Pháp luật quốc tế, pháp luật nước ngoài và pháp
luật Việt Nam về ATVSLĐ” nhằm nghiên cứu và làm rõ những quy định của
pháp luật quốc tế, pháp luật nước ngoài và pháp luật Việt Nam về ATVSLĐ,
qua đó tìm ra những thiếu hụt, những bất cập trong hệ thống pháp luật Việt
Nam, tìm hiểu sự chuyển hóa pháp luật quốc tế vào pháp luật Việt Nam, kinh
nghiệm quốc tế trong việc xây dựng pháp luật về ATVSLĐ góp phần hoàn
thiện hệ thống pháp luật Việt Nam phù hợp với xu thế hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu
ATVSLĐ là vấn đề được quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, nhiều
độc giả, những sản phẩm nghiên cứu được biết đến như: “Danh mục trang bị
phương tiện bảo vệ cá nhân”, NXB Lao động - Xã hội, 2004; “Công tác
BHLĐ trong nông nghiệp, nông thôn”, NXB Lao động – Xã hội, 2010; “Hồ
sơ quốc gia về ATVSLĐ”, NXB Lao động – Xã hội; “Chiến lược toàn cầu về
ATVSLĐ”, kết luận của Hội nghị Lao động quốc tế, kỳ họp thứ 91 của năm
2003, Văn phòng ILO, 2003; “Hệ thống quốc gia về ghi chép và thông báo về
BNN”, Văn phòng ILO, 2013.
Một số Báo, Tạp chí có những bài viết sâu sắc đánh giá về vấn đề
ATVSLĐ như “Đánh giá rủi ro trong sản xuất theo nhóm các yếu tố nguy
hiểm” TS. Triệu Quốc Lộc Tạp chí BHLĐ tháng 4/2012.
Đề tài khoa học cấp Nhà nước “Nghiên cứu hiệu quả kinh tế xã hội của
các giải pháp cải thiện môi trường và điều kiện làm việc cho NLĐ và xây
dựng mối quan hệ với năng suất lao động nhằm nâng cao tính cạnh tranh và
bảo vệ nguồn nhân lực trong quá trình hội nhập” Chủ nhiệm đề tài GS.TS. Lê
Vân Trình, Viện Nghiên cứu khoa học kỹ thuật BHLĐ, năm 2011; “Nghiên

4
cứu xây dựng chiến lược và các biện pháp cơ bản để giám sát, dự phòng và xử
lý các nguy cơ ô nhiễm môi trường lao động ảnh hưởng tới sức khỏe NLĐ”
Chủ nhiệm đề tài PGS. TS Nguyễn An Lương, Viện Nghiên cứu khoa học kỹ

thuật BHLĐ, năm 2000.v.v
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: “Thiết bị lọc bụi gỗ” TS. Phạm
Văn Hải, Viện nghiên cứu khoa học kỹ thuât BHLĐ; “Nghiên cứu chế thử
quần áo chống lạnh dùng cho công nhân làm việc trong các nhà lạnh” Nhóm
nghiên cứu: Dược sỹ Trần Thanh Hương, Kỹ thuật viên Hồ Thị Mão - Viện
BHLĐ; Kỹ sư Nguyễn Thị Bội - Xí nghiệp Chế biến Vi sinh Hà Nội; “Đánh
giá thực trạng môi trường lao động về BNN trong ngành đường sắt” Nhóm
nghiên cứu: Phạm Văn Hùng và Trung tâm Y tế dự phòng Đường sắt.v.v
Một số bài viết trên các báo, tạp chí, ví dụ Tạp chí Lao động - Xã hội,
Báo điện tử Dân trí, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, Tạp chí Bảo hiểm xã hội,
, .v.v
Vì vậy, nghiên cứu về ATVSLĐ không phải là một hiệu tượng mới
nhưng lại là một đề tài được coi là “cần thiết”, cần có sự nghiên cứu nghiêm
túc và kỹ lưỡng để có thể thấy vấn đề một cách toàn diện.
Đối với luận văn này, trên cơ sở tham khảo một số tài liệu có liên quan,
học viên đã tiếp cận vấn đề một cách nghiêm túc. Từ việc nghiên cứu pháp
luật quốc tế, pháp luật của một số quốc gia trên thế giới và pháp luật Việt
Nam về ATVSLĐ và đưa ra một số giải pháp, kiến nghị góp phần hoàn thiện
pháp luật trong nước về vấn đề này.
3. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những quy định của pháp luật quốc tế, nghiên
cứu lý luận, đánh giá thực trạng về ATVSLĐ ở Việt Nam làm rõ những bất
cập trong hệ thống pháp luật hiện hành, những vướng mắc trong quá trình
triển khai, thực hiện những quy định đã hoặc chưa phù hợp để đưa ra đề xuất

5
sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản mới phù hợp với các quy định của
luật pháp quốc tế, có tính đến việc học tập kinh nghiệm quốc tế về xây dựng
pháp luật ATVSLĐ.
4. Tính mới và những đóng góp của Đề tài

