Tải bản đầy đủ (.pdf) (100 trang)

Quản lý nhà nước về chứng thực thực trạng và phương hướng đổi mới

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (784.94 KB, 100 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT





CHU THỊ TUYẾT LAN



QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHỨNG THỰC
THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG ĐỔI MỚI

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 60 38 01



LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC




Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Thất



HÀ NỘI - 2012
LỜI CAM ĐOAN


Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.
Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác
và trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN


Chu Thị Tuyết Lan
MỤC LỤC

Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Tính hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
4. Phương pháp nghiên cứu 3
5. Ý nghĩa của luận văn 3
6. Kết cấu của luận văn 4
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ CHỨNG THỰC 5
1.1. Khái niệm chứng thực 5
1.2. Vị trí, chức năng của quản lý nhà nước về chứng thực 7
1.3. Quy phạm pháp luật về chứng thực 10
1.3.1. Văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về chứng thực 10
1.3.2. Quy định cơ bản của pháp luật hiện hành 11
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CHỨNG THỰC

Ở VIỆT NAM 15
2.1. Hệ thống cơ quan thực hiện chứng thực, quản lý chứng thực 15
2.1.1 Cơ quan thực hiện chứng thực 15
2.1.2. Cơ quan quản lý chứng thực 16
2.2. Phương thức thực hiện chứng thực 30
2.2.1. Một số thủ tục chứng thực 30
2.3. Cán bộ, công chức Tư pháp hộ tịch 38
2.4.Thực tiễn công tác chứng thực 39
2.5. Đánh giá hiệu quả quản lý chứng thực 45
2.5.1. Những kết quả đạt được 45
2.5.2. Những hạn chế trong công tác quản lý nhà nước về chứng thực 56
2.6. Yêu cầu đổi mới, nâng cao hiệu quả quản lý chứng thực 64
Chương 3: ĐỔI MỚI, NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ CHỨNG THỰC 66
3.1. Quan điểm đổi mới trong quản lý chứng thực 66
3.2. Các biện pháp nhằm đổi mới, nâng cao hiệu quả quản lý nhà
nước về chứng thực 68
3.2.1. Hoàn thiện hành lang pháp lý để quản lý nhà nước về chứng thực 68
3.2.2. Hoàn thiện quy định của pháp luật về chứng thực 70
3.2.3. Đẩy mạnh cải cách hành chính, đưa quy định tiến bộ của pháp luật
chứng thực vào cuộc sống 73
3.2.4. Cần có quy định cán bộ Tư pháp hộ tịch xác nhận ký chứng thực,
tiêu chuẩn điều kiện, chế độ đãi ngộ đối với người làm công tác
chứng thực, giúp việc thực hiện chứng thực 77
3.2.5. Đẩy mạnh việc chuyển giao các giao dịch hợp đồng sang các tổ
chức hành nghề công chứng 79
3.2.6.Từng bước xã hội hóa hoạt động chứng thực 81
3.2.7. Cần thống nhất áp dụng đối với việc thu lệ phí thực hiện chứng thực . 82
3.2.8. Tăng cường trách nhiệm thanh tra, kiểm tra phối hợp trong quản lý
nhà nước về chứng thực 84

3.2.9. Cần có quy định để điều chỉnh về mức biểu phí dịch thuật 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
DANH MỤC KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BTP: Bộ Tư pháp
PTP: Phòng Tư pháp
QLNN: Quản lý nhà nước
STP: Sở Tư pháp
UBND: Uỷ ban nhân dân


1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay Đảng và Nhà nước ta đang xây dựng nhà nước của dân, do
dân, vì dân trong đó cải cách lập pháp, cải cách hành chính và cải cách tư
pháp đang được triển khai một cách đồng bộ với những mục tiêu, yêu cầu,
nội dung cụ thể. Cùng với xu thế hội nhập quốc tế, việc xây dựng nền hành
chính dân chủ, hiện đại đang đặt ra hết sức cấp thiết. Hiện nay, với sự phát
triển của đất nước, cải cách hành chính, cải cách tư pháp cũng từng bước
đáp ứng được yêu cầu trong thời kỳ hội nhập. Cải cách hành chính ngày
càng đóng vai trò quan trọng và có ý nghĩa quyết định góp phần vào việc
xây dựng nhà nước phục vụ nhân dân. Trong đó, công tác hành chính tư
pháp bao gồm hộ tịch, quốc tịch và chứng thực cũng đã đạt được những kết
quả đáng khích lệ, thủ tục không ngừng được cải tiến tạo điều kiện thuận lợi
nhất cho công dân, cắt giảm chi phí và phiền hà cho các cá nhân, tổ chức.
Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được công tác này cũng đang đặt ra những
yêu cầu thách thức cần đổi mới. Thực tiễn đòi hỏi cần phải nâng cao hiệu
quả trong quản lý nhà nước (QLNN) về chứng thực. Do vậy, việc nghiên

cứu thực trạng về chứng thực, qua đó phát hiện ra hạn chế, tồn tại, bất cập để
từ đó đề xuất những phương hướng, giải pháp góp phần đổi mới, hoàn thiện
QLNN về chứng thực. Xuất phát từ lý do trên nên tác giả đã mạnh dạn lựa
chọn "Quản lý nhà nước về chứng thực thực trạng và phương hướng đổi
mới" làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tính hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào phân tích một cách
toàn diện, đầy đủ về thực trạng và phương hướng nhằm nâng cao hiệu quả
trong quản lý nhà nước (QLNN) về chứng thực. Trước đây, chưa chấm dứt
thẩm quyền của Phòng công chứng đối với những việc thuộc thẩm quyền

