Tải bản đầy đủ (.doc) (13 trang)

SKKN Một số phương pháp dạy học tích cực giải toán có lời văn lớp 2

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (176.87 KB, 13 trang )

Một số phương pháp dạy học tích cực giải tốn có lời văn lớp 2.




PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

I. LÝ DO CHO ̣N SÁNG KIẾN :

Mơn Tốn là một trong những mơn học rất quan trọng trong việc rèn
luyện phương pháp suy nghĩ, suy luận, giải quyết vấn đề. Nó góp phần phát
triển trí thơng minh, cách suy nghĩ logic, linh hoạt sáng tạo. Từ đó hình thành
và phát triển các phẩm chất cần thiết cho con người như : cần cù, cẩn thận, có
ý chí vượt khó, làm việc có kế hoạch, nền nếp và tác phong khoa
học.
- Mơn Tốn giúp học sinh nhận biết những mối quan hệ về số lượng và
hình dạng khơng gian của thế giới hiện thực. Nhờ vậy, học sinh có phương
pháp nhận thức một số mặt của thế giới xung quanh và biết cách hoạt động có
hiệu quả trong đời sống.
- Mục đích dạy học Tốn ở Tiểu học là cung cấp cho học sinh những kiến
thức cơ bản về tự nhiên và xã hội để trẻ tiếp tục học Tốn ở các lớp trên .
- Mơn Tốn góp phần vào phát triển tư duy , khả năng suy luận, trau dồi
trí nhớ, kích thích học sinh tìm hiểu, khám phá và góp phần hình thành nhân
cách của học sinh Tiểu học.
- Trong chương trình Toán Tiểu học,việc dạy các bài toán giải
có lời văn được đưa vào chương trình rất cơ bản, cần thiết và
thường gặp trong cuộc sống.
- Dạy học các bài tốn có lời văn là một nội dung quan trọng gắn việc học
đi đơi với hành, nhà trường gắn liền với đời sống xã hội. Do đó, việc rèn kĩ
năng giải tốn có lời văn là rất cần thiết , nó giúp học sinh hình thành tư duy
logic và phương pháp làm việc khoa học đồng thời giúp các em nắm vững hơn


mối quan hệ tốn học( số học, hình học, đại lượng…) và ứng dụng vào tìm hiểu
mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng tự nhiên trong xã hội. Từ đó, có cách
giải quyết cơng việc linh hoạt và sáng tạo.
II. THỰC TRẠNG.
- Đối với học sinh lớp 2, các em còn rất lúng túng trong việc giải các bài
tốn có lời văn. Các em hay nhầm lẫn nhất là khi tóm tắt bài tốn, làm lời
giải… Một phần do giáo viên giảng dạy q cứng nhắc theo SGK, SGV thiếu
sự liên hệ thực tế nên chưa phát huy cao tính tích cực của học sinh, chưa biết
hướng học sinh liên tưởng, so sánh hoặc giáo viên khơng vận dụng phương
pháp thực hành để giải quyết vấn đề.
- Để rèn cho học sinh có những kĩ năng giải được các bài tốn giải có lời
văn đơn giản, giáo viên cần xem xét lại trình độ học sinh đang học, phân ra các
loại đối tượng giỏi, khá, trung bình, yếu nhằm có phương pháp dạy phù hợp đối
tượng để đạt hiệu quả cao nhất. Đó cũng la lý do để tơi chọn nội dung sáng kiến
kinh nghiệm “Một số phương pháp dạy học tích cực giải toán có lời văn ở
lớp 2”.
PHẦN II : NHỮNG BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

Chương I : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

I/ Yêu cầu của bài toán có lời văn trong chương trình Toán lớp 2:
Chương trình Toán lớp 2 là một bộ phận của chương trình Toán Tiểu học và
là sự tiếp tục của chương trình Toán lớp 1. Chương trình này kế thừa những
thành tựu về dạy học Toán lớp 2 ở nước ta ; thực hiện những đổi mới về cấu
trúc nội dung để tăng cường thực hành và ứng dụng kiến thức mới ; quan tâm
đúng mức đến đổi mới phương pháp dạy học nhằm giúp HS hoạt động học tập
tích cực, linh hoạt, sáng tạo theo năng lực của từng HS. Từ đó, các em có khả
năng học tiếp lên các lớp trên của bậc Tiểu học. Ở môn Toán lớp 2, HS cần
phải biết giải bài toán có lời văn ở mức độ đơn giản.
II/ Tìm hiểu nội dung kiến thức bài toán có lời văn trong chương trình