Nội dung về ATVSLĐ là một đề tài quan tâm của nhiều độc giả, nhiều
nhà nghiên cứu, nên những công trình liên quan đến nghiên cứu vấn đề
ATVSLĐ đã được quan tâm nhiều, tuy nhiên nghiên cứu về pháp luật quốc tế
và pháp luật Việt Nam về ATVSLĐ thì chưa có nhiều. Đề tài nghiên cứu
mang tính xây dựng, trên cơ sở tham khảo bài viết của các nhà nghiên cứu,
nhà khoa học về vấn đề này đưa ra một số giải pháp, kiến nghị góp phần hoàn
thiện pháp luật trong nước về vấn đề này.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Đề tài chủ yếu hướng vào các đối tượng là
NLĐ Việt Nam, người học nghề, tập nghề và một số đối tượng là lao động
đặc thù, người sử dụng lao động (sau đây viết tắt là NSDLĐ), người lao động
(sau đây viết tắt là NLĐ) nước ngoài làm việc tại Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu của Đề tài tập trung vào hệ thống pháp luật quốc tế
(Công ước quốc tế về nhân quyền và một số Công ước quốc tế của ILO),
trong quá trình nghiên cứu có đề cập đến pháp luật về ATVSLĐ của một số
quốc gia (Nhật Bản, Hàn Quốc, Philipin, Singapore) và nghiên cứu hệ thống
pháp luật của Việt Nam về an toàn vệ sinh lao động.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu Đề tài, tác giả đã sử dụng nhiều phương
pháp nghiên cứu khác nhau, trong đó có phương pháp cụ thể sau:
Thứ nhất, phương pháp thống kê, thông qua thống kê các số liệu về
TNLĐ và quá trình áp dụng các quy định về ATLĐ trong các doanh nghiệp
nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty có vốn đầu tư nước ngoài,

6
công ty liên doanh, công ty cổ phần.v.v
Thứ hai, phương pháp phân tích, học viên đưa ra những quy định của
pháp luật Việt Nam trên cơ đó phân tích những điểm phù hợp, những điểm
chưa phù hợp với những quy định của Công ước.
Thứ ba, phương pháp so sánh, trên cơ sở những phân tích và bình luận

về các quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế, học viên mạnh
dạn đưa ra một số đánh giá.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về ATVSLĐ, pháp luật quốc tế và pháp luật nước
ngoài về ATVSLĐ.
Chương 2: Pháp luật Việt Nam về ATVSLĐ.
Chương 3:Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam
về ATVSLĐ.













7
Chƣơng 1
KHÁI QUÁT VỀ ATVSLĐ, PHÁP LUẬT QUỐC TẾ
VÀ PHÁP LUẬT NƢỚC NGOÀI VỀ ATVSLĐ

1.1. Khái quát về ATVSLĐ
1.1.1. TNLĐ và BNN - các tác động tới sự phát triển kinh tế - xã hội

của thế giới
Theo ước tính của Tổ chức lao động quốc tế (sau đây viết tắt là ILO)
hàng năm có khoảng 337 triệu vụ Tai nạn lao động xảy ra trên thế giới và 2,3
triệu người chết do các bệnh liên quan đến lao động [88]. Thiệt hại do
TNLĐ, BNN ước tính khoảng 4% GDP của toàn thế giới. Ở một số nước có
thu nhập cao, khoảng 40% số người nghỉ hưu trước tuổi là bị thương tật do
lao động. Tính trung bình số thời gian bị rút ngắn này khoảng 5 năm, tương
đương 14% độ dài thời gian có khả năng làm việc của lực lượng lao động.
Tính trung bình 5% lực lượng lao động nghỉ việc do ảnh hưởng sức khoẻ
trong lao động, 1/3 số người thất nghiệp do bị suy giảm khả năng lao động,
làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng tái sản xuất sức lao động của xã
hội loài người. Các nghiên cứu tình hình TNLĐ hàng năm trên thế giới cho
thấy ở các quốc gia đang phát triển, tần suất TNLĐ chết người là 30 - 43
người/100.000 lao động [60].
Các số liệu thống kê tại Cộng đồng Châu Âu cho thấy, trong số 115
triệu NLĐ của Cộng đồng Châu Âu đã có hơn 10 triệu người bị TNLĐ hoặc
BNN hàng năm. Số người chết vì TNLĐ là hơn 8000 người/ năm. Thiệt hại
kinh tế khoảng 26 tỉ euro/năm. Ở Đức, điều kiện lao động (sau đây viết tắt là
ĐKLĐ) xấu gây thiệt hại là 52 tỉ đê mác/năm. Ở Anh, chi phí cho người bị
tai nạn bằng 4 - 8% tổng lợi nhuận của các công ty thương mại và công
nghiệp của Anh. Tại Hà Lan, chi phí cho TNLĐ, BNN bằng khoảng 4% GDP.

