Tải bản đầy đủ (.doc) (23 trang)

Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ và vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (178.97 KB, 23 trang )

MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG I: HIỆP ĐỊNH VỀ CÁC KHÍA CẠNH LIÊN QUAN
ĐẾN THƯƠNG MẠI CỦA QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
2
1. Hoàn cảnh ra đời
3
2. Nội dung của hiệp định Trips 4
CHƯƠNG II: BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ VỚI CÁC
VẤN ĐỀ CỦA NỀN KINH TẾ XÃ HỘI
11
1. Bản quyền và văn hóa 11
2. Bằng sáng chế và sự đổi mới 12
3. Nhãn hiệu và bảo vệ người tiêu dùng 14
4. Sở hữu trí tuệ và xã hội 16
CHƯƠNG III: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆT
NAM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
17
1. Những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam 17
2. Một số kiến nghị 18
KẾT LUẬN 22
1
LỜI NÓI ĐẦU
Hiện nay, người ta ngày càng quan tâm tới các vấn đề sở hữu trí tuệ.
Nhưng đáng tiếc là vấn đề này lại thường xuyên được đề cập theo chiều
hướng nhấn mạnh đến những điều gây tranh cãi và những tranh luận trái
ngược nhau. Thực ra có rất nhiều nội dung về bảo vệ sở hữu trí tuệ mà mọi
người có thể nhất trí được với nhau.
Để hiểu đầy đủ hơn về vấn đề này, chúng ta cần dành một chút thời gian
xem xét quá trình phát triển của quyền sở hữu trí tuệ (IPR) và vai trò của IPR
trong việc đạt được những những mục tiêu chung. Sau khi xem xét, chúng ta


đi tới một kết luận rằng việc bảo vệ sở hữu trí tuệ đóng một vai trò sống còn
trong quá trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Nhưng chỉ bảo vệ quyền sở
hữu trí tuệ không thôi sẽ không thể có được những phát triển về kinh tế, văn
hóa, xã hội. Nhưng một quốc gia khó có thể đạt được những mục tiêu phát
triển nếu không có sự bảo vệ này.
Chính vì vậy, tác giả chọn đề tài “Hiệp định về các khía cạnh liên quan
đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
với các vấn đề của nền kinh tế xã hội, những vấn đề đặt ra đối với Việt
Nam” làm đề tài nghiên cứu của mình.
2
CHƯƠNG I: HIỆP ĐỊNH VỀ CÁC KHÍA CẠNH LIÊN QUAN ĐẾN
THƯƠNG MẠI CỦA QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
1. Hoàn cảnh ra đời
SHTT là một vấn đề xuất hiện từ đầu thế kỷ 19 với sự ra đời của nhiều
công ước như Công ước Paris, Công ước Berne (1886), Công ước Rome
(1961) Từ những năm 1980 trở lại đây, SHTT trở thành mối quan tâm
thường xuyên và là điều kiện để tham gia các thể chế thương mại quốc tế.
Ngày 15/4/1994, trong khuôn khổ WTO, một điều ước quốc tế về SHTT ra
đời là Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của các quyền
sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPS) và có hiệu lực từ 1/1/1995.
Lý do để Hiệp định TRIPS ra đời là do hàm lượng trí tuệ ngày càng
tăng cao hơn so với hàm lượng tài nguyên và lao động trong giá trị sản
phẩm và dịch vụ. Cuộc đua nhằm giành giật và giữ thị trường chủ yếu dựa
trên cơ sở đua tranh đầu tư cho sáng tạo trí tuệ. Bên cạnh đó, hoạt động
đánh cắp các tài sản trí tuệ ngày càng phổ biến và trầm trọng. Chính vì vậy
TRIPS ra đời nhằm bảo hộ SHTT, ngăn chặn nguy cơ xâm hại tài sản trí
tuệ mang tầm quốc tế. Hiệp định TRIPS đòi hỏi mỗi thành viên của WTO
phải xây dựng hệ thống bảo hộ SHTT theo những tiêu chuẩn tối thiểu
thống nhất, nhằm đảm bảo cho mỗi quốc gia thành viên phải có hệ thống
SHTT đầy đủ và có hiệu quả

Các lĩnh vực SHTT được điều chỉnh trong Hiệp định TRIPS là: Quyền
tác giả và quyền liên quan; nhãn hiệu hàng hoá; kiểu dáng công nghiệp;
nông nghiệp; sáng chế… Trong tất cả các lĩnh vực bảo hộ SHTT, Hiệp
định đều có điều khoản quy định rõ đối tượng bảo hộ, các quyền của chủ
thể và thời hạn bảo hộ. Đồng thời Hiệp định quy định các thủ tục để xác
lập quyền SHTT, các biện pháp kiểm soát
3
2. Nội dung của hiệp định Trips
Hiệp định TRIPS - WTO đã làm thay đổi bộ mặt của hệ thống sở hữu
trí tuệ thế giới. Về nguyên tắc bảo hộ sở hữu trí tuệ, Hiệp định TRIPS tái
khẳng định đồng thời mở rộng các quy định của Công ước Paris và Công ước
Berne. Hiệp định TRIPS đòi hỏi mọi quốc gia thành viên của WTO phải xây
dựng hệ thống bảo hộ sở hữu trí tuệ theo các tiêu chuẩn tối thiểu thống nhất.
Một cách tổng quát, các tiêu chuẩn tối thiểu ấn định trong Hiệp định TRIPS
nhằm bảo đảm cho mỗi quốc gia thành viên có một hệ thống sở hữu trí tuệ
đầy đủ và có hiệu quả.
Theo Hiệp định này, mỗi nước thành viên của WTO có nghĩa vụ dành
cho công dân của nước thành viên khác, theo nguyên tắc đối xử quốc gia và
đối xử tối huệ quốc, sự bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ một cách đầy
đủ và có hiệu quả.
Các lĩnh vực của sở hữu trí tuệ được điều chỉnh là: quyền tác giả và
quyền liên quan (tức là quyền của người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm
và các tổ chức phát sóng); nhãn hiệu hàng hoá, bao gồm cả nhãn hiệu dịch vụ;
chỉ dẫn địa lý, bao gồm cả tên gọi xuất xứ; kiểu dáng công nghiệp; patent, bao
gồm cả bảo hộ giống cây trồng mới; thiết kế bố trí mạch tích hợp; và thông tin
không được tiết lộ, bao gồm cả bí mật thương mại và dữ liệu thử nghiệm.
Các nguyên tắc cơ bản về đối xử quốc gia (cấm thành viên phân biệt
đối xử giữa công dân của mình với công dân của các thành viên khác) và về
đối xử tối huệ quốc (cấm thành viên phân biệt đối xử giữa công dân của các
thành viên khác), được áp dụng chung cho tất cả các đối tượng sở hữu trí tuệ

thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định. Các nghĩa vụ này không chỉ áp dụng
đối với các tiêu chuẩn về nội dung của việc bảo hộ mà còn áp dụng cả đối với
những vấn đề liên quan đến khả năng đạt được, xác lập, phạm vi, việc duy trì
và thực thi quyền sở hữu trí tuệ cũng như những vấn đề ảnh hưởng đến việc
sử dụng quyền sở hữu trí tuệ được điều chỉnh cụ thể trong Hiệp định.
Hiệp định quy định các tiêu chuẩn tối thiểu về từng yếu tố bảo hộ cơ
bản, đó là đối tượng được bảo hộ, các quyền được cấp và các ngoại lệ được
4
phép đối với các quyền đó và thời hạn bảo hộ tối thiểu. Hiệp định quy định
các tiêu chuẩn này bằng cách trước hết yêu cầu rằng các nghĩa vụ về mặt nội
dung của các Điều ước cơ bản của Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO) -
Công ước Paris, Công ước Berne - phải được tuân thủ. Ngoài ra, Hiệp định
TRIPS còn bổ sung một số nghĩa vụ khác quan trọng về các vấn đề mà các
Điều ước kể trên không điều chỉnh hoặc được coi là không thoả đáng.
Hiệp định dành một phần đáng kể để quy định tiêu chuẩn của các cơ
chế bảo hộ - tức là các biện pháp, phương thức, trình tự xử lý các hành vi xâm
phạm quyền sở hữu trí tuệ. Yêu cầu chung đối với các cơ chế đó là minh
bạch, công bằng và thoả đáng. Các cơ chế có thể và cần phải có là cơ chế dân
sự, hành chính và hình sự. Mỗi cơ chế được áp dụng trong các điều kiện nhất
định và với những tiêu chuẩn cụ thể được chỉ rõ trong Hiệp định.
Hiệp định TRIPS ra đời với nhận thức rằng giá trị hàng hóa và dịch vụ
tham gia trong thương mại quốc tế ngày càng thể hiện sự kết tinh của yếu tố
công nghệ và tính sáng tạo trong hàng hóa và dịch vụ đó. Nói cách khác, trao
đổi hàng hóa và dịch vụ cũng bao hàm trao đổi sự sáng tạo của trí tuệ con
người, tức là "sở hữu trí tuệ" kết tinh trong hàng hóa và dịch vụ.
Trong thể thống nhất của nền kinh tế thế giới, sự phát triển của thương
mại quốc tế có thể bị ảnh hưởng nếu các tiêu chuẩn để bảo hộ quyền sở hữu
trí tuệ mà các nước đưa ra khác xa nhau. Hơn nữa, việc thực hiện không triệt
để quyền sở hữu trí tuệ có thể khuyến khích trao đổi hàng giả và hàng xâm
phạm bản quyền, nhất là trong điều kiện tiến bộ công nghệ hiện nay, do đó vi

phạm lợi ích thương mại chính đáng của người sản xuất, vi phạm lợi ích của
chủ sở hữu hoặc người được phép sử dụng các quyền đó.
Ngay từ đầu Vòng đàm phán Tokyo, các nước phát triển đã đề nghị áp
dụng trong khuôn khổ GATT các biện pháp kiểm soát việc buôn bán hàng giả
và hàng vi phạm bản quyền. Bước sang Vòng đàm phán Uruguay, các nước
này đề nghị rằng không chỉ đàm phán về buôn bán hàng giả mà còn đàm phán
nhằm xây dựng các tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu để các nước thành viên thông
qua. Trong khi, nhìn chung các nước đang phát triển không phản đối đề nghị
5
áp dụng biện pháp đối với hàng giả nhưng lúc đầu họ chống lại việc trao đổi
về các tiêu chuẩn tối thiểu. Các nước này lo ngại rằng đàm phán như vậy sẽ
buộc họ phải thay đổi chính sách của mình. Vì các lý do phát triển và xã hội,
các nước này không cấp văn bằng sáng chế hay chỉ bảo hộ một số sản phẩm
dưới 20 năm, khoảng thời gian thông thường mà các nước phát triển bảo hộ
văn bằng sáng chế liên quan đến các sản phẩm như dược phẩm, hóa chất,
thuốc trừ sâu, phân bón. Họ cũng lo ngại rằng việc thông qua các tiêu chuẩn
tối thiểu có thể dẫn đến tăng tiền thù lao phải trả khi sử dụng các công nghệ
được cấp văn bằng theo giấy phép và do vậy sẽ tăng giá thành phẩm. Tuy
nhiên, các quan điểm này không thắng thế và các nước phát triển gây sức ép
để đàm phán tập trung hơn vào việc xây dựng các tiêu chuẩn thống nhất về
nội dung nhằm bảo hộ cao hơn các quyền sở hữu trí tuệ. Thái độ của các nước
phát triển cũng như đang phát triển chuyển biến cùng với quá trình đàm phán.
Kết quả là các nước đã nhất trí thông qua Hiệp định TRIPS.
Hiệp định TRIPS đã đưa ra tiêu chuẩn tối thiểu để bảo hộ các quyền sở
hữu trí tuệ trong các lĩnh vực bản quyền và các quyền liên quan, nhãn hiệu
hàng hoá, chỉ dẫn địa lý, thiết kế công nghiệp, sáng chế, thiết kế bố trí vi
mạch, và thông tin bí mật. Hiệp định TRIPS cũng bao gồm các điều khoản về
nguyên tắc và biện pháp nhằm thực hiện hữu hiệu quyền sở hữu trí tuệ và về
việc thành lập một cơ chế hiệp thương, giám sát cấp quốc tế để bảo đảm sự
tuân thủ các tiêu chuẩn của các thành viên ở cấp độ quốc gia.

Các điều khoản chính của Hiệp định TRIPS chia thành 5 nhóm như
sau:
- Các nguyên tắc cơ bản và nghĩa vụ chung;
- Những tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu, thời hạn bảo hộ và việc giám sát
các biện pháp chống cạnh tranh trong giấy phép hợp đồng;
- Các biện pháp kinh doanh hạn chế;
- Bảo đảm thực hiện quyền sở hữu công nghiệp (lệnh của toà án, biện
pháp hải quan );
6
- Thỏa thuận về thời kỳ chuyển tiếp để thực hiện các quy định ở cấp
quốc gia.
TRIPS đã tổng hợp và xây dựng trên cơ sở các hiệp định quan trọng và
mới nhất về sở hữu trí tuệ do Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO) thực
thi với Công ước Paris về Bảo hộ Tài sản Công nghiệp và Công ước Berne
về Bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật – những hiệp định có từ
những năm 1880.
Hiệp định TRIPS có vị thế độc nhất trong số các điều ước quốc tế về
IPR bởi lẽ việc trở thành thành viên của WTO đồng nghĩa với việc tham gia
“trọn gói” các hiệp ước. Nói cách khác, các quốc gia thành viên của WTO
không được phép lựa chọn các hiệp ước mà phải tuân thủ tất cả các hiệp ước
đa phương của WTO, bao gồm cả TRIPS.
Theo Hiệp định TRIPS, các nước phát triển hoàn toàn thực thi hiệp
định này vào ngày 1/1/1996. Các quốc gia đang phát triển và những thành
viên đang trong thời kỳ quá độ sang kinh tế thị trường được phép lùi ngày
thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ quy định trong TRIPS đến 1/1/2000. Các
nước kém phát triển được phép bắt đầu thực hiện các nghĩa vụ của mình vào
ngày 1/1/2006, và có khả năng được kéo dài thời kỳ chuyển giao nếu có yêu
cầu. Các quốc gia đang phát triển chưa có quy định bảo hộ bằng phát minh
sáng chế đối với một số lĩnh vực công nghệ nhất định tính đến thời điểm xin
gia nhập thì được phép kéo dài thêm năm năm nữa, tức là đến ngày

