Tải bản đầy đủ (.doc) (11 trang)

các yếu tố đối với sự hình thành và phát triển nhân cách

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (135.69 KB, 11 trang )

Bài tập lớn học kỳ
II. NỘI DUNG
1. Khái quát về nhân cách
Khi xem xét con người với tư cách là một thành viên của một xã hội nhât
định, là chủ thể của các mối quan hệ con người, của hoạt động có ý thức và giao
tiếp thì chúng ta nói đên nhân cách của họ.
Nhân cách là tổ hợp những thuộc tính tâm lý của một cá nhân biểu hiện ở bản
sắc và giá trị xã hội của người ấy.
Dựa trên sự nghiên cứu của tâm lý học, nhân cách có các đặc điểm như: tính
ổn định, tính thống nhất, tính tich cực, tính giao tiếp.
2. Vai trò của các yếu tố đối với sự hình thành và phát triển nhân cách, liên
hệ thực tiễn
1.1. Yếu tố di truyền
Di truyền là sự tái tạo ở đời sau những thuộc tính sinh học có ở đời trước, là
sự truyền lại từ cha mẹ đến con cái những đặc điểm những phẩm chất nhất định đã
được ghi lại trong hệ thống gen gi truyền.
Quan điểm Mác xít cho rằng: di truyền không phải đóng vai trò quyết định
đối với sự phát triển nhân cách song cũng không phủ nhận vai trò của di truyền.
Nếu phủ nhận vai trò của di truyền thì dễ dẫn đến mê tín dị đoan. Ngược lại, quá
coi trọng yếu tố di truyền lại phủ định yếu tố xã hội. Dưới góc độ nghiên cứu của
tâm lý học, di truyền là tiền đề, là cơ sở vật chất cho sự phát triển, tác động đến độ
mạnh yếu của nhân cách…Chính nó tham gia vào sự tạo thành cơ sở vật chất của
các hiện tượng tâm lý- những đặc điểm giải phẫu và sinh lý cơ thể, trong đó có hệ
thần kinh. Phần lớn không chỉ do di truyền, tư chất nhất định mà còn do trong gia
đình đó trẻ em được giáo dục trong bầu không khí hào hứng say mê đối với một
loại hình hoạt động nhất định và được lôi cuốn tham gia rất sớm vào những hoạt
động đó.
Ví dụ: Một đứa trẻ sinh ra trong một gia đình mà bố mẹ là ca sỹ, nhạc sỹ thì
nó sẽ có cơ hội và khả năng trở thành một người hoạt động nghệ thuật khi trưởng
1
Bài tập lớn học kỳ


thành, cộng với việc bố mẹ nó phát triển và bồi dưỡng từ nhỏ khả năng tiềm tàng
của bộ máy phân tích âm thanh, phát triển giọng ca...
Một vấn đề cũng mang tính thực tiễn ở đây, đó là nhà giáo dục cần quan tâm
đúng mức đến vai trò của yếu tố di truyền để phát hiện sớm các tài năng của học
sinh, từ đó có kế hoạch bồi dưỡng phát triển tài năng của học sinh. Tuy nhiên
không được quá đề cao hoặc quá xem nhẹ vấn đề này vì: Nếu tuyệt đối hoá hoặc
quá đề cao ảnh hưởng của yếu tố di truyền sẽ dẫn đến sai lầm về nhận thức luận,
dẫn đến những chính sách giáo dục phản khoa học hoặc phủ nhận khả năng cải
biến bản chất con người, từ đó hạ thấp vai trò của giáo dục và tự giáo dục. Nếu
quá xem nhẹ, coi thường ảnh hưởng của yếu tố sinh học - yếu tố di truyền thì vô
hình chung chúng ta đã bỏ qua yếu tố tư chất, yếu tố tiền đề thuận lợi của sự phát
triển.
1.2. Yếu tố hoàn cảnh sống:
1.1.1.

hoàn cảnh tự nhiên
Để hình thành nên nhân cách của một con người thì trước tiên vẫn phải trải
qua các yếu tố của hoàn cảnh tự nhiên, nó như là cái nền vốn có quy định ít nhiều
nhân cách của con người. Như chúng ta đã biết, mỗi dân tộc sống trên một lãnh
thổ nhất định, có cái độc đáo của hoàn cảnh địa lý: ruộng đồng và khoáng sản, núi
và sông, trời và biển, mưa và gió, hoa cỏ và âm thanh…những điều ấy quy định
đặc điểm của các dạng, các ngành sản xuất, đặc tính của nghề nghiệp (tức những
phương thức hoạt động của con người trong tự nhiên) và một số nét riêng trong
phạm vi sáng tạo nghệ thuật. Qua đó, quy định các giá trị vật chất và tinh thần ở
một mức độ nhất định. Cho nên có thể nói rằng, tâm lí dân tộc mang dấu ấn của
hoàn cảnh tự nhiên thông qua khâu trung gian là phương thức sống. Xét cho cùng,
nhiều phong tục tập quán đều có nguồn gốc từ điều kiện và hoàn cảnh sống tự
nhiên. Một số nét tâm lí nào đó của bản địa, của nghề nghiệp cũng được hiểu theo
logic ấy.
Ví dụ: người dân vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng và đồng bằng châu

