Tải bản đầy đủ (.doc) (112 trang)

Hoạt động quản lý NHà nước đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (676.76 KB, 112 trang )

Lời nói đầu
Từ Đại hội Đảng VI (1986), thực hiện chủ trơng đờng lối đổi mới, mở cửa
nền kinh tế theo phơng châm Đa phơng hóa, đa dang hóa các quan hệ chính trị,
kinh tế, đối ngoại, kết hợp chặt chẽ giữa việc khai thác có hiệu các nguồn lực trong n-
ớc là chính với việc huy động tối đa các nguồn lực bên ngoài, Đảng và Nhà nớc ta
đã đặc biệt quan tâm đến hoạt động đến đầu t trực tiếp nớc ngoài. Việc ban hành
Luật đầu t nớc ngoài đầu tiên (29/12/1987) với những quy định thông thoáng hấp
dẫn nh một luồng gió mới thổi vào nền kinh tế Việt nam lúc đó đang trong tình
trạng khủng hoảng trầm trọng, các nhà đầu t nớc ngoài bắt đầu chọn Việt Nam
làm điểm dừng chân của mình. Nhận thức đợc tầm quan trọng của hoạt động đầu t
trực tiếp nớc ngoài, nhằm cải thiện tốt hơn môi trờng đầu t, khuyến khích và tạo
điều kiện cho các nhà đầu t nớc ngoài, năm 1990 và năm 1992, Luật đầu t nớc
ngoài đã 2 lần đợc sửa đổi, bổ sung và đến năm 1996, để phù hợp với điều kiện
phát triển kinh tế- xã hội, tình hình xu thế đầu t trực tiếp nớc ngoài vào Việt Nam,
Luật đầu t nớc ngoài mới đã đợc quốc hội thông qua ngày 12/11/1996.
Qua 10 năm thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế, thu hút đầu t trực tiếp
nớc ngoài dới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nớc, Việt Nam đã tiến những bớc dài
trên bớc đờng hội nhập vào nền kinh tế thế giới và thúc đầy phát triển nền kinh tế
trong nớc với tốc độ tăng GDP hàng năm vào loại cao trên thế giới (8,5 - 9%), dự
định tốc độ này dự tính sẽ đợc duy trì vào năm 1998.
Đánh giá các động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển, một yếu tố không
thể phủ nhận đợc đó là vai trò quan trọng của đầu t trực tiếp nớc ngoài. Đầu t trực
tiếp nớc ngoài không chỉ góp phần để nền kinh tế đạt đợc tốc độ tăng trởng cao
trong những năm qua mà còn là điều kiện cơ sở cần thiết cho cả quá trình phát triển
trong những năm tiếp theo (Trả lời phỏng vấn Báo Đầu t của cựu Thủ tớng Võ
Văn Kiệt ). Hiểu đợc điều đó càng không thể không khẳng định công lao to lớn
của Đảng và Nhà nớc ta. Vấn đề quản lý Nhà nớc đối với đầu t trực tiếp nớc ngoài
đã và đang là một vấn đề đợc quan tâm, nhiều hội thảo xung quanh đầu t trực tiếp
1
và quản lý Nhà nớc về đầu t đã đợc tổ chức, thu hút nhiều nhà kinh tế Việt Nam và
thế giới, các nhà đầu t nớc ngoài.


Chính vì vậy, tôi đã chọn đề tài "Hoạt động quản lý Nhà nớc đối với đầu t
trực tiếp nớc ngoài" làm nội dung luận văn kết thúc khóa học. Luận văn đợc viết
thành 3 chơng:
Chơng I: Những lý luận chung về hoạt động quản lý Nhà nớc về
ĐTTTNN tại Việt Nam
Chơng II: Hoạt động quản lý Nhà nớc về ĐTNN tại Việt Nam
Chơng III: Phơng hớng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý Nhà
nớc về ĐTNN
Trong quá trình làm luận văn, tôi xin trân trọng cảm ơn GS-PTS Tô Xuân
Dân- Chủ nhiệm Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế trờng Đại học Kinh tế quốc
dân, Phó tiến sĩ Đinh Văn Ân- Vụ trởng Vụ Pháp luật Đầu t nớc ngoài -Bộ Kế
hoạch và Đầu t đã tận tình hớng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy cô giáo Khoa Kinh tế
và Kinh doanh quốc tế trờng Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội, các chuyên viên
của Vụ Pháp luật Đầu t nớc ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu t cùng toàn thể gia đình
và bạn bè đã hết lòng động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời
gian làm luận văn.
Nhng do khuôn khổ có hạn và trình độ còn nhiều hạn chế, luận văn này
chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định, rất mong đợc sự đóng góp
ý kiến của tất cả các thầy cô và các bạn.
2
Chơng I: Những lý luận chung về hoạt
động quản lý Nhà nớc về đầu t trực
tiếp nớc ngoài tại Việt Nam
1.1. Bối cảnh chung về đầu t trực tiếp nớc ngoài
1.1.1. Sự ra đời của đầu t trực tiếp
Hiện nay trên thế giới đã và đang tồn tại một cách khách quan những nớc
giầu và nớc nghèo, hay nói một cách khác là nớc chậm phát triển và nớc phát triển.
Nguyên nhân chính là do đâu? Ai cũng có thể trả lời câu hỏi này một cách dễ

dàng. Chẳng hạn, hiểu một cách đơn giản là một bàn tay bao giờ cũng có ngón
dài, ngón ngắn, vì vậy mà trên thế giới luôn xuất hiện những nớc giàu, nớc nghèo.
Khi có sự cách biệt về khả năng kinh tế, về tài chính giữa các nớc thì lúc
này các nớc phát triển bắt đầu xảy ra tình trạng d thừa vốn, công nghệ và lợi nhuận
giảm. Còn các nớc chậm phát triển lại rơi vào tình trạng thiếu vốn, thiếu công
nghệ mới, thiếu kinh nghiệm quản lý. Vì vậy để tránh tình trạng ứ đọng vốn, công
nghệ của họ ra nớc ngoài nhằm mục đích sinh lời và kéo dài tuổi thọ của công
nghệ. Trong khi đó các nớc đang phát triển mới chỉ có đợc công nhân dồi dào và
nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú cha đợc khai thác triệt để do cha có vốn
và công nghệ thích hợp để khai thác tốt hai nguồn lực này, đây là một môi trờng
đầu t đầy triển vọng của các nhà đầu t nớc ngoài trong quá trình tìm kiếm cơ hội
đầu t nhằm làm tăng lợi nhuận cho mình trong hoạt động đầu t nớc ngoài. Hơn nữa
do các nớc phát triển rất dồi dào sản phẩm công nghệ cao, có chất lợng tốt, mẫu
mã đa dạng phong phú, bao bì đẹp, đáp ứng đợc nhu cầu tiêu dùng cao cho nên
tính cạnh tranh trên thị trờng giữa các sản phẩm hết sức gay gắt. Sự cạnh tranh này
nhiều lúc không cân sức vì trên thị trờng nếu chúng ta chỉ nhìn vào sản phẩm thì
không thể biết đối thủ cạnh tranh mạnh hay yếu, mà phải nhìn vào chiến lợc kinh
doanh của đối thủ cạnh tranh thì mới biết đợc. Vì vậy, để tránh rủi ro trên thị trờng
nội địa thì buộc các doanh nghiệp phải tiến hành đầu t ra nớc ngoài. Hình thức đầu
t ra nớc ngoài bên cạnh việc hạn chế rủi ro thì nó còn nhằm tăng vòng quay của
vốn, tận dụng đợc công nghệ hạng 2 ở trong nớc (nớc phát triển).
Trong quá trình đầu t, các nhà đầu t cố gắng hạ thấp chi phí để đạt đợc lợi
nhuận cao nhất. Muốn làm đợc điều đó buộc họ phải đầu t ra nớc ngoài để mở
rộng cơ hội tối đa hoá lợi nhuận khi đầu t vào những nớc chậm phát triển họ tiết
3
kiệm đợc rất nhiều chi phí nh chi phí đổi mới công nghệ, chi phí thanh lý công
nghệ, chi phí lao động chất xám, chi phí lao động phổ thông, trong khi đó lại đợc u
đãi về thuế (thuế doanh thu, thuế xuất khẩu....). Đồng thời lợi nhuận còn đợc đảm
bảo bởi các chính sách kinh tế của các nớc nhận đầu t.
Với bao lý do trên thì quá trình đầu t nớc ngoài thực chất là quá trình di