2
chứng thực của Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã. Đồng thời, do có sự lẫn
lộn, trùng lặp giữa hai hoạt động công chứng, chứng thực. Trên thực tế đa số
người dân có nhu cầu công chứng, chứng thực thường đổ dồn về các phòng
công chứng gây ra tình trạng quá tải. Nhiều người cho rằng việc công chứng
ký an tâm, giá trị pháp lý cao hơn so với việc chứng thực. Hậu quả tất yếu là
một số nơi xảy ra tình trạng nhũng nhiễu, nạn cò mồi. Sau khi Luật Công
chứng ra đời, cùng với đó là Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007
của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính,
chứng thực chữ ký (sau đây gọi là Nghị định số 79) được ban hành Phòng
công chứng không còn thẩm quyền đối với những việc chứng thực của UBND
cấp xã, Phòng Tư pháp (PTP) cấp huyện. Đồng thời phân biệt rõ thẩm quyền
của cơ quan nhà nước trong việc thực hiện hai loại hoạt động: công chứng,
chứng thực. Theo đó, công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính
xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch thuộc thẩm quyền của tổ
chức hành nghề công chứng. PTP cấp huyện, UBND cấp xã có thẩm quyền
chứng thực bản sao giấy tờ từ bản chính, chứng thực chữ ký đó là hoạt động
xác nhận hình thức. Như vậy, hoạt động về công chứng, chứng thực đã được
phân định, cũng như phân định rõ thẩm quyền của tổ chức hành nghề công

chứng (Phòng Công chứng và Văn phòng công chứng) với thẩm quyền chứng
thực của PTP cấp huyện và UBND cấp xã.
Đề tài Luận văn mà tác giả lựa chọn còn mới mẻ, chưa có công trình
nào nghiên cứu đầy đủ và toàn diện, thiếu sự định hình về lý luận. Trong quá
trình thực hiện luận văn, tác giả có nghiên cứu một cách có hệ thống tài liệu
có liên quan, cũng như hoạt động thực tiễn chứng thực, nghiên cứu chương
trình, báo cáo, sơ kết của Bộ Tư pháp (BTP), Sở Tư pháp (STP), các bài báo
liên quan đến công tác chứng thực…Tuy nhiên đây là đề tài mới chắn chắn
cũng không tránh khỏi sơ suất thiếu sót.

3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích:
Luận văn tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận trong lĩnh vực
chứng thực, thực trạng QLNN về chứng thực từ đó đưa ra những phương
hướng, giải pháp để QLNN ngày càng hiệu quả hơn.
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
Trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ luật học, tác giả có nhiệm vụ nghiên
cứu những nội dung sau:
- Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về QLNN về chứng thực
- Đánh giá thực trạng QLNN về chứng thực
- Phương hướng đổi mới và đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm đổi mới
QLNN về chứng thực trong tình hình hiện nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp của triết học duy vật biện chứng,
duy vật lịch sử Mác xít, trong đó chú trọng các phương pháp kết hợp giữa lý
luận và thực tiễn, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp lịch sử cụ
thể. Ngoài ra, còn sử dụng các phương pháp của các bộ môn khoa học khác
như thống kê, so sánh.
5. Ý nghĩa của luận văn

Bản thân người nghiên cứu cũng mong muốn qua việc viết luận văn sẽ
có điều kiện để tìm hiểu, nghiên cứu phục vụ tốt hơn cho công việc. Tác giả
cũng có bài viết liên quan về chứng thực với tiêu đề:“ Tháo gỡ hệ lụy trong
công tác chứng thức” đăng trên báo pháp luật Việt Nam ngày 18/08/2011.
Bản thân người viết chọn đề tài: “Quản lý nhà nước về chứng thực thực
trạng và phương hướng đổi mới ” làm luận văn tốt nghiệp ngoài mong muốn
công trình nghiên cứu phục vụ tốt cho chuyên môn nghề nghiệp của mình.
Đồng thời người nghiên cứu cũng có nguyện vọng đóng góp một phần nhỏ

4
công sức trong việc đề xuất các phương hướng, giải pháp để góp phần hoàn
thiện hơn công tác QLNN về chứng thực.
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung và phát triển lý luận
phục vụ nâng cao hiệu quả quản lý chứng thực trong giai đoạn hiện nay. Luận
văn có thể làm tư liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu giảng dạy
và đào tạo cho cán bộ Tư pháp.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, nội dung và kết luận. Luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quản lý nhà nước về chứng thực
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về chứng thực
Chương 3: Đổi mới, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về chứng thực















5
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ CHỨNG THỰC

1.1. Khái niệm chứng thực
Theo Từ điển Tiếng Việt có một số định nghĩa có liên quan đến chứng
thực cụ thể Sao: “Chép lại hoặc tạo ra bản khác theo đúng bản gốc (thường
nói về giấy tờ hành chính). Sao đúng nguyên văn một tài liệu. Sao y bản
chính. Bản sa”[65, tr. 817]. Định nghĩa về xác nhận: “Thừa nhận là đúng sự
thật. Xác nhận chữ kí. Xác nhận lời khai. Tin tức đã được xác nhận”[65,
tr.1101]. Về chứng thực được định nghĩa “Nhận cho để làm bằng là đúng sự
thật. Chứng thực lời khai. Xác nhận là đúng. Thực tiễn đã chứng thực điều
đó” [65, tr. 186]. Như vậy, chứng thực được bao hàm bao hàm một số khái
niệm liên quan đến sao, xác nhận, chứng thực.
Pháp luật của nước ngoài cũng có quy định chứng thực. Tại Thụy Sĩ có
quy định về hoạt động công chứng và chứng thực. Luật công chứng và chứng
thực ngày 30.08.2011 của bang Aargau, Thụy Sĩ điều chỉnh việc công chứng
và chứng thực trong phạm vi của bang Aargau.Theo đó, việc chứng thực được
áp dụng đối với chữ ký, bản sao chụp, trích lục, sao chép hoặc bản dịch. Mặc
dù, Luật của Thụy Sĩ chưa tách riêng thành Luật công chứng, Luật chứng thực
nhưng cũng đã có quy định điều chỉnh về chứng thực. Bên cạnh đó, theo quy
định Luật của cộng hoà liên bang Đức ngày 28/9/1969 về công chứng cũng có
quy định về chứng thực bản sao cũng như quy định chứng thực đơn giản bao
gồm chứng thực chữ ký, dấu vân tay, chứng thực thời điểm xuất trình giấy tờ