1/1/2005, để ban hành quy định bảo hộ như vậy.
Tại Hội nghị Bộ trưởng Thương mại của WTO tại Doha năm 2001,
các quốc gia kém phát triển đã được gia hạn thêm 10 năm để thực thi các
quy định về bảo hộ bằng phát minh sáng chế và “bí mật thương mại” trong
khuôn khổ của TRIPS vì những quy định này có liên quan đến dược phẩm.
Tuy nhiên, do Hiệp định TRIPS đã trải qua 10 năm nên không thể bao
hàm được một số diễn biến mới, như các vấn đề về Internet và tác quyền kỹ
thuật số, công nghệ sinh học tiên tiến, và quá trình nhất thể hóa những chuẩn
7
mực toàn cầu về luật pháp hoặc thông lệ. Hiệp định này mới chỉ đặt nền tảng
cho việc bảo hộ IPR ở mức tối thiểu chứ chưa phải tối đa.
Kể từ khi ký kết Hiệp định TRIPS, Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới đã
giải quyết nhiều vấn đề tác quyền kỹ thuật số trong các hiệp định về Internet,
cụ thể Hiệp định Quyền tác giả của WIPO (WCT) và Hiệp định về Biểu diễn
và Ghi âm của WIPO (WPPT).
Hiệp định TRIPS yêu cầu các chương trình phần mềm máy tính phải
được bảo hộ bản quyền. Các nước có thể áp dụng mức độ cho phép khác
nhau trong việc ứng dụng phần mềm máy tính theo thuyết “sử dụng công
bằng” hoặc những hạn chế khác. Vì các chương trình phần mềm máy tính có
thể sử dụng với mục đích thương mại, nên một số nước công nghiệp cho
phép các hãng sản xuất đăng ký xin cấp bằng sáng chế (patent) cho các phần
mềm. Chính sách này tạo ra khả năng áp dụng việc bảo hộ bằng sáng chế
sang một lĩnh vực mới bao hàm cả mục đích kinh doanh. Tiếp đó là xu
hướng chấp nhận đăng ký bằng sáng chế (patent) cho một số khâu trong lĩnh
vực nghiên cứu sinh học như bảo hộ quyền phát minh giống cây trồng mới.
Quyền này cho phép người phát minh giống cây mới đặc biệt và có gien ổn
định không cho người khác sử dụng, mua bán trong một thời gian nhất định.
Một lĩnh vực tương tự là thiết kế các mạch tích hợp cũng được áp dụng như
việc phát minh ra giống cây mới. Những phát minh loại này được bảo hộ
“riêng”, hay còn gọi là bảo hộ “đặc biệt”, bởi việc này tuy có sáng tạo nhưng

không nhiều nên mới được cấp cả bằng sáng chế (patent) lẫn bằng bản quyền
với thời hạn khoảng 10 năm.
Có một loại sở hữu đặc biệt tuy không hoàn toàn giống với sáng chế
hay bản quyền, chỉ quan hệ đến lĩnh vực kinh doanh nhưng lại chưa được
bảo hộ thích đáng, đó là sở hữu bí mật thương mại. Một phương thức hay
công thức có thể được giữ bí mật trong một hãng hoặc một cơ sở sản xuất
kinh doanh. Nhưng nếu đối thủ cạnh tranh có được những thông tin về bí
mật đó thông qua thiết kế, tham chiếu một cách hợp thức thì nguời sáng tạo
ban đầu không có quyền loại trừ sự ứng dụng này. Sự cạnh tranh không lành
8
mạnh dẫn đến những hoạt động như tình báo công nghiệp, mua chuộc lôi
kéo nhân viên của đối thủ tiết lộ bí mật thương mại. Thậm chí có trường
hợp nhân viên kỹ thuật tự ý bỏ hãng để ra ngoài sản xuất hoặc kinh doanh
bằng chính công thức đã thu nhận được.
Hiệp định TRIPS bao trùm tất cả các quyền sở hữu trí tuệ chính, gồm
cả các lĩnh vực và quyền chưa được luật quốc tế hay trong một số trường
hợp cả luật quốc gia của các nước công nghiệp đề cập tới. Việc thực thi hiệp
định này sẽ áp đặt các thay đổi về luật sở hữu trí tuệ của một số nước thành
viên WTO không có bất kỳ ngoại lệ nào. Những thay đổi này cũng tác động
mạnh đến luật, quy định và các thủ tục hiện hành của các nước đang phát
triển áp dụng trong lĩnh vực kinh tế xã hội như nông nghiệp, y tế, giáo dục
và văn hoá khi trở thành thành viên WTO. Các điều khoản chính của hiệp
định TRIPS có thể phân chia thành 5 nhóm: tiêu chuẩn, thực thi, giải quyết
tranh chấp, các quy định và nguyên tắc chung. Cuối cùng là những thoả
thuận chuyển đổi.
- Tiêu chuẩn: Hiệp định TRIPS đưa ra những tiêu chuẩn bảo hộ tối
thiểu do các nước thành viên đề xuất trong mỗi lĩmh vực chính của sở hữu
trí tuệ. Lĩnh vực sở hữu trí tuệ bao gồm cấp bằng sáng chế (patent); bảo hộ
giống cây trồng; bản quyền và các quyền liên quan (đó là các quyền của
nghệ sĩ biểu diễn, nhà sản xuất băng ghi âm, các tổ chức phát thanh truyền