chuyển vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý từ nớc phát triển sang nớc chậm
phát triển nhằm tạo ra sự phát triển ổn định trên toàn thế giới.
1.1.2. Khái niệm về đầu t trực tiếp nớc ngoài
(FDI)
Mặc dù không có nhiều tranh luận xung quanh khái niệm FDI, nhng trong
sách báo kinh tế cha có khái niệm nào đợc coi là hoàn chỉnh.
Khái niệm đợc chấp nhận rộng rãi hơn cả là do quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đa ra
năm 1977. Theo đó:
Đầu t trực tiếp nớc ngoài là số vốn đầu t đợc thực hiện để thu đợc lợi ích lâu
dài trong một doanh nghiệp hoạt động ở nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà
đầu t. Mục đích của nhà đầu t là giành đợc tiếng nói có hiệu quả trong việc quản lý
doanh nghiệp đó.
Định nghĩa này nhấn mạnh động cơ đầu t và phân biệt FDI với đầu t gián
tiếp (Portfolio Investment). Trong đó, đầu t gián tiếp có đặc trng cơ bản là nhằm
thu đợc lợi nhuận từ việc mua bán các tài sản, tài chính ở nớc ngoài, nhng nhà đầu
t không quan tâm đến quá trình quản lý doanh nghiệp. Trong khi đó với FDI, các
nhà đầu t vẫn giành quyền kiểm soát các quá trình quản lý.
Nhiều nhà kinh tế khác cũng đi theo cách tiếp cận tơng tự. Chẳng hạn BO
Siderten và Geoffrey Reed trong cuốn International Economics (1994) Dominick
Salvatore trong International Economics (1995). Tuy nhiên trong định nghĩa của
mình Salvatore còn phân biệt rõ hơn hai loại đầu t này ở khía cạnh, một bên là đầu
t vào tài sản thực ông viết:
Đầu t gián tiếp là các tài sản tài chính thuần ví dụ trái phiếu, cổ phần đợc
mệnh giá bằng đồng tiền trong nớc.
Đầu t trực tiếp là đầu t thực (real) vào nhà máy, các hàng hoá đầu t, đất đai,
hàng tồn kho, ở đó quyền quản lý và t bản cùng tồn tại và nhà đầu t giữ quyền
quản lý quá trình sử dụng vốn đầu t đó.
4
Tuy nhiên các định nghĩa trên cha nhấn mạnh đến khía cạnh sở hữu.
Cách tiếp cận khác, khi tìm kiếm một định nghĩa về FDI là cách tiếp cận sở

hữu. Synthia day, Wallacc, một chuyên gia Mỹ nghiên cứu về công ty xuyên quốc
gia viết:
Đầu t nớc ngoài có thể định nghĩa theo nghĩa rộng là việc thiết lập hay
giành đợc quyền sở hữu đáng kể trong một hãng (công ty) ở nớc ngoài hay sự gia
tăng khối lợng của một khoản đầu t nớc ngoài nhằm đạt đợc quyền sở hữu đáng
kể.
Các nhà kinh tế Việt Nam, khi nghiên cứu FDI thờng đi theo cách tiếp cận
nguồn vốn, coi FDI là một trong các nguồn vốn nớc ngoài, bên cạnh các nguồn
vốn nh: Tài trợ phát triển chính thức (ODA), viện trợ của các tổ chức phi Chính
phủ (NGOs) tín dụng từ các ngân hàng thơng mại.
Mỗi khái niệm, mỗi cách tiếp cận đều có điểm mạnh và điểm yếu của nó,
nhng dù sao cách hiểu nào đi chăng nữa cũng phần nào giúp chúng ta hiểu đợc về
FDI.
1.2. Khái niệm quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài
Quản lý là một chức năng xã hội bắt nguồn từ tính xã hội của lao động. Sự
phát triển không ngừng sản xuất xã hội về quy mô trình độ khoa học và công
nghệ, về các quan hệ phân công và hợp tác trên phạm vi quốc tế, sự phát triển rất
cao của nền kinh tế thị trờng đợc quốc tế hoá nhanh chóng đã thúc đẩy mạnh mẽ
xu hớng nâng cao vai trò quản lý với t cách là một chức năng xã hội đặc biệt.
Từ khi xuất hiện Nhà nớc thì bộ phận quan hệ quản lý quan trọng nhất,- tức
là phần quản lý xã hội quan trọng nhất- do Nhà nớc đảm nhận. Tất nhiên, chúng ta
cần thấy rằng, quản lý xã hội nói chung và quản lý kinh tế nói riêng không chỉ do
Nhà nớc với t cách là tổ chức chính trị quyền lực đặc biệt thực hiện mà còn do các
bộ phận cấu thành khác của hệ thống chính trị thực hiện nh giai cấp, chính đảng,
cơ quan xã hội.... và ở dới góc độ khác là hộ gia đình, tổ hợp tác hay doanh nghiệp
t nhân.
Quản lý Nhà nớc ở đây không phải là quản lý cái tổ chức chính trị gọi là
Nhà nớc, mà là sự quản lý có tính chất Nhà nớc, do Nhà nớc thực hiện thông qua
bộ máy các cơ quan Nhà nớc, trên cơ sở quyền lực Nhà nớc nhằm thực hiện các
chức năng và nhiệm vụ của mình.

Nghiên cứu về quản lý nhà nớc đối với các hoạt động đầu t trực tiếp, luận
văn này chỉ giới hạn ở khía cạnh quản lý Nhà nớc theo nghĩa hẹp đó là hoạt động
chấp hành và điều hành do hệ thống cơ quan hành chính Nhà nớc thực hiện.
5
Dới trạng thái tĩnh, cơ cấu của quản lý Nhà nớc gồm các yếu tố: Chủ thể,
khách thể, và quan hệ giữa chúng. Trong quá trình quản lý Nhà nớc về đầu t trực
tiếp giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý có mối liên hệ qua lại, gắn bó hữu
cơ. Hoàn toàn sai lầm khi cho rằng quan hệ quản lý chỉ đơn thuần là tác động một
chiều từ chủ thể quản lý lên khác thể quản lý. Quản lý Nhà nớc về đầu t trực tiếp là
sự tác động của chủ thể quản lý (các cơ quan quản lý Nhà nớc) vào khách thể quản
lý (các hoạt động đầu t trực tiếp) nhằm đạt đợc những mục tiêu đã định.
Từ những phân tích trên đây có thể đa ra khái niệm:
Quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài là hoạt động chấp hành và điều hành
của các cơ quan hành chính Nhà nớc Việt Nam đợc tiến hành trên cơ sở pháp luật
và để thi hành pháp luật về đầu t trực tiếp nớc ngoài nhằm khuyến khích và bảo
đảm cho các nhà đầu t nớc ngoài tiến hành các hoạt động đầu t tại Việt Nam trên
cơ sở tuân thủ pháp luật và hai bên cùng có lợi.
Mặt chấp hành của hoạt động này thể hiện ở sự thực hiện các quy định của
pháp luật về đầu t trực tiếp nớc ngoài.
Mặt điều hành là sự chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tợng bị quản lý-
-nhà đầu t nớc ngoài, các bên hợp doanh và doanh nghiệp có vốn đầu t trực tiếp n-
ớc ngoài. Một đặc trng của hoạt động điều hành là ra các văn bản dới luật mang
tính chất pháp lý- quyền lực đợc đảm bảo bởi khả năng áp dụng cỡng chế. Hoạt
động chấp hành thờng bao hàm hoạt động điều hành bởi trong đa số các trờng hợp,
nếu thiếu các hoạt động điều hành thì không thể chấp hành pháp luật một cách
nghiêm chỉnh đợc.
Quản lý Nhà nớc về đầu t trực tiếp nớc ngoài có những đặc trng chủ yếu của
hoạt động quản lý Nhà nớc đó là: hoạt động mang tính tổ chức là chủ yếu. Hoạt
động bảo vệ pháp luật- tài phán trong quản lý Nhà nớc là cần thiết và quan trọng
nhng chỉ chiếm phần nhỏ.

Là hoạt động mang tính chất chủ quan của con ngời nhng quản lý Nhà nớc
về đầu t trực tiếp nớc ngoài còn mang tính tổ chức và sáng tạo cao. Đặc trng này
xuất phát trực tiếp từ bản chất mặt điều hành của quản lý Nhà nớc. Tính chủ động
sáng tạo thể hiện ở hoạt động xây dựng pháp luật theo thẩm quyền, đặc biệt có thể
cả những văn bản chứa đựng các quy phạm tiên phát điều chỉnh quan hệ mới phát
sinh cha ổn định và cha đợc luật điều chỉnh. Tính chủ động sáng tạo đợc quy định
bởi chính sự phức tạp, phong phú và đa dạng của các hoạt động đầu t trực tiếp. Đầu
t trực tiếp luôn biến động và phát triển không ngừng, đòi hỏi phải có sự phối hợp
kịp thời giữa các cơ quan chức năng trong việc vận dụng pháp luật một cách sáng
tạo để giải quyết kịp thời các vấn đề phát sinh trong quá trình hình thành và triển
6
khai dự án. Tất nhiên, trong mọi trờng hợp không thể "chủ động, sáng tạo" ngoài
phạm vi khuôn khổ thẩm quyền luật định.
Quản lý Nhà nớc về đầu t trực tiếp nớc ngoài còn mang tính dới luật. Tính
dới luật thể hiện ở chỗ bản thân hoạt động quản lý là hoạt động chấp hành và điều
hành trên cơ sở các quy định của Luật đầu t nớc ngoài và các đạo luật có liên quan.
Quyết định đợc ban hành của các cơ quan quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài phải
phù hợp với các quyết định của luật và các văn bản của cơ quan Nhà nớc cấp trên.
Quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài là hoạt động đợc sự bảo đảm về phơng
diện tỏ chức- bộ máy và cơ sở vật chất đó là hệ thống các cơ quan nhiều về số lợng
và biên chế, phức tạp về tổ chức- cơ cấu với nhiều chức năng, nhiệm vụ và phong
phú về hình thức, đa dạng về phơng pháp hoạt động.
Vì đầu t trực tiếp nớc ngoài có mối quan hệ với chính trị cho nên quản lý
Nhà nớc về đầu t trực tiếp nớc ngoài cũng mang tính chính trị. Hoạt động quản lý
kinh tế của Nhà nớc nói chung- trong đó có lĩnh vực đầu t trực tiếp- là một trong
những kênh thực hiện quyền lực Nhà nớc.
Một địa điểm nữa của quản lý Nhà nớc về đầu t trực tiếp nớc ngoài là tính
chuyên nghiệp và liên tục. Đầu t trực tiếp trong giai đoạn phát triển thứ ba của nền
kinh tế thế giới có tính chất tập trung cao và gắn chặt với buôn bán quốc tế và
chuyển giao công nghệ. Vì vậy, hoạt động quản lý đầu t trực tiếp phải là hoạt động

