Tải bản đầy đủ (.doc) (42 trang)

thực trạng xuất khẩu gạo của các doanh nghiệp việt nam sang các thị trường quốc tế

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (649.12 KB, 42 trang )

MỤC LỤC


 !"#$%&'
()*+,-)$%"./&'#*"#""&"0(1)23
4%&' 56,7)"."89 !"#*%,:;<",-) !"#&"0 ="#989
/5:"#>1"?, '@""&"0/*A"(1,2B*!"#$%&' AC"#"./"#1
,9,D"9,",E"./&',F"#"5,:GB,/*A"E"#892!2H,
>I)"*J"#"%,-),D"G,5:"#29"5K, L9 )"#M,1",,;1"//
?, '@,,"#9"&"0N5K"#$%&'O&@0"&D,&M,5"P"2B*!"#$%
&' A#<@0,Q"#C"1,892OC"#"./O"#1, %"5K,3
R"#S"=",-@0,"./&'/H,H,Q"#"#1/ %"5K,3
4%&'# T"#)*+,@A"UV,,:,%&"0?, '@G<"$%/*A"W
34%&',T, !"#X,,M,K#<@0,Q"#C"1,892O,<1" YG="#"P"
UP"W
3,"P"=<"5B"# 0"$%&'Z
3P"=,D"G,[2QZ
3P"=V*5Y"#Z
33P"=,:GB%,%\&].9,Q"#"#1,-)G<"$%9>IHG<"/'2^
R_R`ab4cRdbae^
fghiegbj(jRg^
Rk"#)",,i)""#1/$%&'#,-)(1)2^
Rl"l"$%&'#,-)(1)2#) "mm^nmmo
4%&'#,-)"5K,)*"#9"C2*B8 P@ L,T"p"#;5K,/*A" "#&A&2
"#,,F"#"5V*5Y"#$%&'RN1/!85:"#M,(1)2O&A7&;q E$%
&'7"C2oro 0"")@O(1)2 L$%&'&<"#sm*1%"#*)*5Y"#=,0O
2)"#&2"#,&<"#mt Q8)O*"# TZ"C2)mm^nmm(1)2$%&' 56,
*I"^Os*1%"#O2)"#8:"mOZtiiM&0"*I"#"C2")@,<"5K,$%&'
&<"#s*1%"#o
<"856"#o
(&2"#,9#,<m


3RV*5Y"#$%&'
3RM,*"#$%&',-)2!G=i)"#1/ A"l"W
3<"/'2Z
3b,<s
33P"/=
Đề án môn học quản trị kinh doanh tổng hợp-GVHD: PGS-TS TRẦN VIỆT LÂM
3W4?,>0"9u*6&"U)"Z
Wv"# !"#$%&'#B(1)2^
3wRxybz{vd|aeaRvwb4cRdbaefghieg
bj(jRgr
3(/D),D"/-r
3,#<//9"1"1="#k,},$%&'r
3,#<//8.//O,D"G,r
33,#<// E53m
3W,#<//V*5Y"#3
3(/D)U)""#1/3W
3P"#,),%856"#G<"/'291<$%&'3W
3P"#,)#$%&'3Z
33B*!"#/P"/=V*5Y"#3^
3Wv'@2" !"#$?,>0"$%&'9u*6&"U)"3o
3Zh/UH"#,,>0";!,Q"#"#1O&].W
3^P"#,)*l" !"#S""P"8M,W
yRW
PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Khái quát về hoạt động xuất khẩu.
Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa
vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ việt nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy
định của pháp luật. Cơ sở của xuất khẩu là hoạt động mua bán, trao đổi hàng hoá. Mục đích
của hoạt động xuất khẩu là khai thác lợi thế của từng vùng, từng quốc gia trong phân phối lao
động quốc tế.

Các loại hình xuất khẩu chính:
• Xuất khẩu trực tiếp: các nhà sản xuất giao hàng trực tiếp cho người tiêu dùng
nước ngoài. Phần lớn hàng hoá ở thị trường thế giới qua xuất khẩu trực tiếp (trên 2/3 kim
ngạch).
• Xuất khẩu gián tiếp là xuất khẩu qua khâu trung gian.
• Tạm xuất, tái nhập như hàng đưa đi triển lãm, đưa đi sữa chữa (máy bay, tàu
thuỷ) rồi lại mang về.
• Tạm xuất, tái nhập như hàng đưa đi triển lãm, hội chợ, quảng cáo sau đó đưa
về.

Đề án môn học quản trị kinh doanh tổng hợp-GVHD: PGS-TS TRẦN VIỆT LÂM
• Chuyển khẩu: mua hàng của nước này bán cho nước khác, không làm thủ tục
xuất nhập khẩu.
• Dịch vụ xuất khẩu.
Xuất khẩu được thừa nhận là hoạt động rất cơ bản của hoạt động kinh tế đối ngoại và
là phương tiện thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Việc mở rộng xuất khẩu để tăng thu nhập
ngoại tệ cho tài chính và cho nhu cầu nhập khẩu cũng như tạo cơ sở cho phát triển hạ tầng là
một mục tiêu quan trọng nhất của chính sách thương mại. Nhà nước đã và đang thực hiện các
biện pháp thúc đẩy các ngành kinh tế theo hướng xuất khẩu, khuyến khích khu vực tư nhân
mở rộng xuất khẩu để giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập, ngoại tệ cho đất nước.
Đối với Việt Nam, một quốc gia đang có sự chuyển dịch sang nền kinh tế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước thì hoạt động xuất khẩu được đặt ra cấp thiết và có ý nghĩa quan
trọng trong việc thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế xã hội. Việt Nam là nước nhiệt đới gió mùa,
đông dân, lao động dồi dào, đất đai màu mỡ Bởi vậy, nếu Việt Nam tận dụng tốt các lợi thế
này để sản xuất hàng xuất khẩu là hướng đi đúng đắn, phù hợp với quy luật thương mại quốc
tế.
1.2. Vai trò của xuất nhập khẩu gạo trong nền kinh tế Việt
Nam.
Xuất khẩu được thừa nhận là hoạt động rất cơ bản của hoạt động kinh tế đối ngoại và là
phương tiện thúc đẩy nền kinh tế phát triển.Việc mở rộng xuất khẩu để tăng thu

nhập ngoại tệ cho tài chính và cho nhu cầu nhập khẩu cũng như tạo cơ sở cho phát
triển hạ tầng là một mục tiêu quan trọng nhất của chính sách thương mại. Nhà
nước đã và đang thực hiện các biện pháp thúc đẩy các ngành kinh tế theo hướng
xuất khẩu, khuyến khích khu vực tư nhân mở rộng xuất khẩu để giải quyết công
ăn việc làm, tăng thu nhập, ngoại tệ cho đất nước.
1.2.1. Tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp hoá đất nước.
Quá trình công nghiệp hoá cần một lượng vốn lớn để nhập khẩu máy móc, thiết bị kĩ
thuật công nghệ cao để có thể theo kịp nền công nghiệp hiện đại của các nước phát triển.
Nguồn vốn cho nhập khẩu được hình thành từ rất nhiều nguồn vốn khác nhau:
- Đầu tư nước ngoài
- Vay nợ, viện trợ
- Thu từ hoạt động du lịch
- Xuất khẩu…
3
Đề án môn học quản trị kinh doanh tổng hợp-GVHD: PGS-TS TRẦN VIỆT LÂM
Các nguồn vốn khác quan trọng nhưng rồi cũng phải trả bằng cách này hay cách khác
ở thời kỳ sau. Nguồn vốn quan trọng nhất vẫn là xuất khẩu, xuất khẩu quyết định quy mô và
tốc độ tăng của nhập khẩu.
Hiện nay các nước xuất khẩu gạo với khối lượng lớn chủ yếu là các nước đang phát
triển: Thái Lan, Việt Nam, Trung Quốc, Pakistan…Chính vì thế nguồn ngoại tệ thu về từ
xuất khẩu gạo đối các nước này là rất quan trọng.
1.2.2. Xuất khẩu gạo đóng vai trò chuyển dịch cơ cấu kinh tế thúc đẩy sản xuất phát triển.
Ngày nay với xu thế hội nhập, cơ hội và thách thức rất nhiều, các nước đều phải phát
triển kinh tế theo hướng xuất khẩu những sản phẩm mà mình có lợi thế và nhập khẩu những
sản phẩm không có lợi thế hoặc lợi thế so với các sản phẩm khác nhỏ hơn. Khi gạo đã trở
thành một lợi thế trong xuất khẩu của một nước thì các nước đó sẽ tập trung vào sản xuất lúa
gạo với quy mô lớn, trình độ thâm canh cao, khoa học kỹ thuật tiến bộ nhằm tăng năng xuất,
sản lượng và chất lượng gạo. Từ sự tập trung sản xuất đó sẽ kéo theo sự phát triển của các
ngành có liên quan và dẫn tới sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế.
- Xuất khẩu tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành khác có cơ hội phát triển.

- Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp yếu tố đầu vào cho sản xuất,
nâng cao năng lực sản xuất trong nước.
- Tạo tiền đề kinh tế, kỹ thuật nhằm nâng cao năng lực sản xuất trong nước.
- Thông qua xuất khẩu nước ta có thể tham gia vào công cuộc cạnh tranh trên thị
trường thế giới về giá cả, chất lượng để từ đó hình thành cơ cấu sản xuất thích nghi với thị
trường.
- Đòi hỏi các doanh nghiệp luôn phải đổi mới và hoàn thiện công việc sản xuất kinh
doanh.
1.2.3. Xuất khẩu có tác động tích cực tới giải quyết công ăn việc làm, cải thiện đời sống
nhân dân
Xuất khẩu gạo trước hết làm tăng thu nhập của người nông dân đặc biệt ở các vùng
chuyên canh lúa nước, đời sống người dân phụ thuộc chủ yếu vào cây lúa. Sau nữa, xuất
khẩu giúp giải quyết một lượng lớn lao động dư thừa trong nước. Khi thực hiện tăng cường
xuất khẩu gạo thì kéo theo nó là vấn đề xay xát, chế biến phát triển, vấn đề vận chuyển hàng
hoá… Những công tác trên thu hút khá nhiều lao động từ không có trình độ kỹ thuật, quản lý
đến có trình độ cao. Việc tạo việc làm ổn định cũng chính là một biện pháp hữu hiệu để tăng
thu nhập, ổn định xã hội.
Đối với các nước đang phát triển, đặc biệt là Việt Nam thì xuất khẩu gạo là một lợi
thế lớn. Bởi sản xuất và xuất khẩu gạo có những lợi thế căn bản như: đất đai, khí hậu, nguồn
nước, nguồn nhân lực… Và đặc biệt yêu cầu về vốn kỹ thuật trung bình, với các lợi thế như
vậy tăng cường xuất khẩu gạo là hướng đi đúng đắn nhất.
W
Đề án môn học quản trị kinh doanh tổng hợp-GVHD: PGS-TS TRẦN VIỆT LÂM
Xuất khẩu gạo nói riêng hay xuất khẩu hàng hoá nông sản nói chung có tác động to
lớn đến nền kinh tế nước ta, giúp khai thác được tất cả các lợi thế tương đối cũng như tuyệt
đối của Việt Nam trong quá trình hội nhập. Trong quá trình sản xuất lúa gạo, Việt Nam đã
thu được những kết quả to lớn từ một nước nhập khẩu trở thành một nước xuất khẩu thứ hai
thế giới. Tuy nhiên, xuất khẩu gạo Việt Nam còn chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có nên
cần phải có giải pháp cụ thể cho vấn đề này.
1.3.Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu

1.3.1Nhân tố về chính sách vĩ mô
Nhóm nhân tố này thể hiện sự tác động của nhà nước tới hoạt động xuất khẩu gạo.
Trong điều kiện hiện nay, các doanh nghiệp Việt Nam mới tham gia thị trường xuất khẩu rất
cần tới sự quan tâm, hướng dẫn của nhà nước. Đặc biệt hiện nay khả năng marketing tiếp cận
thị trường, sự am hiểu luật kinh doanh, khả năng quản lý của doanh nghiệp còn hạn chế, vì
thế việc đào tạo cán bộ quản lý, cán bộ làm công tác tiêu thụ là rất quan trọng. Hơn nữa hiện
nay xuất khẩu gạo góp phần rất lớn vào phát triển nền kinh tế nhưng đời sống của người
nông dân còn gặp nhiều khó khăn, yêu cầu nhà nước cần có sự điều tiết lợi ích giữa nhà nước
– doanh nghiệp – người nông dân sao cho thoả đáng và hợp lý nhất.
1.3.2. Nhân tố thị trường.
Nhân tố thị trường có ảnh hưởng rất lớn chi phối toàn bộ hoạt động xuất khẩu gạo
của mỗi quốc gia tham gia xuất khẩu. Trong đó có thể xét trên các yếu tố cơ bản sau:
- Nhu cầu của thị trường về sản phẩm gạo: Gạo là hàng hoá thiết yếu, cũng giống như
các loại hàng hoá khác, nó cũng phụ thuộc vào thu nhập, cơ cấu dân cư, thị hiếu… Khi thu
nhập cao thì cầu về số lượng gạo giảm nhưng trong đó cầu về gạo chất lượng cao có xu
hướng tăng lên (ở các nước phát triển: Nhật, Châu Âu ) ngược lại cầu đối với gạo chất
lượng thấp giảm đi chính vì thế tỷ trọng tiêu dùng cho gạo trong tổng thu nhập vẫn tăng.
- Cung gạo trên thị trường là một nhân tố quan trọng trong xuất khẩu. Các doanh
nghiệp tham gia xuất khẩu cần phải tìm hiểu kỹ về khả năng xuất khẩu từng loại gạo của
mình cũng như khả năng của các đối thủ cạnh tranh. Trên thị trường thế giới sản phẩm gạo
rất đa dạng, phong phú, nhu cầu về gạo co giãn ít so với mức giá nên nếu lượng cung tăng
quá nhiều có thể dẫn tới dư cung. Điều đó là bất lợi cho các doanh nghiệp tham gia xuất
khẩu.
- Giá cả là một yếu tố quan trọng, là thước đo sự cân bằng cung – cầu trong nền kinh
tế thị trường. Tuy cầu về gạo là ít biến động nhưng với những sản phẩm đặc sản thì giá có
quyết định khá lớn.
Z
Đề án môn học quản trị kinh doanh tổng hợp-GVHD: PGS-TS TRẦN VIỆT LÂM
1.3.3. Nhân tố về cơ sở vất chất – kỹ thuật và công nghệ của sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
- Các nhân tố về cơ sở vật chất – kỹ thuật là hệ thống vận chuyển, kho tàng, bến bãi,

hệ thống thông tin liên lạc… Hệ thống này bảo đảm việc lưu thông nhanh chóng kịp thời,
đảm bảo cung cấp nguồn hàng một cách nhanh nhất, tiết kiệm thời gian và chi phí lưu thông.
- Các nhân tố về kỹ thuật, công nghệ sản xuất và tiêu thụ đặc biệt quan trọng trong
việc tăng khả năng tiếp cận và mở rộng thị trường tiêu thụ gạo. Hệ thống chế biến với công
nghệ dây truyền hiện đại sẽ góp phần tăng chất lượng và giá trị của gạo.
PHẦN 2
THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU GẠO
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
2.1. Tổng quan về các Doanh nghiệp xuất khẩu gạo của
Việt Nam.
Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) cho rằng, hiện tại có 211 doanh nghiệp tham
gia xuất khẩu gạo, nhưng chỉ có 47 doanh nghiệp thực sự có năng lực, các doanh nghiệp này
chiếm tỷ trọng xuất khẩu tới 87%. Theo ông Phong, hiện có khoảng 80 doanh nghiệp đủ điều
kiện để cấp giấy phép xuất khẩu gạo theo Nghị định 109, trên thực tế 49 doanh nghiệp đã
được cấp, trong đó có 9 doanh nghiệp lần đầu tiên tham gia.
Để lập lại trật tự trong hoạt động xuất khẩu gạo, ngày 4/10/2010, Chính phủ đã ban hành
Nghị định số 109/2010/NĐ-CP về kinh doanh xuất khẩu gạo. Điều 4 của Nghị định số 109
quy định, thương nhân kinh doanh xuất khẩu gạo phải đáp ứng đủ các điều kiện như: có ít
nhất một kho chuyên dùng với sức chứa tổi thiểu 5.000 tấn thóc; có ít nhất một cơ sở xay, sát
thóc, gạo với công suất tối thiểu 10 tấn thóc/giờ phù hợp với quy chuẩn do Bộ N&PTNN ban
hành; kho chứa, cơ sở xay sát phải thuộc sử hữu của thương nhân và phải nằm trên trên địa
bàn tỉnh, thành trực thuộc trung ương có thóc gạo hàng hóa xuất khẩu hoặc cảng biển quốc tế
có hoạt động xuất khẩu thóc gạo…Theo Nghị định, đến ngày 1/10/2011, thương nhân không
có giấy chứng nhận đáp ứng các điều kiện trên thì không được phép xuất khẩu gạo.
• Tổng quan kết quả của các doanh nghiệp sau 5 năm gia nhập WTO
Khi chuẩn bị bước vào sân chơi WTO, với năng lực cạnh tranh cao, ngành lúa gạo Việt Nam
không hề ở “thế thủ”. Vậy mà, sau năm năm hội nhập WTO, ngành kinh doanh xuất khẩu
gạo vẫn chưa có sự chuyển biến về chất.
^
Đề án môn học quản trị kinh doanh tổng hợp-GVHD: PGS-TS TRẦN VIỆT LÂM

Trong hội nhập WTO, các quốc gia thường nỗ lực hết sức trong đàm phán về áp thuế nhập
khẩu cao và hỗ trợ sản xuất để bảo hộ ngành lương thực trước sức ép cạnh tranh của hàng
nhập khẩu nước ngoài.
Nhưng khác với nhiều nước, với năng lực cạnh tranh cao, không phải nhận trợ cấp của các
ngành kinh tế khác, ngành lúa gạo của Việt Nam có đầy đủ các vị thế quan trọng trong việc
giữ vững an ninh lương thực quốc gia. Ngành này còn là chỗ dựa của nhiều triệu lao động
nông thôn, đem lại hàng tỉ đô la Mỹ mỗi năm và là điểm tựa để giữ vững giá tiêu dùng, ổn
định cán cân kinh tế vĩ mô. Do đó, sự quan tâm đến ngành lúa gạo Việt Nam trong hội nhập
WTO không phải theo “thế thủ”, thiên về tính bị tổn thương, mà là làm sao phát huy được tối
đa ưu thế cạnh tranh.
Sau khi hội nhập WTO, lĩnh vực xuất khẩu gạo đã có bước tăng trưởng mạnh mẽ về lượng
cũng như về kim ngạch. Kết quả ấn tượng này có phải do sự đóng góp quan trọng từ việc
Việt Nam gia nhập WTO? Để xem xét tác động của WTO cần điểm qua các nhân tố (i) hàng
rào thuế quan; (ii) tiếp cận thị trường; (iii) mở cửa thị trường xuất khẩu gạo.
Về phương diện thuế nhập khẩu, Việt Nam đã thành công trong đàm phán gia nhập WTO khi
giữ nguyên mức bảo hộ (thuế nhập khẩu lúa gạo) ở mức như trước khi gia nhập. Trong khi
đó, sau khi Việt Nam gia nhập WTO, các nước thành viên WTO có nghĩa vụ phải cho hàng
hóa Việt Nam hưởng thuế suất MFN theo cam kết của họ trong WTO. Đây là một lợi ích
quan trọng mà xuất khẩu gạo của Việt Nam hưởng lợi khi thâm nhập thị trường quốc tế sau
khi vào WTO.
Tuy nhiên, lập luận này chỉ đúng trên lý thuyết chứ không phải trên thực tế.
Doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu gạo theo hình thức thương mại thường không vào trực
tiếp được nhiều thị trường mà phải thông qua các tập đoàn kinh doanh nông sản quốc tế vốn
đang chi phối thương mại gạo toàn cầu. Do đó việc giảm hàng rào thuế quan theo cam kết
WTO không có nhiều ý nghĩa giúp gạo Việt Nam có chỗ đứng vững chắc ở các thị trường.
Như vậy, việc gia nhập WTO là điều kiện cần để mở cánh cửa rộng hơn cho gạo Việt Nam
tiếp cận người tiêu dùng của các nước, song điều quan trọng hơn đó là năng lực của chính
các doanh nghiệp Việt Nam trong việc vượt qua các tập đoàn thương mại trung gian để kết
nối trực tiếp với các nhà nhập khẩu và phân phối ở những nước này.
Xuất khẩu gạo tăng mạnh sau năm 2007 được hỗ trợ phần nhiều bởi điều kiện thuận lợi của