8
Tại Mỹ, mỗi ngày có khoảng 9.000 người bị thương tật do TNLĐ và 153
người chết do TNLĐ, BNN thiệt hại kinh tế hàng năm do tai nan lao động
xảy ra trong công nghiệp là 190 tỉ đô la Mỹ [13].
Tại Châu Á, nhiều nước với sự năng động việc tập trung mọi nỗ lực
cho phát triển kinh tế bắt đầu từ thập kỉ sáu mươi của thế kỉ 20 đã đem đến
cho khu vực này một sự khởi sắc mới về phát triển kinh tế, xã hội, cải thiện
chất lượng cuộc sống. Nhiều công nghệ, kĩ thuật mới đã được đưa vào ứng

dụng đã giải phóng sức lao động con người, nâng cao năng suất và chất lượng
sản phẩm. Tuy nhiên do quá tập trung cho phát triển kinh tế và chưa coi trọng
đến công tác ATVSLĐ nên số vụ TNLĐ, ốm đau, bệnh tật đã tăng nhanh. Tại
hàng loạt nước công nghiệp phát triển như Hàn Quốc, Nhật bản.v.v TNLĐ,
BNN đã có thể coi như “đại dịch”.
Báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (sau đây viết tắt là WHO) cho thấy,
ĐKLĐ rủi ro, có hại đã góp phần gây ra sự hoành hành một số bệnh trên thế
giới, cụ thể: 37% số người bị bệnh đau lưng, 16% số người bị tổn thương
thính lực, 11% số người bị bệnh hen xuyễn, 10% số người bị thương tật, 9%
số người bị ung thư và 2% số người bị bệnh bạch cầu. Ngoài ra, ĐKLĐ xấu
cũng tác động không nhỏ đến cộng động xã hội, làm mỗi năm có thêm khoảng
gần 310.000 người chết do bị những tổn thương liên quan đến lao động và
146.000 người chết vì bị bệnh ung thư liên quan đến lao động [76].
Tuy nhiên, phần lớn TNLĐ và BNN đều có thể phòng ngừa được với
các biện pháp thích hợp, việc ngăn ngừa và giảm thiểu TNLĐ là vấn đề tôn
trọng con người và quyền cơ bản của con người thông qua chương trình làm
việc bền vững, xây dựng và ban hành chính sách lấy con người làm trung tâm,
chú trọng các chính sách xã hội và phát triển bền vững.
1.1.2. Yêu cầu đặt ra về xây dựng Hệ thống quản lý ATVSLĐ
Một trong những xứ mệnh của Tổ chức lao động quốc tế ILO là bảo vệ

9
NLĐ khỏi những ốm đau, bệnh tật, tổn thương có liên quan đến công việc.
Bệnh tật và thương vong không có nghĩa là do nghề nghiệp cũng như không
thể lấy đói nghèo để biện minh cho việc xem nhẹ vấn đề an toàn và sức khỏe
của NLĐ. Mục tiêu hàng đầu của tổ chức ILO là tạo thêm cơ hội cho NLĐ dù
là nam hay nữ có được công việc tốt và hữu ích trong điều kiện bình đẳng,
bác ái, và an toàn, nói ngắn gọn là “công việc tốt”. Theo ILO, công việc tốt là
công việc an toàn, công việc an toàn cũng chính là nhân tố tích cực để tăng
năng suất và phát triển kinh tế.

Xuất phát từ mục đích trên, ILO đã ban hành “Hướng dẫn về hệ thống
quản lý an toàn lao động” năm 2001, nhằm tạo một công cụ hỗ trợ thiết thực
cho các tổ chức, các cơ quan có thẩm quyền cũng như các biện pháp để không
ngừng hoàn thiện việc thực hiện công tác an toàn lao động (sau đây viết tắt là
ATLĐ). Hệ thống quản lý ATLĐ mà tổ chức lao động quốc tế khuyến nghị
chính là kết quả đút rút kinh nghiệm thực tế đa dạng ở nhiều nước, từ đó xây
dựng thành một hệ thống khuyến nghị mang tính mục tiêu tác động tích cực
trong việc giảm thiểu nguy cơ cũng như hợp lý hoá quá trình và tăng năng suất
lao động, làm cho các khuyến nghị của tổ chức lao động quốc tế ngày càng
được phổ biến rộng rãi và hình thành xu thế hội nhập của các nước đang phát
triển. Mục tiêu của hệ thống quản lý ATLĐ là góp phần bảo vệ NLĐ khỏi các
nguy cơ rủi ro và dần tiến đến loại trừ mọi TNLĐ, BNN và giảm tỷ lệ tử vong
liên quan đến quá trình lao động. Đồng thời khuyến nghị của ILO có giá trị
tham khảo và sử dụng trực tiếp trong việc hình thành khung hệ thống quản lý
ATLĐ cấp quốc gia. Bên cạnh đó còn giúp cho các cơ sở sản xuất chủ động tổ
chức thực hiện việc tuân thủ các quy định và các tiêu chuẩn về ATLĐ đáp ứng
những nhu cầu thực tế và phù hợp với tính chất hoạt động của đơn vị.
Hướng dẫn của Tổ chức Lao động quốc tế đã nêu rõ quan điểm ATLĐ
bao gồm việc tuân thủ các yêu cầu về ATLĐ theo đúng pháp luật và các quy