có tính chuyên nghiệp cao. Đây là vấn đề hết sức bức xúc với đội ngũ cán bộ quản
lý vừa thiếu, lại vừa yếu của chúng ta. Nhà quản lý không những chỉ cần có kiến
thức về lý luận quản lý, về pháp luật kinh tế vững vàng mà phải có kinh nghiệm
thực tiễn, có kiến thức về ngành, lĩnh vực mình đảm nhiệm. Tính liên tục thể hiện
ở chỗ, hoạt động quản lý phải đợc tiến hành thờng xuyên mà không thể bị gián
đoạn vì hoạt động bị quản lý diễn ra khong ngừng trong thực tiễn. Ngoài ra quản
lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài còn có các địa điểm khác là: Tính khoa học, tính kế
hoạch, tính thờng đợc thể hiện dới hình thức pháp lý....
Mỗi giai đoạn lịch sử, tuỳ theo những nhiệm vụ kinh tế- xã hội đòi hỏi phải
thực hiện mà nội hàm khái niệm quản lý Nhà nớc về kinh tế đã có sự thay đổi.
Điều này thể hiện rõ trong các học thuyết về kinh tế khi đi tìm tòi vai trò của Nhà
nớc đối với nền kinh tế.
Với t tởng cho rằng, nguồn gốc của sự giàu có của mỗi dân tộc nằm ở sự tự
do kinh tế, Adam Smith (1723-1790) cha nhận thấy vai trò đích thực của Nhà nớc.
Theo ông, nền kinh tế phát triển, xã hội giàu có là nhờ sự tự do cạnh tranh, còn vai
trò kinh tế của Nhà nớc chỉ dừng lại ở việc bảo vệ quyền sở hữu, bảo đảm môi tr-
ờng kinh doanh. Nền kinh tế thị trờng tự do (the free market economy) với lý
7
thuyết của Adam Smith đã đề cao vai trò cạnh tranh và sự điều tiết bởi "Bàn tay vô
hình" của cơ chế thị trờng, hạ thấp vai trò của Nhà nớc và cho rằng Nhà nớc cần
thiết phải rút lui ra khỏi nền kinh tế, chỉ nên là "Ngời lính gác đêm" cho nền kinh
tế.
Ngợc lại, những nhà kinh tế học theo trờng phái Keynes đã đề cao vai trò
điều tiết vĩ mô của Nhà nớc. Học thuyết này đa ra nhiều biện pháp can thiệp vào
quá trình phát triển kinh tế nh sử dụng đơn đặt hàng của Nhà nớc, sử dụng ngân
sách Nhà nớc nh là công cụ điều tiết, sử dụng các biện pháp điều hoà nhằm phối
hợp giữa đầu t t nhân với việc sử dụng linh hoạt các khoản chi ngân sách Nhà nớc.
Nhiều nhà kinh tế theo học thuyết này cho rằng để điều tiết nền kinh tế có hiệu quả
chủ yếu phải bằng kế hoạch hoá.
Học thuyết về nền kinh tế hỗn hợp (The mixed economy) xây dựng một mô

hình kinh tế mới phối hợp năng động giữa thị trờng và sự can thiệp của Nhà nớc
trong giải quyết các vấn đề kinh tế. Học thuyết này đợc phát triển hoàn chỉnh với
đỉnh cao là công trình nghiên cứu của nhà kinh tế học đợc giải Nôbel về kinh tế
ngời Mỹ là A.SamuelSon. Học thuyết nền kinh tế hỗn hợp dã tìm kiếm đợc con đ-
ờng thứ ba nằm giữa mô hình kinh tế thị trờng tự do với "bàn tay vô hình" của thị
trờng và nền kinh tế kế hoạch tập trung mệnh lệnh (The command economy) với
"bàn tay hữu hình" của Nhà nớc.
Mô hình kinh tế hỗn hợp đang đợc áp dụng có hiệu quả ở hầu hết các quốc
gia có nền kinh tế thị trờng phát triển, tuy mức độ hỗn hợp của mỗi nớc có khác
nhau. Nhà nớc cần can thiệp vào các hoạt động trong nền kinh tế thị trờng ở những
chừng mực và phơng pháp nhất định là đúng đắn và cần thiết khách quan. Lý do
của sự can thiệp này nhằm khắc phục nhanh chóng và kịp thời các khuyết tật cố
hữu của thị trờng, phân bổ các nguồn lực kinh tế hợp lý, hớng các hoạt động kinh
tế- đầu t vào quỹ đạo với hiệu quả cao nhất.
Vấn đề đổi mới theo hớng nâng cao vai trò quản lý về kinh tế nói chung và
đầu t trực tiếp nớc ngoài nói riêng là một xu thế khách quan đối với tất cả các quốc
gia không phân biệt chế độ chính trị, văn hoá, xã hội, xu hớng quốc tế hoá đời
sống kinh tế đòi hỏi Nhà nớc bằng mọi biện pháp có thể can thiệp vào quá trình
đầu t trực tiếp nớc ngoài để cho nền kinh tế phát triển đúng hớng và sâu xa hơn là
do chính sự tồn tại của chế độ Nhà nớc đó. Nh vậy, muốn tồn tại và phát triển,
không có quốc gia nào đứng ngoài đời sống kinh tế quốc tế và cũng kông có nền
kinh tế thị trờng nào thuần khiết mà không có sự điều tiết của Nhà nớc.
Cơng lĩnh Đại hội VII đã chỉ rõ: ".... Là tổ chức thể hiện và thực hiện ý chí,
quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân nhà nớc phải có đủ quyền lực, đủ khả
8
năng định ra luật pháp, tổ chức và quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp
luật.
Quản lý Nhà nớc về đầu t trực tiếp nớc ngoài là bộ phận của quản lý Nhà n-
ớc về kinh tế. Nó chịu sự tác động và chi phối của cơ chế quản lý và phơng pháp
quản lý. Một khi Nhà nớc trực tiếp tiến hành quản lý nền sản xuất xã hội, điều tiết

nền kinh tế bằng các công cụ quản lý vĩ mô thì việc điều chỉnh các quan hệ đầu t
trực tiếp, hớng các quan hệ này phát triển này trong khuôn khổ luật định là điều
hết sức dễ hiểu. Bất kỳ quốc gia tiếp nhận đầu t nào cũng nắm chắc các công cụ
quan trọng nhất là pháp luật về kế hoạch để thu hút, kiểm soát và điều tiết đầu t
trực tiếp theo những mục tiêu trong từng giai đoạn nhất định.
Hoạt động quản lý Nhà nớc về đầu t trực tiếp nớc ngoài đợc hình thành và
từng bớc hoàn thiện gắn liền với phơng hớng đổi mới vai trò kinh tế của Nhà nớc
gắn liền với việc thực hiện một cuộc cải cách lớn về tổ chức và hoạt động của quản
lý Nhà nớc. Đó là việc tìm kiếm và tận dụng tối đa những lợi thế so sánh để thu
hút đầu t nớc ngoài đồng thời khai thác và phát huy triệt để mọi năng lực sản xuất
trong nớc, kết hợp hài hoà giữa nguồn lực bên trong và bên ngoài vì mục tiêu xây
dựng xã hội, dân chủ công bằng văn minh.
Đờng lối trên là sự áp dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lê nin, t tởng Hồ Chí
Minh trong thực tiễn Cách mạng Việt Nam, là kinh nghiệm đúc rút "kết hợp sức
mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại" vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế.
Cần tránh việc coi chính sách kinh tế mở nh là một chính sách kinh tế hớng ngoại,
trái lại đó là một chính sách vừa mở ra cho sản xuất trong nớc, vừa mở ra cho t bản
bên ngoài, tận dụng mọi nguồn lực có thể đợc từ bên ngoài mà không coi nhẹ đầu
t cho sản xuất trong nớc. Mở cửa cho bên ngoài nhng có các biện pháp cần thiết để
bảo hộ mậu dịch, bảo vệ an ninh quốc phòng, đẩy mạnh xuất khẩu và phấn đấu
tham gia ngày càng sâu trong phân công lao động quốc tế nhng vẫn kết hợp hài
hoà với việc mở rộng phân công lao động trong nớc và phát triển các thị trờng
trong nớc.
Sự thông thoáng của Luật đầu t nớc ngoài là cái giá mà nớc ta phải trả một
cách có tính toán nhằm thực hiện các mục tiêu hợp tác- đầu t với nớc ngoài để
nhận đợc càng sớm càng tốt những cái ta đang thiếu và rất cần cho chiến lợc công
nghiệp hoá, hiện đại hoá hớng về xuất khẩu. Nhng, nh một hành lang, dù có rộng
rãi đến đâu vẫn cần phải có những khuôn khổ. Nh vậy song với những quy định
cởi mở nhằm thu hút đầu t nớc ngoài thì cần thiết phải tăng cờng hoạt động quản
lý Nhà nớc để đảm bảo hiệu quả và mục đích của đầu t trực tiếp đối với nền kinh tế