thị trường thế giới. Tồn kho gạo thế giới giảm mạnh cộng với khủng hoảng lương thực năm
2008 đã nâng đỡ thương mại và giá gạo thế giới, giúp xuất khẩu gạo Việt Nam được hưởng
lợi. Mặt bằng giá gạo năm 2007 ở mức 270 đô la Mỹ/tấn, năm 2008 nỗi lo khủng hoảng
lương thực đẩy giá gạo lên gần mức 1.000 đô la/tấn. Những năm sau đó, 2009-2011, giá gạo
đã nhích lên mức 450 và 550 đô la Mỹ/tấn. Trong bối cảnh quốc tế thuận lợi song cơ cấu chất
lượng gạo xuất khẩu Việt Nam chưa có chuyển biến căn bản, gạo phẩm cấp thấp và trung
bình vẫn chiếm tỷ trọng lớn, gạo Việt Nam vẫn chưa tìm được chỗ đứng vững chắc ở các
phân khúc thị trường cao cấp.
Theo cam kết WTO, năm 2011 Việt Nam mở cửa thị trường xuất khẩu gạo, cho phép doanh
nghiệp nước ngoài trực tiếp tham gia bình đẳng với các doanh nghiệp Việt Nam. Đây là một
điều khoản quan trọng nhất được kỳ vọng sẽ tạo ra những chuyển biến trong kết cấu ngành
kinh doanh xuất khẩu gạo của Việt Nam. Việt Nam cũng đã có sự chuẩn bị cho tiến trình này
khi ban hành Nghị định 109/2011 quy định về điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo, vốn
s
Đề án môn học quản trị kinh doanh tổng hợp-GVHD: PGS-TS TRẦN VIỆT LÂM
không chỉ là một khung khổ pháp lý quan trọng cho doanh nghiệp nước ngoài tham gia xuất
khẩu gạo mà đã tạo dựng một sân chơi chung cho kinh doanh xuất khẩu gạo trong và ngoài
nước. Theo thống kê gần đây đã có gần 140 doanh nghiệp được cấp phép xuất khẩu gạo,
trong đó có bốn doanh nghiệp nước ngoài. Luồng vốn đầu tư nước ngoài vào ngành gạo sẽ
không chỉ dừng ở các doanh nghiệp đăng ký mà còn thông qua các kênh đầu tư khác như đầu
tư vào các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán, hoặc cả các dự án đầu tư có vốn của
nước ngoài.
Như vậy, qua năm năm hội nhập WTO, ngành kinh doanh xuất khẩu gạo chưa có những
chuyển biến về chất. Tác động của WTO về thuế quan còn mờ nhạt, trong khi về mở cửa thị
trường chưa có thời gian để kiểm nghiệm. Nhiều khả năng việc mở cửa thị trường sẽ tạo ra
đợt sóng đầu tư ồ ạt vào ngành lúa gạo trong thời gian tới. Nguồn vốn mới có thể tạo ra động
lực thúc đẩy ngành kinh doanh xuất khẩu gạo phát triển mạnh mẽ hơn. Nhưng vốn nhiều
không đồng nghĩa với chất lượng được cải thiện tương xứng. Thêm nhiều các dự án đầu tư
dàn trải, tràn lan, thiếu tính khả thi sẽ dẫn đến lãng phí tiền bạc, chỉ càng làm cho thị trường
lúa gạo Việt Nam thêm biến động, suy giảm năng lực cạnh tranh xuất khẩu. Để luồng vốn

đầu tư đi đúng hướng tạo đột phá cho ngành kinh doanh xuất khẩu gạo và kéo theo sự chuyển
đổi của ngành hàng lúa gạo, Việt Nam rất cần đến vai trò của Nhà nước cũng như chính
quyền địa phương trong việc định hướng quy hoạch, xem xét nghiêm ngặt việc cấp phép dự
án đầu tư kinh doanh xuất khẩu gạo. Nhà nước nên ưu tiên các dự án đầu tư đầu tư phát triển
vùng nguyên liệu, công nghệ chế biến tiên tiến, sản phẩm gạo chất lượng cao hướng đến các
phân khúc thị trường phẩm cấp cao.
Đối phó với cạnh tranh
Nhu cầu thị trường lớn, xuất khẩu đang được giá, tuy nhiên VFA dự báo trong năm nay các
nhà xuất khẩu gạo Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức lớn từ việc mở cửa thị
trường xuất khẩu gạo.
Nếu như trước đây, để bảo hộ ngành sản xuất trong nước, các doanh nghiệp nước ngoài phải
liên doanh, liên kết với doanh nghiệp trong nước trong thu mua, xuất khẩu lúa gạo thì từ năm
2011 với việc tuân thủ cam kết WTO về mở cửa thị trường lúa gạo, các doanh nghiệp nước
ngoài có thể trực tiếp tham gia vào thị trường lúa gạo Việt Nam.
Thị trường thu mua, xuất khẩu lúa gạo của các doanh nghiệp trong nước vốn đã nhiều cạnh
tranh, nay lại đối phó với sự cạnh tranh của các doanh nghiệp nước ngoài muốn "chen chân"
vào thị trường này. Xét về năng lực thị trường, vốn, chỉ có những doanh nghiệp lớn mới có
thể cạnh tranh, còn phần lớn doanh nghiệp nhỏ của Việt Nam đều thua thiệt so với các doanh
nghiệp nước ngoài. Trong khi đó, trong số hơn 260 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu trên thị
trường lúa gạo Việt Nam hiện nay chỉ có hơn 30 doanh nghiệp là những nhà xuất khẩu
chuyên nghiệp, còn lại là những công ty kinh doanh thời vụ, nhỏ lẻ.
Một khó khăn khác mà các doanh nghiệp gạo đối diện là tình trạng thiếu vốn. Trong khi các
doanh nghiệp nước ngoài vay được nguồn vốn có 4,5% thì các doanh nghiệp trong nước phải
vay mức 16,5%, sự chênh lệch này là một bất lợi trong cạnh tranh.
Để đối phó với làn sóng cạnh tranh này, ông Trương Thanh Phong cho rằng giải pháp cơ bản
là các doanh nghiệp cần thiếp lập, xây dựng vùng nguyên liệu, tạo sự gắn bó mật thiết với
nông dân, tạo thành những chuỗi giá trị bền vững trong sản xuất và xuất khẩu lúa gạo. Đây
cũng là mô hình nhiều doanh nghiệp xuất khẩu đang xây dựng, trong đó vụ Đông Xuân
2010-2011, Tổng Công ty Lương thực miền Nam đã ký hợp đồng bao tiêu 10.000ha lúa của
nông dân tại Đồng bằng sông Cửu Long.

r
Đề án môn học quản trị kinh doanh tổng hợp-GVHD: PGS-TS TRẦN VIỆT LÂM
2.2. Tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam giai đoạn
2006-2010.
Theo báo cáo thường niên ngành hàng lúa gạo Việt Nam của Trung tâm Thông tin
phát triển nông nghiệp nông thôn (AGROINFO), xuất khẩu gạo của Việt Nam trong những
năm gần đây đang giảm mạnh tại thị trường Châu Á và tăng mạnh tại thị trường Châu Phi.
Thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam được mở rộng. Nếu như trong năm 2007, gạo Việt
Nam được xuất khẩu đến 63 quốc gia vùng/lãnh thổ thì đến năm 2008, con số này đã tăng lên
gấp đôi (128 quốc gia/vùng/lãnh thổ).
Xuất khẩu gạo của nước ta trong vài năm trở lại đây đã có những bước phát triển đáng kể về
kim ngạch cũng như thị trường xuất khẩu. Theo hiệp hội lương thực Việt Nam, kể từ
khi bắt đầu xuất khẩu từ năm 1989 đến nay, Việt Nam đã xuất khẩu khoảng 70 triệu tấn
gạo ra trường quốc tế, mang về kim ngạch khoảng 20 tỷ đô la, trong đó 5 năm qua
2006-2010 Việt Nam xuất khẩu được trên 26,7 triệu tấn gạo, mang lại hơn 10,5 tỷ
USD. Dự kiến riêng năm nay cả nước xuất khẩu khoảng 7 triệu tấn gạo.
2.2.1. Sản lượng.
SẢN LƯỢNG XUẤT KHẨU GẠO CỦA VIỆT NAM
TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2010
Năm Khối lượng xuất
khẩu (1000 tấn)
Chênh lệch
+/- %
2006 4.600 - -
2007 4.558 -42 -0,91
2008 4.830 272 5,97
2009 6.052 1.222 25,30
2010 6.890 838 13.85
Nguồn AGROINFO, 2010
Từ bảng thống kê sản lượng xuất khẩu gạo trên cho thấy sản lượng xuất khẩu gạo của

