Tải bản đầy đủ (.doc) (7 trang)

SKKN KINH VỀ BIỆN PHÁP GIÚP SINH HỌC TỐT PHÂN MÔN CHÍNH Ở 3

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (164.22 KB, 7 trang )

KINH NHIỆM VỀ BIEÄN PHAÙP GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT
PHÂN MOÂN CHÍNH TẢÛ Ở LỚP 3
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Chữ viết hiện nay của người Việt là chữ viết ghi lại theo phát âm. Do đó việc
viết đúng phải dựa trên đọc đúng, đọc đúng là cơ sử viết đúng. Tuy nhiên do
yếu tố vùng miền, cách phát âm mỗi nơi có khác nhau. Mặc dù những qui
tắc, qui ước về Chính tả đã được thống nhất theo ngữ pháp chung. Nhưng
việc “viết đúng Chính tả” trong học sinh hiện nay nói chung vẫn còn nhiều
khó khăn, tồn tại.
Trong khi trong thực tế lớp tôi , hiện tượng không đồng nhất trong phát
âm là khá phổ biến. Do tình hình kinh tế xã hội chung, hầu như bất kỳ địa
phương nào trong cả nước cũng có sự pha trộn, giao thoa của nhiều vùng
miền. Từ giáo viên đến học sinh, “Cô Bắc- trò Nam; Cô Trung - trò Bắc ”.
“Nghe và hiểu” được tiếng nói của nhau quả là không đơn giản. Trong khi
“chuẩn chính tả” của Ngữ pháp Việt Nam căn cứ vào phát âm của khu vực
Hà Nội thì với các vùng miền khác .Vì vậy phát âm chuẩn không hề đơn
giản. Một số ví dụ tiêu biểu như: Phát âm của một số vùng Bắc Bộ (Hưng
Yên) thì “nói và làm” thành ra “lói và nàm”, khu vực Trung Bộ (khu vực
Bình Trị Thiên, Nghệ Tỉnh) hầu như không phân biệt nỗi các dấu thanh “sắc-
nặng-hỏi - ngã” như “nói” lại thành “nọi”. Đặc biệt vùng Đồng bằng Nam
bộ còn có phát âm như ngọng “Con cá rô bỏ vô rổ giãy rột rột” thành “ Con
cá gô bỏ vô gổ dảy gột gột” “đàng hoàng” thành “đàng quàng” Nhưng
“vùng nào hiểu theo vùng nấy” nên thật ra trong từng địa phương có kiểu
phát âm như vậy đã thành “quen tai” nên không có gì đáng nói. Có điều là
hiện nay, sự sống chung pha trộn trong các vùng cả nước hiện nay là phổ
biến nên khó khăn trong việc “nghe và viết” sao cho đúng là một vấn đề lớn
đối với Chính tả là rất rõ nét.
Chính vì vậy, học sinh hiện nay mắc lỗi chính tả rất nhiều. Điều này
ảnh hưởng tới kết quả học tập của các em ở môn Tiếng Việt nói chung
cũng như các môn học khác. Vì vậy, trong quá trình giảng dạy thực tế tôi
đã tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra một số biện pháp khắc phục để giúp


học sinh học tốt phân môn chính tả , một trong những biện pháp tích cực
giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt và các môn học khác trong chương
trình. Bởi trên thực tế, nếu người nói “không chuẩn phát âm” không thể
làm người nghe hiểu mình muốn gì thì “viết không đúng” cũng không thể
diễn đạt được ý tưởng của mình cho người khác hiểu. Đặc biệt là trong
chương trình phổ thông, môn Tiếng Việt lại là môn “chủ lực và trung tâm”
để có thể khai thác các môn học khác một cách tốt nhất.
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
1. Một số tồn tại trong thực tế:
Qua quá trình giảng dạy và theo dõi chất lượng bộ môn, tôi thấy học
sinh thường mắc phải các loại lỗi sau:
a. Lỗi về dấu thanh:
Tiếng Việt có 6 thanh (ngang, huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng) thì nhiều
học sinh không phân biệt được 2 thanh hỏi, ngã.Số lượng tiếng mang 2
thanh này không ít và rất phổ biến - kể cả những người có trình độ văn hoá
cao.
Ví dụ: Sữa xe đạp, hướng dẩn, giử gìn, dổ dành, lẩn lộn,…
b. Lỗi phụ âm đầu:
- Học sinh viết lẫn lộn một số chữ cái ghi các âm đầu sau đây:
+ c/k: Céo co… +ng/qu: ông quại (ngoại), bên quài(ngoài)
+ g/gh: Con ghà , gê gớm… +h/qu: quảng hốt (hoảng hốt), phá quại (phá
hoại)
+ ng/ngh: Ngỉ ngơi, nge nhạc, nghành nghề…
+ ch/tr: Cây che, chiến chanh…
+ s/x: Cây xả , xa mạc…
c.Lỗi âm cuối, vần:
- Học sinh thường viết lẫn lộn chữ ghi âm cuối trong các vần sau đây:
+ at/ac- ăt/ăc - ât/âc: mác mẻ, lường gạc, gặc lúa, nổi bậc, lấc phấc…
+ an/ang- ân/âng: cây bàn, bàng bạc, khoai lan, hụt hẫn, tần lầu
+âu/ôi : ông Nậu (nội), cái gấu (gối)