hình); thông tin bí mật (bí mật thương mại, dữ liệu kiểm định); nhãn hiệu
thương mại; dấu hiệu địa lý; thiết kế công nghiệp và thiết kế các mạch tích
hợp.
- Hiệu lực: Nhóm điều khoản chính thứ hai là các thủ tục và chế tài
trong nước đối với hiệu lực của IPRs. Lần đầu tiên, trong các luật quốc tế về
IPRs, điều khoản chi tiết về thủ tục dân sự và hành chính, các chế tài, biện
pháp đặc biệt liên quan đến phạm vi biên giới và vấn đề tội phạm được đặt
ra. Các điều khoản này xác định thủ tục pháp lý, hình phạt tối thiểu để bảo
vệ quyền sở hữu trí tuệ tại các cơ quan pháp luật, toà án hành chính.
9
- Giải quyết tranh chấp: Hiệp định TRIPS quy định các tranh cãi giữa
các thành viên WTO về sự tuân thủ nghĩa vụ theo hiệp định chịu sự điều
chỉnh của thủ tục giải quyết tranh chấp của WTO. Hội nghị Bộ trưởng WTO
lần thứ tư tại Doha (11-2001) đã thống nhất rằng các đơn kiện tranh chấp
tồn đọng chưa xử lý có thể được xem xét kỹ hơn ở Hội đồng TRIPS và sẽ
đưa ra báo cáo Hội nghị Bộ trưởng tiếp theo.
- Những quy định và nguyên tắc chung: Hiệp định TRIPS đưa ra
những nguyên tắc cơ sở như không phân biệt đối xử giữa những người nắm
giữ sở hữu trí tuệ trong nước với nước ngoài (ưu đãi quốc gia) và giữa
những người nước ngoài khác nhau (tối huệ quốc). Hiệp định cho phép các
nước tự do quyết định chính sách “nhập khẩu song song” đối với các hàng
hoá nhập khẩu mà người nắm giữ IPRs đưa ra ở thị trường khác một cách
hợp pháp.
- Thoả thuận chuyển đổi: Các nghĩa vụ ghi trong hiệp định áp dụng
một cách công bằng cho tất cả các thành viên. Nhưng đối với các nước đang
phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi thì thời gian bắt đầu áp dụng muộn
hơn (từ 1-1-2000) trong khi thành viên là các nước công nghiệp phải áp
dụng tất cả các điều khoản của hiệp định từ 1-1-1996, còn với các nước kém
phát triển (LDCs) thì từ 1-1-2006. Riêng sản phẩm dược được nới rộng cho
các nước LDCs đến năm 2016.

Thực hiện các cam kết của WTO cụ thể là thực thi Hiệp định bảo hộ
quyền sở hữu trí tuệ là nghĩa vụ không thể thoái thác nhưng đồng thời cũng
đem lại lợi ích to lớn cho các nước thành viên của tổ chức kinh tế quốc tế
này.
10
CHƯƠNG II: BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ VỚI CÁC VẤN ĐỀ
CỦA NỀN KINH TẾ XÃ HỘI
1. Bản quyền và văn hóa
Chúng ta có thể ghi nhận khái niệm về “bản quyền” đã có từ thế kỷ 17 ở
nước Anh với luật bảo vệ những tác phẩm sáng tạo của văn sỹ, nghệ sỹ, ca sỹ
và sau này là các nhà làm phim và chuyên gia viết phần mềm. Khái niệm này
thậm chí còn được trang trọng ghi nhận trong Hiến pháp Hoa Kỳ tại Điều I,
Mục 8, Khoản 8 “Quốc hội có quyền … nhằm thúc đẩy tiến bộ khoa học và
nghệ thuật bằng cách đảm bảo quyền tối cao của tác giả và nhà phát minh
trong một khoảng thời gian nhất định đối với những tác phẩm và phát minh
của họ”.
Ý tưởng cơ bản về bản quyền này rất đơn giản: Các nghệ sỹ và người
sáng tác cần phải được hưởng thành quả lao động của mình trong một khoảng
thời gian nhất định và sau đó thì những thành quả này sẽ thuộc về toàn thể xã
hội. Xã hội được lợi bởi quy định này sẽ khuyến khích sáng tạo và tạo ra
những sản phẩm văn hóa phong phú đa dạng cho mọi người. Thực chất thì
chúng ta có thể nói rằng bảo hộ bản quyền là điều cần thiết để đảm bảo sự
sáng tạo văn hóa trong xã hội.
Nhưng nếu việc bảo hộ bản quyền là quan trọng trong việc đạt được
những thành quả văn hóa thì đương nhiên việc ăn cắp những sản phẩm được
bảo hộ bản quyền - tức là việc sao chép trái phép các sản phẩm văn hóa - là
mối nguy hại cho lĩnh vực sáng tác trong xã hội chúng ta. Nhiều tổ chức quốc
tế như Ngân hàng Thế giới, Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO) và thậm
chí cả Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên Hợp Quốc
(UNESCO) đều thừa nhận mối liên hệ này. Thực ra, nếu chúng ta truy cập

trang web của UNESCO () thì chúng ta sẽ thấy cả một
phần được dành cho vấn đề bản quyền và một danh sách các chương trình và
ấn phẩm giải thích rõ hơn cho chúng ta về lợi ích của bản quyền đối với
những chính sách văn hóa, khoa học, giáo dục và giúp ta có những phương
thức chống lại nạn ăn cắp bản quyền.
11
Cho dù gần đây báo chí nói nhiều đến việc tải phim và nhạc trên mạng ở
các nước phát triển như Hoa Kỳ, nhưng thực ra những vi phạm nghiêm trọng
phần lớn lại xảy ra ở các nước đang phát triển. Nhiều giọng ca mới, nhiều tác
giả và kịch bản phim đã không thể ra đời đơn giản chỉ vì các nghệ sỹ này
không có đủ động lực để chấp nhận mạo hiểm. Họ biết rằng cho dù họ có sản
xuất ra sản phẩm gì chăng nữa thì sản phẩm của họ ngay lập tức sẽ bị sao
chép - ăn cắp - và họ không được cung cấp đủ tiền bạc để phát triển tài năng
của mình.
Đây không phải là một lập luận trừu tượng: Việc ăn cắp bản quyền diễn
ra ở tất cả các châu lục. Một ví dụ điển hình là Hồng Kông, nơi ngành công
nghiệp điện ảnh phát triển mạnh đã bị ảnh hưởng ghê gớm bởi nạn ăn cắp bản
quyền đến nỗi một vài năm trước đây người ta dự đoán rằng Hồng Kông sẽ
không giữ được ngành công nghiệp điện ảnh nữa. Hiện nay, ngành công
nghiệp này ở Hồng Kông đang khởi sắc trở lại và khán giả khắp nơi trên thế
giới được thưởng thức những bộ phim mới rất hay do chính quyền Hồng
Kông đã mạnh tay xử lý nạn ăn cắp bản quyền. Các xưởng phim trong ngành
công nghiệp điện ảnh của Băng-la-đét “Dhaliwood” đã đình công vào tháng 3
năm 2004 nhằm phản đối tình trạng ăn cắp bản quyền và yêu cầu chính phủ
phải hành động. Những tiến triển tương tự cũng đã diễn ra trong ngành âm
nhạc trên thế giới. Các nhạc sỹ Ê-ti-ô-pia đã đình công bảy tháng liền vào
năm 2003 nhằm gây áp lực đòi chính phủ phải có những biện pháp chống nạn
ăn cắp bản quyền mạnh mẽ hơn. Các nghệ sỹ này đều hiểu rõ tầm quan trọng
của việc bảo vệ những tác phẩm của họ trước những kẻ xâm phạm bản quyền.
2. Bằng sáng chế và sự đổi mới