nớc ta. Đổi mới và thực hiện cơ chế quản lý về đầu t trực tiếp nớc ngoài, Nhà nớc
9
ta thực hiện sự tác động mang tính quyền lực vào các quan hệ đầu t trực tiếp theo
những hình thức và phơng pháp nhất định để đạt đợc mục tiêu sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đặt ra.
1.3. Chức năng và các nguyên tắc quản lý Nhà nớc về đầu t
nớc ngoài
1.3.1. Các chức năng của quản lý Nhà nớc về đầu
t nớc ngoài
Dới trạng thái "động", quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài là một loại hoạt
động có những nội dung và hình thức biểu hiện sinh động. Nội dung của quản lý
Nhà nớc về đầu t nớc ngoài gồm các yếu tố: Mục đích, nhiệm vụ, chức năng và ph-
ơng pháp quản lý. Trong phần này, ta đi vào nghiên cứu yếu tố quan trọng nhất đó
là chức năng của quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài. Sự cần thiết khách quan của
việc nghiên cứu các chức năng này thể hiện ở chỗ các mục đích và nhiệm vụ quản
lý đạt đợc là nhờ chức năng quản lý. Vì vậy, có thể coi chức năng quản lý nh là
một phơng tiện thực hiện nhiệm vụ quản lý.
Trong lĩnh vực đầu t nớc ngoài quản lý Nhà nớc mang nhiều chức năng
khác nhau, các chức năng này vừa có mối liên hệ chặt chẽ, vừa có tính độc lập t-
ơng đối do quá trình hợp tác, phân công và chuyên môn hoá cao.
Số lợng, phân loại các chức năng quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài phụ
thuộc vào mục đích nghiên cứu và giác độ tiếp cận vấn đề.
ở đây, có thể phân loại các chức năng quản lý Nhà nớc về đầu t trực tiếp nớc
ngoài thành nhóm các chức năng cơ bản và nhóm các chức năng không cơ bản.
Những chức năng cơ bản của quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài là:
Chức năng dự báo: là hoạt động dựa trên các cơ sở các thông tin
chính xác và kết luận khoa học, nghiên cứu và dự báo các quá trình, đặc điểm, xu
hớng phát triển của đầu t trực tiếp. Tính chất và động thái của tình hình đầu t trực
tiếp diễn ra hết sức phức tạp, theo nhiều chu trình. Dự báo là điều kiện không thể
thiếu đợc trong việc xây dựng và thực hiện các dự án đầu t, việc tiến hành các nội

dung của quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài. Do vậy, dự báo ngày càng đóng vai
trò quan trọng, có ý nghĩa đặc biệt để thực hiện tốt các chức năng khác.
Chức năng kế hoạch hoá: Kinh tế thị trờng không đồng nghĩa với
việc loại trừ vai trò của kế hoạch hoá mà trái lại, nó rất cần sự định hớng và điều
tiết của Nhà nớc thông qua công cụ kế hoạch. Việc xây dựng các phơng án, mục
tiêu, chơng trình hành động và những bớc đi cụ thể có ý nghĩa đặc biệt to lớn đối
10
với hoạt động đầu t trực tiếp. Điều này hoàn toàn không làm cho các nhà đầu t nớc
ngoài lo sợ mà còn làm tăng độ hấp dẫn của môi trờng đầu t bởi đó là những định
hớng, quan điểm chính thức của Nhà nớc khi thừa nhận các hoạt động đầu t nớc
ngoài. Trong bối cảnh hiện nay khi thị trờng trong nớc và quốc tế đang dần xích lại
thì vai trò của kế hoạch hoá càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
Chức năng tổ chức- điều hành: Chức năng này đóng vai trò hết sức
quan trọng trong quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài. Đó là việc xây dựng hệ
thống cơ quan quản lý và cả một số chủ thể tham gia trực tiếp vào các quan hệ đầu
t nớc ngoài, đó là việc ban hành các quy định hành chính- pháp lý thừa nhận các tổ
chức, cá nhân có đầy đủ năng lực tham gia quan hệ đầu t, tham gia các hoạt động
liên quan đến đầu t trực tiếp. Đồng thời chức năng này còn bao hàm những hoạt
động xác lập và điều chỉnh những hành vi nhất định của các chủ thể quan hệ đầu t
trực tiếp. Chức năng tổ chức điều hành còn thể hiện qua việc thiết lập các chế độ
quản lý đầu t, cho hoạt động đầu t nhằm bảo vệ lợi ích Nhà nớc, bảo hộ sản xuất
trong nớc và khuyến khích hoạt động đầu t nớc ngoài vào các lĩnh vực của nền
kinh tế theo nguyên tắc : "Cơ quan Nhà nớc chỉ đợc làm những gì pháp luật không
cấm".
Chức năng kiểm tra, giám sát các hoạt động đầu t nớc ngoài: Đó là
việc căn cứ vào chế độ, chính sách, kế hoạch và pháp luật để phát hiện và đề ra các
biện pháp khắc phục những sai sót lệch lạc, vớng mắc trong quá trình đàm phán,
triển khai và thực hiện dự án đầu t. Vì vậy, có thể coi: "Kiểm tra là tai, là mắt của
quản lý". Hoạt động kiểm tra, thanh tra cần đợc tiến hành thờng xuyên dới nhiều
hình thức và phơng pháp đối với các nhà đầu t đối với các nhà đầu t lẫn cơ quan

quản lý về đầu t nớc ngoài.
Tóm lại, các chức năng cơ bản của quản lý Nhà nớc về đầu t nớc
ngoài không tồn tại độc lập mà tác động qua lại với nhau. Chỉ có thể quản lý tốt
các hoạt động đầu t nớc ngoài khi các chức năng quản lý nêu trên một cách đồng
bộ và thống nhất.
1.3.2. Các nguyên tắc quản lý Nhà nớc về đầu t n-
ớc ngoài
Nhiệm vụ của hoạt động quản lý là giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa
hoạt động chủ quan và thực tiễn khách quan. Trong quá trình quản lý- với t cách
đại diện cho quyền lực công, cho lợi ích quốc gia- mỗi viên chức trong các cơ quan
quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài phải có t duy và hành động khoa học, nghiêm
chỉnh chấp hành hoạt động công vụ. Với tính chất phức tạp của đầu t nớc ngoài,
11
mọi quyết định quản lý ra đời từ sự chủ quan duy ý chí hay nóng vội đều đi tới thất
bại.
Thuật ngữ "Nguyên tắc" có nguồn gốc từ tiếng La tinh "principiuim"
(nguyên lý) và có nghĩa là những t tởng đầu tiên t tởng chỉ đạo trong khoa học,
hiện tợng, quá trình. Nguyên tắc đó đợc áp dụng để nghiên cứu pháp luật nói
chung và các chế định của nó nói riêng. Nguyên tắc- nh Ph.Anghen viết- không
phải là "Chân lý tuyệt đối" mà thợng đế đã ban cho con ngời, nhng cũng phải thừa
nhận rằng, nguyên tắc không phải là bản thân thực tiễn quản lý. Ông viết tiếp:
"Nguyên tắc chính là kết quả đợc rút ra từ quá trình nghiên cứu sự phát triển của tự
nhiên và lịch sử".
Trong lĩnh vực quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài, nguyên tắc quản lý Nhà
nớc về đầu t nớc ngoài là những t tởng chỉ đạo, làm nền tảng cho quá trình tổ chức
và thực hiện các chức năng của quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài.
Đầu t nớc ngoài- hoạt động kinh tế mới mẻ hoàn toàn cha có tỷ lệ- do đó
quản lý về đầu t nớc ngoài đòi hỏi phải nắm vững chính sách, pháp luật, đồng thời
phải tìm tòi, sáng tạo những nội dung và hình thức quản lý mới đã đợc thực tiễn
thừa nhận.

Nh vậy, các nguyên tắc không thể đặt ra bởi ý chí chủ quan của con ngời.
Chúng ta không thể nghĩ ra các nguyên tắc, mà chỉ nêu chúng lên, mô tả chúng,
tổng kết chúng do kết quả của sự nghiên cứu thực tiễn khách quan. Bởi bản thân
các nguyên tắc không phải là cái gì khác mà chính là biểu hiện của các quy luật
khách quan đợc con ngời nhận thức.
Tự thân các quy luật có tính ổn định cao, vì thế các nguyên tắc quản lý Nhà
nớc cũng mang tính ổn định cao. Tuy vậy, chúng không phải là bất biến vì cuộc
sống luôn phát triển và vận động cùng các quy luật của nó. Do đó, các nguyên tắc
của quản lý Nhà nớc sẽ phát triển theo, mất đi những nguyên tắc này và xuất hiện
những nguyên tắc khác. Các nguyên tắc cũ còn tồn tại đợc sửa đổi sửa đổi, bổ
sung, đợc làm phong phú hơn về nội dung và hình thức. Vì vậy, cần nắm vững và
vận dụng đúng đắn những nguyên tắc quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài.
Vì mỗi nguyên tắc chỉ phản ánh một hay một số quy luật khách quan- chứ
không phản ánh toàn bộ các quy luật đó- nên chúng có tính độc lập tơng đối với
nhau. Đồng thời, chúng có quan hệ chặt chẽ bởi cùng đề cập đến những mặt khác
nhau của một hoạt động- đó là quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài. Việc tuân thủ
nguyên tắc này sẽ tạo điều kiện thực hiện các nguyên tắc khác, ngợc lại, vi phạm
nguyên tắc nào đó sẽ kéo theo sự vi phạm các nguyên tắc tơng ứng.
12
Hệ thống các nguyên tắc quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài rất đa dạng, ở
đây chỉ đi vào trình bày những nguyên tắc đặc trng cơ bản sau:
+ Nguyên tắc pháp chế
+ Nguyên tắc kế hoạch hoá
+ Nguyên tắc "một cửa" trong quản lý Nhà nớc.
+ Nguyên tắc đơn giản, nhanh chóng.
+ Nguyên tắc bảo đảm và khuyến khích các hoạt động đầu t nớc ngoài.
Nguyên tắc pháp chế:
Pháp chế là sự hiện diện của một hệ thống pháp luật cần và đủ để điều
chỉnh các quan hệ xã hội, làm cơ sở cho sự tồn tại một trật tự pháp luật và kỷ luật,
là sự tuân thủ và thực hiện đầy đủ pháp luật trong tổ chức và hoạt động của Nhà n-