10
định của quốc gia là trách nhiệm và nghĩa vụ của NSDLĐ, NLĐ cần được chỉ
đạo và cam kết thực hiện các hoạt động ATLĐ và tạo điều kiện để thiết lập hệ
thống ATLĐ tại cơ sở. Hướng dẫn chỉ rõ khung quốc gia về hệ thống quản lý
ATLĐ mà ILO khuyến nghị bao gồm 3 yếu tố chủ đạo: Chính sách quốc gia,
hướng dẫn quản lý Nhà nước và hướng dẫn triển khai thực hiện.
Trên cơ sở hướng dẫn về “Hệ thống quản lý ATLĐ” năm 2001 của ILO
đã tạo tiền đề cho việc định hướng cũng như hoàn thiện hệ thống quản lý
ATLĐ và là tiêu chí chính thức để đánh giá công tác này trong hoạt động sản
xuất ở các nước. Hầu hết mô hình quản lý Nhà nước về ATLĐ ở các nước đều

theo mô hình: Chính phủ giao trách nhiệm quản lý Nhà nước về an toàn cho
các ngành: Lao động, y tế, công nghiệp, môi trường, giao thông vận tải.v.v…
Một số nước tổ chức ngành kết hợp, ngành y tế kết hợp với khoa học công
nghệ ở Trung Quốc, môi trường kết hợp với năng lượng ở Pháp.
Hiện nay Việt Nam đang thúc đẩy và xây dựng Hệ thống quản lý
ATVSLĐ của Việt Nam trên cơ sở hướng dẫn về “Hệ thống quản lý ATLĐ”
như một công cụ thiết thực trong việc tăng cường ATVSLĐ, hướng dẫn này
sẽ là nền tảng cơ sở cho các cấp, các ngành, các cơ quan tổ chức, các cơ sở
sản xuất xây dựng kế hoạch hành động để có thể áp dụng trực tiếp ở cơ sở.
Hướng dẫn về Hệ thống quản lý ATVSLĐ là một công cụ quốc tế quan trọng
trong việc phát triển Hệ thống quản lý ATVSLĐ tại Việt Nam. Hướng dẫn
này đã có tác động tích cực trong việc nâng cao năng suất lao động, giảm
thiểu nguy cơ và rủi ro trong sản xuất, được Chính phủ, NLĐ và người
NSDLĐ trên thế giới công nhận. Hướng dẫn này sẽ tạo ra cơ sở phù hợp và
mang tính linh hoạt trong việc xây dựng văn hoá an toàn bền vững trong các
tổ chức, các doanh nghiệp và nơi làm việc.
Tuy nhiên, khi xây dựng các hướng dẫn này Việt Nam cần đặc biệt lưu
ý đến quy mô, cơ sở hạ tầng của cơ sở sản xuất và các yếu tố nguy hiểm cũng
như nguy cơ và mức độ rủi ro có thể xảy ra trong quá trình sản xuất.

11
1.2. Pháp luật quốc tế về ATVSLĐ
1.2.1. Quan niệm về ATVSLĐ
Cụm từ “occupational safety and health” có nhiều cách dịch khác nhau
là “ATLĐ và sức khoẻ nghề nghiệp”, “ATLĐ, vệ sinh lao động và sức khoẻ
nghề nghiệp”, “ATVSLĐ” theo cách hiểu chung nhất học viên dùng thuật ngữ
“ATVSLĐ” (sau đấy viết tắt là ATVSLĐ).
Trên phạm vi quốc tế vấn đề sức khoẻ, xét về mặt công việc, không
chỉ là tình trạng không có bệnh tật, mà còn bao gồm cả các yếu tố thể chất
và tinh thần có tác động đến sức khoẻ và có liên quan trực tiếp đến ATLĐ

và vệ sinh lao động [67].
Từ năm 1950, Tổ chức Lao động quốc tế và Tổ chức Y tế Thế giới đã
chia sẻ một định nghĩa chung về sức khỏe nghề nghiệp, định nghĩa này được
thông qua bởi Ủy ban về sức khỏe nghề nghiệp tại phiên họp đầu tiên vào
năm 1950 và được sửa đổi tại kỳ họp thứ mười hai trong năm 1995. Trong
định nghĩa khuyến cáo, sức khỏe nghề nghiệp nên nhằm mục đích thúc đẩy
và duy trì mức độ cao nhất về các mặt vật chất, bảo vệ NLĐ khỏi các rủi ro
từ việc làm của họ do các yếu tố bất lợi cho sức khỏe, cần đặt và bảo đảm
NLĐ làm việc trong môi trường nghề nghiệp phù hợp với khả năng sinh lý
và tâm lý của NLĐ.
Trọng tâm chính trong sức khỏe nghề nghiệp là trên ba mục tiêu khác
nhau: (i) duy trì và nâng cao sức khỏe NLĐ và khả năng lao động, (ii) cải
thiện môi trường làm việc để việc làm trở thành an toàn và có lợi cho sức
khoẻ và (iii) phát triển văn hóa làm việc theo hướng đảm bảo sức khỏe và an
toàn tại nơi làm việc, khi đạt được các yếu tố trên sẽ thúc đẩy một môi
trường xã hội tích cực và hoạt động trơn tru và có thể nâng cao năng suất lao
động. Khái niệm về văn hóa làm việc được nêu ra trong bối cảnh trên đã
phản ánh các hệ thống giá trị chủ yếu thông qua các nhân tố có liên quan.
Văn hóa việc làm như vậy cần được áp dụng trong thực tế các hệ thống quản