Toán lớp 2 và phương pháp dạy học tương ứng :
1/Nội dung :
Nội dung “giải toán có lời văn” được cấu trúc hợp lý, xen kẽ các mạch kiến
thức khác, làm nổi rõ mạch kiến thức số học. Chẳng hạn, học về phép cộng
phép trừ sẽ có bài toán đơn làm rõ ý nghĩa của phép cộng, phép trừ ( đặc biệt
có bài toán về “nhiều hơn”,”ít hơn”,liên quan đến phép cộng , phép trừ) ; học
về phép nhân, phép chia sẽ có bài toán đơn làm rõ ý nghĩa của phép nhân, phép
chia…hay khi học về các đại lượng cơ bản, chu vi các hình, có các bài toán liên
quan đến việc tính toán với các đơn vị đo đã học (m,kg,lít, đồng…)
“Giải toán có lời văn”ở lớp 2 chương trình mới được tăng cường học phương
pháp giải toán (cách tìm hiểu đề bài, cách giải quyết vấn đề và cách trình bày
bài giải.’’. Qua giải toán có lời văn, HS được phát triển khả năng diễn đạt(diễn
đạt bằng lời nói và viết các câu lời giải, hoặc trình bày một vấn đề ]
So với lớp 2 của chương trình cũ, cách trình bày (cách viết ) một bài giải
toán được hoàn chỉnh hơn (với câu trả lời ngắn gọn mà đủ ý, với cách viết phép
tính tương ứng theo quy định hợp lý và có đáp số).
* Nội dung giải toán có lời văn gồm có những dạng sau :
a)Bài toán về “nhiều hơn” :
Ví dụ: Bài 1 trang 24 (SGK Toán 2)
Hoà có 4 bông hoa, Bình có nhiều hơn Hoà 2 bông hoa. Hỏi Bình có mấy
bông hoa?
b)Bài toán về “Ít hơn”:
Ví dụ: Bài 3 trang 30(SGK Toán 2)
Lớp 2A có 15 học sinh gái, số học sinh trai của lớp ít hơn số học sinh gái 3
bạn. Hỏi lớp 2A có bao nhiêu học sinh trai?
c)Bài toán đơn làm rõ ý nghĩa của phép nhân :
Ví dụ:Bài 2 trang 97(SGKToán 2)
Mỗi nhóm có 3 học sinh , có 10 nhóm như vậy. Hỏi có tất cả bao nhiêu
học sinh?
d)Bài toán đơn làm rõ phép chia :

Ví dụ: Bài 2 trang 113
Có 24 học sinh chia đều thành 3 tổ . Hỏi mỗi tổ có mấy học sinh ?
e)Bài toán có liên quan tính toán với các đơn vị đo đã học:
Ví du1: Bài 3 trang 32
Bao gạo to cân nặng 25 kg, bao gạo bé cân nặng 10kg.Hỏi cả hai bao cân
nặng bao nhiêu ki-lô –gam?
Ví dụ 2:Bài 3 trang 150
Cây dừa cao 8m, cây thông cao hơn cây dừa 5m.Hỏi cây thông cao bao
nhiêu mét?
Ví dụ 3:Bài 3 trang 43
Thùng thứ nhất có 16 lít dầu , thùng thứ hai có ít hơn thùng thứ nhất 2 lít
dầu.Hỏi thùng thứ hai có bao nhiêu lít dầu?
Ví dụ 4: Bài 2 trang 164
Mẹ mua rau hết 600 đồng , mua hành hết 200 đồng . Hỏi mẹ phải trả tất cả
bao nhiêu tiền ?
f)Bài giải toán có nội dung Hình học :
Ví dụ:Bài 1 trang 104
Một đường gấp khúc gồm 2 đoạn thẳng có độ dài lần lượt là 12cm và 15
cm.Tính độ dài đường gấp khúc đó.
g)Bài giải toán có dạng không điển hình hoặc có cách giải không quen
thuộc như đã học.Mục đích là giúp học sinh rèn luyện phương pháp giải toán .Ở
các bài toán này , HS được đặt trong tình huống có vấn đề để tìm tòi, dự đoán
cáh giải quyết.
2/Phương pháp dạy học giải toán có lời văn ở lớp 2 :

.
Đổi mới phương pháp dạy học được hiểu là đưa các phương pháp dạy học
mới vào nhà trường trên cơ sở phát huy mặt tích cực của các phương pháp
truyền thống và lấy quan điểm dạy học”Lấy học sinh làm trung tâm”.
Phương pháp dạy giải bài toán có lời văn ở lớp 2, chủ yếu dạy HS biết