+ ên/ênh: bấp bên, nhẹ tên, ghập ghền, khấp khển…
+ư/ươi: con ngừ , hai mư
2. Nguyên nhân chủ yếu:
a/ Lỗi về dấu thanh:
Thực tế qua ngôn ngữ nói, Nghệ An trở vào không phát âm phân biệt
được những thanh hỏi, ngã. Nói cách khác trong phương ngữ khu vực
miền Trung và miền Nam không có thanh ngã. Trong khi số lượng từ
mang 2 thanh này khá lớn. Do đó đây là lỗi rất phổ biến trong học sinh.
b/ Lỗi khi viết âm đầu:
Trong phương ngữ Bắc và Nam có sự lẫn lộn giữa các chữ ghi âm
đầu
ch /tr ,d/gi , s/x . Mặt khác, trong khi một số vùng miền Bắc thường
lẫn lộn các âm đầu l/n thì người Miền Nam thường lẫn lộnv/d,
r/g. Ngoài ra, trong quy ước về chữ quốc ngữ, một âm ghi bằng 2 hoặc 3
dạng (ví dụ: âm “cờ” ghi bằng 3 chữ cái
c/k,/qu , âm “ngờ” ghi bằng ng/ngh, âm “gờ” ghi bằng g/gh…) dù có
những quy định riêng cho mỗi dạng khi ghép chữ, nhưng đối với học sinh
tiểu học thì rất dễ lẫn lộn.
c/. Lỗi khi viết âm cuối:
Đối với người Miền Nam, có thể nói việc phát âm hoàn toàn không
phân biệt các vần có âm cuối n/ng và t/c. Mà số từ mang các vần này
không nhỏ. Mặt khác hai bán âm cuối i/u lại được ghi bằng 4 con
chữ i/y (trong: lai/lây), u/o (trong: sau/sao), ư/ươi (trong : tư/tươi) do đó
lỗi về âm cuối là lỗi khó khắc phục đối với học sinh các tỉnh phía Nam nói
chung và tại địa phương nói riêng
3.Một số biện pháp khắc phục lỗi:
a. Tích cực luyện phát âm đúng:
Muốn học sinh viết đúng chính tả, giáo viên phải là người phát âm rõ
tiếng, đúng chuẩn, Việc rèn phát âm bắt đầu phải được thực hiện
trong tiết Tập đọc và được thực hiện thường xuyên, liên tục, lâu dài trong

tất cả các tiết học như Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn…
b Phân biệt chính tả bằng phân tích, so sánh:
Song song với việc phát âm, giáo viên có thể áp dụng biện pháp phân
tích cấu tạo tiếng, so sánh với những tiếng dễ lẫn lộn, phát hiện những
điểm khác nhau để học sinh lưu ý và ghi nhớ.
Ví dụ: Khi viết tiếng “đàng” học sinh dễ lẫn lộn với tiếng “đàn”,
giáo viên yêu cầu học sinh phân tích cấu tạo hai tiếng này:
- đàng = đ + ang + thanh huyền
- đàn = đ + an
+
thanh huyền
- So sánh để thấy sự khác nhau: Tiếng “đàng” có âm cuối là “ng”,
tiếng “đàn ” có âm cuối là “n”. Học sinh ghi nhớ điều này, khi viết, các
em sẽ không viết sai.
c.Phân biệt bằng nghĩa từ:
Một biện pháp khác để khắc phục lỗi chính tả cho học sinh là giúp
học sinh hiểu nghĩa chính xác của từ. Việc giải nghĩa từ thường được thực
hiện trong tiết Tập đọc, Luyện từ và câu…nhưng trong tiết Chính tả cũng
là một biện pháp tích cực, khi học sinh không thể phân biệt từ khó dựa vào
phát âm hoặc phân tích cấu tạo tiếng.
Ví dụ: Phân biệt bàn và bàng (trong từ đơn): Bàn= cái bàn –
bàng =cây bàng hoặc phân biệt Bác và bát :bác=anh của ba, Bác Hồ -
bát = đồ dùng ăn cơm (bát đũa)
Với những từ nhiều tiếng, từ nhiều nghĩa giáo viên phải đặt từ đó
trong văn cảnh cụ thể để gợi lại nghĩa từ hoặc giúp học sinh giải nghĩa từ.
d. Ghi nhớ một số mẹo luật chính tả:
Một số hiện tượng chính tả mang tính quy luật đối với hàng loạt từ
có thể giúp cho học sinh khắc phục lỗi chính tả một cách rất hữu hiệu.
Ngay từ lớp 1, các em đã được làm quen với luật chính tả đơn giản
như: các âm đầu k, gh, ngh chỉ kết hợp với các nguyên âm i, e, ê, iê, ie.