12
lý, chính sách nhân sự, nguyên tắc tham gia, chính sách đào tạo và quản lý
chất lượng công việc [85].
Trong những năm 1980, khái niệm "phát triển bền vững" lần đầu tiên
được nhấn mạnh, trong đó bao gồm "quyền có một cuộc sống lành mạnh và
hài hòa với thiên nhiên" (nguyên tắc đầu tiên của Tuyên bố Rio, Hội nghị
Liên hợp quốc về Môi trường và Phát triển). Mục tiêu của một môi trường an
toàn và lành mạnh sẽ trở thành một phần của khái niệm phát triển bền vững,
trong đó cũng có nghĩa cân bằng giữa bảo vệ sức khoẻ và cơ hội về việc làm,
cải thiện đời sống và sức khỏe cho NLĐ, gồm môi trường làm việc và sức

khỏe nghề nghiệp góp phần làm cho phát triển bền vững. Chuyển đổi mô hình
này được minh họa trong Bảng 1.1
Bảng 1.1. Một cách tiếp cận đa ngành đối với phát triển bền vững
và công bằng [80]

Mục đích của Bảng này là để minh họa sự tương tác giữa sức khỏe
nghề nghiệp, công việc và môi trường làm việc trong sự hỗ trợ lẫn nhau để
phát triển bền vững. Nó xác định một khu vực đại diện cho sự tích hợp của
các mục tiêu kinh tế và xã hội có thể đáp ứng trong khi đồng thời có tính đến
môi trường, việc làm, sức khỏe và kinh tế, trong đó trọng tâm của mô hình
nghiêng về sức khỏe và công việc.
Trong năm 1984, Hội nghị Lao động quốc tế thường niên của ILO đã
thông qua một nghị quyết về cải thiện điều kiện làm việc gồm các yếu tố về

13
cải thiện điều kiện làm việc và môi trường là một yếu tố cần thiết để thúc đẩy
công bằng xã hội. Thông điệp của Hội nghị nhấn mạnh rằng cải thiện môi
trường và điều kiện làm việc là một đóng góp tích cực cho sự phát triển quốc
gia, trong đó có ba nguyên tắc cơ bản (i) Công việc nên diễn ra trong một môi
trường an toàn và lành mạnh, (ii) Điều kiện làm việc phải phù hợp với mong
muốn và phẩm giá của NLĐ và (iii) Công việc nên cung cấp các điều kiện để
cá nhân phát huy năng lực, tự hoàn thiện và phục vụ xã hội.
Đối với WHO, sức khỏe nghề nghiệp bao gồm an toàn tại nơi làm việc.
Vệ sinh được định nghĩa là hướng về phòng chống dịch bệnh trong khi an
toàn được coi là một nguyên tắc giúp cơ thể ngăn ngừa chấn thương do tai
nạn. Đối với ILO, an toàn và sức khỏe nghề nghiệp được xem như một môn
học nhằm ngăn ngừa các chấn thương làm việc (bao gồm BNN và TNLĐ, các
điều kiện ATLĐ, sức khỏe nghề nghiệp, y học lao động, vệ sinh lao động và
chăm sóc sức khỏe nghề nghiệp được sử dụng để ghi nhận những đóng góp
của các ngành nghề khác nhau (ví dụ như kỹ sư, bác sĩ, y tá.v.v ) và công

nhận thực tế là các tổ chức ATLĐ, y tế ở cấp độ doanh nghiệp thường bao
gồm các dịch vụ riêng biệt ATLĐ và sức khỏe nghề nghiệp, cũng như các ủy
ban an toàn và sức khỏe.
Ở một mức độ nhất định, ATLĐ và phòng ngừa có quan hệ chặt chẽ
với các công nghệ được sử dụng, đến quá trình sản xuất và quản lý hàng ngày,
trong đó tập trung nhiều vào các mối quan hệ giữa công việc và sức khỏe, đặc
biệt là về công tác giám sát môi trường làm việc và sức khỏe của NLĐ, cũng
như yếu tố con người và các khía cạnh làm việc. Ở cấp độ doanh nghiệp, các
kỹ sư có một sự hiện diện cần thiết và không thể tách rời với quá trình quản lý
(kỹ sư sản xuất, bảo dưỡng, kỹ thuật viên.v.v ), trong khi đó sức khỏe nghề
nghiệp và vệ sinh đòi hỏi sự can thiệp của các chuyên gia trong lĩnh vực y tế,
những người hoạt động thông qua hình thức tư vấn hoặc hoạt động theo tổ
dịch vụ y tế lao động bên ngoài.