cách giải bài toán, GV không làm thay hoặc áp đặt cách giải, mà hướng dẫn để
HS từng bước tự tìm ra cách giải bài toán (Tập trung vào 3 bước : Tóm tắt bài
toán để biết bài toán cho gì, hỏi gì ; tìm cách giải, thiết lập mối quan hệ giữa
các dữ kiện của đề bài với phép tính tương ứng ; trình bày bài giải, viết câu lời
giải, phép tính giải và đáp số).
GV có thể vận dụng nhiều phương pháp trong quả trình dạy giải toán có lời
văn :
- Phương pháp đặt vấn đề và giải quyết vấn đề.
- Phương pháp gợi mở –vấn đáp.
- Phương pháp trực quan.
- Phương pháp sử dụng trò chơi học tập.
- Phương pháp tư duy.
- Phương pháp phân tích….
III. Thực trạng việc dạy và học dạng toán “ Tìm thành phần chưa biết
trong phép tính “ở lớp 2 :
1/ Giáo viên :
*Ưu điểm :
Đa số GV giảng dạy nhiệt tình, dạy đúng đủ theo nội dung chương trình SGK
và tuân thủ phần gợi ý trong SGV.
*Nhược điểm :
-GV còn phụ thuộc nhiều vào SGK, SGV và xem đó là pháp lệnh, cần
dạy đúng , đủ theo nội dung trong sách. GV ít cho HS sử dụng vở bài tập Toán
vì vở trình bày số liệu khác SGK dù hình thức, dạng bài thì không lêch lạc.
-Chưa phát huy cao tính tích cực, sáng tạo của HS.
2/ Học sinh :
*Ưu điểm :
HS làm đủ các bài tập trong SGK. Làm khá tốt các phép tính cộng, trừ,
nhân, chia theo mọi hình thức ( tính dọc, tính nhẩm ngang ).
*Nhược điểm :
-Không có thói quen tóm tắt bài toán có lời văn nên HS đã lúng túng, lẫn

lộn khi giải các bài có nội dung về “nhiều hơn”, “ít hơn”.
Ví dụ: Bài 3 trang 24 Toán 2
Mận cao 95cm,Đào cao hơn Mận 3 cm.Hỏi Đào cao bao nhiêu xăng-ti-mét
?
Ở đây, HS hay lẫn lộn :cộng thành trừ.
-HS tóm tắt nhưng không đúng cả về nội dung lẫn hình thức hoặc đúng
nhưng không rõ lắm.
Ví dụ:Bài 3 trang43
Thùng thứ nhất có 16 lít dầu, thùng thứ hai có ít hơn thùng thứ nhất 2 lít
dầu.Hỏi thùng thứ hai có bao nhiêu lít dầu ?
Thay vì lời giải là Số lít dầu thùng thứ hai hoặc thùng thứ hai có số lít dầu
thì HS hay đặt như sau :
+Số thùng thứ hai là : (Số lít chứ không phải số thùng)
+Số lít dầu thùng thứ nhấtlà : (thùng thứ nhất có rồi)
+Thùng thứ hai ít hơn là(đã biết rồi)
+Thùng thứ nhất nhiều hơn là:( không đúng)
*Nguyên nhân dẫn đến HS không thực hiện tốt bài toán có lời văn :
- Nguyên nhân thứ nhất : GV chưa thực sự quan tâm chất lượng HS,
từ đó đã không phụ đạo ,söûa chữa kịp thời nội dung hay sai.
- Nguyên nhân thứ hai : Vì cho rằng SGK là pháp lệnh nên GV đã quá
bám sát nội dung sách quên đi tình hình thực tế, không chú ý đối tượng học
thuộc mức độ, trình độ nhận thức như thế nào.
- Nguyên nhân thứ ba : Quy tắc bài học được GV trang bị, áp đặt sẵn
hoặc liên hệ quá nhiều kiến thức đã học hay đơn điệu hoá phương pháp mà
không để HS tự chiếm lĩnh qua các thao tác thực hành ĐDHT cá nhân trong
quá trình tóm tắt bài toán giải có lời văn, GV hay hỏi :
“Em hãy cho biết trong bài toán này đâu là cái đã cho, đâu là cái phải tìm
?Ai biết giơ tay?. Khi đàm thoại như thế, thật không có gì có thể bảo đảm là cả
lớp đều suy nghĩ để xác định đâu là cái đã cho?Đâu là cái phải tìm ? Bởi vì
thường thường chỉ có 4,5 em thậm chí 1,2 em giơ tay xin trả lời. Do đó, ta có

thể khẳng định là trong lớp chỉ có nhiều nhất là 4,5 em suy nghĩ.
Vì thế HS hay làm sai bài toán !
GV còn sợ HS làm không được nên đã giảng giải và gợi ý gần hết, không
hề để HS tư duy :

- Nguyên nhân thứ tư : HS ít được luyện tập nhiều lần một dạng bài,
một hình thức bài do một tiết học có hạn mà phải chuyển tải nhiều kiến thức.
HS đã bị hạn chế “ quen tay “.Vì vậy, cứ hay quên kiến thức đã học nhất là giải
các bài toán có lời văn.
- Nguyên nhân thứ năm : Lỗi từ phía HS, các em không thích học
Toán, không có thói quen xung phong phát biểu , xung phong lên bảng thực
hiện bài , chỉ thụ động chờ nhìn bài của bạn hoặc có em lại quá hiếu động, hay
làm việc riêng nên không chú ý nghe hướng dẫn, sửa bài … Cũng có một số HS
tuy có cố gắng hết sức nhưng hiệu quả không cao do trí não bị khiếm khuyết.