ớc, của các cơ quan đơn vị, tổ chức và đối với công dân.
Pháp chế là phơng thức để tổ chức, trật tự hoá đời sống xã hội phù hợp với
ý chí của giai cấp cầm quyền. Nếu nh ý chí của giai cấp thống trị đợc đa lên thành
luật, xuất phát từ nhu cầu và điều kiện xã hội thực tại của giai cấp đó thì pháp chế
là việc đa ý chí đó vào cuộc sống, trở thành hiện thực và có đợc sức mạnh vật chất.
Dới góc độ quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài, đây là nguyên tắc của mọi
nguyên tắc, nó đòi hỏi tổ chức và hoạt động của bộ máy quản lý Nhà nớc về đầu t
nớc ngoài phải đợc pháp luật điều chỉnh chặt chẽ và pháp luật đó phải đợc tuân thủ
nghiêm chỉnh.
Cơ sở nguyên tắc này là điều 12/hiến pháp 1992: "Nhà nớc quản lý xã hội
bằng pháp luật và không ngừng tăng cờng pháp chế XHCN..."
Nguyên tắc pháp chế đòi hỏi việc tổ chức cac cơ quan Nhà nớc thực hiện
chức năng quản lý về đầu t nớc ngoài phải trên cơ sở các văn bản pháp luật và vấn
đề then chốt tiếp theo là những cơ quan này phải thực hiện đúng các chức năng,
nhiệm vụ của mình.
Để thực hiện những đòi hỏi về tính thống nhất của pháp chế, cơ quan quản
lý Nhà nớc về đầu t khi ban hành quyết định quản lý và thực hiện hành vi quản lý
không đợc vợt quá thẩm quyền theo luật định. Nguyên tắc pháp chế đợc thể hiện
tại nhiều quy định trong cac văn bản pháp luật về đầu t nớc ngoài. Điều 1-Luật đầu
t nớc ngoài quy định: "Nhà nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khuyến
khích các nhà đầu t nớc ngoài đầu t vào Việt Nam trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ
quyền và tuân thủ pháp luật của Việt Nam".
13
Khoản 1, điều 5 nghị định 12/CP quy định:"Trong hoạt động đầu t tại Việt
Nam, các đối tợng tham gia hợp tác đầu t... phải tuân thủ các quy định của Luật
đầu t nớc ngoài tại Việt Nam, các quy định của nghị định này và các quy định
khác có liên quan của pháp luật Việt Nam".
Mọi hoạt động đầu t bất hợp pháp hay hoạt động cản trở đầu t hợp pháp đều
bị xử lý theo pháp luật. Theo điều 63 Luật đầu t nớc ngoài thì: "Nhà đầu t nớc
ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài các bên tham gia hoạt động hợp tác

kinh doanh, tổ chức, cá nhân, viên chức, cơ quan Nhà nớc vi phạm các quy định
của pháp luật về đầu t nớc ngoài thì tuỳ theo mức độ vi phạm sẽ bị xử lý theo quy
định của pháp luật".
Lần đầu tiên, một quy phạm mới đã đợc bổ sung trong lần sửa Luật tháng
10/1996 đã thiết lập chế độ trách nhiệm của viên chức và cơ quan Nhà nớc khi
thừa hành công vụ. Điều 64, Luật đầu t nớc ngoài quy định: "Nhà đầu t nớc ngoài,
doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài, các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh
doanh, tổ chức, cá nhân đợc quyền khiếu nại, khởi kiện đối với các quyết định và
hành vi trái pháp luật, gây khó khăn, phiền hà của viên chức, cơ quan Nhà nớc...."
Nguyên tắc kế hoạch hoá:
Kế hoạch hoá trong quản lý Nhà nớc xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một
chức năng cơ bản nhất, là một đặc trng.
Để quản lý nền kinh tế trong lĩnh vực đầu t trực tiếp nớc ngoài, Nhà nớc sử
dụng kế hoạch hoá nh là một công cụ chủ yếu. Kế hoạch hoá là hoạt động nhằm
sử dụng công cụ kế hoạch trong thực tiễn quản lý. Kế hoạch chỉ đợc thực hiện và
phát huy vai trò của mình qua công tác kế hoạch hoá. Ngày nay, các Nhà nớc hiện
đại đều coi trọng kế hoạch hoá trong quản lý với nhiều hình thức và mức độ khác
nhau.
Quản lý có kế hoạch hoạt động đầu t nớc ngoài là một tất yếu khách quan.
Tuy nhiên, để quản lý theo nguyên tắc kế hoạch hoá cần phải có quá trình học hỏi,
tìm tòi, thử nghiệm khó khăn và phức tạp. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, sức mạnh
và tính u việt của nền kinh tế có kế hoạch, đồng thời chỉ ra rằng phải không ngừng
đổi mới, nâng cao trình độ kế hoạch hoá. Kế hoạch hoá là xây dựng kế hoạch
thành những phơng án cụ thể hoá đờng lối của Đảng, pháp luật của Nhà nớc về
đầu t nớc ngoài.
Thông qua kế hoạch mà đờng lối vận động, chính sách quản lý đầu t nớc
ngoài đợc cụ thể hoá thành mục tiêu trong từng thời gian nhất định.
14
Đổi mới quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài, đổi mới cơ chế quản lý
kinh tế đầu t đòi hỏi phải có sự nhận thức đúng đắn về kế hoạch hoá.Nguyên tắc

"một cửa" trong quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài:
Để cải cách công tác quản lý Nhà nớc, góp phần cải thiện môi trờng đầu t
thì nguyên tắc "một cửa" vừa là công cụ hữu hiệu vừa là mục tiêu cần đạt đến. Để
thực hiện nguyên tắc này trớc hết phải phân định rõ thẩm quyền của các cơ quan
chức năng và mối quan hệ phối hợp giữa chúng trong quản lý đầu t nớc ngoài.
Nguyên tắc "một cửa" nhằm kịp thời xử lý các phát sinh trong quá trình đầu
t, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà đầu t nớc ngoài tiến hành các hoạt
động đầu t ở Việt Nam. Nguyên tắc này không cho phép việc can thiệp chồng chéo
của nhiều cơ quan trong lĩnh vực đầu t nớc ngoài nhằm thu hút đầu t nớc ngoài và
bảo vệ đợc lợi ích của Nhà nớc Việt Nam. Do đó, quản lý Nhà nớc về đầu t nớc
ngoài phải đợc tập trung vào một đầu mối, một cơ quan. Điều đó phù hợp với một
luận điểm quan trọng của khoa học quản lý là: "Mỗi việc cần đợc giải quyết dứt
điểm ở một cấp" và "Mỗi ngời cần phải làm công việc của chính mình". Đành
rằng, trong đầu t nớc ngoài- một lĩnh vực còn hết sức phức tạp và mới mẻ- quản lý
Nhà nớc cần có sự phối hợp tham gia của nhiều cấp, nhiều ngành, nhng đối với các
nhà đầu t nớc ngoài thì việc bắt họ: "Đi vái chín phơng" rõ ràng là mâu thuẫn với
chủ trơng của Nhà nớc ta là: "Trải chiếu hoa mời các nhà đầu t nớc ngoài"
Quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài theo nguyên tắc "một cửa" cần đợc đặt
trong công cuộc kiện toàn bộ máy quản lý Nhà nớc về kinh tế. Bộ máy quản lý
Nhà nớc phải phù hợp với cơ cấu kinh tế và cơ chế quản lý mới. Chính cơ cấu kinh
tế quyết định phơng thức quản lý và hình thức, quy mô của bộ máy quản lý. Cần
khắc phục quan điểm sai lầm "Đặt ngời rồi tìm việc", xây dựng "bộ máy vì bộ
máy". Điều đó có nghĩa là tổ chức bộ máy quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài cần
xem xét tới các đặc điểm và quy luật của hoạt động đầu t, của pháp luật về đầu t
cùng quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nói chung.
Nguyên tắc "một cửa" giải quyết tốt mối quan hệ giữa cấp trung ơng và địa
phơng trong quản lý đầu t nớc ngoài. Trong hệ thống bộ máy quản lý, Trung ơng
là cấp chủ đạo vì hiệu quả của đầu t nớc ngoài cần đợc xem xét đánh giá ở tầm vĩ
mô. Phân cấp quản lý Nhà nớc là sự phân cấp về các hoạt động quản lý Nhà nớc
giữa Trung ơng và địa phơng chứ không có nghĩa là tách kinh tế địa phơng khỏi

kinh tế Trung ơng.
Nguyên tắc "một cửa" đợc thực hiện ở nhiều điều trong Luật ĐTNN và
trong các văn bản hớng dẫn. Đặc biệt nó đợc ghi nhận tại các điều 56, 57, 58 Luật
đầu t nớc ngoài.
15
+ Cơ quan quản lý về đầu t nớc ngoài là Bộ Kế hoạch và Đầu t giúp Chính
phủ thống nhất quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài tại Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam. Bộ kế hoạch và Đầu t là đầu mối "một cửa" duy nhất quản lý đầu t nớc
ngoài trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Nhiệm vụ và quyền hạn của Bộ Kế hoạch và
Đầu t đợc quy định tại điều 56- Luật ĐTNN.
+ UBND cấp tỉnh thực hiện đầy đủ chức năng quản lý Nhà nớc đối với hoạt
động đầu t nớc ngoài trên địa bàn lãnh thổ. Nhiệm vụ và quyền hạn trong lĩnh vực
đầu t nớc ngoài của UBND cấp tỉnh đợc quy định tại điều 58- Luật đầu t nớc ngoài.
Sở kế hoạch và Đầu t là cơ quan đầu mối, thực hiện cơ chế "một cửa" ở địa phơng ,
giúp UBND thực hiện các chức năng, nhiệm vụ nói trên.