14
Bất cứ cách thức sắp xếp tổ chức và các thuật ngữ được sử dụng trong
doanh nghiệp, điều quan trọng nhất là người quản lý sản xuất và chuyên gia y
tế làm việc chú trọng về hợp tác và phối hợp trong việc xây dựng và thực hiện
chương trình hành động, cũng như sự phát triển của khái niệm thống nhất,
chẳng hạn như "nền văn hóa làm việc" (văn hóa an toàn, văn hóa BHLĐ, văn
hóa doanh nghiệp) có lợi cho an toàn và sức khỏe tại nơi làm việc và "nâng
cao chất lượng tiếp tục" điều kiện làm việc và môi trường.
Ủy ban về sức khoẻ nghề nghiệp năm 1992 giữa ILO/WHO cũng nhấn
mạnh rằng phạm vi sức khỏe nghề nghiệp rất rộng (Bảng 1.2), bao gồm các
ngành như y học, điều dưỡng, vệ sinh lao động (sau đây viết tắt là VSLĐ),
ATLĐ, kỹ thuật, chất độc, môi trường vệ sinh, tâm lý học lao động và quản lý
nhân sự. Sự hợp tác và tham gia của NSDLĐ và NLĐ trong các chương trình
sức khỏe nghề nghiệp là một điều kiện tiên quyết cần thiết cho thực hành sức
khỏe nghề nghiệp thành công.
Bảng 1.2. Năm nguyên tắc và ba cấp độ cho một sức khỏe nghề nghiệp tốt [86]


Nguyên tắc
Cấp độ
Phòng chống
Bảo vệ
Thích ứng
Xúc tiến
Giảm nhẹ
Cá nhân (đa dạng)
Phòng ngừa
tai nạn
Vệ sinh công
nghiệp
Y học công
nghiệp
Thiết bị bảo
hộ cá nhân
Tổ chức khoa
học công việc
Phân tích
công việc
Chương trình
hỗ trợ nhân
viên
Bồi thường
điều trị


Năm 1920
Năm 1930

Năm 1950
Năm 1950
Năm 1910
Nhóm (nhóm tiếp
xúc, nhu cầu đặc
biệt)
Môi trường
làm việc an
toàn và lành
mạnh
Được xây
dựng trong an
toàn
Y học nghề
nghiệp


Máy bảo vệ


Thái bao gồm
thiết kế


Chương trình
nâng cao sức
khỏe của NLĐ


Lập kế hoạch

khẩn cấp và
chuẩn bị sẵn
sàng
Năm 1970
Năm 1940
Năm 1950
Năm 1980
Năm 1970
Xã hội và tất cả các
công nhân
(Nguyên tắc chung
của việc chăm sóc
sức khỏe ban đầu)
Công nghệ
kiểm soát
Quản lý sức
khỏe môi
trường
Sức khỏe môi
trường
Dịch tễ học
Chăm sóc y tế
dự phòng
Công nghệ
phù hợp
Bảo vệ người
tiêu dùng
Chương trình
xúc tiến giáo
dục và sức

khỏe

Chữa bệnh
chăm sóc sức
khỏe
Phục hồi chức
năng
Năm 1970
Năm 1960
Năm 1970
Năm 1970
Năm 1920

15
Ủy ban về Sức khỏe và Môi trường của WHO một lần nữa tiếp tục
công nhận "các hình thức phát triển cần thiết để bảo vệ sức khỏe sẽ phụ thuộc
vào nhiều điều kiện, trong đó có yếu tố môi trường, trong khi phát triển mà
không quan tâm đến môi trường chắc chắn sẽ dẫn đến suy giảm sức khỏe con
người" (WHO 1992). Trong bối cảnh đó, sức khỏe nghề nghiệp được công
nhận là một "giá trị gia tăng", là một đóng góp tích cực cho sự phát triển quốc
gia và một điều kiện phát triển bền vững.
Tuyên bố và Chương trình hành động được thông qua tại Hội nghị
Thượng đỉnh Thế giới về phát triển xã hội được tổ chức tại Copenhagen vào
năm 1995. Hội nghị thượng đỉnh chỉ ra rằng mục tiêu không phải để tạo ra bất
kỳ loại công việc nào, mà công việc đảm bảo chất lượng để bảo vệ các quyền
và lợi ích cơ bản của NLĐ, ngoài ra việc tạo ra việc làm chất lượng tốt phải
bao gồm các biện pháp để đạt được một môi trường làm việc lành mạnh và an
toàn, để loại bỏ các mối nguy hiểm tới sức khỏe và đảm bảo ATLĐ. Đây là
một dấu hiệu cho thấy triển vọng của sức khỏe nghề nghiệp cũng có thể hợp
tác tích cực trong việc điều hoà việc làm, y tế và môi trường đối với sự phát

triển công bằng và bền vững.
Trong quan niệm về phát triển bền vững theo khuyến nghị của ILO/WHO
thì ATVSLĐ là một phần không thể thiếu, các chỉ số đảm bảo phát triển bền
vững nhất thiết phải bao gồm các chỉ số về sức khỏe, vì Ủy ban về sức khỏe
nghề nghiệp nhấn mạnh cam kết "bảo vệ và nâng cao sức khỏe con người" là
một nguyên tắc cơ bản cho phát triển bền vững [40]. Trong đó môi trường làm
việc và đảm bảo sức khỏe của NLĐ là yếu tố đặc biệt được quan tâm.
Trên phạm vi pháp luật nước ngoài, ở một số quốc gia trong hệ thống
pháp luật của mình đã ban hành các luật riêng quy định về vấn đề ATVSLĐ,
có thể kể đến như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc.v.v… là những quốc gia đi đầu
trong việc nghiên cứu các chính sách về đảm bảo sức khoẻ và tính mạng của
NLĐ, chúng ta có thể nghiên cứu là:

16
Trong Luật ATLĐ và sức khoẻ nghề nghiệp của Mỹ năm 1970 có các
quy định về các biện pháp ngăn chặn việc gây ra những thương tích, bệnh tật
và tử vong của NLĐ ở nơi làm việc, định nghĩa về “tiêu chuẩn về ATLĐ và
sức khỏe nghề nghiệp” là một tiêu chuẩn đòi hỏi phải có điều kiện, được thừa
nhận hoặc sử dụng một hoặc nhiều hoạt động, phương tiện, phương pháp, các
quy trình hợp lý, cần thiết hoặc thích hợp để cung cấp một công việc và môi
trường làm việc an toàn và lành mạnh” [43].
Luật an toàn và sức khoẻ công nghiệp của Hàn Quốc năm 1990 có
quy định “TNLĐ và BNN” để chỉ những trường hợp NLĐ chết, bị thương
hoặc bị BNN vì các công trình, thiết bị, nguyên liệu thô, khí, hơi, bột, bụi
trong công việc… hoặc do các lý do công tác và do công việc gây ra [44].
Mục đích của Luật này là duy trì và thúc đẩy an toàn và sức khoẻ của NLĐ
thông qua việc phòng ngừa TNLĐ và BNN bằng cách xây dựng các tiêu
chuẩn về an toàn và sức khoẻ lao động và làm rõ trách nhiệm cá nhân, tạo
ra môi trường làm việc thoải mái.
Luật ATVSLĐ trong Công nghiệp Nhật bản năm 1972 sửa đổi năm

2006 có quy định: “TNLĐ” để chỉ trường hợp NLĐ bị thương, bệnh tật hoặc
thiệt mạng vì các công trình, thiết bị, nguyên vật liệu, khí, hơi, bụi.v.v… trong
lao động hoặc do các hoạt động lao động hoặc do công việc yêu câu sự có mặt
của NLĐ [58]. Mục đích của Luật này cùng với Luật Tiêu Chuẩn Lao Động
năm 1947 của Nhật Bản nhằm đảm bảo an toàn và sức khỏe của NLĐ ở nơi
làm việc, cũng như để tạo ra một môi trường làm việc thoải mái, bằng cách
thúc đẩy các biện pháp phòng ngừa TNLĐ một cách toàn diện và hệ thống, ví
dụ như xây dựng các tiêu chuẩn về phòng ngừa nguy hiểm, làm rõ trách
nhiệm thuộc về ai và thúc đẩy các hoạt động tình nguyện để tuyên truyền các
biện pháp phòng ngừa TNLĐ.
Như vậy, quan niệm về ATVSLĐ theo khuyến cáo của Uỷ ban về sức

17
khỏe nghề nghiệp ILO/WHO và quy định trong Luật an toàn và sức khoẻ
công nghiệp của Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ (Chúng ta sẽ nghiên cứu ở mục
1.3) được hiểu thông qua cách diễn đạt khác nhau, tuy nhiên đều hướng đến
mục đích về bảo vệ sức khoẻ của con người, bảo đảm NLĐ có môi trường
làm việc an toàn và thuận lợi để phát huy tối đa khả năng cống hiến của NLĐ,
nhằm đảm bảo sức khoẻ cao nhất của NLĐ bao gồm cả mặt vật chất lẫn tinh
thần, tránh cho NLĐ khỏi những rủi ro về TNLĐ, BNN, những yếu tố bất lợi
cho sức khỏe của NLĐ tại nơi làm việc, đảm bảo NLĐ có một công việc an
toàn và khoẻ mạnh.
Hiện nay, ATVSLĐ được xem xét không chỉ “gói gọn” trong vấn đề về
tính mạng, sức khoẻ của NLĐ mà thông điệp này còn được các chuyên gia
quốc tế xem xét dưới góc độ nhân quyền, nó gắn bó mật thiết với bảo vệ môi
trường và biến đổi khí hậu của toàn cầu.
1.2.2. Một số quy định của pháp luật quốc tế về vấn đề ATVSLĐ
Quyền được chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nằm trong nội hàm của
quyền có mức sống thích đáng được nêu ở Điều 25 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân
quyền năm 1948, theo đó, mọi người có quyền được hưởng một mức sống

thích đáng, đủ để bảo đảm sức khỏe và phúc lợi của bản thân và gia đình, về
các khía cạnh ăn, mặc, ở, chăm sóc y tế và các dịch vụ xã hội cần thiết.
Ngoài ra, quy định về sức khoẻ và bảo vệ sức khoẻ con người được quy
định trong các điều ước quốc tế đa phương và điều ước quốc tế khu vực. (i) Các
điều ước quốc tế đa phương đó là Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội
và văn hóa năm 1966; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối
với phụ nữ năm 1979; Công ước về Quyền trẻ em năm 1989. (ii) Các điều ước
quốc tế khu vực đó là Hiến chương Xã hội châu Âu năm 1961; Hiến chương
châu Phi về quyền của nhân dân và con người năm 1981; Nghị định thư bổ sung
Công ước Mỹ về nhân quyền (Nghị định thư San Salvador năm 1988).v.v…