nước ta liên tục tăng qua các năm trong giai đoạn 2008 – 2010. Năm 2008 xuất được 4.830
nghìn tấn gạo tăng lên 6.052 nghìn tấn vào năm 2009, đánh dấu bước nhảy vọt của xuất khẩu
gạo Việt Nam, tăng 25,30% so với năm 2008 tương ứng 1.222 nghìn tấn. Bước sang năm
2010 nước ta xuất ra thị trường quốc tế 6.890 nghìn tấn, tăng 838 nghìn tấn, tương ứng
13,85% so năm 2009.
Xuất khẩu lúa gạo nước ta ngày càng tăng trước hết là do sự phát triển của khoa học-
công nghệ đã cải thiện công tác giống, chăm sóc lúa, phòng ngừa sâu bệnh giúp tăng năng
suất lúa, nâng cao nguồn cung lúa gạo trong nước. Việc giữ vững và gia tăng sản lượng lúa
của cả nước là tiền đề tốt cho việc đảm bảo an ninh lương thực quốc gia cũng như đẩy mạnh
xuất khẩu gạo trên các thị trường trong khu vực và thế giới.
Bên cạnh đó, do quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa diễn ra nhanh chóng ở
nhiều quốc gia đang phát triển trên thế giới làm cho diện tích đất canh tác bị thu hẹp. Điển
hình như Ấn Độ, Philipines từng là những nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới cũng trở
o
Đề án môn học quản trị kinh doanh tổng hợp-GVHD: PGS-TS TRẦN VIỆT LÂM
thành nước nhập khẩu gạo. Nguồn cung trên thế giới bị thu hẹp đã tạo cơ hội cho ngành xuất
khẩu gạo Việt Nam phát triển.
2.2.2. Về kim ngạch và giá cả
Trong nhiều năm qua, giá trị hạt gạo của Việt Nam trên thị trường thế giới được nâng
cao. Giá gạo được cải thiện và có xu hướng tăng qua các năm, dẫn đến kim ngạch xuất khẩu
gạo cũng có xu hướng tăng theo.
Nguồn AGROINFO, 2010
Biểu đồ thể hiện sản lượng và giá trị xuất khẩu gạo của Việt Nam
từ 2006 đến 6th/2010
Sản lượng xuất khẩu và giá xuất khẩu bình quân có xu hướng tăng giảm trái ngược
nhau. Khối lượng tăng thì giá giảm, khi giá tăng thì khối lượng xuất khẩu lại giảm. Trong khi
đó kim ngạch xuất khẩu gạo lại phụ thuộc vào hai yếu tố trên, dẫn đến kim ngạch xuất khẩu
trong từng năm không thể tăng cao do luôn chịu sự ảnh hưởng từ sự sụt giảm của một trong
hai yếu tố đó. Chỉ có riêng năm 2008, vừa đạt được mức tăng về khối lượng và giá xuất khẩu
nên trong năm này kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh.

Năm 2008 kim ngạch xuất khẩu tăng từ 1.490 triệu USD năm 2007 lên 2.910 triệu
USD, tăng 95,3% tương ứng 1.420 triệu USD đem về nguồn ngoại tệ không nhỏ cho ngành
xuất khẩu gạo nói riêng, xuất khẩu cả nước nói chung. Đạt được sự tăng trưởng cao như vậy
là do khối lượng xuất khẩu trong năm tăng, cùng với mức tăng giá xuất khẩu. Năm 2007 giá
xuất khẩu bình quân chỉ đạt 295 USD/tấn, thì đến năm 2008 giá xuất khẩu là 614 USD/tấn,
tăng hơn 2 lần so với mức giá xuất khẩu năm trước.
m
Đề án môn học quản trị kinh doanh tổng hợp-GVHD: PGS-TS TRẦN VIỆT LÂM
Nếu năm 2007 có khối lượng xuất khẩu giảm nhưng kim ngạch xuất khẩu tăng, thì
ngược lại năm 2009 là năm đạt kỉ lục về xuất khẩu gạo so với những năm trước, nhưng kim
ngạch lại giảm 15,36% so với cùng kì năm 2008. Nguyên nhân chủ yếu là do giá xuất khẩu
bình quân sau khi tăng đột biến năm 2008 đã hạ nhiệt, giảm xuống còn 400 USD/tấn, với
mức giảm 214 USD/tấn so với năm 2008.
Ngoài ra sự giảm giá còn do sự can thiệp của chính phủ Thái Lan – nước xuất khẩu
gạo lớn nhất thế giới, đẩy mạnh xuất khẩu gạo trong các kho dự trữ với ước tính khoảng 7
triệu tấn. Xuất khẩu gạo năm 2010 đạt 6,89 triệu tấn, trị giá xuất khẩu 3,2 tỷ USD. Năm 2011
dự kiến đạt khoảng 5,5 – 6 triệu tấn, hiện lượng gạo tồn kho còn khoảng 800.000 tấn. Giá
gạo xuất khẩu ngày càng tăng cao với giá hiện tại khoảng 511 USD/tấn.
2.2.3 Thị trường xuất khẩu
 Năm 2008
Năm 2008 được xem là năm xuất khẩu gạo gặt hái được thành công nhất trong giai
đoạn này. Nếu năm 2007, gạo nước ta xuất khẩu hơn 70 quốc gia và vùng lãnh thổ thì năm
2008 con số này đã tăng lên 128 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Đề án môn học quản trị kinh doanh tổng hợp-GVHD: PGS-TS TRẦN VIỆT LÂM
Nguồn AGROINFO
Philipines vẫn là nước nhập khẩu gạo lớn nhất của nước ta.Năm 2008, nước này nhập
khẩu 1.800 nghìn tấn, với kim ngạch 1.400 triệu USD, chiếm gần 40% lượng gạo xuất khẩu
của nước ta.
Trong tốp 10 thị trường có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất năm 2008 thì có có 3 thị

trường đứng đầu bảng là thị trường truyền thống, chiếm 63,8% về giá trị và 54,8% về
lượng.Bảy thị trường còn lại là các thị trường mới, chiếm 18,4% về giá trị và 23,3% vê
lượng,trong đó thị trường châu phi chiếm 11,7% về giá trị và 14,5% về lượng, có tốc độ tăng
trưởng kim ngạch nhập khẩu lớn nhất.
 Năm 2009
Xuất khẩu gạo sang các nước châu Á vẫn chiếm đến 61,68% tổng kim ngạch xuất
khẩu gạo của Việt Nam (so với mức 50,8% của năm 2008). Trong đó, xuất khẩu gạo sang thị
trường Philippines đóng góp hơn một nửa thị phần của toàn khu vực châu Á (chiếm tới 35%
tổng kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam năm 2009). Năm 2009, Việt Nam xuất khẩu
sang Philippines gần 1,7 triệu tấn gạo, trị giá hơn 912 triệu đô la Mỹ. Thị trường xuất khẩu
lớn tiếp theo của hạt gạo Việt Nam phải kể đến là Malaysia, từ vị trí thứ ba trong năm 2008
đã vươn lên thứ hai với hơn 611.000 tấn, trị giá khoảng 271 triệu đô la. Các quốc gia và lãnh
thổ châu Á nằm trong nhóm 10 thị trường xuất khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam năm 2009
còn có Singapore (329.000 tấn và 134 triệu đô la), Đông Timo (242.000 tấn và 97 triệu đô
la), Đài Loan (203.000 tấn và 81 triệu đô la) và Iraq (168.000 tấn và 68 triệu đô la).
Châu Á là thị trường xuất khẩu gạo chủ chốt của Việt Nam trong năm 2009 khi có tới
sáu trong 10 thị trường có tốc độ tăng trưởng lớn nhất. Cụ thể, 10 thị trường có kim ngạch
nhập khẩu gạo từ Việt Nam trên 1 triệu đô la và có tốc độ tăng trưởng kim ngạch lớn nhất
năm 2009 bao gồm: Kiribati (tăng 10,608%), Campuchia (tăng 2,516%), Li Băng (tăng
2,124%), Hồng Kông (tăng 758%), Mỹ (tăng 714%), Nigeria (tăng 614%), Brunei (tăng
506%), Đài Loan (tăng 493%), Trung Quốc (tăng 397%) và Fiji (tăng 365%). Đáng chú ý là