CHƯƠNG II :

NHỮNG PHƯƠNG PHÁP TÍCH CỰC ĐỂ DẠY GIẢI TOÁN
CÓ LỜI VĂN Ở LỚP 2 .

I.Một số nội dung mà người GV cần nhớ:
Để có thể sử dụng linh hoạt các phương pháp giúp HS thực hành tốt các bài
toán có lời văn ở lớp 2, GV cần nắm vững một số nội dung quan trọng :
1/Các hình thức tóm tắt đề toán ở lớp 2 :
Có nhiều cách tóm tắt một đề toán có lời văn nhưng ở lớp 2 chỉ nên cho
HS làm quen với 2 cách tóm tắt sau :
a)Tóm tắt đề toán bằng ngôn ngữ, ký hiệu ngắn gọn nhằm viết tắt các ý
chính , chủ yếu của đề toán.
Ví dụ:
Lớp 2A có 29 học sinh, lớp 2B có 25 học sinh .Hỏi cả hai lớp có bao nhiêu

học sinh?.
Tóm tắt:
Lớp 2A : 29 HS Lớp 2A : 29HS

HS? hoặc Lớp 2B : 25HS

Lớp 2B : 25HS Cả hai lớp : ………….HS?
b)Tóm tắt đề toán bằng sơ đồ đoạn thẳng : dùng các đoạn thẳng để biểu thị
các số đã cho, các số phải tìm , các quan hệ toán học trong đề toán.
Ví dụ:
Thùng thứ nhất có 16 lít dầu, thùng thứ hai có ít hơn thùng thứ nhất 2 lít
dầu . Hỏi thùng thứ hai có bao nhiêu lít dầu ?
Tóm tắt
16l
Thùng thứ nhất: /
/ /
Thùng thứ hai: / / 2l

?l
2/ Lời giải:
Các câu lời giải trong bài giải toán nhằm giải thích ý nghĩa cho kết quả của
các phép tính giải tương ứng.
a) Lời giải dựa vào câu hỏi của bài toán. Chẳng hạn “Vừa gà vừa thỏ có 42
con , trong đó có 18 con thỏ . Hỏi có bao nhiêu con gà?”HS chỉ việc sửa lại câu
hỏi một chút là được lời giải “Số gà có là :”
b) Dựa vào nội dung bài toán ,HS đặt lời giải với nhiều câu từ linh hoạt
nhưng nội dung không thay đổi
Ví dụ: Thùng to có 45 kg đường, thùng bé có ít hơn thùng to 6 kg đường.Hỏi
thùng bé có bao nhiêu ki-lô-gam đường?
Lời giải

Thùng bé có số đường là :
Hoặc Số kg đường của thùng bé là :
Hay Số kg đường thùng bé có là :
II. Những phương pháp tích cực dạy giải toán có lời văn ở lớp 2 :
1/Phương pháp tư duy :
Mỗi đề toán giải có lời văn đều gồm có hai bộ phận : Bộ phận thứ nhất là
những điều đã cho, bộ phận thứ hai là cái phải tìm.
GV cần hướng sự tập trung suy nghĩ của HS vào những từ quan trọng của
đề toán , phân biệt rõ những gì thuộc về bản chất của đề toán . Ở các bài toán
giải lớp 2 có nội dung không phức tạp như các lớp khác nên GV cần tập cho HS
tự tìm hiểu đề toán bằng cách yêu cầu HS đọc thật kĩ đề toán ( 1,2 HS đọc to, rõ
ràng , số HS còn lại đọc thầm) để xác định đâu là những cái đã cho , đâu là cái
phải tìm rồi lấy viết chì gạch chân trong SGK.
Ví dụ:
Cửa hàng có 13 xe đạp , đã bán 6 xe đạp . Hỏi cửa hàng còn lại mấy xe
đạp?
2/ Phương pháp hỏi đáp:
Khi HS đã đọc xong và một phần nào đã xác định được những nội dung
trọng tâm của bài toán, GV đặt câu hỏi, cả lớp tham gia phát biểu : Bài toán cho
biết gì ? Bài toán yêu cầu ta tìm gì ?…Song song với việc HS trả lời là GV ghi
hoặc vẽ nhanh phần tóm tắt trên bảng. Nếu không kịp thời thì tác dụng của việc
tóm tắt không cao. Khi HS đã được hướng dẫn vài lần cách tóm tắt thì HS sẽ tự
tóm tắt vào bảng con, 1 HS lên bảng làm trên bảng , GV nhận xét, uốn nắn
nhất là số HS trung bình yếu .
Ví du 1 : Bài 4 trang 84
Anh cân nặng 50kg, em nhẹ hơn anh 16kg. Hỏi em cân nặng bao nhiêu ki-
lô-gam?
*Hướng dẫn tóm tắt bằng ngôn ngữ , ký hiệu ngắn gọn