cá nhân, chứng thực việc đã vào sổ đăng ký hoặc chứng thực các bản sao lục
và các văn bản đơn giản khác. Trong đó, chứng thực chữ ký chỉ được chứng
thực bởi công chứng viên biết chữ ký hoặc lấy được chữ ký đó; Công chứng
viên chỉ cần kiểm tra lại văn bản xem có tồn tại lý do nào đó gây phương hại
đến việc hành nghề của mình.

6
Quy định của pháp luật Việt Nam: tại Điều 19 Nghị định số 31/CP có
quy định về thẩm quyền chứng thực:
“UBND quận, huyện, thị xã thuộc tỉnh chứng thực các việc do pháp
luật quy định và chứng thực bản sao giấy tờ từ bản chính, trừ các việc được
quy định tại khoản 1, 2 Điều 18 của Nghị định này. UBND xã, phường, thị
trấn chứng thực việc từ chối nhận di sản, chứng thực di chúc và các việc khác
do pháp luật quy định” [26, tr. 5-6].
Đồng thời Nghị định này cũng có quy định thẩm quyền chứng nhận của
Phòng công chứng Nhà nước về công chứng, tuy nhiên thẩm quyền về Phòng
công chứng Nhà nước bao gồm cả chứng thực của UBND cấp huyện nên
chưa có phân định rõ. Sau đó Chính phủ đã ban hành Nghị định số
75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ (sau đây gọi là Nghị định số
75) tại Điều 2 quy định về công chứng, chứng thực:
“Công chứng là việc Phòng Công chứng chứng nhận tính xác thực của
hợp đồng được giao kết hoặc giao dịch khác được xác lập trong quan hệ dân
sự, kinh tế, thương mại và quan hệ xã hội khác gọi là hợp đồng, giao dịch và
thực hiện các việc khác theo quy định của Nghị định này. Chứng thực là việc
UBND cấp huyện, cấp xã xác nhận sao y giấy tờ, hợp đồng, giao dịch và chữ
ký của cá nhân trong các giấy tờ phục vụ cho việc thực hiện các giao dịch của
họ theo quy định của Nghị định này ”[27, tr. 1-2].
Nghị định số 75 có định nghĩa về công chứng và chứng thực. Tuy nhiên
trên thực tế chưa có sự phân định rõ ràng, chưa chấm dứt thẩm quyền chứng
thực của Phòng công chứng đối với việc chứng thực của UBND cấp huyện, cấp

xã. Theo đó, Phòng công chứng được xác thực của các hợp đồng được giao kết
giữa các bên tham gia các quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại và của các giao
dịch khác đồng thời, đồng thời cũng xác nhận bản sao, bản dịch giấy tờ và chữ
ký của cá nhân trong các giấy tờ phục vụ cho việc thực hiện các giao dịch.

7
Sau khi có sự ra đời của Luật công chứng năm 2006, Nghị định số 79
đã có sự phân định thẩm quyền công chứng, chứng thực. Khác với chứng
thực, công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp
pháp của hợp đồng, giao dịch khác bằng văn bản mà theo quy định của pháp
luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng.
Tại Nghị định số 79 thay thế các quy định về chứng thực bản sao, chữ ký
trong Nghị định số 75 về công chứng, chứng thực thì chứng thực gồm chứng
thực bản sao từ bản chính và chứng thực chữ ký được quy định tại Điều 2
khoản 5 và khoản 6 như sau:
“Chứng thực bản sao từ bản chính” là việc cơ quan nhà nước có thẩm
quyền theo quy định tại Điều 5 của Nghị định này căn cứ vào bản chính để
chứng thực bản sao là đúng với bản chính.
"Chứng thực chữ ký" là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy
định tại Điều 5 của Nghị định này chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản là
chữ ký của người đã yêu cầu chứng thực” [30, tr. 1-2].
Qua đó có thể định nghĩa chứng thực là việc cơ quan nhà nước có thẩm
quyền căn cứ vào bản chính để chứng thực bản sao là đúng với bản chính
hoặc chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản là chữ ký của người đã yêu cầu
chứng thực.
1.2. Vị trí, chức năng của quản lý nhà nước về chứng thực
Quản lý có nhiều cách hiểu khác nhau, theo từ điển Tiếng Việt quản lý
được định nghĩa: “Trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định hoặc là
việc tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”[65,
tr. 772]. Theo tài liệu về quản lý hành chính nhà nước (phần II Hành chính

nhà nước và công nghệ hành chính):“ Quản lý có thể hiểu là hoạt động nhằm
tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý vào một đối
tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người,