Đề án môn học quản trị kinh doanh tổng hợp-GVHD: PGS-TS TRẦN VIỆT LÂM
Đài Loan từ vị trí thứ 23 trong bảng xếp hạng năm 2008 đã vươn lên đứng trong nhóm 10 thị
trường xuất khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam trong năm 2009.
Đặc biệt, xuất khẩu gạo của Việt Nam sang các thị trường châu Á trong năm 2009
còn được lợi về giá. Tính trung bình năm 2009, trong số 10 nước có kim ngạch nhập khẩu
gạo lớn nhất từ Việt Nam thì Philippines là thị trường mà gạo Việt Nam xuất sang đạt mức
giá cao nhất với 541,24 đô la/tấn. Trong khi đó, mức giá trung bình xuất sang chín thị trường
còn lại chỉ dao động quanh mức 400 đô la/tấn. Xuất khẩu gạo của Việt Nam sang Malaysia

năm 2009 cũng đạt mức giá khá cao với 439,24 đô la/tấn.
 Năm 2010
Thị trường truyền thống chủ đạo của xuất khẩu gạo Việt Nam vẫn là Philippines,
Indonesia, Cu Ba, Malaysia và Đài Loan; trong đó, dẫn đầu về lượng và kim ngạch trong
năm 2010 là thị trường Philipines với 1,48 triệu tấn, trị giá 947,38 triệu USD (chiếm 21,4%
về lượng và chiếm 29,17% tổng kim ngạch); thị trường Indonesia xếp vị trí thứ 2 với trên
687 nghìn tấn, trị giá 346,02 triệu USD (chiếm 9,98% về lượng và chiếm 10,65% tổng kim
ngạch); thứ 3 là Singapore với 539,3 nghìn tấn, trị giá 227,79 triệu USD (chiếm 7,83% về
lượng và chiếm 7,01% tổng kim ngạch); tiếp đến Cu Ba gần 472,3 nghìn tấn, trị giá 209,22
triệu USD (chiếm 6,86% về lượng và chiếm 6,44% tổng kim ngạch); sau đó là 2 thị trường
cũng đạt kim ngạch trên 100 triệu USD là: Malaysia 177,69 triệu USD; Đài Loan 142,7 triệu
USD.
Đa số các thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam năm 2010 đều giảm về lượng và
kim ngạch so với năm 2009, tuy nhiên có 5 thị trường xuất khẩu tăng cả lượng và kim ngạch
so với năm 2009, trong đó tăng mạnh nhất là xuất khẩu sang Indonesia (tăng 3763,79% về
lượng và tăng 4696,30% về kim ngạch); xuất khẩu sang Hồng Kông đứng thứ 2 về mức tăng
trưởng (tăng 194% về lượng và tăng 222,42% về kim ngạch); sau đó là Đài Loan (tăng
72,3% về lượng và tăng 74,85% về kim ngạch); Singapore (tăng 64,65% về lượng và tăng
70,51% về kim ngạch). Ngược lại, kim ngạch xuất khẩu gạo giảm mạnh so với năm 2009 ở
3
Đề án môn học quản trị kinh doanh tổng hợp-GVHD: PGS-TS TRẦN VIỆT LÂM
các thị trường Italia (giảm 83,21% về lượng và giảm 75,94% về kim ngạch); Tây Ban Nha
(giảm 79,16% về lượng và giảm 75,45% về kim ngạch) và Ucraina (giảm 64,98% về lượng
và giảm 60,95% về kim ngạch).
2.3. Thực trạng xuất khẩu của một số Doanh Nghiệp điển
hình.
STT Tên Doanh nghiệp Đơn vị xét chọn
1. Công ty Lương thực Tiền Giang Sở Công Thương Tiền Giang
2. Công ty TNHH Bình Tây Sở Công Thương TP. HCM
3. Tổng Công ty Lương thực Miền Nam Sở Công Thương TP. HCM

4. Công ty CP SX DV XNK Hà Nội Sở Công Thương TP. HCM
5. Công ty Lương thực Bạc Liêu Sở Công Thương Bạc Liêu
6. Công ty CP Lương thực Bình Định Sở Công Thương Bình Định
7. Công ty Lương thực Trà Vinh Sở Công Thương Trà Vinh
8. Công ty CP XNK Vĩnh Long Sở Công Thương Vĩnh Long
9. Công ty CP Thương mại Hồng Trang Sở Công Thương Vĩnh Long
W
Đề án môn học quản trị kinh doanh tổng hợp-GVHD: PGS-TS TRẦN VIỆT LÂM
10. Công ty CP Lương thực Thực phẩm Vĩnh Long Sở Công Thương Vĩnh Long
11.
Công ty TNHH Lương thực Thực phẩm Long
An
Sở Công Thương Long An
12. Công ty TNHH Đa Năng Sở Công Thương Long An
13. Công ty Lương thực Long An Sở Công Thương Long An
14. Công ty CP XNK Nông sản Thực phẩm Cà Mau Sở Công Thương Cà Mau
15. Công ty TNHH 1TV DL TM Kiên Giang Sở Công Thương Kiên Giang
16. Công ty TNHH XNK Kiên Giang Sở Công Thương Kiên Giang
17. Công ty CP Kinh doanh Nông sản Kiên Giang Sở Công Thương Kiên Giang
18. Công ty TNHH Nova Sở Công Thương Hà Nội
19. Tổng Công ty Lương thực Miền Bắc
Sở Công Thương Hà Nội; Bộ
Nông nghiệp và PTNT
20. Công ty CP XNK HTĐT Vilexim Bộ Công Thương
21.
Công ty TNHH 1TV Thực phẩm và Đầu tư
FOCOCEV
Bộ Công Thương
22. Công ty Lương thực Sông Hậu Sở Công Thương Cần Thơ
23. Công ty CP VT KT Nông nghiệp Cần Thơ Sở Công Thương Cần Thơ

24. Công ty CP Mekong Sở Công Thương Cần Thơ
25. Công ty CP Gentraco Sở Công Thương Cần Thơ
26. Công ty CP Phú Hưng Sở Công Thương Cần Thơ
27. Công ty CP Du lịch An Giang Sở Công Thương An Giang
28. Công ty XNK Nông sản Thực phẩm An Giang Sở Công Thương An Giang
29. Công ty CP XNK An Giang Sở Công Thương An Giang
30. Công ty TNHH Khiêm Thanh Sở Công Thương An Giang
31. Công ty CP Docimexco Sở Công Thương Đồng Tháp
32. Công ty Lương thực Đồng Tháp Sở Công Thương Đồng Tháp

2.3.1. Sản phẩm
 Chất lượng gạo xuất khẩu
Tuy trong những năm gần đây Việt Nam đạt vị trí cao về số lượng gạo xuất khẩu
nhưng về chất lượng thì có nhiều yếu kém. Chất lượng của gạo nói chung phụ thuộc nhiều
vào các yếu tố tự nhiên và tác động của con người như đất đai, khí hậu, nước tưới, phân bón,
giống lúa, chế biến, vận chuyển, bảo quản mà quan trọng nhất là giống lúa, các phương
pháp sản xuất và các khâu sau thu hoạch.
Z
Đề án môn học quản trị kinh doanh tổng hợp-GVHD: PGS-TS TRẦN VIỆT LÂM
• Về giống lúa: Từ nhiều năm qua, Việt Nam đã nghiên cứu, chế tạo và áp dụng
nhiều giống lúa mới cho năng suất cao, chất lượng tốt và có khả năng chống chịu giỏi với
tình hình thời tiết, thiên tai, sâu bệnh. Tuy nhiên, các giống lúa làm hàng xuất khẩu đòi hỏi
những yêu cầu cao hơn các loại khác. Ví dụ như đồng bằng sông Cửu Long - chiếc nôi sản
xuất gạo của nước ta - có tới 70 giống lúa khác nhau thì chỉ có 5 giống lúa có thể làm hàng
xuất khẩu được là IR 9729, IR 64, IR 59606, OM 132, và OM 997-6. Tương tự như vậy, ở
miền Bắc, lượng giống lúa cũng dừng lại ở con số 5 gồm C70, C71, CR 203, Q5, IR 1832 là
đủ tiêu chuẩn xuất khẩu, trên tổng số lượng giống lúa gieo trồng khá phong phú. Qua đó cho
thấy, giống lúa kém chất lượng là một nguyên nhân quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng
của gạo xuất khẩu Việt Nam. So sánh với các quốc gia xuất khẩu gạo lớn trên thế giới như
Thái Lan, Ấn Độ thì thấy được rằng họ có những giống lúa có thể cho gạo có chất lượng cao

hơn nhiều. Điển hình là Thái Lan, cường quốc hàng đầu về xuất khẩu gạo, với giống lúa
Khaodaumali chất lượng cao, với sản lượng xuất một năm là 1,2 triệu tấn. Ấn Độ cũng rất tự
hào với gạo Basmati, một loại gạo thơm đặc sản, đang cạnh tranh gay gắt với hàng của Thái
Lan và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu gạo của nước này.
• Chủng loại gạo xuất khẩu
Trên thị trường thế giới, gạo thường được chia làm 6 nhóm như sau:
 Nhóm gạo hạt dài chất lượng cao chủ yếu xuất khẩu từ Mỹ. Loại gạo này
được ưa chuộng ở thị trường châu Âu, Trung Đông, Hồng Kông, Singapo và
chiếm 25% thị phần thế giới.
 Nhóm gạo hạt dài chất lượng trung bình. Loại gạo này được dùng chủ yếu
trong thương mại quốc tế mà khách hàng chính là các nước châu Á và châu
Phi, những nước cần nhập khẩu gạo để giải quyết vấn đề thiếu hụt về gạo.
 Nhóm gạo hạt ngắn và trung bình. Loại gạo này được xuất khẩu chủ yếu sang
các nước nghèo như Băng-la-đét, Sri-lan-ca, Tây Phi, Ấn Độ…
 Nhóm gạo sấy chia làm hai loại:
 Gạo sấy có màu, chất lượng kém được tiêu dùng chủ yếu trong các nước có
tổng thu nhập quốc dân thấp.
 Gạo sấy trắng, chất lượng tốt. Được tiêu dùng ở thị trường các nước phát triển
như Mỹ, châu Âu và Trung Đông.
 Nhóm gạo đặc sản xuất khẩu của các nước châu Á như Thái Lan với gạo
Jasmin; Việt Nam với gạo Nàng Hương, Chợ Đào; Ấn Độ với gạo Basmati.
Gạo đặc sản rất được ưa chuộng trên thế giới, nhất là các nước châu Âu, đồng
thời cũng được tiêu thụ nhiều tại các thành phố giàu có ở châu Á như Băng-
cốc, Hồng-kông, Ma-ni-la
 Nhóm gạo nếp. Loại gạo này là gạo tiêu thụ hàng ngày trong khu vực Đông
Bắc Thái Lan và một vài vùng ở Lào, Cam-pu-chia.
Ở Việt Nam hiện nay, gạo xuất khẩu chủ yếu là gạo tẻ hạt dài, chất lượng trung bình
được sản xuất hầu hết từ đồng bằng sông Cửu Long, gạo hạt ngắn và trung bình và gạo đặc
sản. Trong cơ cấu xuất khẩu đó, chúng ta vẫn chưa chú trọng tới gạo đặc sản truyền thống.
Hiện nay trên thế giới, ở những nước phát triển, loại gạo này rất được ưa chuộng và trong