GV đặt câu hỏi HS trả lời GV tóm tắt

Bài toán cho biết gì? Anh nặng 50 kg Anh: 50 kg
Bài còn cho biết gì nữa? Em nhẹ hơn anh 16kg Em nhẹ hơn: 16kg
Bài yêu cầu tìm gì? Em nặng bao nhiêu? Em: ….?kg
*Hướng dẫn tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng

GV đặt câu hỏi HS trả lời GV tóm tắt
Bài toán cho biết gì? Anh nặng 50 kg Anh 50 kg
Bài còn cho biết gì nữa? Em nhẹ hơn anh 16kg Em : 16kg
Bài yêu cầu tìm gì? Em nặng bao nhiêu? … ?kg
*hướng dẫn tóm tắt các bài toán có lời văn có dạng không quen thuộc không
điển hình theo phương pháp hỏi đáp:
Ví dụ 3:
Hoạt động Thời gian
Học 4 giờ
Vui chơi 60 phút
Giúp mẹ việc nhà 30 phút
Xem ti vi 45 phút
Trong các hoạt động trên , Hà dành nhiều thời gian cho các hoạt động nào?
Sau khi học sinh nhẩm,so sánh, đánh thứ tự hoạt động chiếm thời gian từ ít
đến nhiều ( giúp mẹ việc nhà,xem ti vi, vui chơi, học.)

GV đặt câu hỏi HS so sánh- trả lời GV tóm tắt
Hoạt đọng nào chiếm ít Giúp mẹ việc nhà ( 30Giúp mẹ : 30 phút
thời gian nhất? phút)
Kế đến là hoạt động
nào ?
Hoạt động xem ti vi ( 45
phút)
Xem ti vi : 45 phút
Và sau đó hoạt động nào

nhiều thời gian hơn ?
Viu chơi ( 60 phút ) Vui chơi : 60 phút (1 giờ)
Hà dành nhiều thời gian
nhất cho hoạt động nào ?
Học ( 4 giờ ) Học : 4 giờ

Tuy GV yêu cầu cả lớp đều phải làm việc cá nhân để tìm ra những ý trọng
tâm, cốt lõi của bài toán nhưng chắc chắn sẽ có những HS không tư duy, không
hoạt động , GV phải có biên pháp khắc phục ngoài việc hỏi đáp như : Kiểm tra
xác suất,kiểm tra chéo, …GV cần giúp đỡ HS yếu kịp thời, có thể thêm những
câu hỏi phụ.
3/ Phương pháp phân tích-tổng hợp:
HS cần suy nghĩ xem : “Muốn trả lời câu hỏi của bài toán thì cần phải biết
những gì, cần phải làm phép tính gì ? Trong những điều ấy cái gì đã biết, cái gì
chưa biết ? Muốn tìm cái chưa biết ấy thì lại phải biết những gì, phải làm tính gì
?…Cứ như thế ta đi dần tới những điều đã cho trong đề toán và tới đáp số của
bài toán.
Ở toán lớp 2 với mức độ đơn giản không đòi hỏi “Muốn tìm cái chưa biết
ấy thì phải biết những gì, phải làm tính gì ?”Chỉ đơn thuần là” Muốn trả lời
câu hỏi của bài toán thì cần phải biết những gì , cần phải làm phép tính
gì?”Nếu GV để cho một vài HS nhanh miệng trả lời “Thưa thầy, em làm tính
cộng ạ!” thì sẽ không thể phát huy tiếp tính tích cực của HS. Hãy để các em tự
trả lời bài làm của mình qua thực hành làm ngay sau đó.
4/ Phương pháp thực hành :
Cả lớp làm bài vào vở, 1 HS làm bảng trên lớp –GV bao quát lớp nhằm
giúp đỡ số HS yếu và chú ý HS nghiêm túc khi làm bài tránh tình trạng nhìn bài
của bạn. Riêng đối với số HS khó khăn trong học tập ,GV phải kèm cặp riêng
chỉ yêu cầu HS đạt mức độ tối thiểu là thực hiện được đúng phép tính cũng
chấp nhận được .
Chú ý số HS đã làm xong bài cần thử lại cho chắc chắn từng phép tính, thử