Nguyên tắc đơn giản, nhanh chóng:
Nguyên tắc này gắn chặt với nguyên tắc "một cửa" và là trọng tâm của
công tác cải cách thủ tục đầu t. Nguyên tắc này đợc ghi nhận tại điều 1 Luật đầu t
nớc ngoài: "Nhà nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam...tạo điều kiện thuận lợi
và quy định thủ tục đơn giản nhanh chóng cho các nhà đầu t nớc ngoài đầu t vào
Việt Nam".
Đơn giản, nhanh chóng là việc nâng cao chất lợng quản lý Nhà nớc về đầu
t nớc ngoài, giảm tối đa những gì rờm rà không cần thiết, tiếp nhận và giải quyết
kịp thời những đề nghị thắc mắc từ phía các nhà đầu t nớc ngoài, khắc phục tình
trạng nhà đầu t mất nhiều thời gian và công sức trong thăm dò nghiên cứu, đàm
phán và triển khai dự án.
Ngày nay, những u đãi về thuế quan đang mất dần vai trò trong việc cải
thiện môi trờng đầu t nhằm thu hút đầu t nớc ngoài. Bài học đợc rút ra trong thực
tiễn là chính sách u đãi về thuế hoàn toàn không phải "miếng mồi ngon" đối với

những "con hổ" kinh tế nữa, bởi không thể có gì đảm bảo rằng những u đãi về thuế
không thể không bị sửa đổi bởi các nhà hoạch định chính sách. Về bản chất, bất kỳ
quốc gia nào đi nữa cũng không thể duy trì lâu dài hai hệ thống thuế có tính chất
phân biệt đối xử giữa khu vực kinh tế trong nớc và khu vực có vốn đầu t nớc ngoài.
Điều quan trọng mà chính các nhà đầu t than phiền rằng, sự phiền phức về thủ tục
kèm theo những chi phí của nó còn lớn hơn nhiều lần những u đãi về thuế mà họ đ-
ợc hởng. Đối với các nhà đầu t quốc tế, thời gian còn quan trọng hơn vàng bạc, vì
vậy kéo dài sự chờ đợi các phán quyết của cơ quan quản lý chức năng sẽ làm tuột
mất các cơ hội đầu t gây nên sức ép tâm lý rất lớn đối với các nhà đầu t.
Điều các nhà đầu t mong muốn chúng ta có thể làm đợc và cần phải làm đ-
ợc đó là cải cách mạnh mẽ thủ tục đầu t theo hớng đơn giản hơn, nhanh chóng hơn.
16
Điều 59 Luật ĐTNN đã quy định rã ràng các giấy tờ, tài liệu cần thiết mà
nhà đầu t phải gửi cho cơ quan cấp phép đầu t, tạo điều kiện cho cơ quan chức
năng nhanh chóng quyết định việc nâng cấp giấy phép và nhà đầu t sớm đa dự án
vào thực hiện. Luật đầu t nớc ngoài tại điều 60 đã quy định cụ thể: Thời gian cấp
giấy phép đầu t: "Cơ quan cấp giấy phép đầu t xem xét đơn và thông báo quyết
định cho nhà đầu t chậm nhất trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ hợp
lệ".
Nguyên tắc này với việc đơn giản hoá rõ ràng các thủ tục đầu t, rút ngắn
thời gian cấp giấy phép đầu t và các loại giấy phép khác tại nhiều điều khoản của
Luật đầu t nớc ngoài, các điều 47, 67, 85 nghị định 12/CP, trong các thông t
03/BKH-QLDA của Bộ Kế hoạch và Đầu t 15/03/1997, thông t 01/BXD-CSXD
ngày 15/04/1997 của Bộ Xây dựng, nghị định 36/CP 24/04/1997, thông t 679/TT-
ĐC ngày 12/05/1997 của Tổng cục Địa chính.
Điều 62- Luật ĐTNN quy định: "Các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc
chính phủ, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ơng có trách nhiệm giải quyết
các thủ tục liên quan đến việc triển khai dự án đầu t trong thời gian 30 ngày kể từ
ngày nhận đợc hồ sơ hợp lệ".
. Nguyên tắc bảo đảm và khuyến khích các hoạt động đầu t nớc ngoài.

Do những nhợc điểm về kết cấu hạ tầng, về môi trờng pháp lý và môi trờng
thơng mại, độ rủi ro trong đầu t ở nớc ta đợc đánh giá là lớn so với nhiều nớc láng
giềng. Nếu ta không tính đến những cải cách thích hợp để bảo đảm và khuyến
khích đầu t nớc ngoài thì đơng nhiên mất đi lợi thế trong cuộc cạnh tranh thu hút
đầu t nớc ngoài. Luật ĐTNN đợc sửa đổi năm 1996 nhằm thực hiện hành lang
pháp lý và cải thiện môi trờng đầu t đã ghi nhận nguyên tắc này trong nhiều điều
Luật. Điều 1- Luật ĐTNN quy định: "Nhà nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam khuyến khích các nhà đầu t nớc ngoài đầu t vào Việt Nam trên cơ sở tôn
trọng độc lập, chủ quyền và tuân theo pháp luật của Việt Nam, bình đẳng và các
bên cùng có lợi".
Nhà nớc Việt Nam không khuyến khích đầu t nớc ngoài một cách tràn lan,
mà tập trung vào những mục tiêu trọng điểm, những lĩnh vực u tiên nhằm phục vụ
yêu cầu công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nớc, góp phần giải quyết những mất cân
đối trong cơ cấu về lĩnh vực, địa bàn kinh tế, về cán cân thơng mại và cán cân
thanh toán quốc tế. Căn cứ vào quy hoạch phát triển kinh tế từng thời kỳ, Chính
phủ công bố danh mục các dự án khuyến khích, đặc biệt khuyến khích nhằm định
hớng, tạo những điều kiện thuận lợi cho nhà đầu t nớc ngoài lựa chọn những dự án
đầu t. Phân tích các quyết định trong Luật đầu t nớc ngoài ta thấy rõ Nhà nớc đặc
17
biệt khuyến khích những dự án hớng mạnh về xuất khẩu, chuyển giao nhanh công
nghệ tiên tiến, xây dựng hạ tầng khu công nghiệp, sử dụng nhiều lao động... đồng
thời thu hút đầu t nớc ngoài vào một số mục tiêu u tiên quan trọng nh: Trồng rừng,
xây dựng kết cấu hạ tầng tại miền núi, vùng sâu, vùng xa, các dự án có quy mô lớn
và tác động lớn đối với nền kinh tế, xã hội.
Theo các quy định của Luật ĐTNN hiện nay vẫn còn hiệu lực thì những
khuyến khích về thuế đóng vai trò quan trọng.
Về việc cân đối ngoại tệ thì: "...Chính phủ Việt Nam bảo đảm việc hỗ trợ
cân đối ngoại tệ đối với các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng, sản xuất hàng thay thế
nhập khẩu thiết yếu và một số công trình quan trọng khác". (Điều 33-Luật ĐTNN)
Một mục tiêu quan trọng thu hút đầu t nớc ngoài là khuyến khích và u đãi

việc chuyển giao nhanh công nghệ, đặc biệt là công nghệ tiên tiến, thực tế cho thấy
rằng, trong các năm vừa qua, tuycó hạn chế đợc việc du nhập công nghệ cũ, nhng
việc thu hút công nghệ cao còn rất chậm. Điều 37, nghị định 12/CP quy định:
"Chính phủ nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi và
bảo hộ các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên chuyển giao công nghệ để thực
hiện dự án đầu t tại Việt Nam; khuyến khích và u đãi đối với chuyển giao nhanh
công nghệ, đặc biệt là công nghệ tiên tiến".
"Trong trờng hợp nhà đầu t áp dụng tiêu chuẩn môi trờng tiên tiến của quốc
tế trong quá trình xây dựng và hoạt động kinh doanh tại Việt Nam thì chỉ cần đăng
ký với cơ quan quản lý Nhà nớc về công nghệ và môi trờng". (Khoản 3, điều 39,
nghị định 12/CP).
Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp có tầm quan trọng đặc biệt đối với việc thu hút
các công ty xuyên quốc gia, các công ty lớn vào các dự án sử dụng kỹ thuật tiên
tiến, công nghệ cao. Do vậy, để đảm bảo an toàn cho các hoạt động đầu t. Điều 1-
Luật ĐTNN đã ghi nhận cam kết của nhà nớc Việt Nam về vấn đề sở hữu công
nghiệp- Điều 21 của Luật tiếp tục khẳng định: "Nhà nớc cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, bảo đảm các lợi ích hợp pháp
của nhà đầu t nớc ngoài trong hoạt động chuyển giao công nghệ tại Việt Nam".
Để các nhà đầu t nhận thấy rằng việc đầu t bảo đảm an toàn và có lợi nhuận
cao thì nội dung các quy phạm pháp luật về ĐTNN phải chứa đựng các biện pháp
bảo đảm đầu t. Thật vậy, để tăng cờng thu hút đầu t nớc ngoài, xuyên suốt các định
chế pháp lý về đầu t nớc ngoài, nguyên tắc:"Khuyến khích và bảo đảm đầu t nớc
ngoài luôn đợc đề cập tới".
18
Nhà đầu t nớc ngoài đợc bảo đảm đối xử công bằng và thoả đáng (điều 20),
trong quá trình đầu t, vốn và tài sản hợp pháp không bị trng dụng hoặc tịch thu
bằng biện pháp hành chính, doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài không bị quốc
hữu hoá (điều 21-Luật ĐTNN).
Trong trờng hợp do thay đổi quy định của Việt Nam làm thiệt hại đến lợi ích của
doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài và các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh

doanh đã đợc cấp giấy phép thì Nhà nớc có biện pháp giải quyết thoả đáng đối với
quyền lợi của nhà đầu t.
1.4. Cơ chế Và bộ máy quản lý Nhà nớc về ĐTNN
1.4.1. Cơ chế quản lý Nhà nớc về ĐTNN
Hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài là một bộ phận của lĩnh vực kinh tế đối
ngoại, đồng thời là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân.
Với t cách là một bộ phận cấu thành của kinh tế đối ngoại, đầu t trực tiếp n-
ớc ngoài là biểu hiện cụ thể sự hợp tác giữa các công ty nớc ngoài và các doanh
nghiệp Việt Nam thông qua các hình thức đầu t trên cơ sở thoả thuận, các bên cùng
có lợi. Là một bộ phận của hoạt động đầu t nói chung của cả nớc, đầu t trực tiếp n-
ớc ngoài là việc các nhà đầu t nớc ngoài đa vốn bằng tiền, thiết bị, vật t, công nghệ
vào Việt Nam để thực hiện dự án đầu t vì mục đích lợi nhuận. Nh vậy về bản chất,
đầu t trực tiếp nớc ngoài là sự kết hợp giữa các nhân tố trong và ngoài nớc nhằm
tạo ra những nguồn lực mới cho tăng trởng kinh tế đất nớc. Đây là hình thức đầu t
ít chịu ảnh hởng, lệ thuộc vào quan hệ chính trị giữa nớc ta với các nớc, tận dụng
đợc nguồn vốn đầu t của nớc ngoài, nhng không dẫn đến gánh nợ quốc tế, lại tạo
cơ hội thuận lợi tiếp cận và thâm nhập nhanh vào thị trờng quốc tế.
Thực tiễn thực hiện 10 năm Luật ĐTNN ở nớc ta đã chứng tỏ FDI là nguồn
đầu t quan trọng đóng góp tích cực vào việc tạo ra năng lực sản xuất mới trong
nghành kinh tế tạo ra nhiều ngành nghề mới và sản phẩm mới, tiếp thu ký thuật
công nghệ tiên tiến và phơng pháp quản lý klinh doanh hiện đại theo kinh tế thị tr-
ờng, kích thích sự phát triển của thị trờng nội địa và mở rộng thị trờng quốc tế, tạo
việc làm cho ngời lao động và có những đóng góp cho ngân sách Nhà nớc. Những
kết quả bớc đầu hết sức quan trọng của đầu t trực tiếp nói trên gắn liền và là kết
quả của quản lý Nhà nớc đối với lĩnh vực hoạt động này.
Trong quản lý Nhà nớc hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài, cần thống nhất
nhận thức một số quan điểm sau:
19
+ Công tác quản lý Nhà nớc nhằm thực hiện một cách tốt nhất định hớng
của Luật ĐTNN là kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại vào công cuộc

phát triển kinh tế; vừa mở cửa ra bên ngoài, nhằm tranh thủ mọi nguồn lực quốc tế
nhng không coi nhẹ đầu t cho sản xuất trong nớc; mở cửa cho bên ngoài nhng
không quên những biện pháp "che chắn" cần thiết để bảo hộ sản xuất trong nớc,
bảo đảm an ninh quốc phòng, đẩy mạnh xuất khẩu và tham gia phân công lao
động quốc tế trong khu vực và thế giới một cách có lợi nhất.
+ Công tác quản lý Nhà nớc phải nhằm thực hiện các mục tiêu của Nhà nớc
ta trong hợp tác đầu t với nớc ngoài là thu hút vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản
lý của các công ty nớc ngoài, tạo việc làm cho ngời lao động, góp phần khai thác
có hiệu quả mọi tiềm năng đất nớc phục vụ cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện
đại hoá.
+ Quản lý Nhà nớc nhằm bảo đảm cho các hoạt động đầu t trực tiếp nớc
ngoài tuân thủ pháp luật Việt Nam, giữ vững độc lập, chủ quyền của Việt Nam,
đồng thời tôn trọng quyền của các nhà đầu t, thực hiện nguyên tắc bình đẳng, các
bên cùng có lợi.
1.4.2. Bộ máy quản lý Nhà nớc về ĐTNN
a/ Chính phủ:
Theo điều 55 của Luật ĐTNN tại Việt Nam ban hành ngày 23/11/96 (Luật
ĐT 96), Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nớc về ĐTNN, quy định việc cấp giấy
phép đầu t của Bộ Kế hoạch và Đầu t cho UBND tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung
ơng có đủ điều kiện, quy định việc cấp giấy phép đầu t đối với dự án đầu t vào Khu
Công nghiệp, Khu chế xuất.
Thủ tớng Chính phủ có đủ thẩm quyền xét duyệt, quyết định các dự án đầu
t nhóm A (theo điều 93, Nghị định 12/CP ban hành ngày 18/02/97). Danh mục các
dự án thuộc nhóm A cũng đợc quy định trong điều 93 Nghị định 12/CP.
b/ Bộ Kế hoạch và Đầu t (MPI):
+ Ban hành thông t hớng dẫn doanh nghiệp triển khai thực hiện giấy phép:
thông t số 03 BKH-QLDA ngày 15/03/97 "hớng dẫn thủ tục triển khai thực hiện dự
án đầu t tại Việt Nam", cụ thể hoá Luật ĐTNN năm 1996, Nghị định 12/CP và
Nghị định 10/CP.
20

Thông t này là văn bản dới luật quan trọng quy định các bớc thực hiện, đa
ra những yêu cầu cụ thể cho các chủ đầu t. Nếu nh Luật ĐTNN 1996 bao gồm
những quy phạm vật chất quy định phải làm gì thì thông t lại chủ yếu bao gồm
những quy phạm thủ tục quy định phải làm nh thế nào.
Ví dụ: Sau khi đợc cấp giấy phép bao nhiêu ngày thì doanh nghiệp liên
doanh phải họp Hội đồng quản trị, nội dung cuộc họp nh thế nào, quyền hạn của
Hội đồng quản trị, thông báo nh thế nào, trên báo nào...
+ Theo dõi tình hình thực hiện dự án đầu t qua Vụ Quản lý dự án. Chức
năng của Vụ này là quản lý các dự án đầu t nớc ngoài đã đợc cấp giấy phép đầu t.
+ Xem xét quyết định cấp, điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung giấy phép đầu t, giải
thể doanh nghiệp thu hồi giấy phép.
MPI là cơ quan cấp giấy phép đầu t nên có trách nhiệm, thẩm quyền xem
xét, điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung, thu hồi giấy phép để đảm bảo tính trách nhiệm rõ
ràng giữa các cơ quan quản lý. Nếu trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp có
vốn dầu t nớc ngoài, các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh vi phạm pháp
luật Việt Nam thì các cơ quan hữu trách có thể xử lý vi phạm và kiến nghị lên MPI
là cơ quan duy nhất có thẩm quyền thu hồi giấy phép đầu t (trừ các dự án do Thủ t-
ớng Chính phủ cấp giấy phép và UBND tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ơng đợc
phân cấp).
+ Tổ chức, kiểm tra định kỳ việc thực hiện giấy phép: MPI trở thành trung
tâm phối hợp các Bộ để tránh chồng chéo trong kiểm tra.
+ Đào tạo bồi dỡng cán bộ quản lý cho các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc
ngoài. Theo luật định thì Tổng giám đốc hoặc Phó Tổng giám đốc thứ nhất phải là
ngời Việt Nam (Điều 24 Nghị định 12/CP). Thành viên của mỗi bên trong Hội
đồng quản trị tỷ lệ với số vốn đóng góp (điều 11 Luật ĐTNN 1996). Nhng những
nhà quản lý này đòi hỏi năng lực trình độ chuyên môn cũng nh trình độ pháp luật
cao mới có thể giải quyết đợc các vấn đề phát sinh trong quá trình ký kết, thực
hiện hợp đồng, hoạt động, giải thể doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài .
+ Hoà giải các tranh chấp theo yêu cầu của các bên: Quá trình đầu t không
phải bao giờ cũng suôn sẻ, mà nhiều khi có các tranh chấp xảy ra. Nhà nớc luôn