Bằng sáng chế bảo hộ rất nhiều các loại phát minh như kiểu dáng công
nghiệp, quy trình sản xuất, sản phẩm công nghệ cao, hợp chất phân tử. Bằng
sáng chế cũng được ghi nhận trong Hiến pháp Hoa Kỳ giống như bản quyền.
Hiến pháp trao cho Quốc hội quyền thúc đẩy “sự tiến bộ của khoa học và
nghệ thuật” bằng cách cho các nhà phát minh được hưởng độc quyền tối cao
trong một thời gian nhất định đối với những “phát minh” của họ.
12
Khái niệm về bằng sáng chế dựa trên cơ sở thỏa hiệp có đi, có lại. Nhà phát
minh hay sáng chế có độc quyền tối cao trong việc sử dụng phát minh của
mình trong một thời gian nhất định. Để đổi lại, quy định của hầu hết các quốc
gia đều yêu cầu nhà phát minh công bố phương pháp tìm ra phát minh để cho
mọi người có thể hiểu và học hỏi được từ những phát minh này. Sau khi thời
hạn bảo hộ phát minh hết hạn thì bất cứ ai cũng có thể sử dụng hay bán phát
minh này. Nhà phát minh được khuyến khích về mặt kinh tế để chấp nhận rủi
ro và sáng tạo; xã hội nhận được lợi ích của phát minh và kiến thức của nhà
phát minh được ứng dụng trong những lĩnh vực khác.
Người Mỹ luôn tự hào là một dân tộc có nhiều nhà phát minh sáng chế
sẵn sàng thử nghiệm những cái mới trong cả ngành công nghiệp lẫn cả trong
chính trị. Vì vậy, bằng sáng chế là một phần quan trọng trong lịch sử phát
triển của Hoa Kỳ. Mặc dù hầu hết học sinh Mỹ có thể không biết rằng bằng
sáng chế được đề cập tới trong Hiến pháp nhưng nhiều học sinh biết qua các
bài học rằng một trong những bằng sáng chế đầu tiên được cấp cho máy tỉa
hột bông của Eli Whitney, chiếc máy có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển sau
này của Hoa Kỳ.
Nếu những gì đã diễn ra ở Mỹ là đúng quy luật thì nó cũng sẽ đúng ở các
quốc gia khác, kể cả ở những quốc gia đang phát triển. Việc bảo hộ chặt chẽ
sở hữu trí tuệ không những chỉ thúc đẩy sức sáng tạo mà còn tạo ra niềm tin
vững chắc vào nền kinh tế đó, đủ để thu hút đầu tư nước ngoài và tăng cường
chuyển giao công nghệ. Điều này đã được chứng minh trong một số nghiên
cứu về quan hệ giữa sở hữu trí tuệ, đặc biệt là bằng sáng chế, với tốc độ phát

triển. Chẳng hạn như một nghiên cứu đáng chú ý của Báo cáo Triển vọng
Kinh tế Toàn cầu năm 2002 của Ngân hàng Thế giới đã phát hiện ra rằng “dù
cho các quốc gia có mức thu nhập khác nhau nhưng việc bảo hộ quyền sở hữu
trí tuệ luôn gắn liền với phát triển thương mại và đầu tư nước ngoài, nhờ đó
mà tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt mức cao hơn”. Một ấn bản khác năm 2002
của Ngân hàng Thế giới mang tựa đề “Cẩm nang Phát triển, Thương mại và
WTO” đã chú dẫn một số nghiên cứu tuy chưa đưa ra được những kết quả rõ
13
ràng nhưng cũng đã chỉ ra rằng việc bảo hộ mạnh mẽ bằng sáng chế có thể: 1)
gia tăng thương mại toàn cầu; 2) thu hút thêm được đầu tư trực tiếp nước
ngoài; 3) tăng cường việc mua bán công nghệ và do đó có thể tăng năng lực
sản xuất trong nước; 4) góp phần thúc đẩy tốc độ tăng trưởng.
Ngày nay, Giooc-đa-ni có thể là một ví dụ điển hình cho những kết quả
nghiên cứu trên. Tại quốc gia này, việc gia tăng bảo hộ bằng sáng chế đã đem
lại những lợi ích kinh tế hữu hình (xem bài “Giooc-đa-ni hưởng lợi từ việc cải
cách việc bảo hộ sở hữu trí tuệ”). Viện Sở hữu Trí tuệ Quốc tế (IIPI) đã công
bố một báo cáo đầy đủ vào tháng 8 năm 2004 nghiên cứu việc thành lập
ngành công nghiệp công nghệ dược và thuốc chữa bệnh từ cây cỏ có khả năng
cạnh tranh toàn cầu của Giooc-đa-ni. Báo cáo phát hiện ra rằng “Kinh tế
Giooc-đa-ni đã được hưởng lợi lớn từ việc bảo hộ sở hữu trí tuệ tốt hơn trong
thời gian gần đây” theo như công bố của IIPI. Báo cáo nhấn mạnh hệ thống
bảo vệ sở hữu trí tuệ nghiêm ngặt hơn, đặc biệt là bảo vệ bằng sáng chế, “đã
tăng cường tập trung vào những phát minh dựa trên nghiên cứu cho các công
ty dược phẩm của Giooc-đa-ni”.
Điều này đã được thể hiện trong đóng góp tăng đột biến của ngành chăm
sóc y tế, từ 2,8% năm 1997 lên tới 3,5% năm 2001, vào GDP của Giooc-đa-
ni. Kể từ năm 1997 số lượng việc làm trong các lĩnh vực y tế tăng thêm 52%.
Báo cáo cũng cho thấy “ngành dược phẩm là ngành lớn thứ hai ở Giooc-đa-ni
và từ năm 1999 tới 2002 lượng thuốc xuất khẩu của các công ty Giooc-đa-ni
tăng thêm 30%”.