thổ sông Cửu Long nước ta có truyền thống trồng lúa nước, cây lúa nước không
2
Bài tập lớn học kỳ
đơn thuần là một cây trồng nông nghiệp mà từ xa xưa nó đã trở thành một biểu
tượng của nền nông nghiệp hai vùng đồng bằng này. Người dân không chỉ có kinh
nghiệm trồng lúa nước, tâm lý gắn bó với cây lúa nước mà còn có những hoạt
động văn hóa, nghệ thuật liên quan đến cây lúa nước. Sở dĩ có điều này là bởi nơi
đây có điều kiện tự nhiên thích hợp cho việc canh tác lúa nước(có 2 con sông lớn
chảy qua, địa hình bằng phẳng, đất đai phù sa màu mỡ…)...
1.1.2. hoàn cảnh xã hội
Theo quan điểm Mác – Lênin: Nhân cách chỉ có thể được hình thành và phát
triển trong môi trường nhất định, đặc biệt là môi trường xã hội, chỉ sống trong xã
hội loài người thì con người mới có được những tư chất và thuộc tính người đó
cũng chỉ phát triển được trong xã hội con người, nếu không sống trong xã hội loài
người thì sẽ không có những thuộc tính người. Ví dụ: trường hợp những em bé
được chó sói nuôi: đi bằng bốn chân, không biết nói chỉ biết rú như sói, không biết
ăn thịt chín, không mặc quần áo…Dưới góc độ tâm lý học, môi trường xã hội góp
phần tạo nên mục đích, động cơ, phương tiện và điều kiện cho các hoạt động giao
lưu của con người. Nhờ hoạt động đó mỗi con người dần lĩnh hội được kinh
nghiệm xã hội loài người để từng bước hình thành và hoàn thiện nhân cách. Nhân
cách phản ánh chủ yếu những đặc điểm lịch sử, điều kiện sinh hoạt, nguồn gốc giai
cấp, vị trí xã hội cá nhân, vì vậy khi điều kiện xã hội đã biến đổi cơ bản thì bộ mặt
tinh thần của con người cũng biến đổi theo. Do đó nhân cách là một sản phẩm của
xã hội, có nghĩa là đứa trẻ muốn trở thành nhân cách phải có sự tiếp xúc với người
lớn để nắm vững tri thức, kinh nghiệm lịch sử xã hội, để được chuẩn bị bước vào
cuộc sống và lao động trong văn hóa của thời đại. Quan hệ sản xuất quy định nội
dung của nhiều nét tâm lý cơ bản của nhân cách. Ví dụ: Việt Nam có quan hệ sản
xuất xã hội chủ nghĩa thì người dân cũng sẽ có những nét tâm lý cơ bản của nhân
cách như: hình thành tư tưởng phấn đấu cùng nhau xây dựng đất nước, đưa đất
nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội

chủ nghĩa… Tâm lý nhân cách phụ thuộc vào quan hệ chính trị và pháp luật. Vị trí
giai cấp của cá nhân sẽ kích thích tính tích cực của nó ở mức độ này mức độ khác
3
Bài tập lớn học kỳ
trong vai trò xã hội. Nhu cầu, hứng thú, lí tưởng phụ thuộc không ít vào vai trò ấy.
Ví dụ:: người có địa vị xã hội cao như các chính trị gia, các nhà nghiên cứu, lãnh
đạo… thì sẽ có tâm lý nhân cách, hay nói cách khác là sẽ có nhu cầu, lí tưởng, sự
hứng thú cá nhân…khác với những người bình thường như nông dân, công nhân,
học sinh, sinh viên…
Việc xem xét các ảnh hưởng của yếu tố xã hội tới nhân cách còn thể hiện
trong các đặc tính xã hội mà nhân cách tiếp thu được khi nó là thành viên của một
nhóm xã hội, trong những mối quan hệ xã hội nhất định:
Các thành viên của nhóm xã hội, thường mang một số đặc tính riêng trong
hành vi và cách ứng xử…đặc trưng cho nhóm của mình, mà nhiều khi chính họ
không ý thức được điều đó. Trong đời thường, cũng như trong ngôn ngữ khoa học,
chúng ta thường gặp những nhận xét như: người Nhật rất cần cù, yêu lao động;
người Đức ưa chính xác và tiết kiệm,v.v..Đó là tính cách xã hội, hay tính cách dân
tộc, thường được xem là tính cách của đại đa số các thành viên xã hội, hay dân tộc
đó. Nhân cách hình thành trong một nhóm, trong một xã hội hay trong một dân
tộc, nhất định sẽ có những hành vi và những đặc tính rập khuôn theo một số chuẩn
mực của nhóm, của xã hội hay dân tộc đó. Mặt khác trong quá trình phát triển của
nhân cách ở môi trường xã hội luôn thay đổi, nhân cách buộc phải đối diện với
những thay đổi và điều đó sẽ thúc đẩy quá trình hình thành những chuẩn mực giá
trị mới, những tâm thế mới, những phương thức hành vi mới, v.v..
Ví dụ: Trẻ con qua dậy thì sang tuổi thanh niên, từ thanh niên trở thành người
đứng tuổi và từ người đứng tuổi bước sang tuổi già. Điều đó buộc từng cá nhân
phải có những hành vi, ứng xử hòa đồng với những ước lệ cũng như hệ thống giá
trị mới đặt ra khi bước sang một nhóm lứa tuổi khác, đó là sự thay đổi về lứa tuổi.
Hoặc là sự thay đổi vị trí và cương vị xã hội cũng thể hiện quá trình phát triển
nhân cách trong nhóm; ví dụ: một người từ cương vị là chủ tịch xã lên làm chủ tịch

huyện thì nhân cách buộc phải làm quen với các quyền hành, nghĩa vụ và quyền
lợi mới. Một sự thay đổi nữa, có ý nghĩa quan trọng đối với nhân cách là việc cá
nhân rời bỏ nhóm xã hội cũ và tham gia vào nhóm xã hội mới, ví dụ: thay đổi cơ
4
Bài tập lớn học kỳ
quan làm việc, thay đổi nhóm, tầng lớp xã hội v.v…Việc từ bỏ những tính cách
đặc trưng của nhóm cũ và thích nghi với những định hướng giá trị mới, những
cách sống, nếp nghĩ mới cũng thường là thử thách đối với sự phát triển nhân cách..
Tính chất và mức độ ảnh hưởng của môi trường với sự hình thành và phát
triển nhân cách còn phụ thuộc vào lập trường, quan điểm, thái độ của con người đó
(ví dụ: học sinh, sinh viên có tiếp thu những hiện tượng, những sự kiện xảy ra
ngoài xã hội để lấy đó làm bài học cho bản thân mình hay phản đối và không chấp
nhận chúng) và phụ thuộc vào xu hướng, năng lực và mức độ cá nhân tham gia
biến đổi môi trường ( tích cực, tiêu cực, mạnh hay yếu…). Do đó nhân cách
không chỉ là một khách thể mà còn là một chủ thể, cá nhân là một tồn tại có ý
thức, nó có thể lựa chọn phương thức sống của mình và do đó nó lựa chọn những
phản ứng khác nhau trước tác động của hoàn cảnh xã hội.
Giữa nhân cách và môi trường có quan hệ hữu cơ: tính chất và mức độ tác
động của hoàn cảnh được phản ánh vào nhân cách. Sự tham gia của nhân cách tác
động đến hoàn cảnh để cải tạo hoàn cảnh, nhằm phục vụ lợi ích con người. Vì vậy,
ta có thể thấy một vấn đề mang tính thực tiễn ở đây đó là vai trò của người làm
công tác giáo dục đối vời người học. Người làm công tác giáo dục phải biết cách
phát huy, khai thác triệt để yếu tố tích cực của môi trường và phòng ngừa hạn chế
những ảnh hưởng của môi trường. Phải hướng người học vào định hướng những
giá trị đúng đắn, xây dựng cho người học bản lĩnh vững vàng để chiếm lĩnh ảnh
hưởng xung quanh, tạo điều kiện để người học tham gia tích cực vào việc xây
dựng và cải tạo môi trường.
1.5. yếu tố giáo dục
Lịch sử đã chứng minh vai trò to lớn của giáo dục trên mọi mặt của đời
sống xã hội, còn trong sự hình thành và phát triển nhân cách, giáo dục được đánh

giá là giữ vai trò chủ đạo. Giáo dục ở đây có nghĩa rộng, bao gồm cả việc dạy học
cùng với hệ thống tác động sư phạm khác, trực tiếp hoặc gián tiếp trong lớp và
ngoài lớp, trong trường và ngoài nhà trường, trong gia đình và ngoài xã hội. Giáo
dục không những định hướng mà còn tổ chức và dìu dắt sự hình thành và phát
5

×