khuyến khích các bên đi đến thống nhất bằng thơng lợng. Nhng nếu thơng lợng
không đi đến kết quả thì có thể nhờ MPI hoà giải trớc khi đa tranh chấp ra xét xử
bằng toà án hay trọng tài... Ban hoà giải sẽ bao gồm một ngời Việt Nam, một ngời
nớc ngoài và một ngời của MPI, trong đó ngời đại diện của MPI là trởng ban.
+ Phân tích hiệu quả kinh tế- xã hội của hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài.
21
+ Kiến nghị Nhà nớc ban hành pháp luật và các chính sách về đầu t trực tiếp
nớc ngoài.
c) UBND Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ơng:
Quyền hạn và trách nhiệm của UBND đối với quản lý hoạt động đầu t trực
tiếp nớc ngoài đợc quy định chi tiết trong Luật ĐTNN năm 1996 và Nghị định
12/CP.
+ Lập và công bố danh mục dự án thu hút ĐTNN tại địa phơng căn cứ vào
quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội đã đợc phê duyệt; tổ chức vận động và xúc
tiến đầu t.
+ Tham gia thẩm định dự án đầu t nớc ngoài tại địa phơng.
+ Tiếp nhận, thẩm định và cấp giấy phép cho các dự án đầu t nớc ngoài tại
địa phơng theo sự phân cấp của Chính phủ.
+ Giải quyết thủ tục hành chính liên quan đến hình thành, triển khai, thực
hiện dự đầu t thuộc thẩm quyền.
+ Quản lý Nhà nớc trên địa bàn lãnh thổ đối với hoạt động sản xuất, kinh
doanh của doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài, các bên tham gia hợp đồng hợp
tác kinh doanh.
+ Kiểm tra, thanh tra hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc
ngoài, các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh (theo điều 58 Luật ĐTNN
1996).
+ Đánh giá hiệu quả kinh tế- xã hội của các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc
ngoài trên địa bàn lãnh thổ.
Việc thẩm định và cấp giấy phép đầu t thuộc thẩm quyền của UBND cấp
tỉnh đợc quy định tại điều 100 Nghị định 12/CP. Thủ tớng Chính phủ ra quyết định

số 368/TTg ngày 07/06/97 cho phép 8 tỉnh, Thành phố Hà nội, Hải phòng, Quảng
ninh, Đà nẵng, Thành phố HCM, Bà Rịa- Vũng Tàu, Đồng nai, Bình Dơng đợc
phép tiếp nhận hồ sơ dự án, thẩm định và cấp giấy phép đầu t cho các dự án FDI
vào địa phơng mình ban đầu từ 01/07/97. Theo quyết định này, UBND Hà nội,
Thành phố Hồ Chí Minh đợc quyền cấp giấy phép đầu t cho các dự án nhóm B có
quy mô đầu t đến 10 tr.USD; các địa phơng còn lại đợc quyền cấp giấy phép đầu t
cho các dự án có quy mô đầu t đến 5 tr.USD.
22
d/ Bộ Tài chính:
+ Phê duyệt và triển khai việc tực hiện chế độ kế toán của doanh nghiệp có
vốn đầu t nớc ngoài (điều 65 khoản 2 Nghị định 12/CP);
+ Làm đầu mối giải quyết những tranh chấp về tài chính, đặc biệt là thuế
trong doanh nghiệp;
+ Kiểm tra bên Việt Nam về nghĩa vụ nhận nợ và bảo toàn vốn Nhà nớc;
+ Theo dõi, kiểm tra các báo cáo quyết toán của doanh nghiệp;
+ Tham gia thẩm định dự án.
e/ Bộ Thơng Mại:
+ Xem xét cấp giấy phép đầu t xuất- nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên
vật liệu phục vụ cho xây dựng cơ bản, hình thành doanh nghiệp. Lô hàng này đợc
miễn thuế nhập khẩu 100%. Tuy nhiên, đối với một số thiết bị chuyên dụng, Bộ
Thơng Mại phải tham khảo ý kiến của các Bộ chuyên ngành. Để tránh trở thành
bãi rác công nghiệp của thế giới, đối với những máy móc thiết bị cũ, khi xem xét
cấp giấy phép nhập khẩu Bộ Thơng Mại phải tuân thủ quy định của Bộ Khoa học
Công nghệ và Môi trờng (quy định 1762). Theo quy định này, tuổi thọ của các
thiết bị của các nớc thuộc nhóm G7 không đợc vợt quá 10 năm và chất lợng giám
định > 80%...
+ Xem xét và cấp giấy phép xuất- nhập khẩu phục vụ sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp.
Để khuyến khích xuất khẩu, đối với doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài
không phải xin giấy phép xuất- nhập khẩu nhng chỉ đợc nhập khẩu máy móc, thiết

bị phục vụ sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất ra.
Hiện nay Chính phủ đang đơn giản hoá chế độ cấp giấy phép bằng cách bỏ dần
giấy phép xuất- nhập khẩu chuyến và thay thế bằng kế hoạch xuất- nhập khẩu của
doanh nghiệp từ đầu năm.
+ Kiểm soát việc tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp có vốn đầu t nớc
ngoài
Các nhà đầu t bỏ vốn vào Việt Nam với hy vọng thâm nhập, chiếm lĩnh thị trờng
Việt Nam. Để bảo đảm thị trờng trong nớc, bảo vệ các doanh nghiệp trong nớc,
Chính phủ quy định tỷ lệ xuất khẩu, tiêu thụ trong nớc nhất định đối với những
doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài cũng nh những loại sản phẩm sản xuất ra bởi
23
hợp đồng hợp tác kinh doanh. Nhng nhiều khi trên thực tế, tỷ lệ này bị vi phạm
nghiêm trọng.
+ Giải quyết các phát sinh trong xuất- nhập khẩu của doanh nghiệp.
f/ Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trờng:
+ Kiểm tra việc thực hiện các tiêu chuẩn vệ sinh môi trờng.
Căn cứ vào tính chất hoạt động, trình độ công nghệ và mức độ tác động môi trờng,
Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trờng công bố danh mục các dự án phải lập báo
cáo đánh giá tác động môi trờng. Báo cáo này phải đợc Bộ Khoa học Công nghệ
và Môi trờng hoặc Sở Khoa học Công nghệ và Môi trờng thẩm định và cấp chứng
nhận, đối với dự án ngoài danh mục, tức là không phải lập báo cáo đánh giá tác
động môi trờng thì nhà đầu t vẫn phải giải trình các nhân tố có thể gây ảnh hởng
tới môi trờng, nên các biện pháp xử lý và cam kết bảo vệ môi trờng.
Khi doanh nghiệp đi vào hoạt động Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trờng
sẽ giám sát theo dõi để cấp chứng nhận môi trờng. Đồng thời hàng năm doanh
nghiệp vẫn bị kiểm tra định kỳ về các tiêu chuẩn vệ sinh môi trờng.
+ Hớng dẫn, kiểm tra việc ký kết và thực hiện hoạt động chuyển giao công
nghệ.
+ Phối hợp các Bộ chuyên ngành khoa học kỹ thuật, đánh giá trình độ khoa
học và công nghệ sử dụng trong doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài (theo quy

định 1762).
g/ Bộ Lao động, Thơng binh và xã hội:
+ Kiểm tra việc thực hiện Luật lao động và các quy chế về lao động tiền l-
ơng.
Các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài cần u tiên tuyển dụng lao động trong nớc
tại địa phơng (Điều 25 Luật ĐTNN 1996; Điều 51 Nghị định 12/CP)
+ Tổ chức công đoàn, tập thể ngời lao động để bảo đảm quyền lợi cho ngời
lao động.
+ Xử lý các tranh chấp về lao động và tiền lơng.
+ Kiểm tra, giám sát an toàn lao động.
h/ Bộ Xây dựng:
+ Quản lý thiết kế xây dựng đối với các dự án đầu t nớc ngoài thuộc nhóm
A đã đợc cấp giấy phép đầu t (Điều 58 khản 1 Nghị định 12/CP).
24
+ Quản lý về quy chế xây dựng.
Đối với các công trình có vốn đầu t nớc ngoài, đều phải đấu thầu xây dựng
và việc tổ chức đăng ký đấu thầu phải theo quy chế của Bộ Xây dựng. Tại sao phải
đấu thầu xây dựng?
Thứ nhất, phía các chủ đầu t nớc ngoài muốn giành đợc quyền chỉ định các
công ty xây dựng của họ bởi vì phần góp vốn của họ là chính. Thứ hai, vì các công
ty xây dựng Việt Nam không đủ năng lực tổ chức cũng nh kỹ thuật để xây dựng
những công trình lớn. Thứ ba, vì tham gia đấu thầu ở Việt Nam gặp rất nhiều rủi
ro vì thông tin hay bị rò rỉ.
Còn phía Việt Nam hy vọng phát triển ngành xây dựng, tạo công ăn việc
làm cho công nhân trong nớc nên đề ra quy chế đấu thầu.
Thông thờng, bên nớc ngoài chọn một số công ty xây dựng nổi tiếng làm
tổng thầu và giao cho bên công ty xây dựng Việt Nam thầu phụ.
Khâu xin giấy phép xây dựng còn nhiều rắc rối, ít nhiều gây cản trở để tiến
trình thực hiện dự án đầu t. Có những dự án kéo dài 2-3 năm mà vẫn không xin đ-
ợc giấy phép xây dựng.

i/ Bộ Nội vụ:
+ Quản lý trật tự an toàn xã hội.
+ Kiểm tra thị thực nhập cảnh, xuất cảnh, đăng ký lu trú và quản lý hộ tịch,
hộ khẩu của ngời nớc ngoài.
+ Kiểm tra các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài các bên tham gia hợp
đồng hợp tác kinh doanh có vi phạm những quy định về kinh tế không.
j/ Ngân hàng Nhà nớc:
+ Hớng dẫn các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài thực hiện chế độ quản
lý ngoại hối của Việt Nam.
+ Hớng dẫn, kiểm tra các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài mở và sử
dụng tài khoản ngân hàng trong và ngoài nớc (Điều 71 Nghị định 12/CP).
+ Cân đối và bán ngoại tệ cho các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài
theo quy định của Nhà nớc.
+ Hớng dẫn và theo dõi các tổ chức hoặc cá nhân nớc ngoài chuyển ra nớc
ngoài nhữn khoản lợi nhuận, thu nhập phát sinh ở Việt Nam, tiền gốc và lãi của
25

×