3. Nhãn hiệu và bảo vệ người tiêu dùng
Nhãn hiệu là một từ, cụm từ, ký hiệu, hay kiểu dáng, hoặc sự kết hợp các
từ, cụm từ, ký hiệu hay kiểu dáng nhằm xác định và phân biệt nguồn gốc của
hàng hóa do một người sản xuất với hàng hóa do những người khác sản xuất.
Vì vậy, nhãn hiệu xác định được người sản xuất ra một mặt hàng và người ta
dùng nhãn hiệu để biết được chất lượng của hàng hóa. Nhãn hiệu cũng giúp
khách hàng biết địa điểm cung cấp sự trợ giúp khi hàng hóa không đạt chất
lượng. Một số loại hình nhãn hiệu đã tồn tại tới vài ngàn năm nay. Du khách
14
tới thăm Vạn Lý Trường Thành ở Trung Quốc vẫn có thể thấy dấu hiệu của
người sản xuất để lại trên một số những viên gạch. Dấu hiệu này cho phép các
hoàng đế thời đó yên tâm về mặt chất lượng và trong trường hợp cần thiết thì
có thể quy kết được trách nhiệm.
Việc đảm bảo chất lượng và quy kết được trách nhiệm đã hoàn toàn bị
xóa sổ khi những kẻ làm hàng giả dùng nhãn hiệu và đánh lừa khách hàng
bằng những sản phẩm do bọn chúng sản xuất. Khi nghĩ tới hàng giả, nhiều
người có thể nghĩ ngay tới đồng hồ Rolex giả, bật lửa Zippo giả hay túi xách
Louis Vuitton giả. Việc làm giả những sản phẩm này đã gây ra những tổn thất
nghiêm trọng cho các công ty sản xuất hàng xịn và khiến cho chính phủ thất
thu thuế. Nhưng việc làm giả nhãn hiệu còn gây ra một hậu quả nghiêm trọng
khác, đó là làm ảnh hưởng tới sức khỏe và sự an toàn của cộng đồng.
Hoa Kỳ cũng không thể tránh khỏi nạn làm hàng giả. Trong buổi tường trình
trước Ủy ban Pháp luật Thượng viện Hoa Kỳ vào tháng 3 năm 2004, Trợ lý
Tổng Chưởng lý Hoa Kỳ là Christopher Wray đã đưa ra những ví dụ về việc
vi phạm nhãn hiệu. Ông nhấn mạnh rằng vào đầu năm 2004, một công dân
bang Alabama đã nhận tội 28 lần làm hàng giả và bị buộc tội làm giả nhãn
hiệu thuốc diệt côn trùng. Anh ta đã bán thuốc diệt côn trùng giả với nhãn
hiệu giả của loại thuốc diệt muỗi và gián tiếp bán thuốc diệt virus West Nile
cho các thành phố và doanh nghiệp tư nhân ở một số bang của Hoa Kỳ. Bị
cáo đã không đưa ra được tên của thuốc diệt côn trùng, nhà sản xuất và các

thành phần hoạt chất. Trong một vụ án khác năm 2002, Bộ Tư pháp Hoa Kỳ
đã kết tội một công dân bang California theo cáo trạng của liên bang vì liên
quan đến âm mưu bán sữa bột giả cho trẻ sơ sinh. Sau khi bán sữa bột cho trẻ
sơ sinh giả cho hàng ngàn trẻ em, những nạn nhân dễ bị tổn thương nhất, bị
cáo đã trốn sang Canada năm 1995. Hắn đã bị bắt ở Canada năm 2001 và năm
2002 được đưa về xét xử tại Hoa Kỳ.
Nạn làm hàng giả cũng gây ra nguy cơ đe dọa nghiêm trọng tới an toàn
và sức khỏe cộng đồng ở những quốc gia đang phát triển. Một bi kịch khủng
khiếp hơn đã diễn ra ở Trung Quốc. Vào tháng 5 năm 2004, hãng tin AP đưa
15
tin từ Bắc Kinh cho biết 47 tên đã bị kết tội bán sữa bột giả cho trẻ sơ sinh và
chính quyền cho biết hành động này là nguyên nhân gây ra cái chết của hàng
chục trẻ em. Theo bài báo, cuộc khám xét sau đó của cảnh sát đã phát hiện ra
hàng ngàn bao đựng sữa bột giả với nhãn mác của 45 loại sữa khác nhau.
Thuốc tân dược giả cũng đã trở thành một vấn nạn nghiêm trọng gây
chết người ở khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là ở những quốc gia đang phát
triển. Không ai biết rõ về điều này hơn Dorothy Akunyili, Giám đốc Cơ quan
Quốc gia Kiểm tra và Quản lý Thuốc và Thực phẩm của Nigeria. Câu chuyện
của bà được kể chi tiết trên trang nhất tờ Nhật báo Phố Wall vào tháng 5 năm
2004 cứ như thể một câu chuyện xảy ra trong tiểu thuyết. Nhưng đáng tiếc đó
lại là chuyện có thật chứ không phải là chuyện giả tưởng. Việc điều tra và
chống lại nạn làm thuốc tân dược giả đã khiến bà bị mưu sát và cơ quan bà bị
phóng hỏa. Nhưng bà vẫn anh dũng tiếp tục công việc của mình với niềm thôi
thúc cá nhân do em gái bà đã chết vì bị tiêm thuốc insulin giả. Cũng giống
như nhiều người khác, bà hiểu rõ nguy cơ và hiểm họa của nạn hàng giả.
4. Sở hữu trí tuệ và xã hội
Có một điểm chung xuyên suốt các vấn đề về bản quyền, bằng sáng chế
và nhãn hiệu vừa được đề cập ở trên. Việc thúc đẩy sự phát triển văn hóa,
tăng cường sức sáng tạo và phát triển kinh tế, bảo vệ sự an toàn và sức khỏe
cộng đồng là những mục tiêu chung. Tất cả chúng ta đều muốn sống trong

những xã hội tôn vinh và thúc đẩy những giá trị này. Trong khi bàn luận về sở
hữu trí tuệ ngày nay, chúng ta cần nhớ tới vai trò của việc bảo hộ sở hữu trí
tuệ trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta.
Hoa Kỳ hết sức tin tưởng vào giá trị của việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
vì những lý do đã nêu trên và nhiều lý do khác và Hoa Kỳ sẵn sàng cộng tác
với các quốc gia khác nhằm tăng cường việc bảo hộ sở hữu trí tuệ.
16
CHƯƠNG III: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆT NAM VÀ MỘT
SỐ KIẾN NGHỊ
1. Những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam
Việc bảo hộ và thực thi quyền tác giả ở Việt Nam vẫn còn ở giai đoạn
phát triển rất sơ khai. Mặc dù Việt Nam đã có khuôn khổ pháp lý để bảo hộ
quyền tác giả, đã tồn tại các ngành công nghiệp và các doanh nghiệp liên quan
đến quyền tác giả sản xuất các sản phẩm văn hóa và thương mại (từ ngành
xuất bản phần mềm đến ngành điện ảnh) và bước đầu nhận thấy sự gia tăng
của việc nhập khẩu các tác phẩm nước ngoài được bảo hộ hợp pháp, nhưng
thị trường Việt Nam vẫn hoàn toàn bị chi phối và lấn át bởi nạn sao chép bất
hợp pháp.
Việt Nam đã nộp đơn xin gia nhập Tố chức Thương mại Thế giới
(WTO). Nhóm công tác về việc gia nhập đã được thành lập vào tháng
01.1995. Trong số những chủ đề được thảo luận có hệ thống các cơ quan hải
quan, giấy phép nhập khẩu, và sự tuân thủ hoàn toàn các quy định khi gia
nhập WTO.
Việc thực thi quyền tác giả hoàn toàn chưa đây đủ và hiện có sự phát
triển đáng lo ngại về năng lực sản xuất đĩa CD và đĩa DVD ở Việt Nam do có
sự gia tăng các hoạt động sao chép bất hợp pháp bắt nguồn từ phía Việt Nam.
Không có số liệu chính thức nào về doanh số bán các tác phẩm âm nhạc
sao chép trái phép ở Việt Nam, mặc dù người ta tin rằng mức độ sao chép bất
hợp pháp hầu như là 100%. Số lượng lớn đĩa CD bị sao chép trái phép từ các
tác phẩm quốc tế đang được bày bán một cách công khai ở các thành phố lớn,