lại đáp số xem có phù hợp không. Cũng cần soát lại các câu lời giải xem đã đủ
ý và gọn chưa?
5/ Phương pháp khai thác bài toán , tìm lời giải hay :
Ở chương trình Toán 2 , với nội dung đơn giản ,các bài toán chỉ có 1 cách
giải duy nhất nên GV không yêu cầu HS tìm nhiều cách giải(thường dành cho
HS giỏi làm ) mà GV nên cho HS nhận xét lời giải của bạn trên bảng rồi gọi
đọc lời giải của một số em dưới lớp , GV cần khen động viên những em có lời
giải ngắn gọn , xúc tích , hay.
6/ Phương pháp trò chơi :
Nhằm củng cố kiến thức đã học , nâng cao kĩ năng giải bài toán có lời văn
bằng tính nhẩm(Những tiết luyện tập chung, ôn tập).GV có thể cho HS chơi trò
chơi ) Hái hoa dân chủ.
GV : viết sẵn một số đề toán có lời văn (đơn giaûn)cho HS lên bốc thăm bài
rồi đọc lên và giải miệng. Cả lớp nhận xét –Tuyên dương.
7/ Phương pháp luyện tập:
“Trăm hay không bằng tay quen”, GV cần xem Vở bài tập in sẵn là
phương tiện thuận lợi và hữu hiệu nhất để HS được luyện tập ở nhà. Đây là thời
gian làm bài có hiệu quả cho những HS nhút nhát, hay bị mất tâm thế khi học ở
lớp.
Nhưng để đạt hiệu suất cao, GV phải có kế hoạch kiểm tra chặt chẽ nhằm
chấn chỉnh kịp thời về nội dung cũng như hình thức bài làm và chú ý cả tác
phong học tập ở nhà nữa.
8/ Phương pháp tự bồi dưỡng :
Giáo viên hệ thống, ghi lại đủ các hình thức bài toán có lời văn ở lớp 2 và
ghi lại những khó khăn học sinh hay mắc phải vào sổ tay .Ở mỗi sai sót của HS,
GV ghi lại các giải pháp tương ứng.
Ví dụ cách ghi chép :

STT Hình thức đề toán Mẫu HS sai sót Khắc phục
01 Bài toán bằng lời

bình thường
Anh có có
bao nhiêu tiền?
Lời giải:Số tiền
-Số anh….
Yêu cầu HS
đọc kỹ đề ….
02 Đề toán tóm tắt yêu
cầu lập đề và giải
Anh:15 tuổi
Em:10 tuổi
Hai anh em…?
tuổi
Đặt câu không trôi
chảy
Luyện đặt câu
….
….
Còn rất nhiều phương pháp phát huy tính tích cực của HS trong việc rèn
giải toán có lời văn ở lớp 2. Ở phạm vi bài viết này, tôi chỉ xin bàn đến một số
phương pháp như trên.
CHƯƠNG III :

NHỮNG BIỆN PHÁP SƯ PHẠM CẦN THỰC HIỆN ĐỂ RÈN KĨ NĂNG
GIẢI BÀI TOÁN CÓ LỜI VĂN Ở LỚP 2 .

* Biện pháp thứ nhất :
Nếu cả lớp có trình độ nhận thức không được nhạy bén ( lớp trung bình yếu
) GV nên chuẩn bị kế hoạch bài học theo hướng hoạt động tích cực ). Đó là
phải soạn bài theo hướng tổ chức cho các em vừa quan sát, vừa thực hành bằng

đồ vật cụ thể như mô hình , que tính,tóm tắt bài toán…giống như các tiết 14 ,
15,16…( Phép cộng có nhớ trong phạm vi 100 ).Và như vậy,GV cũng cần dặn
dò kỹ lưỡng HS nhớ đem đầy đủ đồ dùng học tập theo yêu cầu .
Ví dụ 1 : Bao gạo to cân nặng 25kg, bao gạo bé cân nặng 10kg. Hỏi cả hai
cân nặng bao nhiêu ki-lô-gam.
-HS nêu miệng – GV ghi bài giải :
Bài giải
Cả hai bao gạo cân nặng là:
25+10=35(kg)
Đáp số:35(kg)
Cho HS phân tích, tóm tắt để nhận ra cả hai bao gạo cân nặng tất cả số ki-
lô-gam.
Thay vì cho HS tóm tắt đề bài thì GV có thể làm như sau : GV yêu cầu HS
cầm 25 que tính trên tay phải, tay trái cầm 10 que và cho biết : Trên cả hai tay
thầy có tất cả bao nhiêu que ? HS nhẩm đếm và nêu : 35 que.
-GV : Em tính thế nào ? HS :25 que cộng thêm 10 que thì được 35 que .
-HS cất que tính .
-GV giảng lại để HS nắm kĩ đề bài hơn.
Với cách dẫn dắt như vậy sẽ không quá thấp đối với HS khá giỏi mà
lại vừa sức với đối tượng trung bình yếu vừa đỡmất thời gian, d nh thà ời
gian cho luyện tập.
-Nếu cả lớp đều có trình độ học tốt ngang nhau, chỉ có một vài HS nhận
thức chậm thì GV chuẩn bị kế hoạch bài học dựa theo các bước hướng dẫn
trong SGV để dạy cả lớp và sau đó đến phần luyện tập, GV sẽ tranh thủ
hướng dẫn số HS còn chưa hiểu bài bằng cách trên ( cho HS thao tác trên mô
hình hoặc que tính ).
* Biện pháp thứ hai: Thường xuyên tổ chức các trò chơi học tập ở phần củng
cố trong tiết dạy Toán hoặc ở những buổi phụ đạo cho đối tượng trung bình yếu
:
a) Trò chơi “ Tiếp sức”