tương lai, nhu cầu về loại gạo này sẽ ngày càng tăng, đem lại nguồn thu lớn cho các nước
xuất khẩu.
^
Đề án môn học quản trị kinh doanh tổng hợp-GVHD: PGS-TS TRẦN VIỆT LÂM
2.3.2. Giá cả
• Giá gạo quốc tế
Trên thế giới, tuỳ từng điều kiện cụ thể của mỗi nước như điều kiện tự nhiên, cách
thức sản xuất, kỹ thuật ứng dụng… của mỗi nước khác nhau mà có những chủng loại gạo
khác nhau. Mỗi loại gạo như vậy sẽ tương ứng với một loại giá, tạo nên thị trường thế giới đa
dạng, phong phú về giá cả và chất lượng. Cũng giống như các hàng hoá khác khi tung ra thị
trường quốc tế, giá gạo phải thoả mãn ba điều kiện căn bản: thứ nhất, phải là giá của những
hợp đồng thương mại lớn thông thường, trong đó các bên mua bán phải được tự do ký kết
hợp đồng, không bị ràng buộc bởi những điều kiện khác; thứ hai, phải là giá thanh toán bằng
đồng tiền tự do chuyển đổi mà chủ yếu vẫn là đô-la Mỹ (giá gạo quốc tế thường tính bằng
đồng tiền này); thứ ba, phải là giá ở trung tâm giao dịch quốc tế quan trọng nhất. Từ trước
đến nay, Thái Lan vẫn là nước dẫn đầu về xuất khẩu gạo. Chính vì vậy, giá gạo xuất khẩu
của Thái Lan (FOB Băng-cốc) được coi như giá chuẩn mực của giá quốc tế, đáp ứng được ba
điều kiện trên và phản ánh thực chất quan hệ cung cầu và quy luật vận động của giá cả trên
thị trường gạo thế giới.
s
Đề án môn học quản trị kinh doanh tổng hợp-GVHD: PGS-TS TRẦN VIỆT LÂM
• Các nhân tố ảnh hưởng đến giá gạo xuất khẩu của Việt Nam
Khi Việt Nam xuất khẩu gạo ra thị trường thế giới, có rất nhiều nhân tố tác động, ảnh
hưởng không nhỏ tới giá cả mặt hàng này trong đó có những nhân tố lâu dài, tạm thời, có
nhân tố tự nhiên, xã hội, nhân tố kinh tế, chính trị
 Quan hệ cung cầu
Cũng như tất cả các hàng hoá khác, quan hệ cung-cầu ảnh hưởng trực tiếp đến giá gạo
xuất khẩu của Việt Nam. Gạo là nguồn lương thực thiết yếu, chi phối đời sống của rất đông
dân số trên toàn cầu, đặc biệt ở châu Á. Khi Việt Nam bắt đầu xuất khẩu gạo từ những năm
đầu thập kỷ 90, số lượng gạo xuất khẩu liên tục tăng. Tuy nhiên giá cả gạo của Việt Nam trên

thị trường thế giới không phụ thuộc vào lượng gạo xuất ra mà bị ảnh hưởng bởi số lượng
nhập khẩu của các nước tiêu thụ lớn của gạo Việt Nam. Mô hình sau thể hiện rõ mối quan hệ
giữa thu nhập, sản lượng của gạ
Hình: Mối quan hệ giữa thu nhập và sản lượng gạo

Nguồn: Tạp chí "Nghiên cứu kinh tế"
 Nhân tố thời vụ
Thời vụ sản xuất và thu hoạch lúa gạo gắn liền với những biến động của cung-cầu và
giá gạo qua các tháng của năm. Ở Việt Nam, thời điểm giá gạo ở đỉnh cao trong năm không
phải thời điểm xuất khẩu nhiều, nhưng lúc xuất khẩu nhiều lại thường là lúc giá cả gạo xuống
thấp.
Nhìn chung, số lượng xuất khẩu gạo thường mang tính chu kỳ, thể hiện ở mức tăng
giảm: cứ mỗi giai đoạn 2 đến 3 tháng khi lượng xuất khẩu tăng mạnh thì đến giai đoạn lượng
xuất khẩu giảm. Thời điểm xuất khẩu mạnh lại tập trung vào các thành mùa khô, nhất là
trong thời vụ đông xuân, lúc giá lúa, gạo tương đối thấp. Chu kỳ sản lượng gạo tăng giảm
này phụ thuộc chủ yếu vào thời tiết, khí hậu của Việt Nam. Mỗi khi thiên tai, mất mùa
nghiêm trọng thường làm thay đổi giá. Những thay đổi đó chi phối quy luật sản xuất và xuất
khẩu gạo của Việt Nam trong nhiều năm qua. Chính vì tính chu kỳ của sản lượng gạo nên giá
cả lúa gạo, bao gồm giá lúa trong nước và giá gạo xuất khẩu cũng mang tính chu kỳ. Đồng
bằng sông Cửu Long là vựa lúa của cả nước nên giá lúa gạo Việt Nam gắn liền với cơ cấu
mùa vụ và chu kỳ xuất khẩu của khu vực này. Nhu cầu nhập khẩu của khách hàng nước
ngoài ảnh hưởng trực tiếp đến quy luật trên. Các nhà nhập khẩu đã lợi dụng đặc thù sản xuất
r
Đề án môn học quản trị kinh doanh tổng hợp-GVHD: PGS-TS TRẦN VIỆT LÂM
lúa gạo của Việt Nam mong muốn giá giảm có lợi nhất cho họ. Thông thường vào thời điểm
xuất khẩu gạo nhiều nhất thì giá gần như không bao giờ ở mức cao nhất và ngược lại, khi giá
cao nhất thì số lượng xuất khẩu không nhiều. Điều này gây thiệt hại không nhỏ đối với tổng
kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam.
Để giải quyết vấn đề, Chính phủ chủ trương cho các doanh nghiệp mua gạo tạm trữ từ
nông dân trong lúc lượng cung dư thừa và giá giảm. Đến lúc giá gạo trên thế giới tăng mới

tung lượng gạo dự trữ ra thị trường nhằm bán được giá cao nhất.
Nhìn chung, tính chu kỳ của giá lúa gạo và lượng xuất khẩu hàng tháng có mối quan
hệ tương quan chặt chẽ với nhau. Giá xuất khẩu tăng sau khi lượng xuất khẩu biến động hoặc
giá xuất khẩu giảm trước, sau đó lượng xuất khẩu giảm theo. Thông thường khi tồn kho trong
nước giảm xuống thấp thì áp lực phải xuất khẩu gạo giảm. Lúc đó giá trong nước lên cao, các
nhà xuất khẩu không muốn bán ra thị trường bên ngoài tạo sự mất cân bằng giữa cung-cầu
gạo xuất khẩu, ảnh hưởng tới uy tín trong kinh doanh của gạo Việt Nam.
 Khả năng thanh toán của các nước nhập khẩu và ảnh hưởng của thị trường
lương thực thế giới
Việt Nam thường xuất khẩu gạo sang các nước đang phát triển ở châu Á và châu Phi.
Khả năng thanh toán bằng ngoại tệ của những nước này thường bị hạn chế nhất là khi có
những khó khăn về kinh tế, lạm phát Tình hình đó ảnh hưởng trực tiếp đến biên độ cung
cầu về gạo. Giá các loại gạo phẩm cấp trung bình, có tỷ lệ tấm cao thường bị ảnh hưởng.
 Tỷ giá hối đoái và tỷ suất ngoại tệ của hàng xuất khẩu
Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ này thể hiện bằng một số đơn vị tiền tệ
của nước kia. Tỷ giá hối đoái là phương tiện so sánh giá trị hàng hóa trong nước và trên thị
trường quốc tế, là một trong những căn cứ quan trọng để doanh nghiệp đưa ra quyết định liên
quan đến hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng.
Trong trường hợp tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam giảm so với ngoại tệ mạnh (USD, GBP,
FRF, DEM ) thì các doanh nghiệp có thể thu được nhiều lợi nhuận từ hoạt động xuất khẩu
và ngược lại. Chính vì vậy, các doanh nghiệp có thể thông qua nghiên cứu và dự đoán xu
hướng biến động của tỷ giá hối đoái để đưa ra biện pháp xuất khẩu phù hợp, lựa chọn thị
trường có lợi, lựa chọn nguồn hàng, đồng tiền thanh toán Tương tự, tỷ suất ngoại tệ hàng
xuất khẩu cũng như “một chiếc gậy vô hình” đã làm thay đổi, chuyển hướng giữa các mặt
hàng, các phương án kinh doanh của doanh nghiệp xuất khẩu.
Tháng 3/2011, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố điều chỉnh tỷ giá VND so với
đồng USD ở mức 20.693 VND/ 1 USD (tăng 9,3% so với mức 18.932 VND trước đó) và thu
hẹp biên độ giao dịch từ +/-3% xuống +/-1%, đã khiến các chuyên gia tài chính, kinh tế quốc
tế và khu vực đặc biệt quan tâm. Theo dự tính của các hãng xuất khẩu gạo Thái Lan, giá bán
của mỗi tấn gạo Việt Nam từ đó sẽ giảm 10 USD. Nhưng điều này tạm thời không tác động