8
nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã
định”[49, tr. 5]. Như vậy, nếu như quản lý là sự tác động có mục đích của chủ
thể quản lý đối với các đối tượng quản lý thì QLNN là hoạt động của các chủ
thể mang quyền lực, bằng pháp luật tác động tới các đối tượng quản lý nhằm
thực hiện những chức năng nhất định. Trong đó quản lý hành pháp là hoạt
động quản lý hành chính nhà nước. Hoạt động này được thực hiện trước hết
và chủ yếu bởi các cơ quan hành chính nhà nước.Theo giáo trình Luật hành
chính Việt Nam:
“Quản lý hành chính nhà nước là một hình thức hoạt động của Nhà
nước được thực hiện trước hết và chủ yếu bởi các cơ quan hành chính nhà
nước, có nội dung là bảo đảm sự chấp hành luật, pháp lệnh, nghị quyết của cơ
quan quyền lực nhà nước nhằm tổ chức và chỉ đạo một cách trực tiếp và
thường xuyên công cuộc xây dựng kinh tế, văn hoá- xã hội và hành chính-
chính trị. Nói cách khác, quản lý hành chính nhà nước là hoạt động chấp hành
- điều hành của nhà nước”[ 48, tr.13].
Cũng theo tài liệu này về quản lý hành chính nhà nước này:
“Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động thực thi quyền hành pháp
của Nhà nước, đó là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực pháp
luật nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người
do các cơ quan trong hệ thống Chính phủ từ Trung ương đến cơ sở tiến hành để
thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước, nhằm duy trì và phát
triển cao các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật thoả mãn các nhu cầu hợp
pháp của con người trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc”[48, tr. 8].
Thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực
của đời sống xã hội. Cơ quan thực hiện quản lý hành chính nhà nước là hệ

thống các cơ quan hành chính nhà nước từ Trung ương đến địa phương. Mỗi
cơ quan đều có những vai trò nhất định trong quản lý nhà nước. Để quản lý

9
cần đặt ra các quy tắc hành vi, ứng xử của con người. Trong đó, ban hành văn
bản là một hình thức hoạt động cơ bản và chủ yếu của quản lý hành chính nhà
nước. Thông qua hoạt động này, các vấn đề liên quan đến quản lý hành chính
nhà nước được xác định và đó chính là cơ sở pháp lý để chủ thể thực hiện các
công việc của mình trong quản lý hành chính nhà nước. Nhìn chung, QLNN
về chứng thực là sự tác động của các chủ thể mang quyền lực nhà nước chủ
yếu bằng pháp luật tới hoạt động chứng thực nhằm thực hiện các chức năng
của nhà nước. Đó là các hoạt động của các cơ quan nhà nước, cơ quan hành
pháp khi thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn được nhà nước giao trong việc
quản lý chứng thực. Hoạt động quản lý mang tính chất quyền lực hành
chính của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền do pháp luật quy định thực
hiện. Mục đích của quản lý nhằm tác động lên quá trình tổ chức và hoạt
động chứng thực làm cho quá trình diễn ra trong khuôn khổ của pháp luật.
Cơ quan có nhiệm vụ quản lý là hệ thống, từ Trung ương đến địa phương,
đứng đầu hệ thống đó là Chính phủ. Đây là cơ quan chấp hành của Quốc
hội, đồng thời là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất có chức năng thống
nhất quản lý trong phạm vi cả nước về hành pháp. Mỗi bộ, ban, ngành phụ
trách các lĩnh vực mà Chính phủ giao trên cơ sở chức năng nhiệm vụ của
mình. BTP là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà
nước về các lĩnh vực trong đó có hành chính tư pháp.Trong những năm
qua, hoạt động chứng thực ở nước ta đã có những bước phát triển, đóng
góp tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Hơn nữa, ngày
càng được khẳng định vị trí, vai trò của mình trong đời sống xã hội, đáp
ứng nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân trong nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN. Đồng thời là công cụ đắc lực giúp QLNN có hiệu quả.
QLNN về chứng thực với vị trí là một bộ phận công tác QLNN. Muốn thực

hiện QLNN được tốt đòi hỏi hoạt động quản lý trong tất cả các lĩnh vực cần

10
đồng bộ. Cơ quan giúp Chính phủ thực hiện công tác QLNN về chứng thực là
BTP. Đó là cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc thực hiện
QLNN về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực
chữ ký. BTP có nhiệm vụ, quyền hạn trong việc ban hành hoặc trình cơ quan
nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật; chỉ đạo,
hướng dẫn tổ chức thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật,
kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản
sao từ bản chính, chứng thực chữ ký. Ngoài ra, BTP thực hiện công tác tổng
kết, báo cáo Chính phủ về công tác QLNN về chứng thực.
Trong quá trình thực hiện QLNN về chứng thực, ngoài sự phục tùng của
cấp dưới đối với cấp trên, quản lý hành chính nhà nước còn thể hiện sự phân
cấp quản lý. Sự phân cấp quản lý chuyển giao thẩm quyền cho cấp dưới nhằm
tạo điều kiện cho cấp dưới phát huy sự chủ động, sáng tạo hoàn thành tốt
nhiệm vụ được giao. Sự phụ thuộc hai chiều trong quản lý hành chính, ở Trung
ương: Chính phủ, BTP. Tại địa phương cấp tỉnh UBND cấp tỉnh, STP; cấp
huyện UBND cấp huyện, PTP; cấp xã: UBND cấp xã, banTư pháp xã. Sự phụ
thuộc theo chiều ngang trong lĩnh vực chứng thực, tạo điều kiện cần thiết cho
cấp dưới phát huy thế mạnh của địa phương nhằm hoàn thành nhiệm vụ cấp
trên đã giao phó. Mối quan hệ phụ thuộc dọc giúp cho cấp trên có thể tập trung
quyền lực nhà nước để chỉ đạo hoạt động cấp dưới, tạo nên hoạt động chung
thống nhất. Quan hệ phụ thuộc hai chiều trong quản lý chứng thực của cơ quan
hành chính nhà nước ở địa phương nhằm đảm bảo sự thống nhất giữa lợi ích
chung với lợi ích của địa phương, giữa lợi ích ngành với lợi ích địa phương.
1.3. Quy phạm pháp luật về chứng thực
1.3.1. Văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về chứng thực
- Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ về
công chứng, chứng thực.