-Chia 2 nhóm , mỗi nhóm 5 em.
-Nêu luật chơi:
+ GV đọc đề .
+ Em thứ nhất của mỗi nhóm ghi lại đề .
+ Em thứ hai ghi tóm tắt.
+ Em thứ ba ghi lời giải.
+ Em thứ tư lập phép tính.
+ Em thứ năm tính ra kết quả.
Nhóm nào xong trước, nhóm đó thắng.
Ví dụ:
GV đọc : Em thứ nhất ghi : Lớp 2A có 29 học sinh, lớp 2B có 25 học sinh .Hỏi
cả hai lớp có bao nhiêu học sinh?
Em thứ hai ghi tóm tắt.
Tóm tắt:
Lớp 2A : 29HS
Lớp 2B : 25HS
Cả hai lớp : ………….HS?
+ Em thứ ba ghi lời giải.Cả hai lớp có số học sinh là.
+ Em thứ tư lập phép tính. 29+25
+ Em thứ năm tính ra kết quả. 54
Trò chơi được làm nhiều lượt , cần để HS trung bình yếu và số HS nhút nhát
tham gia đầy đủ.
Tác dụng của trò chơi :
+Cả lớp sẽ chú ý các bạn đang thi đua nhau làmbài trên bảng ( kể cả số HS
cá biệt), các em cảm thấy hứng thú và sẽ tham gia giải bài tích cực.Từ đó , các
em sẽ hiểu bài và nhớ bài học hơn .
+Tập cho các em có thao tác nhanh , chính xác.
+ Thể hiện tính đồng bộ , đoàn kết .
b) Trò chơi” Đố bạn” hoặc”Đố vui để học “.
- Chia 2 dãy bàn HS thành 2 nhóm .

- Luật chơi :
+ 1 em bất kỳ trongdãy bàn phía trái đặt câu hỏi( có nội dung “Tìm thành
phần chưa biết”).
+ 1 em bất kỳ trong dãy bàn phía phải tính nhẩm trả lời. Nếu trả lời đúng
,tuyên dương, có quyền đặt câu hỏi ngược lại.
Ví dụ :
+ Dãy thứ nhất hỏi : Có 23 cái kẹo bớt đi 7 cái vậy còn lại bao nhiêu cái
kẹo?
+ Dãy thứ hai trả lời : Còn lại 16 cài kẹo.
- Trò chơi được tiến hành nhiều lượt , không hạn chế mức độ và phép tính .
- Thỉnh thoảng GV nên gợi ý nhóm trả lời 1 số câu hỏi phụ để củng cố mối
tương quan giữa các phép tính.
Tác dụng :
+ Tập vận dụng nhanh trí não để tiếp thu lời nói và hiểu ,ứng xử chính xác.
+ Vui mà học sẽ nhớ lâu.
Tóm lại ,“ Chơi mà học – Học mà chơi”, HS hứng thú , tư duy được kích
thích hoạt động,từ đó kiến thức khắc sâu hình thành kỹ năng “Tìm thành phần
chưa biết trong các phép tính” .
* Biện pháp thứ ba : Cần cho HS được luyện tập nhiều lần dạng hình thức bài
tập để rèn chắc kỹ năng.
Muốn vậy, sau khi làm hết số bài tập trong SGK ở lớp, cần dặn dò HS làm
thêm một số bài tập tương ứng trong cuốn vở bài tậpToán . Chính việc làm bài
tập ở nhà đã giúp cho các em nhút nhát , chậm chạp nắm vững bài học và làm
chính xác hơn ở lớp.
Ví dụ :
Bài “ Bảng chia 4“ ( SGK trang 118)
- Ở SGK có 3 bài luyện tập:bài tính nhẩm, 2 toán giải-HS đã làm ở lớp.
* Biện pháp thứ tư : Giáo viên hệ thống, ghi lại đủ các hình thức bài tập”Giải
bài toán có lời văn” ở lớp 2 và ghi lại những khó khăn học sinh hay mắc phải
vào sổ tay .Ở mỗi sai sót của HS, GV ghi lại các giải pháp tương ứng.