Luật bổng - trầm: Qui luật về dấu hỏi, ngã trong các từ láy (mát mẻ,
vui vẻ sạch sẽ ) Trong các từ láy điệp âm đầu, thanh (hay dấu) của 2 yếu
tố ở cùng một hệ bổng (ngang/sắc/hỏi) hoặc trầm (huyền/ngã/nặng). Để
nhớ được 2 nhóm này, giáo viên chỉ cần dạy cho học sinh thuộc nguyên
tắc : Ngang- sắc = hỏi/ Huyền- nặng = ngã
Nghĩa là đa số các từ láy âm đầu, nếu yếu tố đứng trước mang thanh
huyền, nặng, ngã thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh ngã, nếu yếu tố đứng
trước mang thanh ngang, sắc, hỏi thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh hỏi
(hoặc ngược lại).
Ví dụ:
• Ngang + hỏi: Nhỏ nhoi, trẻ trung, vui vẻ , …
• Sắc + hỏi: Mát mẻ, sắc sảo, vắng vẻ ,…
• Hỏi + hỏi: Thỏ thẻ, hổn hển, rủ rỉ, rỉ rả …
• Huyền + ngã: Mỡ màng, lững lờ, vồn vã …
• Nặng + ngã: Đẹp đẽ, mạnh mẽ, vật vã…
• Ngã + ngã: Dễ dãi, nghễnh ngãng, nhõng nhẽo, …
Ngoài ra, giáo viên có thể cung cấp thêm cho học sinh một số mẹo
luật khác như:+ Để phân biệt âm đầu tr/ch: Đa số các từ chỉ đồ vật trong
nhà và tên con vật đều bắt đầu bằng ch, ví dụ: chăn, chiếu, chảo, chổi,
chai, chày, chén, chum, chạn, chõ, chĩnh, chuông, chiêng, choé,… chồn,
chí, chuột, chó, chuồn chuồn, châu chấu, chào mào, chiền chiện, chẫu
chàng, chèo bẻo, chìa vôi…
+ Để phân biệt âm đầu s/x: Đa số các từ chỉ tên cây và tên con vật
đều bắt đầu bằng s: Sả, si, sồi, sứ, sung, sắn, sim, sao, su su, sầu đâu, sa
nhân, sơn trà, sặt, sậy, sấu, sến, săng lẻ, sầu riêng, so đũa… sam, sán,
sáo, sâu, sên, sếu, sò, sóc, sói, sứa, sáo sậu, săn sắt, sư tử, sơn dương, san
hô…
+ Để phân biệt các vần dễ lẫn lộn:
Đa số từ chỉ trạng thái bấp bênh, không vững chắc có vần ênh: Gập
ghềnh, khấp khểnh, chông chênh, lênh đênh, bập bềnh, chếnh choáng,

chệnh choạng, lênh khênh, bấp bênh, công kênh…
Hầu hết các từ tận cùng là ng hoặc nh là từ tượng thanh: oang oang,
đùng đoàng, loảng xoảng, đoàng đoàng, sang sảng, rổn rảng, ùng oàng,
quang quác, pằng pằng, eng éc, beng beng, chập cheng, leng keng, lẻng
kẻng, đùng đùng, thùng thùng, bình bịch, thình thịch, rập rình, xập xình,
huỳnh huỵch…
Vần uyu chỉ xuất hiện trong các từ tượng hình: khuỷu tay, khúc
khuỷu, ngã khuỵu, khuỵu chân; vần oeo chỉ xuất hiện trong các từ ngoằn
ngoèo, khoèo chân
e. Vận dụng củng cố bằng các bài tập chính tả:
Giáo viên nên cho học sinh thực hiện các dạng bài tập chính tả khác
nhau để giúp học sinh tập vận dụng các kiến thức đã học, làm quen với
việc sử dụng từ trong văn cảnh cụ thể. Sau mỗi bài tập, giáo viên giúp học
sinh rút ra các quy tắc chính tả để các em ghi nhớ.