11
- Thông tư số 03/2001/TP- CC ngày 14/3/2001 của Bộ tư pháp về việc
hướng dẫn thi hành Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính
phủ về công chứng, chứng thực.
- Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ về cấp
bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký.
- Thông tư số 03/2008/TT-BTP ngày 25/8/2008 hướng dẫn thi hành một
số điều của Nghị định số 79/ 2007/NĐ-CP.
- Nghị định số 04/2012/NĐ-CP ngày 20/01/2012 của Chính phủ sửa
đổi, bổ sung khoản 1 Điều 5 về thẩm quyền và trách nhiệm chứng thực bản
sao từ bản chính, chứng thực chữ ký của Nghị định 79/2007/NĐ-CP ngày
18/5/2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản
chính, chứng thực chữ ký.
- Nghị định 06/2012/NĐ-CP ngày 02/02/2012 sửa đổi bổ sung một số
điều của Nghị định về hộ tịch, hôn nhân và gia đình và chứng thực.
- Thông tư số 92/2008/TTLT- BTC-BTP ngày 17/10/2008 của Bộ Tài
Chính và Bộ Tư pháp về việc hướng dẫn chế độ thu, nộp quản lý và sử dụng phí
bản sao, lệ phí chứng thực.
- Thông tư liên tịch số 08/2012/TTLT-BTC-BTP ngày 19/01/2012
hướng dẫn về mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí công chứng.
1.3.2. Quy định cơ bản của pháp luật hiện hành
+ Về thẩm quyền chứng thực: tại Điều 5 Nghị định số 79 có quy định
thẩm quyền chứng thực UBND xã, phường, thị trấn được quyền chứng thực
bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt và chứng thực chữ
ký trong các giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt. PTP huyện, quận, thị xã, thành
phố thuộc tỉnh được quyền chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn
bản bằng tiếng nước ngoài, chứng thực chữ ký của người dịch trong các giấy
tờ, văn bản từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt hoặc từ tiếng Việt sang tiếng


12
nước ngoài, chứng thực chữ ký trong các giấy tờ, văn bản bằng tiếng nước
ngoài. Nghị định số 79 chưa phân cấp cho PTP cấp huyện được quyền chứng
thực bản sao từ bản chính giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt và chứng thực chữ
ký trong giấy tờ văn bản bằng tiếng Việt đây là hạn chế của Nghị định số 79
dẫn đến bất tiện cho công dân khi đi chứng thực bản sao, chữ ký bằng tiếng
Việt thì phải đến 2 cấp thẩm quyền khác nhau để được giải quyết. Bản thân
tác giả cũng có bài báo viết về tháo gỡ hệ lụy trong công tác chứng thực đối
với bất cập trên. Sau khi có vướng mắc trên ngày 20-1-2012, Chính phủ đã
ban hành Nghị định 04/2012/NĐ-CP (Nghị định 04) sửa đổi, bổ sung Điều 5
Nghị định số 79 PTP được bổ sung thêm quyền chứng thực bản sao từ bản
chính các giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt; chứng thực chữ ký trong các giấy
tờ, văn bản bằng tiếng Việt. Nghị định bổ sung thêm thẩm quyền trên nhằm
tạo thuận lợi cho công dân khi có nhu cầu không phải đến hai cơ quan có
thẩm quyền khác nhau để chứng thực. Đối với việc cấp bản sao từ sổ gốc theo
quy định tại Điều 4 Nghị định số 79 thuộc trách nhiệm của cơ quan đang quản
lý sổ gốc, riêng đối cấp bản sao từ sổ gốc các giấy tờ hộ tịch được thực hiện
theo quy định của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2005
của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch. Về thẩm quyền chứng thực Cơ
quan đại diện ngoại giao được quyền chứng thực bản sao từ bản chính các
giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài và chứng thực chữ ký
trong các giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt hoặc tiếng nước ngoài; chữ ký
người dịch trong các bản dịch từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt hoặc từ
tiếng Việt sang tiếng nước ngoài.
Tại Việt Nam, đối với việc chứng thực UBND cấp xã thì Chủ tịch hoặc
Phó Chủ tịch UBND cấp xã thực hiện chứng thực các việc theo quy định về
thẩm quyền. Công chức Tư pháp hộ tịch xã, phường thị trấn giúp Chủ tịch hoặc
Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thực hiện chứng thực. Theo quy định của pháp