- Giáo viên dạy theo phân phối chương trình của Bộ quy định về môn
Toán. Ngoài ra, tham khảo các sách mới về kĩ năng học toán, để mở rộng và
nâng cao kiến thức cho học sinh.
- Học sinh nắm vững kiến thức cơ bản vững vàng và được giải thêm toán
nâng cao nên các em rất thích học toán.

PHẦN III: KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
1.Kết quả.
+ Trước khi thực hiện biện pháp này :
Tổng số học sinh : 29 em
Trong đó:
Giỏi : 5 em . Tỉ lệ : 17,24 %.
Khá : 7 em. Tỉ lệ : 24,13%.
Trung bình: 14em. Tỉ lệ :48,27%.
Yếu: 4 em Tỉ lệ : 13,79%.
+ Sau khi thực hiện biện pháp này :
Tổng số học sinh : 29 em
Trong đó
Giỏi : 10 em Tỉ lệ : 34,48 %
Khá : 11 em. Tỉ lệ : 37,93%.
Trung bình : 7 em. Tỉ lệ : 24,13%.
Yếu : 1 em Tỉ lệ : 3,44%
Sau khi thực hiện biện pháp này học sinh đã có tiến bộ rõ rệt về môn
Toán Và hơn nữa cac em luôn hào hướng học môn toàn hơn trước đó .
2. Rút ra bài học kinh nghiệm.
Muốn dạy tốt môn toán ở lớp 2 thì :
- Giáo viên cần soạn bài kỹ, soạn trước một tuần.
- Học sinh có sự chuẩn bị trước bài ở nhà thật chu đáo.
- Giáo viên cần dạy đủ, đúng nội dung tiết chính khoá và ngoại khoá.
- Luôn động viên, khuyến khích học sinh có phương pháp giải toán tối ưu.

- Giáo viên thường xuyên nâng cao trình độ chuyên môn để có khả năng
giảng dạy tốt, tìm tòi, mở rộng từ các bài tập có sẵn trong sách giáo khoa và vở
bài tập Toán lớp 2.Bên cạnh đó giáo viên cần nâng cao kiến thức cho các em
bằng những bài toán nâng cao và khắc sâu kiến thức.
- Luôn đổi mới trong phương pháp dạy học để cuốn hút học sinh say mê
học Toán.
- Chấm chữa bài kỹ, thường xuyên.
- Đánh giá, kiểm tra, động viên học sinh kịp thời.
3. Kết luận chung:
Trong giai đoạn đổi mới giáo dục như hiện nay, nhiệm vụ của người giáo
viên ngày càng nặng nề. Nếu giáo viên không tự mình học hỏi nâng cao tay
nghề, tiếp thu có hiệu quả những đổi mới phương pháp mà chỉ dạy chay, dạy
đơn điệu sẽ đẩy lùi sự phát triển giáo dục.
Trong công cuộc đổi mới nội dung và phương pháp dạy học, giáo viên là
người trực tiếp giảng dạy nên không còn cách nào khác là phải chuẩn bị tốt bài
dạy của mình. Đặc biệt là khâu thiết kế bài dạy. Để thiết kế bài dạy đạt hiệu quả
cao, cần thực hiện tốt những vấn đề sau :
+ Nghiên cứu kĩ nội dung chương trình môn học nhất là mảng số học và
các phép tính để thấy được hệ thống logic được cấu trúc chặt chẽ từng chương
,từng bài.
+ Nghiên cứu các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học.
+ Tìm hiểu về đặc điểm tâm sinh lý học sinh.
+ Thu thập kiến thức ở nhiều tài liệu để có phương án dạy học hiệu quả .
+ Tham gia các hội thi , chuyên đề thao giảng .
Trên đây là một số phương pháp dạy học tích cực giải toán có lời văn lớp
2. Để thực hiện tốt và đạt hiệu quả giúp học sinh một số phương pháp dạy học
tích cực giải toán có lời văn lớp 2. Trong quá trình viết không tránh khỏi phần
thiếu sót tôi rất mong sự đóng góp ý kiến nhiệt tình của các cấp lãnh đạo và các
bạn đồng nghiệp, để sáng kiến được hoàn thiện hơn .
Xin chân thành cảm ơn!

Năm Căn, ngày … tháng năm 2010
Người viết




Vũ Thị Nhung
<<= | <= |

×