Ngoài ra, việc kiểm tra “viết đúng chính tả” của giáo viên đối với học
sinh không chỉ ở môn Chính tả mà cũng cần lưu ý nhắc nhở học sinh
trong tất cả các môn học khác trong chương trình, đặc biệt là môn Tập
làm văn. Việc này phải được tiến hành kiên trì và liên tục để giúp học sinh
dần có ý thức rèn kỹ năng “viết đúng” trong mọi tình huống.
Phỏt hin li chớnh t, a ra cỏc bin phỏp khc phc kp thi l rt
cn thit, khụng th thiu trong quỏ trỡnh dy - hc. Nhng khụng phi ch
a ra cỏc bin phỏp khc phc l cú th thc hin mt cỏch cú hiu qu.
Sa cha, khc phc li chớnh t l c mt quỏ trỡnh lõu di, ũi hi ngi
giỏo viờn phi kiờn trỡ, bn b Giỏo viờn nờn hng dn cỏc em tht t m
v cỏc quy tc chớnh t, quy tc kt hp t, quy tc ghi õm ch quc ng
Trong quỏ trỡnh ging dy, giỏo viờn luụn quan sỏt, kim tra, t ú phỏt
hin ra nhng khú khn, vng mc, hoc nhng li m hc sinh hay mc
phi kp thi sa cha, un nn.
Giỏo viờn cn phi khụng ngng hc hi, t tỡm hiu, nghiờn cu

nõng cao trỡnh , chuyờn mụn nghip v. Cú nm chc kin thc, giỏo
viờn mi cú th giỳp hc sinh hc tp mt cỏch cú hiu qu.
III. KET QUA ệNG DUẽNG PHO BIEN :
Trong quỏ trỡnh ging dy, vi vic ỏp dng cỏc bin phỏp trờn tụi
nhn thy hc sinh ó cú tin b khỏ rừ rt. Tuy rng õy mi ch l kt
qu ht sc khiờm tn v vic giỳp hc sinh hc tt mụn chớnh t l mt
quỏ trỡnh lõu di song vi nhng kt qu bc u nh trờn, nu tip tc
rốn luyn sang lp trờn cỏc em s cú k nng vit ỳng t yờu cu. C th
qua bng so sỏnh cht lng sau ca lp:
nm hc 2009-2010, tng s hc sinh lp tụi ph trỏch l 29 em; kt
qu kim tra c qua cỏc kỡ kim tra nh kỡ l :



im

Ln KT
im 9,10 im 7,8 im 5,6
im di TB
S lng T l % S lng T l % S lng T l %
Gia kỡ I 3 10,34 6 20,68 16 55,17 4 - 13,79 %
Cui kỡ I 6 20,68 10 34.48 11 37.93 2- 6,89 %
Gia kỡ II 8 27.58 12 41,37 9 31,03
Cui kỡ II 9 32,03 11 37,93 9 31,03
Mt s hc sinh yu kộm vo u nm hc nh: Bựi Minh Lý , Lõm Th
Nh Hunh, Trn Quc Cng, Nguyn Tuyt Trinh thng sai t 8 n 10
li tr lờn trong 1 bi n cui HKII s li ó gim xung cũn 2- 4 li/mi
bi.
IV. KT LUN:
Trên đây là một số kinh nghiệm mà tôi đã nghiên cứu và vận dụng

trong quá trình giảng dạy thực tế của lớp mình. Tuy kết quả bước đầu
chưa cao lắm, nhưng với nhiệt tình và nổ lực theo khả năng, tôi cũng đã
tích lũy được một số bài học thực tiễn. Rất mong được nhận ý kiến đóng
góp của Ban giám hiệu cùng các bạn đồng nghiệp, để việc giảng dạy bộ
môn Chính tả trong nhà trường ngày càng nâng cao chất lượng, giúp học
sinh học tốt hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Năm Căn ngày 22 tháng 9 năm
2010


Nguyễn Thị Phương

×