13

luật công chức Tư pháp hộ tịch là chức danh chuyên môn thuộc UBND cấp xã
có trách nhiệm tham mưu giúp UBND cấp xã. Về người thực hiện chứng thực
tại PTP cấp huyện Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện thực
hiện chứng thực các việc chứng thực theo thẩm quyền. Đối với Cơ quan đại
diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam ở nước ngoài thuộc quyền chứng thực của Viên chức lãnh sự, viên chức
ngoại thực hiện chứng thực các việc theo thẩm quyền và đóng dấu của Cơ quan
đại diện Việt Nam ở nước ngoài. Khác với Việt Nam, tại Thụy Sỹ theo quy
định của Luật công chứng và chứng thực ngày 30.08.2011 của bang Aargau
không có sự phân định giữa công chứng và chứng thực. Theo đó người công
chứng được thực hiện việc công chứng và chứng thực. Việc chứng thực chữ ký,
bản sao, trích lục, bản sao chép, bản dịch cũng có thể được người chứng thực
thực hiện. Như vậy, về thẩm quyền nội dung việc chứng thực có thể được thực
hiện bởi người công chứng hoặc người chứng thực. Tuy nhiên, có sự khác nhau
về thẩm quyền địa hạt người công chứng và người chứng thực.Về thẩm quyền
địa hạt đối với người công chứng được thực hiện việc công chứng, chứng thực
trong toàn bang. Người chứng thực được thực hiện việc chứng thực trong phạm
vi xã, nơi được bổ nhiệm hoặc được bầu.
+ Giá trị pháp lý của bản sao được cấp từ sổ gốc, bản sao được chứng
thực từ bản chính, chữ ký được chứng thực:
- Bản sao được cấp từ sổ gốc, bản sao được chứng thực từ bản chính
theo quy định tại Nghị định này có giá trị pháp lý sử dụng thay cho bản chính
trong các giao dịch.
- Chữ ký được chứng thực theo quy định tại Nghị định này có giá trị
chứng minh người yêu cầu chứng thực đã ký chữ ký đó, là căn cứ để xác định
trách nhiệm của người ký về nội dung của giấy tờ, văn bản.
+ Các trường hợp không được chứng thực bản sao từ bản chính:

14
- Bản chính được cấp sai thẩm quyền hoặc giả mạo.

- Bản chính đã bị tẩy xóa, sửa chữa, thêm, bớt hoặc đã bị hư hỏng, cũ
nát không thể xác định rõ nội dung.
- Bản chính không được phép phổ biến trên các phương tiện thông tin
đại chúng theo quy định của pháp luật.
- Đơn, thư và các giấy tờ do cá nhân tự lập không có chứng nhận,
chứng thực hoặc xác nhận của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
- Các giấy tờ, văn bản khác mà pháp luật quy định không được sao.
+ Trách nhiệm của người thực hiện việc chứng thực:
- Thực hiện việc chứng thực một cách trung thực, khách quan, chính
xác; đáp ứng đủ số lượng bản sao theo yêu cầu của người yêu cầu chứng thực.
- Chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc chứng thực.
- Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin
cần thiết cho việc xác minh tính hợp pháp của các giấy tờ, văn bản được yêu
cầu chứng thực.
- Lập biên bản tạm giữ giấy tờ, văn bản có dấu hiệu giả mạo; phối hợp
với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc xử lý các trường hợp sử dụng
giấy tờ giả mạo.
- Trong trường hợp từ chối chứng thực, người thực hiện chứng thực
phải giải thích rõ lý do cho người yêu cầu chứng thực; nếu việc chứng thực
không thuộc thẩm quyền của cơ quan mình thì hướng dẫn họ đến cơ quan
khác có thẩm quyền.
Pháp luật hiện hành của Việt Nam có những quy định cụ thể về chứng
thực, các quy định của pháp luật đang dần ngày càng hoàn thiện. Để nâng cao
hiệu quả QLNN về chứng thực cần có bức tranh khái quát về thực trạng quản
lý chứng thực ở Việt Nam.

15
Chương 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CHỨNG THỰC Ở VIỆT NAM


2.1. Hệ thống cơ quan thực hiện chứng thực, quản lý chứng thực
2.1.1 Cơ quan thực hiện chứng thực
Theo quy định của pháp luật hiện hành cơ quan thực hiện chứng thực
được quy định tại Thông tư liên tịch số 01/2009/TTLT-BTP-BNV ngày
28/4/2009 hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
STP thuộc UBND cấp tỉnh, PTP thuộc UBND cấp huyện và công tác tư pháp
của UBND cấp xã (gọi tắt Thông tư liên tịch số 01).
* Ủy ban nhân dân cấp xã: thực hiện chức năng quản lý nhà nước về
công tác tư pháp trên địa bàn, có các nhiệm vụ, quyền hạn: thực hiện cấp bản
sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản bằng
tiếng Việt; chứng thực chữ ký trong các giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt.
* Phòng Tư pháp: là cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện;
tham mưu, giúp UBND cấp huyện thực hiện chức năng QLNN về chứng thực
và công tác tư pháp khác theo quy định của pháp luật
* Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài và viên chức lãnh sự,
viên chức ngoại giao: theo quy định Nghị định số 79 cơ quan đại diện Việt
Nam ở nước ngoài và viên chức lãnh sự, viên chức ngoại giao được giao thực
hiện nhiệm vụ thực hiện việc cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ
bản chính, chứng thực chữ ký.
Nếu như quy định về chứng thực của Việt Nam áp dụng trong phạm vi
đất nước, mở rộng phạm vi được áp dụng bao hàm cả cơ quan đại diện Việt
Nam ở nước ngoài thì Luật công chứng, chứng thực của Thụy Sỹ quy định đã
quy định cụ thể về thẩm quyền chứng thực của người thực hiện chứng thực
trong phạm vi của bang.