18
Trong các Công ước trên, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã
hội và văn hóa năm 1966 được coi là Công ước có quy định cơ bản về vấn đề
nhân quyền liên quan đến bảo vệ sức khoẻ và ATVSLĐ. Công ước kêu gọi
các quốc gia thành viên của Công ước công nhận quyền của mọi người được
hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi, đặc biệt đảm bảo
những điều kiện làm việc an toàn và lành mạnh [33]. Ngoài ra, Công ước
khuyến khích các quốc gia thành viên công nhận quyền của mọi người đạt tới
một tiêu chuẩn sức khoẻ về thể chất và tinh thần ở mức cao nhất có thể được;
Các biện pháp mà các quốc gia thành viên của Công ước phải thi hành để thực
hiện đầy đủ quyền này bao gồm những yêu cầu cần thiết về (i) Cải thiện mọi
mặt về vệ sinh môi trường và vệ sinh công nghiệp; (ii) Ngăn ngừa, xử lý và
hạn chế các dịch bệnh, bệnh ngoài da, BNN và các bệnh khác; (iii) Tạo các
điều kiện bảo đảm mọi dịch vụ và sự chăm sóc y tế khi đau yếu [34].
Các quy định trên của Công ước quốc tế về các quyền về kinh tế, xã hội
và văn hóa được coi là quy định pháp luật quốc tế toàn diện nhất về quyền
được chăm sóc sức khỏe và đảm bảo ĐKLĐ an toàn tại nơi làm việc. Ủy ban
về quyền kinh tế, xã hội, văn hóa đã giải thích một cách khá toàn diện và chi
tiết về quyền này trong Bình luận chung số 14 thông qua tại phiên họp lần thứ

22 năm 2002 của Ủy ban, có thể tóm tắt những điểm quan trọng liên quan đến
sức khoẻ và mối quan hệ với ATVSLĐ trong Điều 7 như sau:
Thứ nhất, chăm sóc sức khoẻ là một quyền con người cơ bản, không
thể thiếu để thực hiện các quyền khác. Mọi người có quyền được hưởng tiêu
chuẩn chăm sóc sức khoẻ cao nhất có thể đạt được để sống một cuộc sống có
nhân phẩm. Hiện thực hóa quyền được chăm sức khoẻ có thể được thực hiện
thông qua nhiều cách tiếp cận bổ trợ nhau, chẳng hạn như xây dựng chính
sách y tế, hoặc thực hiện các chương trình y tế do WHO triển khai, hoặc ban
hành những văn bản pháp luật cụ thể.

19
Thứ hai, quyền được chăm sóc sức khoẻ liên quan mật thiết và phụ
thuộc vào việc hiện thực hoá các quyền con người khác, bao gồm các quyền
sống, quyền về lương thực, nhà ở, việc làm, giáo dục, nhân phẩm, bình đẳng,
không phân biệt đối xử, cấm tra tấn, bảo vệ đời tư, tiếp cận thông tin, và các
quyền tự do lập hội, hội họp, đi lại. Đặc biệt quyền được chăm sóc sức khoẻ
có mối quan hệ mật thiết với chính sách của Nhà nước ban hành về đảm bảo
điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi, làm việc trong môi trường an
toàn và vệ sinh.
Thứ ba, Điều 12 của Công ước không bao gồm định nghĩa về sức khoẻ,
tuy nhiên có thể liên hệ đến định nghĩa được nêu trong lời nói đầu của Điều lệ
của WHO, theo đó sức khoẻ được xác định là “trạng thái thỏa mái về điều
kiện thể chất, tinh thần và xã hội, không chỉ thuần tuý là không có bệnh tật
hay không ổn định”. Vì vậy, quyền được chăm sóc sức khoẻ được hiểu là
quyền được thụ hưởng những cơ sở vật chất, hàng hoá, dịch vụ và điều kiện
cần thiết để đạt được tiêu chuẩn sức khoẻ cao nhất có thể.
Thứ tư, quyền được chăm sóc sức khoẻ phụ thuộc vào những yếu tố cơ
bản là (i) Khả năng sẵn có về cơ sở chăm sóc sức khoẻ và y tế công, các loại
hàng hoá và dịch vụ, cũng như các chương trình chăm sức khỏe của quốc gia
thành viên và (ii) Khả năng có thể tiếp cận của mọi người với các cơ sở chăm

sóc sức khỏe, hàng hoá và dịch vụ y tế.
Nghĩa vụ thực hiện yêu cầu các quốc gia công nhận đầy đủ quyền được
chăm sóc sức khoẻ trong hệ thống pháp luật và chính trị quốc gia, thích hợp
nhất là thông qua hình thức thực hiện lập pháp, và ban hành một chính sách y
tế quốc gia với kế hoạch chi tiết để thực hiện quyền được chăm sóc sức khoẻ.
[32]. Việc thực hiện chính sách về sức khoẻ thông qua việc xây dựng các
chính sách về bảo đảm sức khoẻ ở nơi làm việc, các tiêu chuẩn an toàn trong
lao động cũng nằm trong nội hàm của việc đảm bảo sức khoẻ của con người
và được nhân loại công nhận như một quyền của con người.

×