với mức giá đối với cả hai Loại đĩa CD và CD-R vào khoảng 0,60 USD/đĩa.
Giá của các đĩa DVD sao chép trái phép vào khoảng 1,00-2,00 USD. Các đĩa
CD sao chép cũng như nhiều đĩa DVD dường như được nhập khẩu từ Trung
Quốc, trong khi các đĩa CD-R sao chép trái phép được nghi là sản xuất ở địa
phương.
17
Việc thực thi pháp luật đối với các tác phẩm của Hoa Kỳ chưa được tiến
hành, mặc dù đã có báo cáo về các biện pháp được tiến hành nhằm chống sự
sao chép trái phép các tác phẩm của Việt Nam. Cũng có các thông tin các báo
chí về một số người buôn lậu đĩa CD và DVD từ Trung Quốc đã bị bắt giữ và
xử phạt.
Thị trường âm nhạc và ngành công nghiệp ghi âm của Việt Nam, cũng
như công nghiệp phần mềm, công nghiệp xuất bản và các ngành công nghiệp
khác liên quan đến quyền tác giả, vẫn còn ở giai đoạn phát triển sơ khai.
Không có số liệu thống kê chính thức nào về mức doanh thu hợp pháp hàng
năm, chỉ có các số liệu theo kế hoạch hoặc được ước tính của các ngành công
nghiệp liên quan. Các số liệu thống kê hiện có cho thấy rằng, thị trường nói
trên hoàn toàn bị chi phối bởi sự sao chép bất hợp pháp tất cả các loại tác
phẩm được bảo hộ quyền tác giả, từ việc sao chụp sách, tạp chí công khai đến
các bản ghi âm và ghi hình các loại. Mức độ sao chép trái phép hiện nay được
Liên minh Sở hữu trí tuệ quốc tế (IIPA) ước tính là 99%. Tình trạng thiếu sự
bảo hộ quyền tác giả đối với tất cả các tác phẩm nước ngoài, trừ các tác phẩm
của Hoa Kỳ, cùng với nạn sao chép bất hợp pháp tràn lan và trắng trợn là một
rào cản đáng kể đối với các công ty nước ngoài muốn thâm nhập vào thị
trường Việt Nam.
Các nghĩa vụ mà Việt Nam đang thực hiện và các nghĩa vụ sau này với
tư cách là thành viên của WTO sẽ cải thiện tình hình. Tuy nhiên, từ nay tới
đó, vấn đề nên được ưu tiên hàng đầu là việc thực thi quyền tác giả một cách
có hiệu quả, bao gồm việc kiểm soát chặt chẽ hơn nữa về việc tôn trọng quyền
tác giả của giới sản xuất đĩa CD/DVD và các biện pháp kiểm tra tại biên giới.

Thị trường băng, đĩa âm thanh, băng, đĩa hình được báo động về tình
trạng nhập lậu qua biên giới, sao chép tùy tiện không phép đã gây thiệt hại
cho các chủ sở hữu tác phẩm. Việc sử dụng tác phẩm không xin phép tác giả,
chủ sở hữu tác phẩm vẫn diễn ra, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất băng âm
thanh, đĩa âm thanh, băng hình, đĩa hình. Tình trạng in lậu sách vẫn chưa
18
được chấm dứt. Việc sao chép, sử dụng không phép các chương trình phần
mềm đang là vấn đề gây ảnh hưởng đến chính sách đầu tư phát triển công
nghệ thông tin của Nhà nước, làm thiệt hại cho tác giả, chủ sở hữu tác phẩm.
Tình trạng trên không dễ gì xóa bỏ ngay được mà do ý thức cũng như
tâm lý tiêu dùng của người Việt Nam mà những hành vi trên vẫn tiếp tục diễn
ra, dấu hiệu giảm sút chưa nhiều. Thử lấy 1 ví dụ ở Hà Nội, khi trời bắt đầu
chiều thì có hàng trăm, hàng ngàn các “cửa hàng sách ven đường”, có những
cuốn sách vào loại “kinh điển” mà giá rất rẻ, nếu mua đúng giá có thể hàng
trăm nghìn, nhưng mua ở những quầy sách như thế chỉ có vài chục nghìn mà
thôi. Vậy tại sao sách hay mà lại rẻ thế?
Nếu hệ thống pháp luật về quyền tác giả đủ sức bảo hộ quyền tác giả ở
nội địa và hội nhập quốc tế thì hệ thống thực thi và việc thi hành đang là vấn
đề bức xúc cần phải được cải thiện tích cực.
2. Một số kiến nghị
2.1 Hoàn thiện công tác xây dựng pháp luật
Để phù hợp với hiệp định và những cam kết khi Việt Nam ta nhập WTO,
Việt Nam đã có bước tiến lớn trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về
quyền sở hữu trí tuệ bằng việc ban hành Luật Sở hữu trí tuệ (bao gồm 6 phần,
18 chương, 222 điều). Đây là một văn bản luật đầu tiên của Việt Nam quy
định cụ thể, đầy đủ, chi tiết nhất các vấn đề liên quan đến quyền sở hữu trí
tuệ. Việc ban hành Luật Sở hữu trí tuệ đánh dấu một bước phát triển mới
trong hệ thống pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam. Như vậy, việc
gia nhập WTO đã buộc chúng ta phải có sự hoàn thiện pháp luật về quyền sở
hữu trí tuệ theo các chuẩn mực quốc tế chung đặc biệt là về bảo hộ quyền tác