16
2.1.2. Cơ quan quản lý chứng thực
Quản lý chứng thực là một nội dung QLNN trong lĩnh vực hành chính
tư pháp. Đó là hoạt động quản lý mang tính chất quyền lực hành chính của
Nhà nước do cơ quan QLNN có thẩm quyền thực hiện. Mục đích của quá

trình quản lý nhằm tác động lên quá trình tổ chức và hoạt động chứng thực
làm cho quá trình này diễn ra trong khuôn khổ của pháp luật và đặt mục đích
nhất định. Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất trong việc
thống nhất QLNN. Nhiệm vụ quyền hạn của Chính phủ được quy định tại
Khoản 4, Điều 18 Luật về tổ chức chính phủ năm 2001 “Thống nhất quản lý
công tác hành chính tư pháp, các hoạt động về luật sư, giám định tư pháp,
công chứng và bổ trợ tư pháp, tổ chức và quản lý công tác thi hành án, quốc
tịch, hộ khẩu, hộ tịch” [29, tr. 11]. Với vị trí pháp lý là cơ quan đứng đầu hệ
thống hành pháp, có quyền quyết định tối cao đối với việc giải quyết mọi vấn
đề thuộc địa hạt quản lý nhà nước trong mọi lĩnh vực trên phạm vi toàn quốc.
Về hệ thống tổ chức quản lý chứng thực của nước ta có sự tham gia của mọi
cấp hành chính từ trung ương đến cơ sở, có cả chủ thể quản lý ở trong nước
và ở nước ngoài. Hệ thống cơ quan có thẩm quyền chung Chính phủ và
UBND các cấp và hệ thống cơ quan chuyên môn của ngành Tư pháp và ngành
ngoại giao, thể hiện sự phân cấp hợp lý, bảo đảm cho quan hệ phối hợp ngang
cấp và quan hệ chỉ đạo, chấp hành.
2.1.2.1. Quản lý nhà nước về chứng thực trước khi có Luật công chứng và
Nghị định 79/2007/NĐ-CP
Trước khi có Luật công chứng và Nghị định 79/2007/NĐ-CP ra đời
chưa có sự phân định rõ hoạt động công chứng và chứng thực. Cụ thể có thể
phân chia các giai đoạn phát triển như sau:
Giai đoạn từ năm 1945-1954: Ngay sau khi nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa ra đời ngày 15/11/1945. Hồ Chủ Tịch ký Sắc lệnh 59/SL, ấn định

17
thể lệ việc thị thực các giấy tờ với nội dung trình tự thủ tục thị thực giấy tờ
cho công dân trong giao lưu dân sự như mua bán, trao đổi, chứng nhận địa chỉ
cụ thể của một người tại địa phương. Việc áp dụng Sắc lệnh trên chủ yếu xác
nhận ngày tháng năm, chữ ký và địa chỉ thường trú của đương sự. Tại Điều
thứ nhất quy định:

“Trong các làng quyền thị thực các giấy tờ trước đó do hương chức
trong làng thi hành nay thuộc về Uỷ ban nhân dân của làng. Ở các thành phố,
quyền thị thực do trưởng phố hay hộ phố thi hành nay cũng thuộc UBND
hàng phố. Chủ tịch UBND sẽ phụ trách việc thị thực này và phải đề cử một
hay là hai uỷ viên để thay mình khi vắng mặt hoặc khi chính mình là người
đương sự có giấy cần đem thị thực hoặc khi người đương sự đối với mình có
thân thuộc về trực hệ như cha, mẹ, ông bà hay bằng hệ, bằng vai, chú bác, cô
gì, anh em ruột và anh em thúc bá hay là đối với bố mẹ nuôi hay con nuôi.
Riêng ở các thành phố chữ thị thực của Uỷ ban các phố phải có thêm UBND
thị xã chứng nhận. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thị xã sẽ phụ trách về việc
chứng nhận này hoặc cử một uỷ viên phụ trách thay mình”[43, tr. 1].
Đồng thời Sắc lệnh trên có quy định tiến bộ tại Điều thứ 3: “ Các Uỷ
ban thị thực phải chịu trách nhiệm về việc không đúng về căn cước người
đương sự, ngày tháng thị thực và quyền sở hữu trên bất động sản đem bán hay
cầm cố. Nếu xảy ra thiệt hại đến tư nhân vì sự thị thực không đúng, công quỹ
của làng hay của thành phố phải bồi thường”[43, tr. 1]. Ngày 29/2/1952, Hồ
Chủ tịch ký Sắc lệnh 85/SL quy định về thể lệ trước bạ về các việc mua, bán,
cho, đổi nhà cửa, ruộng đất. Tại Điều 3 có quy định: “ Trước khi đem trước
bạ văn tự phải được UBKCHC xã hay thị xã nhận thực chữ ký của các người
mua, bán, cho, nhận đổi và nhận thực những người bán, cho hay đổi là chủ
những nhà cửa, ruộng đất đem bán, cho hay đổi. Việc nhận thực này không
nộp một khoản tiền nào” [44, tr. 1]. Do hoàn cảnh lịch sử bấy giờ nên Sắc

18
lệnh 85/SL chỉ áp dụng đối với những vùng tự do hoặc những vùng thuộc Uỷ
ban kháng chiến. Cũng theo Sắc lệnh này, Uỷ ban kháng chiến cấp xã được
nhận thực vào văn tự theo hai nội dung: nhận thực chữ ký của các bên mua,
bán, cho, đổi nhà cửa, ruộng đất và nhận thực người đứng ra bán, cho, đổi là
chủ của những nhà cửa, ruộng đất đem bán, trao đổi.
Giai đoạn từ năm 1954-1990: được đánh dấu kể từ Nghị định