mạnh tới việc xuất khẩu gạo của các nước ASEAN khác, là vì hiện nay thị trường quốc tế
vẫn có nhu cầu rất lớn về gạo và các nông sản chủ yếu khác. Chủ tịch danh dự Hội các hãng
xuất khẩu gạo Thái Lan cho rằng: "Nếu VND tiếp tục giảm giá, thì trong vài năm tới
ViệtNam sẽ có thể thay thế Thái Lan trở thành nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới".
 Thuế quan: là nhân tố trực tiếp tác động đến giá gạo xuất khẩu. Khi giá gạo
nội địa quá cao, Chính phủ có thể tăng thuế xuất khẩu để làm giảm lượng gạo xuất khẩu và
o
Đề án môn học quản trị kinh doanh tổng hợp-GVHD: PGS-TS TRẦN VIỆT LÂM
ngược lại, khi giá gạo trong nước xuống thấp, có thể điều chỉnh giảm thuế để đẩy mạnh xuất
khẩu, giúp tiêu thụ lúa gạo nội địa. Thuế xuất khẩu gạo tác động trực tiếp tới lợi nhuận của
các doanh nghiệp kinh doanh gạo một cách công bằng và gián tiếp điều chỉnh giá gạo thị
trường trong nước.
 Trợ cấp xuất khẩu: Trong một số trường hợp Chính phủ phải thực hiện chính
sách trợ cấp xuất khẩu để tăng mức độ xuất khẩu hàng hóa của nước mình, tạo điều kiện cho
sản phẩm có sức cạnh tranh về giá trên thị trường thế giới. Trợ cấp xuất khẩu sẽ làm tăng giá
nội địa của hàng xuất khẩu, giảm tiêu dùng trong nước nhưng tăng sản lượng và mức xuất
khẩu. Đối với sản phẩm gạo, chính phủ có các hình thức trợ cấp xuất khẩu: Hỗ trợ lãi suất
thu mua lúa gạo trong vụ thu hoạch, hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp xuất khẩu gạo, hỗ trợ
lãi suất xuất khẩu gạo trả chậm, bù lỗ cho doanh nghiệp xuất khẩu gạo, thưởng xuất khẩu.
• Hạn ngạch: là một trong những yếu tố tác động mạnh đến giá gạo xuất khẩu
Việt Nam. Hạn ngạch được coi là một công cụ chủ yếu trong hàng rào phi thuế quan, nó
được hiểu như quy định của Nhà nước về số lượng tối đa của một mặt hàng hay một nhóm
hàng được phép xuất khẩu trong một thời gian nhất định thông qua việc cấp giấy phép. Sở dĩ
có công cụ này vì không phải lúc nào Nhà nước cũng khuyến khích xuất khẩu mà đôi khi vì
quyền lợi quốc gia phải kiểm soát một vài mặt hàng hay nhóm hàng như sản phẩm đặc biệt,
nguyên liệu do nhu cầu trong nước còn thiếu
Kết quả xuất khẩu gạo của chúng ta so với những năm đầu thập kỷ 90 thật đáng tự
hào. Tuy nhiên vấn đề bất cập nhất đối với các nhà xuất khẩu gạo Việt Nam vẫn là giá gạo
Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Việt Nam thường xuất khẩu gạo theo điều kiện FOB là chính. Chúng ta ít có các kênh

trực tiếp xuất khẩu gạo gạo đến tận tay khách hàng mà phần lớn phải tái xuất khẩu qua một
số nước như Singapo vì không tìm được thị trường. Tính chất mùa vụ của sản xuất cũng ảnh
hưởng tới xuất khẩu vì mang đặc điểm từng chuyến, từng đợt nên khó có thể thoả mãn được
nhu cầu của khách hàng một cách thường xuyên, ổn định. Thời gian 22 năm tham gia xuất
m
Đề án môn học quản trị kinh doanh tổng hợp-GVHD: PGS-TS TRẦN VIỆT LÂM
khẩu gạo là một quá trình tương đối dài nhưng so với các nước có truyền thống thì trong lĩnh
vực này, Việt Nam vẫn còn là một nước non trẻ. Kinh nghiệm sản xuất, chế biến gạo của
nước ta còn nhiều yếu kém về chất lượng nên thường bị thua thiệt và chèn ép về mặt giá cả.
Các kênh thông tin không đủ hiện đại để cung cấp cho các doanh nghiệp đầy đủ và cập nhật
tình hình lương thực trên thế giới nên dễ dẫn đến hiệu quả kém trong việc nắm bắt và ra
quyết định xuất khẩu, dẫn đến giá gạo xuất khẩu của Việt Nam thường thấp hơn giá của các
nước đối thủ cạnh tranh.
Qua phân tích trên, chúng ta thấy được việc giá gạo xuất khẩu của Việt Nam thấp
hoàn toàn nằm ngoài ý muốn của các nhà xuất khẩu nước ta. Chúng ta không tự động hạ giá
để có sức cạnh tranh cao trên thị trường mà buộc phải chấp nhận mức giá khá cách biệt với
thị trường thế giới. Nguyên nhân chủ yếu vẫn là do chúng ta không đáp ứng được đầy đủ
những đòi hỏi nghiêm ngặt của gạo xuất khẩu nói chung, về quy cách chất lượng, cơ sở hạ
tầng phục vụ cho sản xuất và chế biến, năng suất bốc xếp và việc cung ứng hàng.
Hình: Chênh lệch giá xuất của Việt Nam và Thái Lan những năm gần đây

Đề án môn học quản trị kinh doanh tổng hợp-GVHD: PGS-TS TRẦN VIỆT LÂM
2.3.3. Phân phối
2.3.3.1. Khâu mua
Theo Bộ Thương mại, có tới 95% lượng gạo xuất khẩu là do trung gian mua bán.
Người nông dân thiếu địa điểm và các phương pháp tốt để dự trữ, bảo quản lúa, lại luôn cần
vốn để chuẩn bị cho vụ mùa tới nên bắt buộc phải bán phần lớn lượng sản phẩm cho tư nhân
thu mua lẻ. Tư nhân thu mua lẻ, do thiếu kỹ thuật chế biến, phải bán lại cho tư nhân thu mua
lớn. Các nhà kinh doanh này chế biến gạo ra thành phẩm cuối cùng và cung cấp cho các
doanh nghiệp xuất khẩu. Việc tư nhân thực hiện phần lớn khối lượng gạo xay xát xuất khẩu

một mặt có những tích cực vì sẽ tạo sức cạnh tranh, chống thế độc quyền của Nhà nước, thúc
đẩy lượng gạo xuất khẩu, song mặt khác dẫn đến những bất lợi không nhỏ như việc nông dân
bị ép giá, phải bán số lượng lớn giá rẻ cho tư thương, khó dẫn đến thực hiện được chủ trương
của Nhà nước trong việc duy trì mức giá đảm bảo cho nông dân mức lợi nhuận 25-40% để
khuyến khích sản xuất.
Tương tự như trong khâu thu mua, tư nhân đóng vai trò quan trọng trong khâu chế
biến, bảo quản gạo xuất khẩu. Chính vì vậy đã dẫn đến tiêu chuẩn chất lượng và độ đồng đều
của gạo xuất khẩu cũng bị hạn chế. Trong khi đó, các cơ sở xay xát lớn của quốc doanh chưa
được khai thác triệt để, nhất là những nhà máy có công suất lớn và công nghệ hiện đại với
trang thiết bị đồng bộ ở các công đoạn sát, sàng, xoa, hồ tẩy, đánh bóng, đóng gói để phục vụ
xuất khẩu. Hiện tại, công suất của các cơ sở xay xát trong nước có thể đáp ứng nhu cầu của
cả nước nhưng quốc doanh chỉ chiếm 1/3. Ở miền Nam có những nhà máy có công suất lớn
và công nghệ hiện đại như nhà máy xay xát Satake Sài Gòn, công suất 600 tấn/ngày, nhà máy
xay Cửu Long công suất 240 tấn/ngày. Ở miền Bắc có gần 2500 cơ sở lớn nhỏ, có thể xay xát
hết số thóc sản xuất ra trong năm. Song do thiết bị lạc hậu, một số nhà máy lớn do doanh
nghiệp Nhà nước quản lý đều có tuổi thọ trên 30-40 năm, một số được đầu tư cải tạo nhưng
thiếu đồng bộ nên giá thành sản phẩm vẫn ở mức cao. Những cơ sở xay xát nhỏ đang chiếm
ưu thế, trong đó có 2200 cơ sở nhỏ do tư nhân đầu tư, quản lý, khai thác, chủ yếu đáp ứng
nhu cầu thị trường hiện nay hoặc phục vụ xuất khẩu với khối lượng nhỏ, phẩm cấp trung
bình.
Để đổi mới, chúng ta đã nhập các thiết bị đồng bộ, đảm bảo cho các doanh nghiệp
quốc doanh có thể chế biến gạo đạt chất lượng cao, nâng cao công suất máy. Bên cạnh xay
xát, cần có một hệ thống kho chứa nhằm bảo quản tốt gạo xuất khẩu. Tư nhân thường sử
dụng kho nhỏ, không đảm bảo do vị trí xây dựng không được tính toán, không thích hợp với
cơ chế thị trường hiện nay. Các kho do quốc doanh lương thực quản lý thường có chất lượng
tốt với 50% là kho kiên cố và 50% kho bán kiên cố nhưng hiệu suất sử dụng kho thấp, (30%
tổng dung tích kho). Tuy nhiên, ở những địa bàn trọng điểm, nhất là cảng khẩu thì lại thiếu
kho, đặc biệt là các loại kho hiện đại, đạt tiêu chuẩn kỹ thuật bảo quản gạo xuất khẩu.
2.3.3.2. Khâu xuất khẩu
Trong khâu xuất khẩu gạo ở Việt Nam, các doanh nghiệp quốc doanh vẫn chiếm vị trí

độc quyền. Những bất cập trong phân phát hạn ngạch và hạn chế số lượng các doanh nghiệp
có quyền xuất khẩu gạo đã gây khó khăn không ít đối với kim ngạch gạo xuất khẩu của nước
ta nói chung. Nhiều doanh nghiệp tìm mọi cách để có thể tham gia vào xuất khẩu gạo, nảy
sinh những cạnh tranh tự phát và tiêu cực. Thương nhân bên ngoài thường lợi dụng tình hình
đó để ép giá, gây thiệt hại không nhỏ cho nền kinh tế quốc dân. Để khắc phục những nhược
điểm nêu trên, các cơ quan Nhà nước đã có nhiều cố gắng trong việc nghiên cứu và nắm