giả. Chính điều này đã giúp Việt Nam hoàn thiện được khuôn khổ pháp lý
trong lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ thời gian qua.
19
2.2 Đối với việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ
Trên thực tế, việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là một vấn đề rất bức xúc
mà các nước luôn đặt ra đối với Việt Nam trong suốt thời gian qua do:
• Cán bộ trong hệ thống các cơ quan thực thi còn thiếu về số lượng và
năng lực chuyên môn chưa đáp ứng nhu cầu;
• Chưa phát huy đúng mức việc áp dụng các biện pháp chế tài về dân sự,
còn lạm dụng các chế tài về hành chính;
• Toà án chưa phát huy được vai trò của mình trong việc xét xử vụ tranh
chấp, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, hiệu quả của công tác xét xử còn thấp
do trình độ nghiệp vụ chuyên môn về sở hữu trí tuệ của thẩm phán chưa đáp
ứng được yêu cầu, Toà án thiếu các thẩm phán có chuyên môn sâu về sở hữu
trí tuệ;
• Mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan thực thi quyền sở hữu trí tuệ
còn hạn chế;
• Hiểu biết và tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ của người dân, các doanh
nghiệp và tổ chức cong thấp.
Để vượt qua được những khó khăn này, Việt Nam cần phải nỗ lực trong
việc:
• Nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ liên quan đến việc thực thi
quyền sở hữu trí tuệ. Đồng thời các cơ quan Nhà nước cần phải thay đổi tư
duy và thói quen làm việc đối với những trường hợp liên quan đến việc bảo
hộ quyền sở hữu trí tuệ. Chẳng hạn như giảm bớt việc lạm dụng các biện pháp
hành chính, nâng cao tiến độ, chất lượng, rút ngắn thời gian trong việc giải
quyết các vấn đề liên quan đến việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ;
• Công tác xây dựng pháp luật và chính sách về sở hữu trí tuệ sẽ được
các tầng lớp trong xã hội cũng như các thành viên của WTO xem xét kỹ
lưỡng, điều đó đòi hỏi các cơ quan Nhà nước có liên quan phải nỗ lực rất lớn

20
để thoả mãn những yêu cầu cao hơn được đặt ra đối với công tác pháp chế và
chính sách, trong khi đội ngũ chuyên gia được đào tạo chuyên ngành về pháp
luật sở hữu trí tuệ còn rất thiếu, và cơ hội đào tạo còn hạn hẹp.
• Việc bắt đầu gia nhập một môi trường kinh doanh có khuôn khổ pháp
lý chặt chẽ, nghiêm khắc trong lúc các doanh nghiệp Việt Nam còn chưa có
đủ các hiểu biết cần thiết về những quy tắc sở hữu trí tuệ cần phải tuân thủ sẽ
dẫn đến một số lượng nhất định các xung đột về sở hữu trí tuệ xảy ra, buộc
các cơ quan Nhà nước phải có trách nhiệm tham gia nghiên cứu, giải quyết.
Công tác pháp chế, thực thi và giải quyết khiếu nại sẽ khó khăn và nặng nhọc
hơn, trong khi các cơ quan giải quyết tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu
trí tuệ còn rất thiếu kinh nghiệm và kiến thức chuyên môn về giải quyết tranh
chấp về sở hữu trí tuệ trong khuôn khổ WTO và Hội đồng TRIPS.
• Tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến kiến thức về pháp luật sở
hữu trí tuệ, đào tạo, tư vấn hỗ trợ các đối tượng có liên quan đến hệ thống sở
hữu trí tuệ. Đồng thời, công tác thông tin sở hữu trí tuệ phải được đổi mới và
nâng cấp để thoả mãn yêu cầu của những người sử dụng thông tin và của xã
hội. Đây là một điều kiện bắt buộc nhằm thực hiện đúng và đầy đủ chức năng
của hệ thống sở hữu trí tuệ đối với sự phát triển văn hoá - kinh tế – xã hội của
đất nước.
• Nâng cao chất lượng của hoạt động phối hợp giữa các cơ quan quản lý
và thực thi sở hữu trí tuệ sẽ trong khi đây vẫn là một điểm yếu của hệ thống
các cơ quan quản lý nhà nước nói chung.
• Tăng cường hoạt động hợp tác quốc tế về sở hữu trí tuệ. Bây giờ, nội
dung này đã trở thành yêu cầu bắt buộc nhằm giải quyết thoả đáng các vấn đề
đã vượt ra khỏi biên giới quốc gia. Đồng thời đây là điều kiện không thể thiếu
nhằm hướng đến sự phát triển ổn định, bền vững.
21
KẾT LUẬN
Trước đây, khi Luật sở hữu trí tuệ chưa ra đời, các quy định trong lĩnh

vực bản quyền tác giả được điều chỉnh trong Bộ luật dân sự. Các quy định
trong Bộ luật dân sự chỉ mang tính chất khái quát chung, rất khó áp dụng, cho
nên hiệu quả điều chỉnh chưa cao. Do yêu cầu thực tiễn, đặc biệt là do yêu cầu
của việc gia nhập WTO mà Luật sở hữu trí tuệ ra đời, Luật sở hữu trí tuệ 2005
đã dành chương riêng để điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực này. Và
quả thật, Luật sở hữu trí tuệ đã làm giải quyết được nhiều thứ mà các quy
phạm trong lĩnh vực này còn nằm trong Bộ luật dân sự không thể giải quyết
được. Các quy định về lĩnh vực quyền tác giả và quyền liên quan đang ngày
càng hoàn thiện và phù hợp với thông lệ quốc tế. Đây là việc làm cần thiết
trong bối cảnh Việt Nam đã là thành viên WTO. Là thành viên của WTO,
những quy định về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ cần
phải được Việt Nam ghi nhận và thực hiện đúng các cam kết. Hiểu biết pháp
luật sở hữu trí tuệ là một thành công cho các doanh nghiệp Việt Nam khi
tham gia vào thương mại quốc tế.
Việt Nam đã lần lượt tham gia các Hiệp định song phương và các công
ước đa phương về lĩnh vực này. Các quy định trong các Hiệp định đó cũng
chính là yêu cầu và điều kiện bảo hộ tối thiểu mà chúng ta phải tuân theo.
Song có thể thấy, hoàn thiện khung pháp lý cho tương thích với TRIPS chưa
phải là điều cốt lõi. Vấn đề có ý nghĩa sống còn là làm sao để việc bảo hộ và
thực thi quyền có hiệu quả, bảo vệ được quyền và lợi ích chính đáng của chủ
sở hữu quyền, phát huy được thế mạnh của một dân tộc cần cù và sáng tạo,
tạo một hành lang pháp lý an toàn để thu hút đầu tư, tăng cường chuyển giao
công nghệ vào Việt Nam. Muốn làm được điều đó, cần có sự quan tâm hơn
nữa của các cấp các ngành, các doanh nghiệp và quần chúng nhân dân để phát
huy được sức mạnh tổng hợp của nội lực, tranh thủ nguồn lực bên ngoài đưa
Việt Nam trở thành một nền kinh tế phát triển nhanh và mạnh trong khu vực.
22
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật sở hữu trí tuệ 2005. Nxb Tư pháp 2007
2. Hiệp định TRIPS

3. Công ước Berne
4. Giáo trình Luật thương mại quốc tế. Nxb Công an nhân dân 2007
5. Giáo trình Quan hệ kinh tế quốc tế. Nxb Tư pháp 2007
6. ngày 26 tháng 07 năm 2007
7. ngày 20 tháng 02 năm 2006
23

×