143/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn của Bộ Tư pháp ban hành. Trên cơ sở của Nghị định 143/HĐBT, BTP có
Thông tư số 574/QLTPK ngày 10/10/1987 quy định về công tác công chứng
nhà nước quy định:
“Công chứng nhà nước là một hoạt động của nhà nước nhằm giúp công
dân, các cơ quan, tổ chức lập và xác nhận các văn kiện có ý nghĩa pháp lý, hợp
pháp hóa các văn kiện đó, làm cho các văn bản, sự kiện đó có hiệu lực thực
hiện. Bằng hoạt động trên, công chứng nhà nước tạo ra những đảm bảo pháp lý
để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, các cơ quan, tổ chức phù
hợp với Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, ngăn ngừa vi phạm pháp luật, giúp cho việc giải quyết các tranh chấp
được thuận lợi góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”[4, tr. 1].
Thông tư có nội dung quy định trách nhiệm của BTP quản lý thống
nhất công tác công chứng nhà nước. Hệ thống cơ quan theo ngành dọc là STP,
có nhiệm vụ giúp BTP và UBND tỉnh, Thành phố, đặc khu trực thuộc trung
ương quản lý tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước ở địa phương mình.
Trong văn bản pháp lý về hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về công chứng
được kế thừa cho đến tận thời điểm này thể hiện việc QLNN đối với hoạt
động công chứng được giao cho cơ quan BTP và UBND tỉnh, thành phố.
Giai đoạn từ năm 1990-2006: ngày 27/02/1991 Hội đồng Bộ trưởng
ban hành Nghị định số 45/1991/HĐBT ngày 27/2/1991 về tổ chức và hoạt

19
động công chứng nhà nước. Về việc QLNN về công chứng về cơ bản được kế
thừa quy định BTP quản lý thống nhất về tổ chức và hoạt động công chứng
trong phạm vi cả nước. Tại Điều 10 của Nghị định số 45/HĐBT quy định
“UBND tỉnh, Thành phố đặc khu trực thuộc trung ương có trách nhiệm quản
lý công chứng ở địa phương mình. Giám đốc STP giúp UBND tỉnh thực hiện
các nhiệm vụ nói trên ”[51, tr. 3]. Như vậy, theo Nghị định số 45/HĐBT thì
hệ thống các cơ quan quản lý công chứng được xác định theo hai cấp: ở Trung

ương là Bộ Tư pháp có trách nhiệm giúp Chính phủ quản lý thống nhất về tổ
chức và hoạt động công chứng trong phạm vi cả nước; còn ở địa phương là
Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, trong đó Sở Tư pháp là cơ quan chuyên môn có
trách nhiệm giúp cơ quan này quản lý công tác công chứng ở địa phương
mình. Ngoài ra các cơ quan khác trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của
mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp trong việc thực
hiện quản lý nhà nước về công chứng.
Sau đó, BTP ban hành Thông tư số 276-TT/CC ngày 20/4/1991 hướng
dẫn về tổ chức và quản lý công chứng nhà nước tại Mục II có quy định trách
nhiệm của UBND tỉnh quản lý tổ chức và hoạt động công chứng ở địa phương
theo sự hướng dẫn thống nhất của Bộ Tư pháp, cụ thể là:
“Hướng dẫn, kiểm tra về tổ chức và hoạt động công chứng trong phạm
vi địa phương; Bảo đảm về tổ chức, cơ sở vật chất và kinh phí cho hoạt động
công chứng ở địa phương; Bảo đảm thực hiện chế độ chính sách đối với
công chứng viên, các nhân viên và cán bộ khác làm công chứng trong địa
phương; Bồi dưỡng về chính trị, nghiệp vụ chuyên môn cho công chứng
viên và các cán bộ khác làm công chứng trong địa phương; Tổng kết và phổ
biến kinh nghiệm hoạt động công chứng ở địa phương; Giải quyết các khiếu
nại, tố cáo liên quan đến hoạt động công chứng của công dân và các tổ chức
theo thẩm quyền [5, tr. 3].

20
Bên cạnh đó, Thông tư cũng quy định trách nhiệm Giám đốc STP
trong việc giúp UBND tỉnh thực hiện các nhiệm vụ nêu trên. Đồng thời
Giám đốc STP có trách nhiệm thường xuyên theo dõi tình hình hoạt động
của các Phòng công chứng Nhà nước và Uỷ ban nhân dân huyện, thị xã
được giao nhiệm vụ công chứng để tổng hợp định kỳ 6 tháng và hàng năm,
báo cáo BTP và UBND tỉnh.
Ngày 18/5/1996, Chính phủ ban hành Nghị định 31/CP về tổ chức và
hoạt động công chứng nhà nước thay thế Nghị định số 45/HĐBT. Theo đó

BTP quy định thống nhất về ban hành các mẫu văn bản công chứng và các
mẫu sổ công chứng trong phạm vi cả nước. Nếu như theo Nghị định số
45/HĐBT việc bổ nhiệm, miễn nhiệm công chứng viên giao cho Chủ tịch
UBND tỉnh thực hiện thì Nghị định 31/CP giao cho BTP theo đề nghị của
giám đốc Sở nhằm chuyên môn hoá hoạt động công chứng. BTP quy định
thống nhất về ban hành các mẫu văn bản công chứng và các mẫu sổ công
chứng trong phạm vi cả nước.
Ngày 08/12/2000 Chính phủ ban hành Nghị định số 75/2000/NĐ-CP
thay thế Nghị định 31/CP. Theo đó Chính phủ thực hiện thống nhất QLNN về
công chứng, chứng thực trong phạm vi cả nước cụ thể:
*/ Cơ quan giúp Chính phủ thực hiện nhiệm vụ quyền hạn trên chính là
Bộ tư pháp nhiệm vụ quyền hạn như:
- Soạn thảo, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm
pháp luật về công chứng, chứng thực và ban hành theo thẩm quyền văn bản
hướng dẫn thi hành văn bản quy phạm pháp luật. Ngoài việc tham mưu cho
cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản trong phạm vi mình quản lý thì BTP
ban hành văn bản hướng dẫn thi hành văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm
quyền của mình:
+ Thông tư số 03/2001/TP-CC ngày 14/03/2001 của Bộ Tư pháp về

×