Đề án môn học quản trị kinh doanh tổng hợp-GVHD: PGS-TS TRẦN VIỆT LÂM
vững biến động cung cầu, giá cả của thị trường gạo quốc tế để quản lý, chỉ đạo giá xuất khẩu
trong nước, hướng dẫn các doanh nghiệp đầu mối không xuất khẩu dưới mức giá tối thiểu đã
quy định.
Những năm qua, xuất khẩu gạo tập trung vào một số doanh nghiệp nhà nước như
Tổng công ty lương thực miền Nam, Tổng công ty lương thực miền Bắc, các công ty lương
thực các tỉnh sản xuất gạo chủ yếu như An Giang, Tiền Giang, Vĩnh Long, Long An
Bên cạnh các doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
cũng được phép tham gia xuất khẩu gạo như công ty chế biến gạo hấp JFT-Rice tại Long An,
công ty Anginmex-Kitoku tại An Giang tạo sự phong phú và đa dạng cho hoạt động xuất
khẩu gạo của Việt Nam.
2.3.3.3. Các kênh phân phối
Giữa người sản xuất và người tiêu thụ gạo có một hệ thống trung gian tham gia vào
hoạt động phân phối bao gồm những người thu gom, bán buôn, bán lẻ có nhiệm vụ hỗ trợ
hoạt động phân phối gạo đến tay người tiêu dùng cuối cùng.
Các kênh phân phối gạo của Việt Nam: do còn nhiều bất lợi trong hoạt động xuất
khẩu gạo, phần lớn những hợp đồng xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam đều phải thực
hiện qua trung gian nước ngoài. Tuy nhiên, việc áp dụng chính sách mở cửa ra thị trường thế
giới của nước ta đã tạo ra các hợp đồng sản xuất giữa nông dân với doanh nghiệp thu mua và
chế biến gạo. Loại hợp đồng này rất phổ biến ở các nước phát triển trong khu vực hiện nay
như Thái Lan và bắt đầu có mặt tại Việt Nam, bảo đảm cho duy trì sản xuất với các điều
kiện đã được thoả thuận trước, giảm được những rủi ro trong ngắn hạn. Tuy nhiên, loại hợp
đồng này bắt buộc nông dân phải phụ thuộc nhiều vào người mua sản phẩm.

Nhìn chung, phân phối gạo của Việt Nam dựa theo sơ đồ sau:
Hình: Các kênh phân phối
3
Đề án môn học quản trị kinh doanh tổng hợp-GVHD: PGS-TS TRẦN VIỆT LÂM
Như sơ đồ trên đã chỉ rõ, hoạt động xuất khẩu gạo ở Việt Nam được chia làm hai
khâu. Ở khâu mua, chủ yếu gạo được chuyển từ người sản xuất, qua một số trung gian tới
người xuất khẩu hoặc được chuyển một cách trực tiếp. Các khâu trung gian đóng vai trò rất
quan trọng ở Việt Nam nên hình thức phân phối trực tiếp chỉ mới hình thành nhưng xu hướng
sẽ phát triển trong tương lai. Trong khâu xuất khẩu, nhà xuất khẩu nước ta phần lớn phải dựa
vào trung gian nước ngoài mới đưa dược gạo đến với khách hàng. Các hợp đồng trực tiếp ít
được ký kết và đưa vào thực hiện.
Sơ đồ trên có thể chia các cấp kênh theo quan điểm Marketing-mix:
• Kênh cấp 0: Người sản xuất - Khách hàng (Người tiêu dùng cuối cùng): kênh này không
có đối với xuất khẩu gạo ở Việt Nam vì kênh này không qua một trung gian nào, kể cả
người xuất khẩu.
• Kênh cấp 1: Người sản xuất - Nhà xuất khẩu - Khách hàng: chỉ qua một trung gian là nhà
xuất khẩu.
• Kênh cấp 2, 3: Người sản xuất - Một số trung gian - Khách hàng.
• Kênh cấp 4: Người sản xuất - Tất cả các trung gian - Khách hàng.
Qua việc chia các kênh như trên, chúng thấy rằng ở Việt Nam, phổ biến nhất vẫn là
kênh cấp 4. Để tiến hành xuất khẩu gạo, cần qua tất cả các khâu trung gian mới đến tay được
người tiêu dùng. Ưu điểm của hình thức phân khối này là người sản xuất tách được khỏi hoạt
động phân phối nên có thể đầu tư nguồn lực vào quá trình sản xuất gạo, nếu kết hợp nhịp
nhàng sẽ tạo ra khả năng linh hoạt cho thị trường do chuyên môn hoá cao. Tuy nhiên, trong
điều kiện cụ thể của Việt Nam, việc phải dùng đến quá nhiều trung gian sẽ phát sinh các vấn
đề như giá cả tăng, người sản xuất không có mối quan hệ với khách hàng nên không biết
được nhu cầu và mong muốn của họ. Hơn nữa, người sản xuất bị phụ thuộc quá nhiều vào
trung gian dễ dẫn đén tình trạng bị ép giá
W
Đề án môn học quản trị kinh doanh tổng hợp-GVHD: PGS-TS TRẦN VIỆT LÂM

2.3.4. Xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh
2.3.4.1. Mục đích
Chính sách xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh có vai trò to lớn trong Marketing-mix đối
với sản phẩm gạo. Nhờ các công cụ, chính sách xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh, chúng ta có
thể thúc đẩy nhanh việc xuất khẩu, thâm nhập thị trường, làm tăng kim ngạch, góp phần nâng
cao hiệu quả xuất khẩu nhờ số lượng gạo bán ra nước ngoài tăng lên, qua đó thu hút khách
hàng tiềm năng
Hoạt động xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh không chỉ nhằm lôi cuốn sự chú ý của khách
hàng nước ngoài đối với gạo xuất khẩu của Việt Nam mà còn nâng cao vị trí của xuất khẩu
các sản phẩm Việt Nam nói chung trên thị trường quốc tế, qua đó lôi kéo thêm các nhà nhập
khẩu gạo và giúp cho Việt Nam có lợi thế cạnh tranh cao hơn các nước xuất khẩu khác.
2.3.4.2. Các biện pháp xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh
Các doanh nghiệp ở Việt Nam sử dụng chiến lược “đẩy” trong chính sách xúc tiến để
đẩy gạo ra thị trường thông qua mạng lưới kênh phân phối. Chiến lược này đặc biệt chú trọng
tới việc tổ chức tốt mạng lưới phân phối nhằm đạt hiệu quả xuất khẩu tối đa. Qua hơn 20
năm thực hiện việc bán gạo ra thị trường thế giới, chúng ta chưa thực sự có những kế hoạch
xúc tiến một cách quy củ mà chỉ là những việc làm mang tính chất bước đầu. Cụ thể là:
- Xuất khẩu gạo đã được thúc đẩy bằng một số biện pháp nâng cao chất lượng, giảm
giá vận chuyển và nâng cao tiếng tăm của Việt Nam đối với các bạn hàng nước ngoài. Trong
những năm qua, chất lượng gạo đã có những cải tiến đáng kể với việc giảm tỷ lệ phần trăm
số gạo gẫy và các chỉ tiêu khác. Tuy nhiên, chất lượng gạo của Việt Nam luôn là vấn đề nhức
nhối với các nhà xuất khẩu khi đặt trong bối cảnh cạnh tranh của thị trường thế giới nên yếu
tố về chất lượng gạo hiện nay chưa thể là một điểm mạnh trong chính sách xúc tiến kinh
doanh của ta được.
- Các biện pháp giảm giá và vận chuyển cũng bước đầu được áp dụng. Tuy nhiên, chi
phí cảng, chi phí bốc dỡ và các chi phí liên quan tại cảng biển Việt Nam vẫn còn cao, khó có
thể cạnh tranh được với các nhà xuất khẩu khác. Hơn nữa, tốc độ bốc hàng chậm, gây mất cơ
hội về giá cả và uy tín của các doanh nghiệp Việt Nam.
- Cung cấp các dữ liệu tiếp cận thông tin về giá cả, sản xuất lương thực, thị trường
quốc tế và thị trường tiếp thị. Trong thời đại ngày nay, việc trao đổi thông tin giữa các nguồn

cung và thị trường là một yếu tố không thể thiếu trong việc Marketing sản phẩm. Chiến lược
thông tin ở Việt Nam cho xuất khẩu gạo vẫn còn những bất cập. Các doanh nghiệp không
thường xuyên có được những thông tin và dự báo trong việc xác định các thị trường đầu ra,
khối lượng gạo có thể xuất khẩu, các chính sách khuyến khích khả năng cạnh tranh của gạo
cũng như nhu cầu khách hàng.
Khâu nghiên cứu thị trường xuất khẩu gạo vẫn chưa được đầu tư đúng mức. Các
nguồn tài liệu về thị trường gao thế giới phục vụ cho kinh doanh xuất khẩu cũng như phục vụ
công tác quản lý xuất khẩu, công tác nghiên cứu nhìn chung còn quá ít ỏi, chưa đáp ứng nhu
cầu thực tế trong khi hoạt động xuất khẩu đòi hỏi những thông tin sâu rộng về thị trường để
theo dõi kịp thời và hệ thống các diễn biến cung cầu, giá cả. Do nghiên cứu thị trường bị hạn
chế nên các doanh nghiệp xuất khẩu gạo của Việt Nam không xử lý được kịp thời những diễn
biến của thị trường, bỏ lỡ rất nhiều cơ hội thuận lợi cho xuất khẩu gạo, gây thiệt hại tới bản
thân doanh nghiệp nói riêng và cho Nhà nước nói chung. Sự thiếu thông tin về gạo trên thế
Z

×